-
Cảm nhận về
báo chí Việt Nam thế kỷ 20
Phan Quang
Một thế kỷ phát triển
Báo chí Việt Nam ra đời muộn đến
ba trăm năm so với các nước phát triển. Mãi đến năm 1865, ấn phẩm định
kỳ đầu tiên bằng tiếng Việt, tờ Gia Định báo, mới ra mắt bạn đọc
ở Sài Gòn.
Lúc này, xã hội Việt Nam đang trải
qua những biến động cực kỳ đau đớn. Thực dân Pháp vừa chiếm được
ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (1862), đang đề ra mục tiêu mau chóng chiếm trọn
ba kỳ, tiến tới áp đặt bộ máy cai trị của chúng lên toàn cõi Việt
Nam. Họ có nhu cầu xuất bản đều đặn một ấn phẩm định kỳ bằng
chữ quốc ngữ để truyền đạt những chủ trương, chính sách của mình
đến với những người địa phương cộng tác với họ: binh lính, viên chức,
hào lý... phần lớn không đọc được tiếng Pháp, từ đấy mở rộng việc
tuyên truyền trong dân chúng, bắt đầu từ các tầng lớp xã hội đã học
hoặc sẽ có điều kiện học chữ quốc ngữ, về cái gọi là chính sách
khai hóa.
Cho dù mục đích của những người
xuất bản Gia Định báo là thế nào chăng nữa, thì sự ra đời của một
tờ báo bằng tiếng Việt trên đất nước Việt Nam trong điều kiện chữ
Hán vẫn là ngôn ngữ giao tiếp chính thức trong các văn bản của triều
đình và giữa tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ, đặt một cái mốc
quan trọng trong tiến trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm gìn giữ
di sản và xây dựng nền văn hóa dân tộc.
Bước vào thế kỷ XX, ở Việt Nam
có khoảng một chục tờ báo, phần lớn tiếng Việt, một số ít là báo
tiếng Pháp hoặc chữ Hán. Báo chí tiếp tục phát triển trong hai thập
niên đầu nhưng tất cả đều do người Pháp làm chủ vì luật pháp thuộc
địa thời bấy giờ không cho phép "người bản xứ" đứng tên ra
báo.
Tuy nhiên, tương tự như con ngựa kéo,
mặc dù đã bị che mắt chỉ để lại cho một trường nhìn rất hạn hẹp
đề phòng nó đưa chiếc xe đi chệch hướng, con ngựa vẫn có cuộc sống
riêng tuân theo những quy luật của bản thân nó. Báo chí Việt Nam sau khi
định hình, tuy vẫn chịu sự chi phối của nhà cầm quyền trong khuôn khổ
pháp lý thực dân cực kỳ phản dân chủ, vẫn phát triển theo quy luật nội
tại của nó với tư cách là những phương tiện thông tin có những người
biên tập và có công chúng riêng của mình.
Có thể nói, đến đầu những năm
20 của thế kỷ, đã định hình một nền báo chí Việt Nam. Bên cạnh những
tờ báo thời sự chính trị xã hội, đã có báo chí văn hóa văn nghệ, báo
chí kinh tế, báo chí chuyên ngành, chuyên giới. Ngoài các trung tâm lớn là
Sài Gòn và Hà Nội, lẻ tẻ một vài địa phương khác như Hải Phòng, Cần
Thơ, Huế cũng có báo.
Chiếm dòng chủ lưu trong báo chí hồi
ấy vẫn là những cơ quan chuyên lo việc tuyên truyền, tô điểm cho chế
độ thực dân, kêu gọi nhân dân hợp tác với nhà cầm quyền. Những tiếng
nói phản kháng tuy đã có cất lên song vẫn còn rất yếu ớt và luôn
luôn bị bóp nghẹt. Tuy nhiên những tiếng nói này lại biểu thị một ý
thức dân tộc đang tự khẳng định qua những khuynh hướng yêu nước
thương nòi, đòi quyền dân chủ, lên án chế độ cai trị hà khắc và bất
công xã hội... Đó là tín hiệu báo trước sự xuất hiện tất yếu của
một nền báo chí thật sự cách mạng.
Sự phát triển cho dù chật vật của
báo chí Việt Nam dưới chế độ cũ vẫn từng bước tạo nên một đội
ngũ những người làm báo chuyên nghiệp. Trừ một số rất ít, người làm
báo lúc này không còn là viên chức hoặc là kẻ cúc cung tận tụy phục vụ
quyền lợi thực dân. Gia nhập đội ngũ làm báo có những nhà hoạt động
chính trị như Trần Huy Liệu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng..., những người
làm chính trị dưới dạng nghiên cứu học thuật như Phạm Quỳnh, Nguyễn
Văn Vĩnh..., những nhà dịch thuật như Trần Chánh Chiếu, Phan Kế Bính,
Nguyễn Đỗ Mục..., những trí thức du học từ nước ngoài về như Nguyễn
An Ninh, Hoàng Tích Chu..., Chính họ chứ không phải nhà cầm quyền, là những
người quyết định nội dung báo chí - tất nhiên theo quan điểm riêng của
mỗi người cùng với tất cả ràng buộc khắt khe dưới chế độ thuộc
địa.
Với việc người Pháp đẩy mạnh
việc khai thác Đông Dương để bù đắp cho nền kinh tế chính quốc bị
kiệt quệ bởi chiến tranh thế giới thứ nhất đi đôi với sự gia tăng
đàn áp về chính trị, xã hội nông nghiệp Việt Nam càng bị bần cùng
hóa, giai cấp tư sản bản xứ hình thành và cùng với nó là sự xuất hiện
và lớn mạnh của giai cấp công nhân. Trên thế giới, Cách mạng Tháng Mười
đã thành công ở Nga. Đảng Cộng sản Pháp đã thành lập với chính sách
đúng đắn đối với vấn đề thuộc địa. ở Việt Nam dần dần hội tụ
những điều kiện khách quan cho sự ra đời của một phong trào yêu nước,
dân chủ được chỉ đạo bởi tư tưởng của giai cấp công nhân. Hoàn cảnh
trong nước cũng như bối cảnh quốc tế đã chín muồi cho việc truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thành lập tổ chức tiên phong của giai cấp
công nhân, vận động nhân dân đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, giành độc
lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những phương tiện
không thể thiếu để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược ấy là xuất
bản báo chí.
Nhưng thực tiễn cho thấy, trong một
nước Việt Nam đang bị cùm kẹp dưới chế độ thống trị hà khắc của
nước ngoài, báo chí cách mạng không thể công khai ra đời. Ngay đến những
người trong cuộc như Lê Thành Lư, chủ bút tờ báo mang cái tên hẳn có dụng
ý là Pháp Việt nhất gia (!) cũng đã phải chua chát thốt lên khi tờ báo
của ông bị đóng cửa: "... Có miệng không được nói, có tư tưởng
không thể giải bày, đó là cái số kiếp của 25 triệu đồng bào ta, mà
cũng là cái đặc ân của chính phủ Pháp ban cho 25 triệu đồng bào ta. Lịch
sử báo giới trải qua mấy chục năm nay, những người làm báo toàn là những
người miệng câm tai điếc...".
Nói cách khác, lịch sử đòi hỏi
và đã hội đủ những tiền đề cho sự ra đời một tờ báo cách mạng.
Nhưng tờ báo ấy chỉ có thể thực hiện và lưu hành bí mật. Đó chính
là điều Nguyễn ái Quốc đã rút ra khi Người sáng lập báo Thanh Niên, số
1 ra ngày 21-6-1925 và từ nước ngoài đưa về lưu hành bí mật trong nước.
Qua 90 số báo do Người trực tiếp chỉ đạo, xuất bản đều đặn hằng
tuần trong gần hai năm, báo Thanh Niên đã làm một sứ mệnh trọng đại là
vạch rõ đường lối, thức tỉnh quần chúng, tập hợp đội ngũ, đào tạo
cán bộ, chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự
ra đời của Đảng Cộng sản.
Với báo Thanh Niên, đã mở ra dòng
báo chí cách mạng Việt Nam.
Từ ngày tờ báo đầu tiên xuất bản
số đầu cho đến tháng tám 1945, trong vòng hai mươi năm, báo chí cách mạng
gắn liền số phận của mình với cuộc vận động cách mạng của nhân
dân, khi phát triển mạnh trong cao trào, khi tạm thời co lại do thoái trào,
nhưng không lúc nào từ bỏ vai trò là những phương tiện vận động chính
trị của Đảng lãnh đạo hoặc của các đoàn thể nhân dân.
Qua hai mươi năm, có thể ghi nhận
mấy thời kỳ báo chí hoạt động sôi nổi nhất. Tiếp ngay sau khi thành lập
Đảng Cộng sản Đông Dương, một loạt báo chí được xuất bản và lưu
hành, ở trung ương, ở nhiều địa phương và ngay cả trong nhà tù, với nội
dung chủ yếu là giáo dục cán bộ về con đường cách mạng và đấu
tranh chống những khuynh hướng chính trị sai lầm. Sự nở rộ này về
khách quan có lẽ phần nào do được khích lệ bởi kinh nghiệm thành công
của báo Thanh Niên song không phải là sự tự phát. Nghị quyết Hội nghị
lần thứ nhất của Trung ương (10-1930) đã nói rõ Đảng cần ra báo để
phổ biến tôn chỉ, mục đích của mình và bày tỏ thái độ đối với
những vấn đề thời cuộc.
Những năm 1936 - 1939 là một thời
kỳ hoạt động đặc sắc. Cuộc đấu tranh sâu rộng của nhân dân thế
giới chống hiểm họa phát-xít và thắng lợi của Mặt trận Nhân dân
Pháp ở chính quốc buộc nhà cầm quyền thực dân phải trả lại tự do
cho một số tù chính trị và nới lỏng chính sách ở Đông Dương. Những
người cách mạng tranh thủ thời cơ nhanh chóng vào cuộc, hoạt động báo
chí công khai với nhiều hình thức đầy sáng tạo. Tuy chỉ tồn tại trong
một thời gian ngắn, báo chí cách mạng đã để lại dấu ấn sâu sắc
trong nhân dân trước khi bị nhà cầm quyền nhân danh chiến tranh bắt phải
trở lại con đường đấu tranh ngoài vòng pháp luật.
Trở về nước để chỉ đạo cách
mạng sau bao nhiêu năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
tờ Việt Nam Độc lập với mục đích Kêu gọi nhân dân trẻ với già -
Đoàn kết vững bền như khối sắt - Để cùng nhau cứu nước Nam ta.
Với sự ra đời của báo Cứu Quốc,
cơ quan của Tổng bộ Việt Minh (số 1 ra ngày 25-1-1942) của tờ Cờ Giải
Phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của Đảng (ngày 10-10-1942), của Tạp
chí Cộng sản chuyên về lý luận cùng với nhiều tờ báo khác ở các địa
phương hoặc của các đoàn thể, báo chí càng mạnh mẽ dấn thân vào tiến
trình cách mạng. Báo chí đã góp phần quán triệt đường lối cứu nước
trong cán bộ và nhân dân, thống nhất nhận thức, thống nhất hành động
và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị và tiến hành
thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Trong thời gian ấy, do bầu không
khí ngột ngạt giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và đặc biệt là sau
khi phát-xít Nhật phát động chiến tranh Thái Bình Dương, báo chí công
khai tuy có tăng về số lượng và cải tiến nhất định về hình thức, vẫn
lâm vào bế tắc. Các nhà báo yêu nước và có lương tâm né tránh thời
cuộc; một số người đi vào con đường văn học, biên khảo hoặc tìm về
cội nguồn qua các đề tài lịch sử.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
thành lập, đặt lên vai báo chí cách mạng trách nhiệm chủ lưu trong đời
sống báo chí cả nước.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, Đảng
và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tạo điều kiện phát triển các phương
tiện thông tin đại chúng. Từ những kinh nghiệm quý báu tích lũy được
sau mấy chục năm đấu tranh, báo chí đã làm tốt chức năng của mình
trong hai cuộc kháng chiến. Báo chí có mặt ở hàng đầu trên mọi trận
tuyến: tại miền bắc, hậu phương lớn của cả nước, ở vùng giải
phóng miền nam và ở ngay các đô thị do đối phương kiểm soát. Gần bốn
trăm nhà báo liệt sĩ đã ngã xuống ở các mặt trận vì bom đạn trong
khi đang hành nghề.
Qua việc cung cấp thực tế và chuẩn
bị dư luận xã hội, báo chí đã góp phần luận cứ cho Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Ngày nay, báo
chí đã thật sự trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội,
một sinh hoạt văn hóa và tinh thần phong phú, một phương tiện thực thi dân
chủ và đấu tranh cho công bằng xã hội; tóm lại báo chí tham gia mọi lĩnh
vực hoạt động nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Từ mươi ấn phẩm định kỳ với
số lượng phát hành không đáng kể hồi đầu thế kỷ, đến nay trên dải
đất Việt Nam đã hình thành một hệ thống thông tin đại chúng hùng hậu
và từng bước hiện đại, với 490 tên báo, xuất bản 645 ấn phẩm định
kỳ, trong đó có 160 tờ nhật báo và tuần báo. Một vài tờ đạt mức phát
hành trên dưới nửa triệu bản mỗi kỳ. Một số tờ đã lên mạng điện
tử, được độc giả ở nước ngoài đặc biệt quan tâm. Đài phát thanh
phủ sóng toàn quốc, mỗi ngày phát 140 giờ trên 6 hệ. Ngoài tiếng Việt
là ngôn ngữ phổ thông, đài còn phát nhiều chương trình tiếng dân tộc
thiểu số và các chương trình đối ngoại bằng mười ngoại ngữ. Truyền
hình Việt Nam tỏa sóng trên bốn kênh, được các đài địa phương cũng
như hệ thống trạm tiếp sóng rải rác trong cả nước phát tiếp các chương
trình. Mạng lưới phát thanh, truyền hình địa phương rộng khắp. Thông tấn
xã Việt Nam là một hãng thông tấn mạnh, có phân xã ở tất cả 61 tỉnh,
thành phố trong nước và 22 phân xã ở nước ngoài. Đội ngũ nhà báo
chuyên nghiệp, không tính các cộng tác viên, đạt con số trên dưới một
vạn người.
Những cống hiến đáng ghi
nhận
Cho dù mục tiêu của những người
cho xuất bản tờ báo tiếng Việt đầu tiên là thực dụng và thiển cận,
sau hơn một thế kỷ, đặc biệt là từ khi xuất hiện dòng báo chí cách
mạng, báo chí Việt Nam luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong mọi tiến
trình đấu tranh và phát triển của dân tộc.
Với vai trò ấy, theo dòng thời
gian và qua các lĩnh vực, có thể ghi nhận những cống hiến chính sau đây:
Một.
Cùng với
nhà trường, báo chí phổ cập chữ quốc ngữ, thống nhất và nâng cao
ngôn ngữ Việt Nam, từng bước xây dựng nó trở thành một phương tiện
giao lưu nhuần nhị, có đầy đủ khả năng chuyển tải văn hóa, khoa học
không thua kém bất kỳ ngôn ngữ hiện đại nào trên thế giới.
Báo chí không chỉ là phương tiện
thông tin mà còn là nơi công bố những tác phẩm văn học đương đại đầu
tiên của Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX và ít nhất trong vài ba thập
niên đầu của thế kỷ này, khi ngành xuất bản chưa hình thành, trang báo
là nơi duy nhất các nhà văn cho ra mắt tác phẩm của mình và thiết lập
mối liên hệ với công chúng. Ngôn ngữ báo chí không ngừng được cải
tiến và nâng cao cho phù hợp nhu cầu phát triển xã hội. Có thể khẳng
định, khách quan mà nói, báo chí đã góp phần chuẩn bị cho sự nở rộ
của văn xuôi Việt Nam những năm 30 trở đi. Báo chí là vườn ươm cho
hơn một thế hệ nhà văn tài danh đương đại.
Qua báo chí, ngôn ngữ viết Việt
Nam phát triển từ một dạng ngôn ngữ mang nặng dấu ấn của lối nói
ngày thường trong dân gian với cách phát âm nhiều khi chưa chuẩn, chính tả
còn theo ngẫu hứng và quy tắc cú pháp chưa rạch ròi hoặc là lối văn biền
ngẫu xa rời cuộc sống, thành ngôn ngữ văn học đích thực. Mang so sánh
những bài báo đầu thế kỷ với báo chí ngày nay, chúng ta có thể nhận
thấy bước tiến vượt bậc.
Công lao lớn của báo chí Việt
Nam là góp phần hiện đại hóa và thống nhất ngôn ngữ từ nam ra bắc, từ
bắc vào nam, làm giàu thêm ngôn ngữ dân tộc bằng nhiều từ ngữ địa
phương hoặc vay mượn của nước ngoài, từ đó cùng với văn học tạo nên
cách viết, cách nói chuẩn mực cho toàn quốc - trong hoàn cảnh chưa có văn
bản pháp quy.
Nếu cuối thế kỷ trước, một người dân sinh ra ở miền
bắc với học vấn trung bình có thể rất khó hiểu, thậm chí không thể
hiểu nổi khi đọc một bài đăng trên tờ Gia Định báo hoặc tờ Nông Cổ
Mín Đàm, thì ngay nay đọc một bài báo cắt rời không rõ xuất xứ, có
khi chúng ta không thể phân biệt bài báo ấy được in trên một ấn phẩm
xuất bản ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc một địa phương nào
khác. Như mọi người đều biết, thống nhất ngôn ngữ là một nhân tố
cực kỳ hệ trọng trong việc thống nhất dân tộc, thắt chặt sự nhất
trí về chính trị, tinh thần và giữ gìn bản sắc dân tộc. Đây là một
cống hiến quan trọng của báo chí cho nền văn hóa Việt Nam.
Hai.
Báo chí góp
phần nâng cao dân trí.
Thoạt đầu là những bài về luân
lý, đạo đức chưa ra ngoài ý thức hệ phong kiến, dần dần báo chí đề
cập những vấn đề hệ trọng hơn như gia đình và xã hội, nam nữ bình
quyền, chống mê tín, hủ tục, cải tiến hương thôn,... Nhiều nhà báo sớm
ý thức được việc sử dụng báo chí để truyền bá những ý tưởng về
dân chủ, dân quyền. Chính qua báo chí mà người dân Việt Nam học vấn
trung bình có thể tiếp cận - cho dù không có hệ thống - tư tưởng của
các triết gia thế kỷ ánh sáng Pháp, của các nhà tân học Trung Hoa và Nhật
Bản, của các nhà văn hóa phương Tây (thường được gọi dưới cái tên
chung chung là Âu Tây tư tưởng). Chính qua báo chí mà người dân Việt Nam
khi chưa có dịp tiếp xúc các nhà cách mạng, được nghe nói về chủ nghĩa
xã hội, về các nhà văn hóa tiến bộ trên thế giới. Những người hoạt
động chính trị sử dụng diễn đàn báo chí để cổ xúy nhân dân ủng hộ
quan điểm của mình. Các cuộc tranh luận về duy vật và duy tâm, quốc gia
hay quốc tế, cộng sản hoặc trốt-kít, nghệ thuật vị nghệ thuật hay
nghệ thuật vị dân sinh,... là những lớp huấn luyện thật sự về quan
điểm chính trị và triết học, để lại dấu ấn sâu sắc trong hơn một
thế hệ trí thức và cán bộ Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám.
Từ năm 1945, khi chính quyền đã
thuộc về nhân dân, thì nâng cao dân trí được coi là một trong những chức
năng lớn của báo chí. Trên các trang báo cũng như trên làn sóng điện, việc
truyền bá kiến thức, phổ cập khoa học, xây dựng nếp sống văn hóa...
trở thành những cuộc vận động thường xuyên. Đài phát thanh và đài
truyền hình có các tiết mục khoa học giáo dục, phát triển thành những
chương trình giáo dục từ xa, đào tạo đại học mở. Có một thực tế
là trong cuộc sống ngày thường, người dân làm quen với sinh hoạt hiện
đại nhiều khi không phải nhờ học vấn tiếp thụ ở nhà trường mà dường
như qua các phương tiện thông tin đại chúng là chính. Báo chí Việt Nam
ngày nay đang thật sự làm công việc giáo dục ngoài học đường và sau học
đường.
Ba.
Ngay từ khi đất
nước chưa giành lại được độc lập, tự do, báo chí đã sớm khơi gợi
ý thức dân tộc, cổ vũ tư tưởng yêu nước, dân chủ, đấu tranh cho bình
đẳng, bình quyền và công bằng xã hội. Hiện tượng đông đảo trí
thức, học sinh, thanh niên nô nức đến với cách mạng mùa thu 1945 và sau
đó dễ dàng tiếp nhận chủ nghĩa xã hội chắc hẳn có vai trò đóng góp
của báo chí.
Như đã nói, báo Thanh Niên, tờ
báo mở đầu dòng báo chí cách mạng, đã có công chuẩn bị về lý luận,
chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Từ đấy, báo chí không ngừng giương
cao ngọn cờ cách mạng. Qua thông tin và hướng dẫn dư luận, báo chí tham
gia cuộc phấn đấu làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh dần dần giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội. Báo chí tự
nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng đồng thời chủ động
góp phần xây dựng Đảng. Báo chí đã trở thành chiếc cầu nối giữa Đảng,
Nhà nước với nhân dân. Sự trưởng thành về chính trị của nhân dân ta
cũng như sự nhất trí về tinh thần trong xã hội ta không thể không có phần
cống hiến của báo chí.
Bốn.
Là phương
tiện giao lưu quốc tế nhanh chóng và hiện đại, báo chí đã góp phần giới
thiệu công cuộc đấu tranh và xây dựng của nhân dân Việt Nam với thế
giới, làm cho bè bạn năm châu thêm hiểu biết và tăng cường ủng hộ sự
nghiệp chính nghĩa của chúng ta. Ngay từ khi đất nước Việt Nam còn
trong vòng bao vây thù địch, Đài phát thanh đã là phương tiện thông tin
đối ngoại thường xuyên. Trong những ngày chiến tranh ác liệt, trên các
trang báo Việt Nam không lúc nào thiếu vắng những thông tin quốc tế, trước
hết là tin tức về các trào lưu dân chủ, tiến bộ và xã hội chủ nghĩa,
về phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Những thông tin ấy
mang thêm phấn khởi và củng cố ý chí sắt đá của chúng ta trong cuộc
đấu tranh gian khổ vì độc lập tự do.
Ngày nay, trong sự hội nhập quốc
tế, báo chí càng là phương tiện, là diễn đàn đặc thù để thực hiện
giao lưu hai chiều. Qua kênh thông tin, một mặt chúng ta tiếp thụ kinh nghiệm,
khoa học và công nghệ các nước phát triển và tinh hoa văn hóa thế giới,
mặt khác gạn lọc những chỗ không phù hợp truyền thống của mình, đấu
tranh chống lại mưu đồ độc ác của các thế lực thù địch, bảo vệ
lợi ích dân tộc. Báo chí luôn luôn là diễn đàn hữu hiệu tạo môi trường
hòa bình và điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế -
xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam.
Cuối cùng, qua một thế kỷ phát
triển, báo chí đã đào tạo nên một đội ngũ những người làm báo có
bản lĩnh chính trị và nghề nghiệp vững vàng, trung thành với Tổ quốc,
với nhân dân; không ít người lỗi lạc về tài năng, có uy tín trong xã hội,
được đồng nghiệp quốc tế nể trọng.
Một nét hết sức đặc sắc trong
lịch sử báo chí ta là nhiều nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước, từ
Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh đạo Đảng như Nguyễn Văn Cừ, Phan
Đăng Lưu, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh..., đến những người
đứng đầu Chính phủ như Phạm Văn Đồng..., lãnh đạo Mặt trận Dân tộc
thống nhất như Nguyễn Hữu Thọ, Lê Quang Đạo và nhiều vị khác, từng
là những nhà báo có tên tuổi hoặc từng hoạt động báo chí thật sự.
Không ít nhà báo Việt Nam đã trở thành những nhà văn, học giả, nhà hoạt
động văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao nổi tiếng ở trong nước và
nước ngoài.
Điều thiết cốt và rất đáng mừng
là đội ngũ làm báo gồm nhiều thế hệ hiện nay - từ lớp người được
tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh đến lớp trẻ trưởng thành sau hòa
bình - có đủ bản lĩnh và năng lực tiếp nhận thế kỷ XXI với tất cả
những cơ hội, thách thức hiện hữu cũng như còn tiềm ẩn của nó, để
cùng dân tộc tiến lên theo lộ trình đã vạch dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đôi điều cảm nhận
Qua một thế kỷ chứa đựng nhiều
biến chuyển quyết định vận mệnh cả một dân tộc như thế kỷ XX, từ
một lĩnh vực phong phú và đặc sắc như hoạt động báo chí, thật không
dễ dàng rút ra những bài học. Chúng tôi chỉ xin nói lên đôi điều cảm
nhận.
Trước hết, báo chí ra đời
và lớn lên theo quá trình tiến triển của đất nước.
Chế độ
chính trị và trình độ kinh tế - xã hội cao hay thấp của một quốc gia
quyết định hình dạng và cấp độ công nghệ của nền báo chí quốc gia
ấy. Báo chí chỉ có thể phát triển lành mạnh trong một xã hội ổn định
về chính trị, tăng trưởng về kinh tế, cải thiện về đời sống, an
ninh về quốc phòng và trong môi trường quốc tế hòa bình. Xã hội rối
ren tất khó tránh dẫn đến báo chí suy thoái thậm chí hỗn loạn. Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy điều đó, rõ rệt nhất là vào một số thời
kỳ khủng hoảng trước năm 1945, ở Hà Nội năm 1946 (do hoạt động của
nhóm phản động dựa vào sự có mặt của quân đội nước ngoài) và ở
Sài Gòn thời chống Mỹ.
Báo chí sống nhờ công chúng. Kinh
tế oặt oẹo, sức mua giảm sút thì báo chí làm sao có thể khá lên. Chỉ
cần nhìn qua các nước láng giềng của chúng ta vài năm trước đây, khi
cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ xảy ra, nhiều nghìn nhà báo bỗng
chốc mất việc làm, kéo theo sự thất nghiệp của nhiều chục nghìn công
nhân in ấn, nhân viên kỹ thuật và người phát hành.
Bởi vậy, nghĩa vụ của những
người làm báo, mối quan tâm thường trực của tất cả, không loại trừ
một ai, phải chăng là cùng nhau chăm lo gìn giữ ổn định chính trị và
vun đắp cho sự phát triển của đất nước. Chúng ta cũng có nhiều bài học.
Chẳng phải là báo chí Việt Nam đầu những năm 80 đã từng gặp vô vàn
khó khăn khi đất nước lâm vào khủng hoảng xã hội, để rồi sau đó khởi
sắc với công cuộc đổi mới và tiếp tục lớn mạnh theo đà những
thành tựu mà đất nước đạt được đó sao?
Những người làm báo Việt Nam
ngày nay hoạt động trong một nền báo chí tự do được Hiến pháp và
pháp luật bảo hộ. Không có bất kỳ hạn chế nào đối với quyền hành
nghề đúng pháp luật của nhà báo. Điều tâm niệm là vì sự phát triển
của Tổ quốc thân yêu, vì hạnh phúc của nhân dân, mỗi người làm báo
phải thường xuyên nâng cao trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của
mình. Nếu có ai đó nói đến sự hạn chế nào thì đây đúng là sự
hạn chế duy nhất và hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ cái tâm của mỗi
người cầm bút trong đời sống nghề nghiệp của mình.
Hai là, báo chí vốn là tấm
gương phản ánh trình độ phát triển của xã hội.
Nó chỉ có thể
lớn lên khi kinh tế đạt tới mức nào đó và hoạt động thuận lợi
trong môi trường dân chủ, tự do. Báo chí hiện đại hình thành đầu tiên
ở các nước công nghiệp. Và xã hội càng dân chủ, báo chí càng được
hưởng nhiều tự do. Có thể ví dân chủ xã hội là cánh sóng, báo chí
là con thuyền. Sóng nâng thuyền lên nhưng nhỡ gặp ngọn gió chướng, sóng
có thể lật thuyền. Bởi vậy, các quốc gia đều quan tâm xây dựng môi
trường pháp lý cho báo chí hoạt động lành mạnh, đi đôi với việc thực
thi một chính sách kinh tế báo chí hợp lý.
ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng
Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Luật Báo chí.
Trong nửa thế kỷ, Quốc hội Việt Nam ba lần thông qua Luật Báo chí mới
hoặc sửa đổi luật cho hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với điều kiện xã
hội từng thời kỳ trên tinh thần quán xuyến là bảo đảm quyền tự do
báo chí của công dân. Mặt khác, mặc dù nền tài chính quốc gia chưa đủ
mạnh, hằng năm Nhà nước vẫn dành một phần ngân sách thỏa đáng để
đầu tư xây dựng các phương tiện thông tin công cộng như phát thanh, truyền
hình. Báo in được phép giữ lại phần thuế mình phải đóng theo luật định
để tăng cường cơ sở kỹ thuật và đổi mới công nghệ. Nhà nước chịu
mọi chi phí cho việc đào tạo báo chí bậc đại học. Phương hướng
chung về chính sách là đúng đắn, tuy nhiên trong việc biến ý tưởng thành
cuộc sống vẫn tồn tại không ít vấn đề cần tiếp tục xử lý. Còn
khá nhiều việc phải làm để tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động
của báo chí.
Thứ ba, mọi người đều nói
thế kỷ XXI là thế kỷ của kinh tế tri thức, của công nghệ tin học.
Báo
chí hiện đại - gọi chung là média - quả đang đứng trước viễn cảnh hết
sức huy hoàng. Tuy vậy chưa ai có thể hình dung cụ thể diện mạo những
média mới sẽ như thế nào. Điều duy nhất có thể khẳng định là cho
dù gia đình các loại hình báo chí cũ và mới có phong phú, đa dạng đến
bao nhiêu, thì các média cũng không thể thoát ly ngôn ngữ và văn tự, cái
vỏ vật chất và phương tiện lưu giữ tư duy của con người. Còn chắc
chắn hơn nữa là cho dù công nghệ và các hình thức biểu thị média sẽ
thay đổi đến đâu, bản chất báo chí với tư cách là phương tiện chính
trị - văn hóa - tư tưởng vẫn còn nguyên đó và vẫn được quyết định
bởi tài năng, trí tuệ và tấm lòng của con người.
Nói một cách khác, đội ngũ những
người làm báo Việt Nam hôm nay khi tiến vào tiếp nhận thế kỷ XXI rất
cần nắm vững tri thức và công nghệ hiện đại đã đành, đồng thời vẫn
rất cần - nếu không nói là cần hơn - trau dồi đạo đức nghề nghiệp,
gìn giữ cái tâm. Chính sách đào tạo cán bộ báo chí phải bước đều
hai chân: kiến thức và ý chí chính trị; công nghệ và đạo đức nghề
nghiệp. Giả thiết trong tương lai, nếu đội ngũ những người làm
báo chúng ta có thua chị kém em phần nào về công nghệ và kỹ năng thì
báo chí nước ta sẽ cam chịu mặt lạc hậu nào đó so với bạn bè, nhưng
nếu để tiếp tục xảy ra sự suy thoái về đạo đức nghề nghiệp thì
sẽ khó tránh khỏi từng bước làm biến dạng đặc trưng cơ bản mà
chúng ta rất đỗi tự hào là truyền thống cách mạng của báo chí Việt
Nam.
