>>> Doc bao trong nuoc

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

Diễn đàn

Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Tiến sĩ hoàng thị liễu

Sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy tính chủ động, nâng cao năng lực hoạt động, tăng cường khả năng cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Công ty hóa DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội là một vấn đề lớn và phức tạp, cần có ý kiến đóng góp tích cực của các doanh nghiệp, đồng thời dự báo trước những thuận lợi, khó khăn đối với các doanh nghiệp thuộc diện chuyển đổi, hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt kinh tế - xã hội của khối DNNN thì thực trạng của DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội (kinh doanh thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả và thiếu tính cạnh tranh) vẫn chậm được khắc phục. Quá trình sắp xếp các doanh nghiệp này tuy đã đạt được một số kết quả nhưng vẫn còn một số hạn chế.

Chức năng quản lý nhà nước và chức năng của chủ sở hữu nhà nước chưa được tách biệt rõ ràng cả về khái niệm lẫn phương thức thực hiện. Bản chất pháp lý về trách nhiệm hữu hạn của loại hình doanh nghiệp này chưa được cụ thể, Nhà nước còn can thiệp sâu vào quản lý doanh nghiệp thông qua việc đảo nợ, khoanh nợ, giới hạn nợ... hoặc vào các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.

Còn tồn tại nhiều thủ tục phiền hà đối với doanh nghiệp do các quy định pháp lý chưa phù hợp. Trách nhiệm cá nhân trong quản lý nhà nước chưa rõ ràng. Cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm giám đốc và hội đồng quản trị và quan hệ giữa họ chưa thích hợp. Cho tới nay, các doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị, xã hội, do chưa có luật điều chỉnh riêng, nên vẫn tự đăng ký hoạt động, chủ yếu là theo Luật DNNN hoặc Luật doanh nghiệp. Tài sản, vốn trong doanh nghiệp rất đa dạng có thể là tài sản, vốn thuộc sở hữu hoàn toàn của tổ chức đoàn thể, có thể 100% thuộc sở hữu Nhà nước và cũng có thể tài sản, vốn vừa thuộc sở hữu của tổ chức, vừa của nhà nước, thậm chí có cả phần vốn của các thành phần kinh tế khác.

Theo quy định của Luật doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên là doanh nghiệp chỉ do một tổ chức làm chủ sở hữu và có những đặc trưng ưu việt:

Công ty do một tổ chức duy nhất làm chủ sở hữu và mọi quyền hạn, trách nhiệm của chủ sở hữu tập trung vào tổ chức đó. Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ, tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp..., tách bạch được chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp; hạn chế được sự tùy tiện của chủ sở hữu trong việc rút vốn, điều chuyển vốn, thu hồi lợi nhuận so với DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, xã hội.

Việc xác định một tổ chức làm chủ sở hữu sẽ góp phần giải quyết tình trạng có nhiều đại diện chủ sở hữu nhưng không có chủ sở hữu nào có trách nhiệm đầy đủ. Quyền của công ty được mở rộng hơn tạo nên sự năng động, tự chủ trong kinh doanh, nhưng vẫn giữ vững định hướng và sự quản lý của chủ sở hữu. Quá trình chuyển đổi này sẽ tạo nên môi trường pháp lý bình đẳng tiến tới việc các doanh nghiệp hoạt động theo luật thống nhất. Bằng việc chuyển đổi và những tác động tích cực, các doanh nghiệp sẽ kinh doanh hiệu quả hơn, nâng cao được sự cạnh tranh của mình, đáp ứng được yêu cầu hội nhập của khu vực và quốc tế.

Vậy thực chất và những đặc điểm chi phối đến quá trình chuyển đổi là gì?

- Bản chất pháp lý của quá trình chuyển đổi là một sự thay đổi về chất, không phải chỉ là hình thức "bình mới rượu cũ" như một số cách hiểu. Thay đổi cơ bản nhất là thay đổi về khung pháp lý, khi chuyển sang loại hình công ty TNHH một thành viên thì doanh nghiệp sẽ hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với những quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức quản lý và môi trường hoạt động nói chung như các doanh nghiệp khác của Luật doanh nghiêp.

- Về đối tượng chuyển đổi, chỉ là những DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, xã hội hoạt động kinh doanh, và trong doanh nghiệp đó, chủ sở hữu phải nắm giữ 100% vốn. Tiêu chí xác định doanh nghiệp diện chuyển đổi cần phải quy định cụ thể như đối tượng cổ phần hóa.

- Về vấn đề chủ sở hữu: Nhiều ý kiến cho rằng thành lập công ty đầu tư tài chính nhà nước và giao cho công ty này làm chủ sở hữu là phương án khả thi phù hợp với tiến trình đổi mới DNNN. Tuy nhiên, cũng còn một số ý kiến cho rằng để chuẩn bị tốt cho việc chuyển đổi, thì thời gian đầu vẫn giữ quyền chủ sở hữu như hiện nay, sau đó chuyển dần chủ sở hữu sang công ty đầu tư tài chính Nhà nước.

Công ty đầu tư tài chính là vấn đề mới đã được ghi trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) năm 1997. Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính nghiên cứu soạn thảo để thành lập. Nhiều ý kiến của các doanh nghiệp quan tâm đến tính hiện thực, khả thi của loại hình này với vai trò, nhiệm vụ quản lý rất nhiều doanh nghiệp đòi hỏi khả năng, trình độ quản lý nâng cao mới đáp ứng được yêu cầu. Các vấn đề khác như cơ chế quản lý, nhân lực, bộ máy để thực hiện quản lý doanh nghiệp ở các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức đoàn thể, vấn đề quyền đi đôi với nghĩa vụ...

- Về mô hình quản lý trong công ty TNHH một thành viên: Qua nghiên cứu trao đổi và các tài liệu dự thảo, có thể thấy có hai mô hình: Đó là mô hình hội đồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc), và mô hình chủ tịch công ty và giám đốc (tổng giám đốc). Việc lựa chọn mô hình nào thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu có thể căn cứ vào doanh thu, lợi nhuận đóng góp ngân sách và số lượng lao động. So với mô hình hội đồng quản trị trong luật DNNN hiện hành, mô hình này khắc phục được những hạn chế và thông thoáng hơn. Chế độ quyền hạn tương xứng với trách nhiệm. Tuy nhiên, có ý kiến một số doanh nghiệp băn khoăn về thẩm quyền của hội đồng quản trị, giám đốc công ty khi quyết định chế độ lương, liệu công ty đó có thực hiện hệ thống thang bảng lương của Nhà nước nữa hay không? Quan hệ với các cơ quan bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế như thế nào?

- Về cơ chế tài chính khi chuyển đổi, những nguyên tắc xử lý tài chính đối với doanh nghiệp khi chuyển đổi: Đối với tài sản, các khoản nợ dôi thừa hay thiếu hụt thì khi chuyển đổi, doanh nghiệp được hạch toán tăng hay giảm vào vốn điều lệ sau khi đã xác định rõ trách nhiệm. Điều này khác với Luật DNNN hiện hành là phải hạch toán vào thu nhập của DNNN. Doanh nghiệp được miễn các khoản lệ phí khi đăng ký lại quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp theo pháp nhân mới. Để xác định vốn điều lệ của doanh nghiệp, phải căn cứ vào số vốn Nhà nước hiện có sau khi đã xử lý và chủ sở hữu có thể bổ sung vốn trong thời gian quy định; DNNN thuộc tổng công ty khi chuyển đổi thì các quyền của tổng công ty đối với doanh nghiệp đó như quyền điều chuyển vốn, sử dụng vốn... bị hạn chế, điều này sẽ mâu thuẫn với quy chế tài chính của tổng công ty và vấn đề đặt ra cần sửa đổi quy chế tài chính của tổng công ty. Vấn đề nữa là trong Luật DNNN không quy định tổng công ty được ủy quyền chủ sở hữu. Nếu để bảo đảm đúng tính pháp lý phải sửa những điểm nêu trên thì việc tiến hành công ty hóa mới thuận lợi.

Theo Luật doanh nghiệp, đại diện chủ sở hữu được quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên cần phải có quy định thế nào để vừa bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu đích thực là Nhà nước, vừa tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp.

Về đầu tư theo Luật doanh nghiệp. Công ty TNHH một thành viên xác định thẩm quyền quyết định đầu tư căn cứ vào tỷ lệ vốn đầu tư trên tổng giá trị tài sản. Vì vậy, cũng cần sửa đổi quy chế quản lý đầu tư cho thống nhất. Bên cạnh đó, các quy chế chung, chuẩn mực kế toán trong hệ thống doanh nghiệp hiện nay cũng cần được nghiên cứu hoàn chỉnh.

- Về trình tự thủ tục chuyển đổi, có thể phải qua nhiều bước từ xây dựng kế hoạch chuyển đổi, thông báo quyết định tiến hành chuyển đổi đến kiểm kê phân loại, xác định vốn, tài sản, xây dựng phương án chuyển đổi, dự thảo điều lệ, xử lý tài sản, nợ, đăng ký kinh doanh...

- Trong quá trình chuyển đổi, có thể xuất hiện tâm lý xem doanh nghiệp sau chuyển đổi là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do vậy, cần phải tuyên truyền cho các đối tượng chuyển đổi hiểu rõ mục đích, bản chất, lợi ích của việc chuyển đổi, và chủ trương của Nhà nước trong việc thiết lập mối quan hệ bình đẳng không phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp trước hoặc sau chuyển đổi, hoặc giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

- Tình trạng chưa kịp phân loại, xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng chuyển đổi và quyết định danh sách doanh nghiệp chuyển đổi cũng làm chậm lại tiến trình chuyển đổi doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề này, Nhà nước cần có biện pháp điều hành tích cực, chủ động sắp xếp, phân loại doanh nghiệp và lên kế hoạch, lộ trình từng bước cho việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên.

Quá trình công ty hóa các DNNN chỉ là một trong những giải pháp để thực hiện cải cách DNNN ở Việt Nam. Đây là vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu thấu đáo hơn cả về lý luận lẫn thực tiễn hình thức chuyển đổi này. Theo chúng tôi, cũng nên cân nhắc kỹ trước khi chọn phương án tối ưu là chủ sở hữu cho doanh nghiệp sau chuyển đổi. Việc thành lập công ty đầu tư tài chính sẽ tập trung được chức năng quản lý lớn hơn và sẽ có điều kiện để quản lý tốt trên nhiều lĩnh vực kinh doanh. Muốn vậy, trình độ quản lý cần được nâng cao so với hiện nay; đó là mục tiêu yêu cầu trong công tác bồi dưỡng kiến thức quản lý tài chính để thực hiện tiến trình đổi mới doanh nghiệp. Qua nghiên cứu mô hình một số nước trên thế giới và ý kiến tại các cuộc hội thảo, thì việc ra đời công ty đầu tư tài chính nhà nước là hướng phù hợp khi Nhà nước chỉ giữ lại một số DNNN trong các lĩnh vực then chốt.

 

  Trang chinh


©  Thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA.  Bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: tochucgiaodiem@yahoo.com & giaodiem@giaodiem.com
. ..........