- Cần khôi phục dấu tích triều
Tây Sơn ở Huế
- Tạ ngọc Liễn
Vừa qua, nhân chuyến du khảo lịch
sử ở một số tỉnh miền trung, tôi có dịp thăm lại Huế lần thứ hai.
Dù đã qua 15 năm song ấn tượng của tôi về Huế vẫn nguyên vẹn trong
ký ức đẹp đẽ buổi đầu tới Huế: Khu hoàng thành với các cung điện,
lăng Minh Mệnh, Tự Đức, Khải Định với nghệ thuật kiến trúc tuyệt vời,
tất cả là một di sản văn hóa to lớn, quý giá của đất nước, và kinh
thành Huế hoàn toàn xứng danh là di sản văn hóa của nhân loại. Tôi đã
đến Bắc Kinh, đã phải sửng sốt trước quy mô hùng tráng, vĩ đại của
Cố cung; rồi tôi nghĩ về cố đô Huế. So với quy mô Cố cung Bắc Kinh,
đô thành Huế nhỏ, gọn hơn. Kho văn vật của đô thành Huế nghèo hơn
kho văn vật được tàng trữ tại Cố cung Bắc Kinh. Nhưng, trong hoàng
thành Huế lại có một thứ quý giá khác mà Cố cung Bắc Kinh không có. Đó
là cả trời cây xanh bóng mát, là sự che chở của thiên nhiên. Ngắm nhìn
các di tích trên đất đế đô nhà Nguyễn được bảo vệ và tu bổ lại
dưới sự tài trợ của Nhà nước ta cũng như UNESCO..., tôi hiểu rằng những
người công tác tại Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã phải cố
gắng rất nhiều trong quá trình làm sống lại một di sản của của dân tộc
trong thế kỷ 19. Và tôi cũng hiểu rằng, chúng ta nói chung, trong đó có những
cán bộ ngành văn hóa, những người chuyên môn làm về bảo tồn, bảo
tàng, chưa phải đã sành sỏi, thuần thục lắm trong nghệ thuật hưởng
thụ văn hóa, dẫu trong tay có một gia tài văn hóa hết sức quý giá, đặc
sắc. Đến thăm Huế, khi vào chiêm bái miếu đường thờ các vua nhà Nguyễn,
khách thăm có am hiểu lịch sử, văn hóa, hẳn sẽ không hài lòng, vì tông
miếu của nhà Nguyễn sao lại "xuềnh xoàng" như vậy? ở chính giữa
nhà tông miếu là án thờ vua Gia Long có tấm biển gỗ đề ba chữ "Thế
tổ miếu". Hai bên tả, hữu là án thờ các vua kế vị sau, được sắp
xếp thứ tự theo điển lệ phong kiến xưa. Trên án thờ Thế tổ, ngoài
giá ảnh Gia Long, một cái đỉnh đồng tròn với hai cây nến đồng (đều
là đồng khí hạng bình thường, gặp nhiều trong dân gian) còn có đôi lọ
mới sản xuất, cao khoảng 60 - 70 cm, bổ ô, vẽ mầu lòe loẹt và đôi
đĩa để hoa quả cao chân xanh trắng, cũng là gốm mới làm bây giờ, hàng
rẻ tiền được dân cung tiến. Những chiếc bình và đĩa gốm kiểu này
người ta bán rong trên xe đạp thồ khắp đường phố Hà Nội. Vậy mà
trên đất đô thành Huế nổi tiếng hiếu cổ, trong tông miếu giữa hoàng
thành cung điện nguy nga - di sản văn hóa thế giới, mấy thứ đồ gốm mới
nung, hàng chợ, lại được đặt ở chỗ tôn nghiêm nhất, trong đền thờ
tổ tiên nhà Nguyễn. Phải chăng vì sợ các đồ thờ cổ, quý đem bày biện
ra sẽ không bảo vệ được trước những kẻ chuyên lấy trộm cổ vật?
Theo tôi nghĩ, nhà tông miếu ở Huế,
tức là nơi thờ các vua triều Nguyễn, phải được giữ nguyên bản như nó
vốn có với đầy đủ toàn bộ các đồ thờ cúng sắp đặt theo đúng
quy định của lễ chế nhà Nguyễn. Khách thăm chỉ đứng ngoài cửa nhìn
xem qua một bức tường kính có hệ thống chuông báo động, chứ không
được vào trong đi lại lộn xộn.
Tôi được nghe nói Nhà nước đã
phê duyệt cấp 750 tỷ đồng cho dự án làm lại điện Cần Chánh (nơi hằng
ngày vua Nguyễn ra thiết triều làm việc). Nhìn những cung điện đã được
tu sửa, hiện đang mở cửa mời đón khách thăm, tôi thấy trong các cung
điện này nổi bật nhất là những hàng cột gỗ, cánh cửa sơn son, thếp
vàng hình rồng phượng, còn đồ vật cổ với nhiều loại hình, chất liệu
quý giá của hoàng cung nhà Nguyễn - những thứ mà khách thăm muốn được
chiêm ngưỡng - thì lại nghèo nàn. Và những thứ hiện được trưng bày
hình như chưa phải là những thứ thuộc hạng nhất, nhì, loại quốc bảo.
Nếu Nhà nước phải bỏ ra số tiền ngót nghìn tỷ đồng để cho làm điện
Cần Chánh mới, rồi trong đó lại bày biện mấy thứ bàn, sập sơn son thếp
vàng cũ, mới lẫn lộn, đục chạm rối rắm kiểu đời Nguyễn muộn, thì
tôi trộm nghĩ rằng chúng ta quá lãng phí, chúng ta không biết tiêu tiền.
Nhưng vấn đề chính tôi muốn nói
ở bài viết này là: trong khi đổ tiền của ra để bảo tồn toàn bộ
các di tích lịch sử, văn hóa thời Nguyễn ở Huế, chúng ta không được
quên Huế, tức là Phú Xuân, vốn là, và cần được tôn vinh mãi mãi, kinh
đô của vương triều Tây Sơn, một vương triều đã làm nên võ công hiển
hách trong sự nghiệp giữ nước và thống nhất đất nước cuối thế kỷ
18. Chúng ta không thể xem nhẹ, trái lại cần có kế hoạch nhanh chóng giữ
gìn, sưu tầm, khôi phục những gì của vương triều Tây Sơn tại Phú
Xuân - Huế, không thể để vương triều Tây Sơn bị xóa sạch dấu tích
ở Huế.
Chúng ta đều biết vào năm 1786,
dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Trịnh,
chiếm thành Phú Xuân (thời Nguyễn thế kỷ 19 gọi là Huế) và từ Phú
Xuân, Nguyễn Huệ tiến thẳng quân ra bắc, diệt Trịnh, giúp Lê lấy lại
quyền hành. Cuối năm 1788, khi quân đội nước ngoài chiếm được Thăng
Long (Hà Nội), thì Nguyễn Huệ đang ở Phú Xuân. Nhận được tin cấp báo
đó, Nguyễn Huệ sai lập đàn Nam Giao ở núi Bàn, phía nam núi Ngự Bình,
làm lễ tế trời đất rồi tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu
là Quang Trung. Ngay ngày hôm ấy (25-11 năm Mậu Thân), Quang Trung Nguyễn Huệ
dẫn đại binh ra bắc. Sau chiến thắng, giao công việc ở Bắc Hà cho Ngô
Văn Sở, Phan Văn Lân, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, vị Hoàng đế anh hùng trở
về kinh đô Phú Xuân. Từ đó (1789) tới nhà Tây Sơn bị Nguyễn Phúc ánh
(Gia Long) đánh bại (1802), Phú Xuân là kinh đô của triều Tây Sơn. Chính từ
kinh đô Phú Xuân, triều Tây Sơn, đặc biệt trong những năm tháng Quang
Trung trị vì, đã hoạch định nhiều kế sách quan trọng về bang giao, về
nội trị: tổ chức chính quyền, khuyến khích phát triển sản xuất nông
nghiệp, coi trọng việc học hành, thi cử, trọng dụng nhân tài... Dưới
triều Tây Sơn, đất Phú Xuân là nơi hội tụ nhiều nhân vật kiệt xuất
về quân sự, chính trị, ngoại giao, văn học... Năm 1792, vua Quang Trung đột
ngột qua đời tại kinh đô Phú Xuân ở tuổi 39 và tại nơi đây, công
chúa Lê Ngọc Hân đã viết khúc văn Nôm Ai tư vãn, thương nhớ, ca ngợi
Quang Trung, trở thành một tác phẩm bất hủ trong lịch sử văn học nước
nhà.
Dưới triều Nguyễn, trên đất Phú
Xuân, cố đô của triều Tây Sơn, đổi là Huế, kinh đô nhà Nguyễn, mọi
thứ thuộc về Tây Sơn bị xóa sạch dấu vết.
Cung điện, nhà cửa trong hoàng
thành thời Tây Sơn ở Huế tuy đã bị hủy hoại hết từ đầu thế kỷ
19, song hình ảnh của chúng ít nhiều vẫn còn được ghi lại qua thơ văn
của các danh sĩ triều Tây Sơn, như Phan Huy ích, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Gia
Phan... Đi trên những con đường Huế, tôi bỗng nhớ tới bốn bài thơ Nôm
của Nguyễn Gia Phan (tiến sĩ đời Lê, sau làm quan với Tây Sơn) ứng khẩu
sáng tác theo yêu cầu của vua Quang Trung để viết lên bộ tứ bình bày
trong cung điện nhà Tây Sơn, hoặc những bài thơ của Phan Huy ích tả cảnh
nhà thái sư Bùi Đắc Tuyên là chùa Thiền Lâm cũ, nằm ở phía nam sông Hương,
tả Văn Miếu, chùa Thiên Mụ, nơi vào ngày hạ chí, vua Tây Sơn ra tế thần
đất ... Tôi suy nghĩ, tại sao khi ra sức bảo vệ, tu sửa các cung điện,
lăng tẩm của nhà Nguyễn, ta không hề nhớ tới triều Tây Sơn, tới công
lao vĩ đại cứu nước và thống nhất đất nước của vua Quang Trung, một
công lao hiển hách mà các vua chúa sau đó không bao giờ có được.
Trên đất Huế ngày nay, tức là đất
thành Phú Xuân thế kỷ 18, nơi đóng đô của vương triều Tây Sơn, nếu
chúng ta không xây dựng lại được một cung điện chính của triều Tây Sơn,
thì cũng nên xây một nhà bảo tàng về triều đại Tây Sơn. Và tại Bàn
Sơn, nơi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế rồi xuất quân ra bắc, nên dựng
tượng đài Quang Trung để tưởng niệm vị Hoàng đế anh hùng áo vải, vị
cứu tinh của dân tộc.
Nếu không làm được như vậy, chúng
ta thật bất công với lịch sử. Và con cháu chúng ta, do đó, cũng hiểu
sai về lịch sử dân tộc.
Home