>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

Những yếu tố phục hưng nghệ thuật điện ảnh dân tộc

Trần luận Kim

(Phần đầu)

Phần một: Về tổ chức, bộ máy và cơ chế chính sách

Thế kỷ 20 chứng kiến quá trình bùng phát cao độ của hàng loạt kỹ thuật mũi nhọn. Tiến bộ của các công nghệ đặc chủng về cơ điện tử, vi tính, quang từ, cơ khí chính xác đã đem đến cho tác phẩm điện ảnh nói riêng, tác phẩm nghe nhìn nói chung một bộ mặt mới mẻ khác thường, với một khả năng thể hiện hầu như không có giới hạn.

Thế kỷ mới còn hứa hẹn những đột phá công nghệ mạnh bạo và mau lẹ hơn nữa. Nghệ thuật nghe nhìn, theo đó, rồi sẽ còn biến đổi ngoạn mục và sẽ còn thâm nhập sâu rộng hơn nhiều vào đời sống cộng đồng cũng như mỗi cá thể trên khắp hành tinh.

Trong bao năm qua, mặc dầu phải đương đầu dai dẳng với nhiều khó khăn trở ngại, hoạt động điện ảnh Việt Nam vẫn không đánh mất cơ hội phát triển tiềm tàng, nhờ được quan tâm thường xuyên của Nhà nước, nhờ tâm huyết không thể nguội lạnh của hàng trăm nghệ sĩ và đội ngũ những người làm phim khắp cả nước, đồng thời cũng nhờ nhiệt tâm ủng hộ của công chúng yêu mến nghệ thuật điện ảnh dân tộc.

Cơ hội thường khi không tự nó tạo nên kỳ tích. Nhưng bỏ lỡ cơ hội hoặc không chủ động tạo ra cơ hội phát triển thì không có cách nào vươn lên được. Cơ hội vươn lên của hoạt động điện ảnh Việt Nam hiện nay lệ thuộc vào một loạt điều kiện đặc thù - trước hết là ở cơ cấu tổ chức bộ máy ngành và hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động điện ảnh.

ở Việt Nam từ lâu đã tồn tại tình trạng cắt khúc giữa các khâu trong hoạt động điện ảnh, từ sản xuất đến phát hành, chiếu bóng, nghiên cứu lý luận phê bình. Mỗi khâu giờ đây đều đã hình thành một ốc đảo khép kín riêng biệt, làm gián đoạn mối quan hệ hữu cơ vốn tồn tại khách quan trong dòng chảy liên hoàn của hoạt động điện ảnh. Rõ ràng là, khi mỗi khâu hoạt động bị tách khỏi nhau, chúng đánh mất cơ hội thuận lợi nương tựa, hỗ trợ nhau cùng tồn tại và phát triển. Hiệu quả hoạt động toàn ngành - như thực tế cho thấy - ngày một nghẽn tắc, sa sút.

Theo dõi các nước có hoạt động điện ảnh sôi nổi, có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự liên thông giữa các khâu trong quá trình hoạt động là yếu tố sống còn bảo đảm hiệu quả hoạt động của họ. Về hình thức, nhìn từ góc độ chức năng, dường như các khâu hoạt động nghiệp vụ điện ảnh của các nước đó rời rạc tách biệt nhau do có nhiều chủ sở hữu khác nhau. Vậy mà thực chất lại khác hẳn: ở đó mọi khâu hoạt động đều liên kết nhau chặt chẽ trong quy luật ràng buộc khách quan của cơ chế thị trường. Không hiếm những nhà sản xuất phim tầm cỡ thế giới đồng thời cũng là những người nắm trong tay hệ thống phát hành và mạng lưới rạp chiếu phim rộng lớn. ở châu á, Hãng Gia Hòa (Hongkong) vừa là cơ sở sản xuất phim nổi tiếng Đông - Tây, vừa là chủ nhân của phần lớn hệ thống rạp chiếu phim tại Hongkong cùng một số khu vực trên thế giới. Tại Mỹ và Tây Âu, tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy. Cánh tay dài của hãng phim lớn còn vươn ra toàn cầu, đến khắp các châu lục. Cơ chế hoạt động đó đã tồn tại trong nhiều thập niên qua, tạo ra khoảng không gian hoạt động rộng thoáng, giúp người ta có thể mạnh tay chủ động sản xuất số lượng lớn các loại phim và cũng chủ động tiêu thụ chúng, thuận với nhu cầu khách quan của thị trường nghe nhìn toàn cầu.

Tình trạng cắt khúc các khâu hoạt động điện ảnh ở Việt Nam không tách khỏi các điều kiện lịch sử của đất nước. Chiến tranh khốc liệt kéo dài, thói quen bao cấp thiếu cơ hoạt đã trở thành một phần ý thức và tác phong làm việc, sự phụ thuộc vào chế độ phân vùng quản lý hành chính theo lãnh thổ, hậu quả của chủ trương phân cấp chiếu bóng về huyện cùng một số nguyên nhân khác, là một số trong những yếu tố kiến tạo nên bộ máy tổ chức hiện hành của ngành điện ảnh. ở cấp trung ương, cơ quan ngành điện ảnh tồn tại và hoạt động như một hệ thống chính quyền, mang thuần tính hành chính, tách khỏi sản xuất - kinh doanh (trong lúc sản xuất kinh doanh là một trong những bản chất vận hành của hoạt động điện ảnh). ở đó cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành không liền mạch với các cơ sở sáng tác - sản xuất kinh doanh, các hãng sản xuất phim không có mối quan hệ nội biên với các cơ sở còn lại chuyên lo về kỹ thuật, phát hành... Và cả khối trung ương ấy tách hẳn khỏi cơ sở sống còn của nó ở khắp các địa phương là hệ thống chiếu bóng - nơi mà tác phẩm điện ảnh được đưa đến công chúng, thu hồi đồng vốn về để có thể sản xuất lại và sản xuất mở rộng.

Hệ quả hiển nhiên của tình trạng trên là làm yếu - nếu không phải là vô hiệu - sức mạnh quản lý toàn ngành. Hãng sản xuất phim bị cô lập với thị trường tiêu thụ và bị động trước kết quả thu hồi vốn, trở nên chới với, ngoắc ngoải một cách phi lý. Trong lúc đó, do cơ chế, cơ quan phát hành không có trách nhiệm máu thịt đối với tác phẩm trong nước và các hãng sản xuất đang gặp khó khăn. Còn hệ thống chiếu bóng trải rộng khắp các địa phương thì luôn bị giày vò trong cơn khát thiếu tiết mục (nhất là tiết mục nội địa) để tồn tại, mặt khác, bản thân nó cũng không thể tận lực phục vụ sản xuất và phát hành, bởi hàng rào ngăn cách chẳng những từ không gian, mà còn từ nghĩa vụ và quyền lợi.

Tình hình nói trên đã phân tán triệt để sống còn của ngành, còn đâu có thể nói đến phát huy nội lực! Vì vậy, dù được Nhà nước quan tâm hỗ trợ và bản thân ngành điện ảnh cũng đã cố gắng nhiều trong thời gian dài, vẫn không thể nào xoay chuyển được tình hình một cách căn cơ, bài bản.

Vì vậy, điều cần quan tâm trước mắt là xử lý các vướng mắc, bất hợp lý về tổ chức bộ máy toàn ngành điện ảnh. ý kiến đề xuất thành lập một Tổng Công ty điện ảnh quản lý thống nhất các khâu sản xuất, phát hành và chiếu bóng trong toàn quốc, từ Trung ương đến địa phương, bên cạnh đó là cơ quan quản lý Nhà nước cùng các cơ quan sự nghiệp liên quan khác là rất đáng quan tâm nghiên cứu và xử lý sớm.

Trong tình hình hiện nay, việc chấn chỉnh, sắp xếp lại tổ chức bộ máy toàn ngành điện ảnh phù hợp với yêu cầu khách quan đã rất cấp thiết, mặc dầu khá phức tạp. Thực tế đòi hỏi không nên chờ đợi đến khi có đủ điều kiện chín muồi mới thực hiện, bởi như thế có nghĩa là thả nổi và bị động, rất nguy hại.

Song song với việc chỉnh đốn, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy điện ảnh quốc doanh vững mạnh, năng động, thích ứng với cuộc sống, đủ lực gánh vác vai trò chủ đạo trong hoạt động điện ảnh của đất nước; cần phải kiên quyết và nhanh chóng thực hiện chủ trương xã hội hóa điện ảnh của Đảng và Nhà nước. Nghị định số 73 của Chính phủ ban hành từ giữa tháng 9 năm 1999 đến nay vẫn chưa thâm nhập được vào đời sống là quá chậm trễ - sự chậm trễ có thể làm vuột mất giá trị vàng của thời gian.

Những yếu tố phục hưng nghệ thuật điện ảnh dân tộc

Phần hai: Xã hội hóa điện ảnh và một số vấn đề trong hoạt động điện ảnh

Không phải dự đoán mà có thể khẳng định rằng xã hội hóa có tổ chức sẽ đem lại những kết quả tích cực cho hoạt động điện ảnh toàn quốc. Rõ ràng là lúc đó nguồn vốn sẽ đa dạng, phong phú hơn, tài lực sẽ được huy động nhanh và mạnh hơn, giá trị sáng tạo của nghệ sĩ sẽ được chăm lo trân trọng, thị trường sẽ được mở rộng... và kết quả là chất lượng hoạt động điện ảnh ở nước ta sẽ từng bước được nâng lên một cách tự nhiên. Cần sớm cho phép thành lập hãng phim tư nhân, cổ phần, cho phép các rạp chiếu bóng huy động vốn cổ đông, vốn tư nhân hoặc vốn liên doanh để nâng cấp rạp, mở rộng chức năng hoạt động đa năng của khu vực rạp phù hợp nhu cầu công chúng, mỗi địa phương cũng cần tiến tới mở rộng đầu mối xuất nhập khẩu phim, từng bước xóa bỏ hình thái độc quyền trong toàn bộ các khâu hoạt động điện ảnh - việc đã từng gây nhiều tác hại cho bản thân ngành cũng như cho người xem.

Hoạt động điện ảnh bao gồm nhiều khâu thuộc các lĩnh vực có đặc điểm nghiệp vụ không hề giống nhau, từ sáng tạo nghệ thuật đến kỹ thuật sản xuất công nghiệp hiện đại, từ nghiệp vụ chương trình phát hành đến tổ chức tiêu thụ phổ biến sản phẩm qua màn ảnh, trên các địa bàn và đối tượng khác biệt nhau. Do tính chất nhạy cảm, tạo tác động cùng lúc đến toàn xã hội, liên quan đến tinh thần, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của đông đảo người dân, nên hoạt động điện ảnh không đơn nhất mà khá phức tạp, không cứng nhắc mà khá năng động. Với đặc điểm đó, hoạt động điện ảnh rất cần một định hướng rõ ràng, lâu dài, một hành lang pháp quy đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sản xuất và phát triển sản xuất, phục vụ và mở rộng phục vụ, đi đôi một chính sách có khả năng thực tế, huy động rộng rãi tài năng và vật lực, kích thích sáng tạo và cống hiến.

Nhà nước đã và đang có kế hoạch đầu tư trang bị các thiết bị kỹ thuật chuyên dụng hiện đại cho một số cơ sở điện ảnh quốc doanh, kiên trì tài trợ các chương trình sản xuất phim trọng điểm, và tài trợ phổ biến phim cho các vùng, miền chính sách.

Việc đầu tư trang bị kỹ thuật cần được tiến hành dứt điểm trong một thời gian hạn định, bởi càng kéo dài sẽ càng làm mất tính đồng bộ trong sử dụng, và khiến mặt bằng phẩm chất sản xuất của hệ thống thiết bị điện ảnh ở nước ta luôn bị lạc hậu so với trình độ quốc tế, sản phẩm điện ảnh nước ta sẽ khó có cơ hội hòa nhập với thế giới bên ngoài. Trọng tâm đầu tư cần tập trung vào kỹ thuật sản xuất phim - cả tiền kỳ lẫn hậu kỳ cho phim nhựa lẫn các loại video. Hệ thống rạp chiếu phim quốc gia và rạp trọng điểm ở các đầu mối địa bàn cũng cần được quan tâm đầu tư cải tạo nâng cấp cho phù hợp với kỹ thuật chiếu phim hiện đại và đáp ứng nhu cầu mới của người xem. Phục vụ nhân dân nông thôn và miền núi là nhiệm vụ chiến lược của ngành, bởi đây là khu vực tập trung hơn 80% dân số, lại thiếu điều kiện thưởng ngoạn văn nghệ đã lâu, đồng thời đây cũng là thị trường tiềm tàng có khả năng xác định quy mô và tốc độ phát triển nền điện ảnh dân tộc. Vì vậy, trong điều kiện hiện nay, cần đầu tư xây dựng các hệ thống rạp nhỏ, đưa chiếu bóng trở lại Nhà Văn hóa, tài trợ để củng cố, tăng cường các đội chiếu phim lưu động với thiết bị phù hợp có chất lượng cao. Tài trợ sáng tác có ý nghĩa chính trị và xã hội to lớn. Nó khẳng định thái độ của Nhà nước và nhân dân ta đối với một loại hình nghệ thuật quan trọng hiện đại, sống động, gần gũi với đông đảo công chúng. Vì vậy, không phải tạm thời, mà cần có sách lược tài trợ có trọng điểm, quy củ và ổn định nhằm nuôi dưỡng hoạt động để phát triển đúng hướng, lâu dài. Tài trợ đột xuất, nhỏ giọt, không có kế hoạch bền vững, không tạo được sức bật cơ bản cho sáng tạo nghệ thuật chỉ dẫn đến lãng phí, kém hiệu quả. Dĩ nhiên, bước tiếp theo của việc tài trợ sáng tác là trách nhiệm quản lý đồng vốn của nhân dân, là việc đảm bảo chất lượng toàn diện của tác phẩm cũng như hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế của nó trong và ngoài biên giới nước ta.

Như trên đã đề cập, bên cạnh việc "chính quy hóa" chăm sóc của Nhà nước đối với các cơ sở điện ảnh quốc doanh, cần đồng thời tổ chức huy động tài trí, sức lực của mọi thành phần kinh tế để nhanh chóng tạo dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật với các thiết bị đời mới tại khắp các địa bàn có nhu cầu tự nhiên trong cả nước, để có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng một cách kịp thời, hiệu quả, tránh xa tình trạng độc quyền trì trệ. Nghiên cứu kêu gọi các tập đoàn điện ảnh lớn của nước ngoài đầu tư xây dựng phim trường hiện đại ở nước ta sẽ là biện pháp hỗ trợ đắc lực cho quá trình tiếp cận công nghệ sản xuất phim hiện đại của điện ảnh Việt Nam.

Kiểm duyệt tác phẩm điện ảnh là việc hầu như quốc gia nào cũng thực hiện. Và mỗi nước tiến hành theo những tiêu chuẩn, thể chế riêng. Các tiêu chuẩn và thể chế duyệt phim ấy phụ thuộc vào mục đích và yêu cầu quản lý của nhà kiểm duyệt, nhưng đều có cùng yêu cầu là gạn lọc những sản phẩm không phù hợp hoặc không có ích đối với xã hội mình.

ở nước ta, mục đích duyệt phim là nhằm ngăn chặn những gì có hại cho nền an ninh quốc gia, có hại cho tình đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, có hại cho đạo đức và tình cảm, thẩm mỹ của con người... Trong mục đích chung đó, cơ chế kiểm duyệt cần được phân cấp mạch lạc: dành quyền sáng tạo và tự chịu trách nhiệm trước chức năng nhiệm vụ của mình cho nghệ sĩ sáng tác cùng cơ sở sản xuất, cơ quan kiểm duyệt tối cao chỉ là nơi xem xét lần cuối cùng những tác phẩm hoàn chỉnh trước khi đưa ra phát hành. Đồng thời, mỗi cấp duyệt đều có quy chuẩn rõ ràng, cụ thể, giúp người duyệt tránh có lúc sa vào cảm tính, hoặc quá dễ dãi hoặc quá khắt khe. Sự quá dễ dãi hoặc quá khắt khe ấy (nếu có) sẽ gây nên những hậu quả tiêu cực, cuối cùng đều gây hại đến nhiệt tình và chất lượng sáng tác. Cá nhân người duyệt phim có trách nhiệm lớn lao bởi sự phán quyết của họ về số phận của một tác phẩm điện ảnh chẳng những tác động trực tiếp đến tác phẩm đó, mà có khi còn ảnh hưởng đến cả trào lưu, khuynh hướng sáng tác. Bởi vậy bản thân người duyệt cần phải bám sát, hiểu rõ thực tế sản xuất và thực tế xã hội mà trong đó tác phẩm điện ảnh được nhào nặn và vào đời. Như vậy cái đúng - sai so với quy chuẩn là cái đích ngắm của công việc kiểm duyệt, còn cái hay - dở là phần thuộc về dư luận xã hội và sự phán xét của công chúng.

Trong hoạt động điện ảnh có nhiều khâu liên quan đến việc cấp thẻ. Và đây là một trong những cái "cổ chai" từng gây chậm trễ, vướng mắc. Các cơ quan cấp phép cần tổ chức bộ phận chuyên trách đủ lực lượng và trách nhiệm xem xét mọi yêu cầu của cơ sở và thực hiện cấp phép đúng luật, nhanh chóng, khớp với đòi hỏi cấp thời của công việc sản xuất kinh doanh. Bởi xét cho cùng, cứu cánh của quản lý chặt chẽ không có gì khác hơn ngoài kết quả hỗ trợ đắc lực cho sản xuất.

Quyền lợi chính đáng của tác giả là một trong số những yếu tố quan trọng thúc đẩy hiệu quả và chất lượng sản xuất. Nên thay đổi nguyên tắc trả nhuận bút bình quân theo quy định cũ. Từ mặt sàn tối thiểu trở lên, có thể có những tác phẩm được trả giá cao gấp nhiều lần, nếu nó xứng đáng như vậy. Nếu có kiệt tác nào đó được trả giá cao gấp nhiều lần hiện nay thì chính đó là dấu hiệu tốt đẹp đối với công việc sản xuất phim ở nước ta. Cũng nên nghiên cứu áp dụng chế độ thưởng đối với tác giả có tác phẩm được tặng giải cao, đạt số lượng người xem và mức doanh thu quy định trở lên; hoặc phạt những tác giả không hoàn thành tác phẩm theo đơn đặt. Khuyến khích, trọng dụng tài năng là một đầu tư thuộc loại hữu hiệu nhất.

Một văn bản pháp quy quy định chính thức, đầy đủ về quyền tác giả điện ảnh cũng đang là đòi hỏi cấp thiết, với đặc trưng hoạt động - sáng tạo tập thể, việc quy định quyền của từng loại tác giả đối với một số tác phẩm điện ảnh là thực sự khó khăn và phức tạp. Nhưng cũng chính vì thế mà phải quan tâm giải quyết kịp thời.

Cuối cùng, không thể không đề cập đến một bức xúc chung của cả ngành điện ảnh: vấn đề thuế khóa. Thời gian qua, Nhà nước đã quan tâm xử lý chế độ thuế tương đối hợp lý đối với sản xuất và chiếu phim nhựa. Tình hình thực tế đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu xử lý rốt ráo các suất thuế liên quan còn lại, như thuế sử dụng đất đối với các rạp chiếu phim, thuế nhập khẩu phim và thuế nhập khẩu thiết bị chuyên dụng sản xuất phim. Các suất thuế này đã và đang đè nặng lên hoạt động điện ảnh, khiến hệ thống rạp chiếu bóng bị lỗ nặng thêm, không ít rạp đã phải bỏ nghề chuyển sang nội dung hoạt động khác.

Nghiên cứu tình hình điện ảnh hiện nay và sau này, tìm kiếm biện pháp khả thi, khẩn trương khắc phục trở ngại để vươn lên, có nghĩa là đã tạo ra chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đầu tiên trên con đường phục hưng, phát triển nền nghệ thuật điện ảnh nước nhà.

Phần ba: Về đào tạo đội ngũ, trang bị vật chất, kỹ thuật

Như mọi lĩnh vực hoạt động tâm thức khác, các hoạt động sáng tạo điện ảnh đặc biệt trông chờ trước hết ở CON NGƯỜI.

Đội ngũ những người làm điện ảnh Việt Nam, như nhiều người phân định, đã có ba thế hệ nối tiếp nhau. Thế hệ mở đầu là những chiến sĩ tiên phong đầy nhiệt huyết, với kiến thức cùng các điều kiện làm việc hạn chế lúc ban đầu, đóng góp xứng đáng vào công trình tạo dựng diện mạo nền điện ảnh dân tộc. Thế hệ thứ hai trưởng thành trong khói lửa chiến tranh vệ quốc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiều người được đào tạo chính quy ở trong và ngoài nước, có kiến thức, có kinh nghiệm, cũng làm việc trong điều kiện thiếu thốn gian nan. Đây là thế hệ đã viết nên những chương quan trọng trong lịch sử điện ảnh cách mạng nước nhà. Có đến hàng trăm giải thưởng quốc tế, trong đó có hàng chục giải vàng mà các loại phim Việt Nam (truyện, tài liệu, hoạt hình) đã giành được ở các Liên hoan phim có uy tín trên thế giới. Các nghệ sĩ chủ chốt thời kỳ này đã chung lưng đấu cật xây dựng nên hình tượng con người Việt Nam mới với những cốt cách, bản sắc đặc trưng không thể trộn lẫn được. Trường phái sáng tác hiện thực - lãng mạn cách mạng của điện ảnh Việt Nam hình thành từ đó. Thế hệ thứ ba - đội ngũ những người làm phim đương thời: một số được đào tạo từ nước ngoài, phần lớn còn lại được đào tạo hoặc tự học hỏi trưởng thành trong điều kiện thực tiễn của đất nước. Họ là những con người năng động, hoàn cảnh buộc phải lăn vào cuộc sống và tự đứng vững bằng chính đôi chân của mình. Thời này là thời hoạt động điện ảnh bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh của cơ chế thị trường và bị rơi vào khủng hoảng. Nguồn sản phẩm nghe nhìn khổng lồ từ các ngả ào ạt tràn vào nước ta, một mặt đem đến cho công chúng món ăn tinh thần vừa phong phú vừa hỗn tạp, mặt khác đặt những người làm phim Việt Nam trước những đòi hỏi chưa từng có: phải làm sao sáng tác nhanh hơn, mới hơn, lạ hơn và mạnh mẽ, sâu sắc, tân kỳ hơn. Hệ quả của sự phát triển và phổ cập các phương tiện kỹ thuật thông tin đại chúng đến tận các ngóc ngách xã hội của tinh cầu, đòi hỏi những người làm văn hóa - điện ảnh ở mọi quốc gia phải vươn lên, bứt phá quyết liệt mới mong vượt lên trước cơn triều tràn lấn của những con bạch tuộc văn hóa khổng lồ. Những biến đổi sâu sắc về môi trường hoạt động và điều kiện làm việc hôm nay đòi hỏi những người làm phim phải có vốn tri thức sâu rộng về xã hội và cuộc sống; có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm nghệ sĩ; tinh thông chuyên môn với kỹ năng nghề nghiệp vững chãi, đồng thời phải có khả năng phản ứng nhanh nhạy, xử lý năng động vô vàn các tình huống khó khăn trong quá trình phức tạp tạo nên một tác phẩm điện ảnh. Khá đông anh chị em làm phim bây giờ không có điều kiện thâm nhập sâu vào thực tế cuộc sống để xây dựng kịch bản, sáng tạo những hình tượng điển hình mang giá trị khái quát hoặc tái tạo nhân vật qua vai diễn thật chân thực, sinh động. Số khác không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với công nghệ làm phim hiện đại trình độ quốc tế. Các sinh viên trong thời gian thụ học không được thực tập đầy đủ với trang thiết bị cần thiết khiến tay nghề khó được tinh thông. Đội ngũ những người làm phim thời gian qua không được tăng cường thích đáng, lại kém đồng bộ. Một số chuyên ngành vắng bóng chuyên gia đầu ngành có khả năng xử lý chuyên môn trình độ cao.

Đó là những trở ngại rất căn bản làm suy yếu sức phục hưng hoạt động điện ảnh ở nước ta. Nhận rõ tính chất quyết định của con người, của đội ngũ đối với hiện trạng và tương lại điện ảnh đất nước, cần có kế hoạch cụ thể và khả thi nhằm củng cố, tăng cường đội ngũ theo hướng chú trọng chất lượng và đồng bộ.

Yêu cầu chất lượng vào thời điểm này gắn liền với khả năng tư duy và sáng tạo tổng hợp cùng trình độ tay nghề thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người xem. Yêu cầu đồng bộ là yêu cầu toàn diện ở mọi cấp độ khác nhau, giữa nghệ thuật, kỹ thuật với kinh tế điện ảnh; cũng như giữa các chuyên ngành riêng biệt, thuộc mỗi lĩnh vực nghệ thuật (biên kịch, đạo diễn, quay phim, thiết kế mỹ thuật, v.v.), kỹ thuật (in tráng, âm thanh, ánh sáng, điện tử, sản xuất đạo cụ và bối cảnh, v.v.), kinh tế (trong sản xuất, phát hành, chiếu bóng, đối ngoại), và cả ở một số chuyên ngành mà tính nghệ thuật và tính kỹ thuật gắn chặt nhau: chiếu sáng, hòa âm, phục trang, kỹ xảo, dựng phim...

Trước hết cần tập trung đúng mức công của vào các trường đào tạo điện ảnh chính quy. Tại đây đang rất cần đội ngũ giảng viên cập nhật trình độ quốc tế và rất cần nhà xưởng có đủ thiết bị cho sinh viên thực tập. Tay nghề của các nhà sáng tác - sản xuất phim tương lai phụ thuộc vào kết quả thực tập thực chất ở nhà trường.

Thiết bị kỹ thuật ở nhà trường cần có đủ chủng loại, trong đó có cả thiết bị thuộc thế hệ mới. Song, để giảm kinh phí mua sắm, không nhất thiết chỉ sử dụng các thiết bị mới, vì thiết bị thực tập không lạc hậu về nguyên lý công nghệ là đã có thể sử dụng được tốt.

Ngoài biện pháp đào tạo có hệ thống tại nhà trường, cần có kế hoạch cụ thể đào tạo lại các lớp cán bộ đang hành nghề, đặc biệt đối với số cán bộ còn nhiều thời gian cống hiến. Bên cạnh đó, đòi hỏi đào tạo nâng cao cũng đang rất cấp bách. Nghệ thuật điện ảnh nước ta hiện rất cần những nghệ sĩ chuyên gia đầu ngành tài năng, uyên bác, trong đó có người đạt trình độ quốc tế. Tài năng nghệ thuật thường được sinh ra từ tổng hòa các kiến thức, kỹ năng và ý thức nghệ thuật. Những vật báu đó có thể thu lượm được từ thực tiễn hoạt động, song không thể thiếu sự trau dồi miệt mài có hệ thống qua sự đúc rút công phu của các giáo trình học thuật. Giúp vào công cuộc đào tạo có thể có nhiều cách: tại nhà trường như đã nói ở trên, cử ra nước ngoài - những nơi chọn lọc, hoặc để thực tập - kiến tập chuyên đề, hoặc để tham quan trao đổi kinh nghiệp nghề nghiệp. Có thể thuê chuyên gia nước ngoài giảng dạy, làm việc trao đổi kinh nghiệm. Cũng có thể mở rộng việc hợp tác sản xuất phim với nước ngoài để trực tiếp học hỏi hành nghề và tạo điều kiện giao lưu quốc tế.

ý tưởng trên chỉ có thể thực hiện được sau khi cơ quan trách nhiệm đề ra một kế hoạch đào tạo đầy đủ, cụ thể với một khoản kinh phí được xác định hằng năm, một thời gian biểu thực thi cụ thể trong đó ghi rõ những ai, học gì, ở đâu, vào lúc nào...

Để tiến tới chế tác được phim hay, hấp dẫn, cần quan tâm từ bây giờ việc sáng tác thể nghiệm các dạng phim phù hợp. Thể nghiệm là cơ hội tìm tòi, phát kiến các biện pháp xây dựng hình tượng tác phẩm có hiệu quả cao cùng những hình thức biểu hiện mới. Điện ảnh thể nghiệm đã xuất hiện ở nhiều nền điện ảnh có bề dày lịch sử trên thế giới và từng đem lại những hiệu quả rực rỡ cho các trào lưu và trường phái sáng tác khó quên: "Tiên phong" ở Pháp, "Tân hiện thực" ở Italy, "Xô viết" ở Liên Xô, "Holywood" ở Mỹ... Mạnh dạn đầu tư, tổ chức sản xuất chặt chẽ, chắc chắn cao trào thể nghiệm sẽ đến và sẽ trở thành ngòi nổ thúc đẩy phong trào sáng tác. Mặt khác, để có được người tài làm phim, không thể không lựa chọn để ném những người có triển vọng vào các lò thực tiễn, giúp họ có cơ hội rèn luyện. Trong trường hợp này, cần bồi dưỡng, chăm sóc nhân tài, quyết không bình quân cào bằng.

Giúp vào công cuộc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài điện ảnh, không thể thiếu vai trò của công tác lý luận - phê bình. Trong nhiều năm qua, lý luận - phê bình điện ảnh ở nước ta không theo kịp nhu cầu sáng tác, không khí học thuật loãng nhạt trong khi tình hình hoạt động điện ảnh "đặc quánh" hàng loạt vấn đề cần bàn luận giải quyết. Một phong trào sáng tác mạnh phải bao gồm cả phong trào lý luận - phê bình sôi nổi. Lý luận và phê bình để cùng nhau nâng cao nhận thức, để mài dũa tay nghề ngày một tinh xảo hơn, và cũng để "nối vòng tay lớn" giữa nghệ sĩ - tác giả với công chúng. Công việc này, nhìn từ góc độ chuyên nghiệp lẫn phong trào, Viện Phim và Hội điện ảnh là những địa chỉ thích hợp có thể tập hợp lực lượng và tổ chức hoạt động.

Phần cuối: Tạo nguồn vốn và xác lập thị trường

Thiết bị làm phim ở Việt Nam, như nhiều người đã biết từ lâu, vừa cũ kỹ vừa không đồng bộ. Gần đây một vài cơ sở được cải thiện chút ít, chủ yếu là thiết bị video. Với tình hình sản xuất quy mô nhỏ hiện nay, chúng ta chưa cần trang bị số lượng lớn thiết bị, nhưng cần có đủ các loại, kể cả những loại thiết bị chuyên dụng đặc biệt như sterdecam, các loại cần cẩu, ghế quay phim, các bộ đèn chiếu sáng đặc dụng,v.v. Được như vậy mới có thể mạnh dạn chủ động xây dựng những tác phẩm có bối cảnh phức tạp, dần từng bước cạnh tranh có hiệu quả với phim ngoại nhập.

Cần ưu tiên trang bị phim trường và thiết bị chế tác âm thanh. Cho đến lúc này, ở nước ta chưa có một phim trường nào đạt tới yêu cầu tối thiểu. Người làm phim Việt Nam, do thiếu phim trường tiêu chuẩn, đã thành thói quen lưu động ngoài trời. Điều đó ngăn trở rất nhiều hiệu quả nghệ thuật được thể hiện bằng bối cảnh và ánh sáng có tính kịch. Người ta khó có thể chọn được một bối cảnh có sẵn nào đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, mặt khác ánh nắng mặt trời luôn thay đổi sắc độ, gây nhiều khó khăn cho nhà quay phim giữ được một tông sáng như ý trong toàn bộ phim, đồng thời việc đó còn gây khó khăn tiếp sau đối với kỹ thuật định sáng khi in tráng phim. Chính đó là những nguyên do quan trọng góp phần làm giảm chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật của phim Việt Nam.

Trong điều kiện hiện tại, ít ra cũng nên xây dựng một phim trường đúng tiêu chuẩn, giúp các nhà làm phim nước ta có nơi sáng tác thuận tiện, tạo cơ sở phát triển lâu dài. Phần thiết bị hậu kỳ, đặc biệt là âm thanh đang có nhu cầu cấp thiết. Do kỹ thuật audio phát triển mau lẹ, âm thanh trong phim từ chỗ đóng vai trò bổ trợ, nay bước vào vị trí biểu hiện nghệ thuật chủ đạo, ngang giá trị với hình ảnh. Giờ đây, bên cạnh việc phải viết kịch bản phân cảnh để quay và dựng hình ảnh, đạo diễn đồng thời phải viết kịch bản âm thanh để thu dựng phần tiếng. Ngôn ngữ biểu hiện của nghệ thuật điện ảnh nhờ đó đã có sự cải biến quan trọng, đem lại hiệu quả nghệ thuật rất đa dạng. Và ngoài âm thanh mônô truyền thống, nay âm thanh vòm và lập thể sống động đã đăng quang nhờ vào kỹ thuật số hóa. Kỹ thuật này cần được nhanh chóng áp dụng rộng rãi vào quy trình sản xuất phim ở nước ta.

Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật là một vài công việc mang ý nghĩa chiến lược đối với phương hướng và tốc độ phát triển của ngành điện ảnh, cần được tính toán cho trước mắt lẫn lâu dài, gắn liền với tình hình và triển vọng phát triển kỹ thuật của thế giới. Đầu tư tập trung có khả năng tạo nên quả đấm mạnh, nhưng chỉ tác dụng tốt trước mắt. Về lâu dài, do các thế hệ thiết bị trên thế giới luôn được cải tiến, khối thiết bị tập trung kia sẽ có nguy cơ lạc hậu mà không dễ gì có thể thay thế đổi mới. Nếu thay thế đổi mới từng bộ phận để mong tiến kịp trình độ chung thì cũng là thất sách, bởi toàn bộ hệ thống sẽ luôn ở trong tình trạng không đồng bộ, và quá trình thay thế đó có thể kéo rất dài do bị động về kinh phí. Ngược lại, đầu tư phân tán theo một kế hoạch chặt chẽ, có ý đồ phân bổ mạch lạc để nhóm thiết bị này có thể bổ trợ nhóm thiết bị kia cho các cơ sở sản xuất phim chủ chốt, sẽ tránh được tình trạng nêu trên, lại tạo được sự cơ hoạt cần thiết trong sản xuất cho mỗi cơ sở. Cách phân bổ này phù hợp với các nền kinh tế còn gặp khó khăn, phù hợp cơ chế thị trường, tạo điều kiện dễ dàng thay đổi các thiết bị lạc hậu hoặc đầu tư bổ sung thế hệ thiết bị mới khi cần thiết.

Nguồn vốn luôn là vấn đề lớn của hoạt động điện ảnh. Nhà nước ta đã và đang cấp kinh phí cho đầu tư thiết bị kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất điện ảnh, đồng thời đầu tư đặt hàng sản xuất một số phim theo kế hoạch hằng năm. Điều đó rất đúng đắn và cần thiết. Riêng về tài trợ đặt hàng làm phim, cần có quy định pháp quy cụ thể với những loại phim nào, đề tài nào, quy mô dàn dựng nào mới được tài trợ. Và phương thức tài trợ cũng cần được ấn định rõ. Có thể nghĩ đến biện pháp chọn và đấu thầu thực hiện phim tài trợ: Một kịch bản sau khi đã được thông qua sẽ được thông báo đến các đạo diễn. Những kịch bản phân cảnh của các đạo diễn muốn tham gia kèm theo dự án thực hiện bộ phim, trong đó bao gồm cả thời gian thực hiện lẫn giá thành sẽ được tập hợp lại để đấu thầu. Mặt khác, trong kinh phí được cấp làm phim phải bao gồm cả kinh phí quảng cáo tùy theo mức độ cần tuyên truyền đối với mỗi nội dung phim cụ thể. Thời gian qua không ít những bộ phim có giá trị được sản xuất từ nguồn vốn Nhà nước không đông người xem, có lý do quan trọng là không được quảng cáo đúng mức và không có biện pháp phát hành tích cực.

Để sản xuất được số lượng lớn phim hằng năm, mỗi nước có những biện pháp khác nhau. ở ấn Độ, để mỗi năm có được khoảng tám trăm phim truyện, đất nước này đã cho phép thành lập trên ba trăm hãng phim (chủ yếu của tư nhân). Tại Mỹ, các hãng phim cũng mọc lên như nấm và trong quá trình cạnh tranh khốc liệt, chất lượng cũng như số lượng phim được tăng lên không ngừng. Trung Quốc cũng có một danh sách dài các hãng phim từ trung ương đến cấp tỉnh, đồng thời mạnh dạn thực hiện xã hội hóa triệt để, thu hút được nhiều nguồn vốn lớn nằm ngoài ngân sách chuyên dùng của Nhà nước. Chẳng hạn nguồn vốn làm phim nhiều tập Tây Du ký là do Tổng Công ty Đường sắt cung ứng.

Đã đến lúc phải thực sự suy tính, tổ chức bằng được các nguồn vốn phong phú khác để đẩy mạnh sản xuất phim ở nước ta. Nguồn thứ nhất: có thể nhìn vào số thu hằng năm của cơ quan phát hành phim. Hiện nay, số thu này không nhỏ (trên 30 tỷ mỗi năm) đều nộp vào ngân sách Nhà nước. Nếu có chính sách đặc biệt hoãn thu ngân sách khoản này để giao lại cho ngành điện ảnh sử dụng, nếu không được lâu dài thì cũng nên thực hiện như vậy trong năm bảy năm trước mắt. Nguồn thứ hai: nghiên cứu thành lập quỹ "Hỗ trợ phát triển văn hóa - nghệ thuật quốc gia" bao gồm các nguồn thu từ sự đóng góp tự nguyện hoặc theo quy định đối với doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn, từ đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và từ các lợi tức có được do Quỹ tự kinh doanh bằng các nguồn vốn kể trên. Quỹ này dành tài trợ cho các hoạt động văn hóa - nghệ thuật nói chung, trong đó có điện ảnh. Nguồn thứ ba: Hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất phim, và nguồn thứ tư: hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài sản xuất phim. Mặt khác, bằng nguồn vốn kêu gọi đầu tư điện ảnh có thể kinh doanh thu lãi để làm phim qua các công trình vui chơi giải trí về điện ảnh như một số quốc gia đã làm.

Yếu tố quan trọng cuối cùng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động điện ảnh Việt Nam là Thị trường điện ảnh. Thị trường điện ảnh được nhận biết qua ranh giới không gian - địa bàn, và qua các hình thức phổ biến phim cố định (Rạp, bãi, nhà văn hóa...) và lưu động (Đội, nhóm...). Thị trường này đang tồn tại dưới hai dạng: đã có sẵn và tiềm tàng.

Tại các thành phố và đô thị lớn, mạng lưới rạp chiếu phim tạm đủ. Điều cốt yếu hiện nay là giữ không để các rạp đó bị chuyển sang mục đích sử dụng khác, đồng thời tiến hành nâng cấp, trang bị lại như đã và đang làm. ở vùng nông thôn rộng lớn, cần ủng hộ và mở thêm các điểm chiếu cố định. Nơi nào không đủ điều kiện thì tổ chức các đội chiếu phim lưu động phục vụ cho các vùng rừng núi, hải đảo. Kinh nghiệm này ta đã có đầy đủ trong các thời kỳ trước. Mức thu chiếu bóng được định tùy theo điều kiện địa bàn và khả năng hấp thụ của thị trường. Chống phim nhập lậu có hiệu quả sẽ là biện pháp tích cực mở rộng thị trường. Quảng cáo phim đến nơi đến chốn và đúng cách sẽ làm tăng số lượng người xem, cũng là một cách khác mở rộng thị trường. Thường xuyên tổ chức nghiên cứu thị trường, nghiên cứu thị hiếu khán giả mỗi thời gian và mỗi vùng miền để thỏa mãn nhu cầu của công chúng cũng không ngoài mục đích mở rộng thị trường.

Ngoài ra cũng cần để ý sát sao đến thị trường nước ngoài. Trước mắt, thực hiện xuất khẩu phim bằng con đường hợp tác sản xuất phim với các đối tác nước ngoài. Về lâu dài, nên tính đến việc gia nhập các tổ chức phát hành phim liên quốc gia hoặc quốc tế để có cơ hội đưa phim ta đến thị trường các nước khác một cách thuận lợi.

Để thực hiện được các ý tưởng trên, cơ quan chức năng Nhà nước có trách nhiệm và tác dụng rất lớn, đồng thời rất cần có sự phối hợp, hưởng ứng của toàn xã hội

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA.  Bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........