Diễn đàn
- ý thức và lương tâm của văn
học
- trần thanh đạm
Tôi nghe nói ở châu Âu gần đây
có những nhà dinh dưỡng học phản ứng lại lối sống cấp tập của con
người trong xã hội văn minh, trong đó có lối ăn nhanh, uống nhanh, việc sản
xuất và tiêu thụ có tính chất toàn cầu các món ăn nhanh (fast food). Họ
tìm cách quảng bá lối ăn chậm, uống chậm, các món ăn chậm (slow food).
Họ cho rằng lối ăn uống hộc tốc với "nhịp điệu hiện đại"
chẳng chóng thì chầy sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tuổi thọ của con
người và gây ra các hậu quả khác. Các chứng tim mạch, thần kinh, tâm thần
và nhiều hội chứng khác của con người "hiện đại" đã chứng
tỏ điều đó.
Trong lĩnh vực đời sống tinh thần,
tình hình cũng đang diễn ra tương tự. Nền công nghiệp văn hóa hiện đại
đang sản xuất hàng loạt các món ăn nhanh cho trí tuệ và tâm hồn con người.
Đặc biệt là các tác phẩm ra đời từ công nghệ - kỹ thuật nghe -
nhìn, điện tử, viễn thông mà thành tựu tổng hợp là Internet. Con người
hiện tại không những ăn nhanh mà còn học nhanh. Họ đang bị cuốn vào cơn
lốc của văn hóa tốc độ, chưa kịp tiếp nhận và tiêu hóa thông tin trước
đã bị thông tin sau ập đến, chồng lên. Và phải nói rằng trong lối sống
nhanh có vẻ sôi động và đa dạng đó thực ra đang ẩn chứa nguy cơ của
cách sống rập khuôn khô cứng và đơn điệu, con người bị thế giới nhân
tạo vây quanh, ngăn cách với thế giới thiên nhiên. Đã bắt đầu có sự
cảnh báo về việc có những trẻ em suốt ngày ngồi trước ti-vi, máy
tính, sống với các ấn tượng nghe nhìn ảo ảnh, sau đó trở nên ngơ ngác,
khờ dại trước cuộc sống và con người thật sự, ngay cả trong môi trường
gần gũi nhất của mình, ngay cả với những kỹ năng văn hóa sơ đẳng nhất
như: đọc, viết, tính toán thông thường. Sự rối loạn dinh dưỡng trong
đời sống tinh thần do những món ăn nhanh đòi hỏi trở lại trong chừng
mực cần thiết với các món ăn chậm, thường thường là các món ăn truyền
thống "mùa nào thức ấy", có nguồn gốc thiên nhiên, nguồn gốc
dân tộc.
Tôi nghĩ rằng: văn học là một
món ăn chậm trong sự dinh dưỡng tinh thần của con người. Nó có nguồn gốc
tự nhiên và dân tộc sâu xa, vì nó dựa vào hai nhân tố cơ bản là ngôn
ngữ và chữ viết. Nền nghệ thuật được tạo dựng bằng ngôn ngữ và
chữ viết xưa nay vẫn có nhược điểm về tính trực tiếp trực quan so với
các nghệ thuật tạo hình và các nghệ thuật âm thanh. Nhược điểm về
phương diện này càng nhiều hơn so với các nghệ thuật tổng hợp như sân
khấu và điện ảnh, v.v . Các kỹ thuật và công nghệ truyền thông hiện
đại càng làm bộc lộ rõ hơn các sở đoản của văn học trong việc tiếp
cận nhanh với con người, với công chúng. Cho nên không lạ gì cuộc sống
càng đi vào hiện đại hóa thì vai trò của văn học trong thế giới văn hóa
nghệ thuật, trong sự tiếp đón của công chúng dường như có giảm sút
đi, thu hẹp lại. Nhiều người nói đến sự suy thoái, thậm chí sự tiêu
vong của chữ viết và sau đó là của văn học. Dĩ nhiên không thể có sự
đó, song khác với các thế kỷ trước và ngay cả đầu thế kỷ này, văn
học và rộng hơn, văn hóa đọc - viết ngày nay rõ ràng không còn địa vị
chủ soái như trước nữa. Thực ra, sức mạnh to lớn của văn học không
hề mất đi mà nó chỉ biến đổi và trong sự biến đổi đó, nếu biết
thích nghi, sức mạnh của nó thậm chí được tăng lên. Một mặt, văn học
thâm nhập vào các loại hình nghệ thuật khác. Liên kết và vận dụng
các phương tiện truyền thông hiện đại, để phát huy sức mạnh của
mình. Mặt khác, văn học tiếp tục khai thác thế mạnh của bản thân là
đi vào chiều sâu, vào thế giới bên trong của con người, đi vào phần bản
chất nhất của con người là sống trí tuệ và tâm hồn, suy tư và xúc cảm,
có liên quan tới một năng lực kỳ diệu nhất của con người từ khi con
người trở thành con người, đó là ngôn ngữ (nói và viết). Nghệ thuật
ngôn ngữ không phải là phương tiện nghe - nhìn mà có năng lực tạo nên
sự nghe - nhìn bằng cảm xúc và tưởng tượng, nó là hợp điểm của mọi
nghệ thuật tạo hình và âm thanh, nó gián cách con người với thế giới,
đồng thời giúp con người thâm nhập vào thế giới, cả ngoại cảnh lẫn
nội tâm. Do đó, văn học là nghệ thuật đối nghịch với sự nông nổi,
hời hợt, kẻ thù của sự nhạt nhẽo, tầm thường, sự khoa trương, mầu
mè, sự ồn ã, trống rỗng, cả sự giả trá, lừa dối. Không phải nó
không có các khuyết điểm và bệnh tật ấy, song ở nó, hễ những cái xấu
nhiễm vào thì dễ bị lộ ra. Cho nên, giữa thời đại bùng nổ thông tin
trong văn hóa và cơ chế thị trường trong kinh tế, thì văn học vừa là
nghệ thuật của bề rộng đồng thời là nghệ thuật của chiều sâu, nhất
là chiều sâu. Bớt đi gánh nặng thông tin sự kiện (information), nó tập
trung đảm đương thêm sứ mệnh đào tạo con người (formation). Về mặt này,
không có lĩnh vực hoạt động tinh thần nào thay thế cho văn học được,
kể cả các ngành khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật khác. Trong nhịp
sống hiện đại, trong cơn lốc tốc độ cuốn hút con người, có thể xem
văn học là những điểm dừng, những khoảng thoáng để con người soi lại
chính mình, soi vào cuộc sống, để hiểu mình, hiểu đời hơn. Để sống
và hành động tốt đẹp hơn, nhân ái hơn, giác ngộ, tỉnh ngộ ra bản chất
người của mình, thu hồi bản chất ấy trong vòng quay của sự tha hóa, kết
tinh lại thành một giá trị đạo đức căn bản, được gọi là lương tâm.
Bản thân văn học cũng không có tham vọng thay thế các lĩnh vực tinh thần
và văn hóa khác, nó chỉ là "món ăn chậm" giàu chất bổ dưỡng,
tăng thêm sức khỏe và tuổi thọ cho nhân phẩm con người, từ đó cho
nhân phẩm của toàn xã hội.
Trong xu thế biến đổi như vậy của
cuộc sống và của văn học, dĩ nhiên các nhà văn không còn có thể tiếp
tục sáng tác như xưa, nếu không muốn cho tác phẩm của mình trở nên thừa
đối với xã hội. Ngược lại, họ phải tìm cách thích ứng tài năng của
mình với xu thế mới của thời đại, không phải bằng cách trang trí cho
tác phẩm của mình mọi thứ gây ấn tượng mạnh, mà theo tôi, họ sẽ
đi vào văn học như lĩnh vực nghệ thuật của chiều sâu, tìm cách khởi
động mọi tiềm năng nhân bản, nhân ái nơi con người, từ đó nâng cao họ
lên tầm cao nhân văn của dân tộc và thời đại. Là nhà văn, nhà thơ, họ
không thể không là những nghệ sĩ, những người thám hiểm, tìm tòi, thử
nghiệm những cái mới trong nghệ thuật, song tôi luôn chia sẻ với nhà thơ
lớn nước ta, Nguyễn Du, rằng: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài, và với
nhà thơ lớn nước Đức, Giô-han Bê-sơ, rằng: Một nền nghệ thuật mới
không phải bắt đầu với những hình thức mới mà ra đời với những
con người mới. Tức là: nhà văn trước hết là nhà nghệ sĩ đồng thời
là nhà tư tưởng, nhà đạo đức, nhà văn hóa, người bạn, người thầy
của người đọc, của con người. Và mỗi tác phẩm của họ là một điểm
sáng nhân văn soi tận đáy sâu tâm hồn con người trong đất nước và thời
đại chất chứa biết bao thời cơ cùng với biết bao hiểm họa hôm nay.
Trong bối cảnh lịch sử của văn
học như hiện nay, hơn bao giờ hết, sáng tác cần đến phê bình như Bá
Nha cần đến Chung Kỳ, những người bạn tri âm, những người đọc ưu tú,
uyên thâm của các tác phẩm, đồng thời lại là người giới thiệu với
công chúng rộng rãi các giá trị chân chính nhiều khi còn tiềm ẩn trong
chiều sâu của tác phẩm, bị che khuất, lấn át đi trong cơn lốc thông
tin, cơn bão thị trường và trong cuộc sống ngược xuôi, bận rộn của
xã hội và con người hiện đại. Về các giá trị văn hóa, nghệ thuật,
người xưa từng so sánh với ngọc đá, vàng thau, những thứ dễ lẫn lộn
với nhau dưới con mắt của những người không chú ý hay không sành sỏi,
thậm chí nhiều khi bị đánh lừa: vàng lộn cùng thau, ngọc lầm với đá.
Bản thân người phê bình cũng có thể lầm lẫn, một khi chủ quan, thiên
kiến hay tà tâm. Vì vậy, sáng tác phải tự do thì phê bình phải tự do.
Tôi hiểu tự do trong sáng tác và phê bình văn học không chỉ có tính
cách cá nhân mà còn có tính cách cộng đồng. Nhà văn phải tự do sáng
tác nghĩa là không có gì hạn chế sự sáng tạo nghệ thuật từ gan ruột
của mình song không phải vì lợi ích riêng tư của mình mà vì lợi ích
cao cả của dân tộc, đất nước, của con người và xã hội. Đó là tự
do sáng suốt đầy trách nhiệm. Còn nhà phê bình phải tự do có nghĩa rằng
anh được tự do nói hết ý kiến của mình nếu ai tranh luận, biện luận
đến nơi đến chốn, song cũng không vì lợi ích riêng tư hay bè nhóm mà
vì lợi ích chung, vì con người, vì xã hội. Đó cũng là tự do sáng suốt,
đầy trách nhiệm. Đối với mọi người, xã hội vẫn yêu cầu hai chữ lương
tâm: lương tâm người thầy thuốc, người thầy giáo, người lãnh đạo,
cả người buôn bán, người kinh doanh... Từ thế kỷ trước, đã có câu
danh ngôn đối với nhà khoa học: Khoa học không có lương tâm chỉ là sự
hủy hoại của tâm hồn. Văn học nghệ thuật cũng vậy thôi, cả đối với
người sáng tác lẫn người phê bình, họ có một danh hiệu chung là nhà văn.
Chữ conscience vừa có nghĩa ý thức vừa có nghĩa lương tâm. Trong bối cảnh
mới của văn học, phê bình văn học vừa là ý thức vừa là lương tâm của
văn học.
