- Mạng tin học - có để khó bó
khôn?
- Phương Tâm
Công nghệ thông tin - sau hơn 10 năm có vi tính -
đã được xác định là yếu tố phát triển, vừa như một ngành kinh tế
trọng điểm tạo ra giá trị lớn hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, vừa
như hạ tầng cơ sở cho mọi hoạt động kinh tế xã hội, sánh ngang với
hạ tầng giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông. Việc đẩy mạnh
phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin đã nhận được quan tâm từ
nhiều phía. Nếu xem ứng dụng như một con thuyền trong cuộc đua thì
các tay chèo là những người hành nghề công nghệ thông tin đã được hỗ
trợ mạnh hơn; người ủng hộ ứng dụng, như cổ động viên, đã đông
hơn; kinh phí, như giải thưởng, đã lớn hơn; chính sách nhà nước, như
luồng lạch, đã thông thoáng hơn;... Thế nhưng mục tiêu của phát triển
ứng dụng, như đích đến của con thuyền, đôi khi lại ở... trên bờ.
Vì giải thưởng, cả chèo lẫn lái sẵn sàng vác thuyền tới đích. Tình
trạng đó thực đáng lo nghĩ.
Không thể phủ nhận thành quả ứng dụng công
nghệ thông tin đã góp phần đẩy nhanh các quá trình vận động kinh tế xã
hội, đặc biệt trong các ngành và các hoạt động kinh tế mà nghiệp vụ
có thể ứng dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ như tài chính,
ngân hàng, quản lý kho tàng tài sản,...
Thế nhưng có một sự thật là tiền của
chi ra ngày càng nhiều nhưng khoảng cách thông tin số với thế giới dường
như không thu hẹp lại.
Chỉ nhìn vào riêng một vấn đề tổ chức mạng
tin học đã thấy có những điều không ổn. Một mạng ứng dụng mới
chính thức hoạt động vào đầu năm 2001 (tại một đơn vị trực thuộc
Chính phủ) có chu kỳ cập nhật thông tin dài tới ba tháng, với thời gian
cập nhật hết hai tuần, từ vài chục đầu mối. Nếu đồng ý rằng
các cơ quan liên quan không cần thông tin "tươi" thì việc sinh ra một
hệ thống như vậy cũng đã giống như qua đèo mua thêm con ngựa để... vác.
Tình trạng này, nếu xem xét ở nhiều cơ quan từ thấp đến cao, đều
có thể kể không ít.
Dường như một trong những nguyên nhân làm cho mạng
tin học diện rộng trở thành mạng ba tháng nối một lần như nêu trên
là do không có đủ kinh phí kết nối truyền thông. Hiện tượng có vẻ như
một trường hợp điển hình về đầu tư chưa tới hạn. Kết quả tất yếu
là khoản đầu tư này sẽ bị mất trắng do hao mòn vô hình và lại còn
phải cộng thêm các chi phí hoạt động khác trong khi hệ thống chưa đủ
sức phát huy tác dụng.
Khi chúng ta đã có thời gian 10 năm nhập cuộc,
dài bằng vài chu kỳ đổi mới công nghệ, mà tình hình vẫn chưa có biến
chuyển tích cực thì có lẽ cần phải đặt câu hỏi liệu có đúng là
nguồn vốn quá nhỏ làm cho đầu tư vào công nghệ thông tin chưa tới hạn?
Nếu coi đầu tư đồng nghĩa với cấp kinh
phí thì có thể câu trả lời là đã đủ, thậm chí còn thừa.
Có những
trường hợp kinh phí cấp cho công nghệ thông tin đã không được sử dụng
hết. Tiền có vẻ nhiều nhưng khả năng dùng lại có hạn, như người yếu
không dùng được thuốc kịch bổ. Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm
đầu tư không chỉ là tiền bạc thì có lẽ câu trả lời lại đúng là
chúng ta đã bỏ qua nhiều phương cách đầu tư một cách có hiệu quả.
Thứ nhất là phương pháp tiếp cận chưa thích
hợp.
Để ý rằng mãi tới tận cuối thế kỷ 20, các nước phát
triển mới tiếp cận nền kinh tế mạng, nền kinh tế tri thức trên hạ tầng
cơ sở công nghệ thông tin thì có thể thấy rằng cái hạ tầng ấy hết
sức đặc biệt, nó chỉ tồn tại khi các hạ tầng khác, vốn được bắt
đầu từ xưa (giao thông vận tải) hoặc từ các thế kỷ 19, 20 (điện, viễn
thông), đã phát triển rất hoàn thiện. Nếu chúng ta ứng dụng công nghệ
thông tin, muốn nó làm hạ tầng cho quản lý thì phải tạo ra mạng lưới
viễn thông tương xứng, ít nhất trong khu vực quản lý công. Việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào quản lý công hiện nay đang được chẻ dọc theo một
kiểu nghiệp vụ hoặc ngành cụ thể, hay lại được xẻ ngang theo vùng
lãnh thổ. Kinh phí cấp theo các ứng dụng dọc hoặc ngang đều bao gồm cả
phần hạ tầng kết nối và ứng dụng nghiệp vụ. Ngân sách cấp phát như
vậy sẽ thiếu là vì không đủ để triển khai ứng dụng quản lý, vốn
là môi trường nghiệp vụ công tác, chỉ với từng đó tiền. Đã thiếu
tất dẫn tới thừa, vì đằng nào cũng không đủ thì làm gì chẳng vậy,
không còn tính tới hiệu quả nữa.
Bất cập thứ hai là tình trạng cát cứ
thông tin.
Hiện nay, mỗi bộ phận trong cơ quan có xu hướng trở
thành một pháo đài thông tin. Tình trạng đưa ra các yếu tố đặc thù một
cách giả tạo để hạn chế dùng chung hạ tầng mạng, hạn chế liên kết
dữ liệu giữa các ứng dụng nghiệp vụ khác nhau, hạn chế quảng bá
thông tin... đã góp phần quan trọng làm phân mảnh nguồn đầu tư, làm cho
ngày càng tích tụ sự chồng chéo các khoản mục đầu tư, lập lại việc
đã làm rồi mà không có tiến bộ, tóm lại là đầu tư kém hiệu quả.
Đáng tiếc thứ ba là về giới cung cấp sản phẩm
và dịch vụ công nghệ thông tin.
Có lẽ nghề công nghệ thông tin
không khó như người ta tưởng, vậy nên chỉ trong một thời gian ngắn (so
với lịch sử của các ngành nghề sản xuất vật chất và dịch vụ
khác) số lượng các công ty hoạt động trong lĩnh vực này tăng trưởng tới
con số lớn, với quy mô nhỏ và chất lượng sản phẩm chưa thể nói là
cao. Cạnh tranh trong hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ tin học
vì vậy có thể nóng không hề thua kém trong các lĩnh vực khác. Cạnh tranh
gay gắt trong nội bộ bên "các B" cộng với sự định hướng đầu
tư không rõ ràng của bên "các A" khiến cho đầu tư vào CNTT không
mang lại hiệu quả như mong đợi.
Có một triết lý đúng cho tới ngày nay, xem ra
không còn đúng trong thế giới ảo nữa, cho rằng người ta cứ đi mãi
thì thành đường. Đối với mạng máy tính, không thể trông chờ cung
cách phát triển như hiện nay.
Tối thiểu trong khu vực quản lý hành chính
công nên thiết lập mạng trục để có thể triển khai các ứng dụng một
cách thông suốt.
Chính sách phát triển và ứng dụng phần mềm, khuyến
khích sử dụng phần mềm trong nước sẽ chỉ là mong muốn nếu không có
phần cứng cho nó chạy trên đó. Mà các ứng dụng quản lý có thể tạo
việc làm cho một đội ngũ vươn lên chất lượng quốc tế thì phải là
ứng dụng quy mô mạng, nhiều cấp. Nếu không có mạng, không làm ứng
dụng ở trình độ đó, đội ngũ phần mềm Việt Nam chỉ ở hạng nghiệp
dư, sản phẩm xuất khẩu, nếu có, nên xếp cùng bảng "mỹ nghệ thủ
công" với mây tre đan
Mục tiêu mạng trực tuyến có thể đạt được
bằng cách đơn giản là quay số và duy trì kết nối liên tục trong giờ
làm việc. Năm sáu năm trước, một mạng tài chính đã áp dụng phương thức
này, với giá 700 nghìn đồng một tháng/thuê bao. Một phương thức khác
là thuê dây, đã được áp dụng ở Mỹ, với cáp quang. Theo cách này người
dùng chỉ thuê dây dẫn, không sử dụng bất kỳ thiết bị nào của nhà
cung cấp. Phương thức này hứa hẹn có hiệu quả nếu dùng với DSL sẽ
cho phép lập mạng trực tuyến 24/24, tốc độ cao, đặc biệt với các mạng
có kích thước trong phạm vi năm bẩy cây số. Các phương thức trên đều
không quá đắt, theo ước tính.
Một cách định tính có thể thấy, nút chặn sự
phát triển ứng dụng công nghệ thông tin vào khu vực quản lý công (khách
hàng lớn nhất) đang là hạ tầng kết nối mạng. Tháo gỡ nút chặn
này trước hết không phải là tiền, mà là dùng tiền như thế nào. Vấn
đề này quay trở lại đòi hỏi năng lực của các nhà quản lý. Nếu
họ không có các giải pháp thiết thực về mặt tổ chức và quản lý
thì chúng ta, những người làm nghề, lại tiếp tục "vác thuyền tới
đích".
(Tạp chí Tin học và đời sống)
Home