Các vấn đề thời
sự về Lâm ngiệp
Triển lãm Bướm
và Côn trùng rừng Việt Nam
Chiều 18-1, Viện Goethe Hà Nội và
Viện điều tra quy hoạch rừng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã phối hợp tổ chức Triển lãm Bướm và côn trùng rừng Việt Nam
trong bộ sưu tập của các nhà nghiên cứu Đặng Ngọc Anh, Bùi Công Hiển,
Nguyễn Trung Tín, Hà Văn Hoạch và tập thể Bộ môn chuyên đề Viện điều
tra quy hoạch rừng. Đây là cố gắng bước đầu của các nhà nghiên cứu
nhằm giới thiệu một bộ sưu tập các loài côn trùng và chủ yếu là bướm
rừng ở Việt Nam, tập trung ở nhóm bướm ngày (Rhopalocera), những đại
diện còn chưa đầy đủ của các họ như Palilionidae, Nymphalidae, Pieridae,
Satyridae, Lycaenidae, Hesperiidae, Riodinidae,... Đây là một triển lãm đặc biệt,
mang đầy tính nghệ thuật thể hiện ở những cánh bướm rừng đa dạng,
đủ các kích cỡ được giữ nguyên vẹn trong các khung kính, và qua những
bức tranh dân gian do bàn tay khéo léo của các nhà nghiên cứu ghép lại từ
những cánh bướm không còn được nguyên vẹn trong quá trình thu thập mẫu.
Nhà nghiên cứu Đặng Ngọc Anh tâm sự rằng, thông qua triển lãm này, các
nhà nghiên cứu muốn giúp người xem có ý thức tốt hơn về việc bảo tồn
đa dạng sinh học, hiểu được vẻ đẹp của thiên nhiên và giữ gìn nó.
Đặc biệt các nhà nghiên cứu đề ra ý tưởng tạo ngành gây nuôi các giống
bướm đẹp và quý hiện đang có giá trên thị trường thế giới, tạo công
ăn việc làm cho các khu dân cư sống cạnh rừng, đồng thời cũng khuyến
khích họ gìn giữ rừng để lập nên những trang trại nuôi bướm. Hiện
nay, không ít các loài bướm đang có nguy cơ bị tiêu diệt do rừng bị
tàn phá, do ô nhiễm môi trường, do suy thoái sinh thái và cả do khai thác
trái phép các loài bướm. Tập thể các nhà nghiên cứu mong được sự giúp
đỡ của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước đối với việc
bảo vệ, gây nuôi, phát triển các loại động vật hoang dã này nhằm phục
vụ con người theo nhiều mục đích khác nhau.
Cần phân biệt nấm lành, nấm độc
Từ thời xưa, nấm đã được con người dùng làm thức a (n và được coi
là một thực phẩm quý có nhiều dinh dưỡng. Nước ta có nhiều loại nấm
ăn tốt như nấm hương, nấm mỡ, nấm rơm, nấm rạ, nấm mối, nấm tràm,
nấm trứng, mộc nhĩ ... Phân tích thành phần hoá học, trong 100g nấm hương
khô của ta có tới 36g protit, 4g lipit, 23,5g gluxit, 17g xenlulo, 184mg canxi,
606mg photpho, 35mg sắt, các vitamin B1, B2, PP ... Trong 100g mộc nhĩ cũng có
10,6g protit, 0,2g litpit, 65g gluxit, 7g xenlulo, 357mg canxi, 201mg photpho, các
vitamin B1, B2, PP, caroten ... Các loại nấm khác như nấm mỡ, nấm rơm, nấm
trứng... cũng đều có nhiều chất di dưỡng tương tự. Rõ ràng nấm có một
hàm lượng protit cao, chứa hơn 20 loại axit amin khác nhau, trong đó có một
số loại gần bằng lượng có trong thịt động vật như trytophan, xystin,
histidin, acginin... Mùa xuân là mùa các loài nấm phát triển mạnh, việc thu
hái nấm rất thích hợp, tuy nhiên ta phải chú ý đề phòng hái nhầm phải
nấm độc. Trong thiên nhiên có nhiều loại nấm quý, nhưng cũng có không
ít nấm độc, ăn nhầm phải có thể chết ngườị Những nấm độc nguy
hiểm nhất thường là những nấm tán thuộc giống Aminita, như nấm tán độc
xanh đen (aminita phalloides) nấm tán độc trắng (aminitaverna), nấm ruồi
(Aminita muscaria), nấm độc có mũ xám tím (Aminita pantherina)... Những loại
nấm này thường mọc trong rừng, ven rừng, trên các bãi cỏ , gây ra trên
90% vụ nhiễm độc nấm chết ngườị Để phân biệt nấm ăn với nấm
độc, người ta đã có nhiều nhận xét, như nấm độc có màu sặc sỡ,
có mùi hắc... nhưng trong thực tế không hoàn toàn đúng như thế. Có những
loại nấm màu trắng dịu, vị thơm ngọt mà vẫn rất độc như loại nấm
tán độc trắng (Aminitaverna). Vì vậy không thể nhìn bề ngoài để phân
biệt nấm độc với nấm ăn, mà cần có kinh nghiệm và sự hiểu biết kỹ
lưỡng về các loài nấm, và chỉ ăn những nấm đã được xác nhận chắc
chắn là ăn được. Các loại nấm độc trên có chứa nhiều chất độc
khác nhau và gây nhiễm độc nặng nhẹ khác nhau. Xu hướng hiện nay người
ta chia chúng làm 3 nhóm: nhóm nấm độc phá huỷ cấu trúc các tế bào, cơ
quan, nhóm gây độc lên hệ thần kinh và nhóm gây độc lên hệ tiêu hoá.
Cơ chế gây độc của từng nhóm cũng khác nhau. Trong nhóm thứ nhất người
ta phân lậ được các độc tố aminitin và phaloidin có thể phá huỷ các tế
bào, nhất là tế bào gan, làm gan bị huỷ hoại nhanh chóng. Nhóm này gồm
một số lớn nấm độc thuộc giống aminita kể trên, gây tử vong cao. Ở
hai nhóm nấm độc sau, người ta đã phân lập được nhiều chất độc,
chủ yếu vẫn là chất muscarin gây độc trên hệ thần kinh và hệ tiêu
hoá. Một số loài nấm ăn cũng có thể trở nên độc trong những trường
hợp nấm bị ôi thiu, nấu không kỹ, hoặc khi có rượu trong máu. Vì vậy
chúng ta không nên ăn nấm bị giập nát, những nấm đã ôi thiu, phải cẩn
thận khi thu hái và chế biến nấm, đồng thời không nên uống rượu khi
ăn nấm vì rượu làm tăng thẩm thấu độc tố nầm vào máu. Để đề phòng
ngộ độc nấm, tốt nhất là ta chỉ ăn những loại nấm đã quen biết,
chắc chắn là nấm ăn được. Tuyệt đối không ăn những nấm lạ. Những
bạn mới ở miền xuôi lên miền núi, khi hái nấm cần hỏi kinh nghiệm đồng
bào địa phương cho thật cụ thể, chắc chắn, vì thực tế rất khó
phân biệt nấm ăn với nấm độc. Về cách chữa thị người bị ngộ độc
nấm tại gia đình, ta phải bình tĩnh tìm mọi cách làm cho bệnh nhân nôn
ra hết thức ăn, cho người bệnh uống nhiều nước muối, nước đường
hoặc nước hoà than bột để làm loãng hoặc hấp thu bớt chất độc, sau
đó gửi ngay người bệnh đến một cơ sở điều trị gần nhất để rửa
dạ dày và uống các thuốc giải độc. Gửi cả các chất nôn của bệnh
nhân đến bệnh viện để xét nghiệm tìm chất độc của loại nấm giúp
điều trị đúng hướng. Báo Khoa học và đời sống số 2 (1307)
Cây a-năng
"kế hoạch hóa gia đình" của người Rục
Từ xưa, người Rục đã biết tới
phương pháp ngừa thai bằng cây a-năng, một loài cây mọc ở núi rừng
phía tây Hướng Hóa, Quảng Trị. Một công trình nghiên cứu công dụng của
cây a-năng cho thấy 90% số người thử nghiệm ngừa thai bằng cây a-năng có
kết quả tốt, không bị tác dụng phụ. Ngoài ra, người Rục còn có những
biện pháp "kế hoạch hóa gia đình" khá đặc biệt mà vẫn chưa
được khoa học khám phá. Chiếc lá a-năng kỳ lạ Tháng 10-1992, khi tôi
theo một đoàn của ủy ban dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh Quảng
Trị lên Hướng Hóa tuyên truyền về sinh đẻ có kế hoạch, khi nhắc tới
các biện pháp tránh thai "hiện đại", tôi nghe một già làng bảo:
"Ô, đồng bào mình lâu nay đẻ nhiều là sợ con nó chê cái cơm cái nước
rồi nó "cu chít" (chết), phải đẻ nhiều để có đứa nó đi rừng
đi rẫy, săn con nai, con heo chứ muốn không đẻ thì có gì khó"... Tất
nhiên già làng không tiết lộ các phương pháp "không đẻ" ấy vì
đó là một "bí truyền" của người vùng caọ Sau nhiều lần lân
la dò hỏi tôi cũng chỉ biết loáng thoáng đấy là một loài cây có tên gọi
là a-năng, mọc ở núi rừng phía tây Hướng Hóạ Khi người phụ nữ không
muốn thụ thai chỉ cần lót lá ấy vào dưới lưng lúc giao hợp. Cũng chỉ
hiểu lờ mờ như thế, vì chiếc lá ấy dọc ngang đen trắng như thế nào,
mấy ai đã nhìn thấy. Ba năm sau, từ những kinh nghiệm tránh thai của người
vùng cao, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 1180/QĐUB ngày
28-11-1995 cho phép tiến hành nghiên cứu đề tài "Thuốc y học cổ truyền
dân tộc: ứng dụng trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình" và đã
được ủy ban quốc gia Dân số- Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam phê duyệt.
Bước đầu, cây "a-năng" được các cán bộ nghiêm cứu xác định
tên khoa học; độc tính cấp; tác dụng của cây thuốc lên sự động dục
và sinh sản của thỏ và sơ bộ thử nghiệm tác dụng của nó lên một số
người tự nguyện. Cây a-năng có thân củ và cho lá bẹ như các loài lan
đất vẫn mọc nhiều khắp nơị Theo Giáo sư Vũ Văn Chuyên, nguyên chủ
nhiệm bộ môn thực vật Trường đại học dược Hà Nội, hiện là giám
đốc Trung tâm nghiên cứu các cây thuốc Việt Nam thì cây "a-năng"
như dân gian thường gọi thuộc họ Amarylli, chi Crium, chưa xác định loài
nhưng gần loài Crium Serrulatum, có một khác biệt nhỏ là mép lá ngoài của
cây Serrulatum có răng cưa còn loài cây đang được nghiên cứu mép lá chưa
có răng cưạ Những cán bộ nghiên cứu đã chế biến lá a-năng thành thuốc
để tiêm vào một dạng khác là cây thuốc được tán nhỏ thành bột,
rây mịn và đóng gói vào bao vải để đeo ở trên cơ thể. Dược liệu tác
động lên cơ thể qua các mắt thưa túi vải. Sau khi tiêm cho thỏ và đeo túi
vả i đối với một số con thỏ khác, một thời gian sau thấy thỏ vẫn
động dục bình thường, không có dấu hiệu ảnh hưởng đến nhu cầu tình
dục song lại hạn chế 80% khả năng mang thai của thỏ. Thử nghiệm thành
công trên thỏ và chuột, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lựa chọn 20 người
ở độ tuổi sinh đẻ, khỏe mạnh, đã có số con mong muốn, tình nguyện
áp dụng hình thức đeo túi thuốc a-năng để hạn chế sinh đẻ. Với loại
dược liệu được chế thành bột, cho vào các túi vải nặng 1 gram/túi
và đeo từ 1-1-1997 đến 31-12- 1998, sau hai năm, cả 20 người này đều khỏe
mạnh bình thường, chỉ có hai trong số đó bị rối loạn kinh nguyệt nhẹ.
Tâm sinh lý không có gì thay đổị Kết quả thực nghiệm cho thấy có hai
phụ nữ có thai, 18 người còn lại đạt yêu cầu thực nghiệm. Họ không
bị biến chứng, sinh hoạt tình dục đều đặn vẫn không thụ thai. Với
tỷ lệ 90%, có thể thấy bước đầu lá a-năng đã cho kết quả khả
quan. Đáng nói hơn là với hai chị thụ thai (dù thực hiện việc đeo túi
thuốc) thì một chị hút điều hòa kinh nguyệt, chị còn lại giữ thai,
sinh con vẫn khỏe mạnh bình thường. Và với hai trường hợp này việc thụ
thai có thể xảy ra do quên đeo "đối phó", không thực sự tự
giác. Từ một loại cây thuốc "bí truyền", lá a-năng đã thực sự
hé mở một khả năng cho công cuộc thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình. Đề tài khoa học này, dù đã thành công bước đầu nhưng
đến nay vẫn cần sự góp sức của các nhà khoa học, dược học, y học
nha (cần bổ sung, hoàn thiện các chỉ số về dược lý, sinh lý, sinh
hóa,... khiến thuốc có độ đảm bảo cao, an toàn và bền vững hơn. Câu
"thần chú" của người Rục... Khoảng mười năm trước, người Rục
- một tộc người thiểu số sống ở núi rừng miền tây Quảng Bình đã
trở thành "tiêu điểm" trên các mặt báo một thời gian dàị Vì
vào những năm cuối thế kỷ 20 này, lại có một tộc người như đang sống
trong tình trạng vừa thoát khỏi cả nh "ăn lông ở lỗ"... Và khi
những người Rục, một bộ tộc có nguy cơ biến mất do tỷ lệ tử cao
hơn tỷ lệ sinh, được tiếp xúc với nền văn minh thì nhiều điều thú
vị về người Rục cũng được phát hiện. Một trong số những điều lý
thú ấy theo các già làng, là người Rục có một câu thần chú đặc biệt
có thể dùng để "thổi" cho phụ nữ hết sinh đẻ hoặc "giải"
câu thần chú ấy khi người phụ nữ muốn sinh đẻ trở lạị Nói cách
khác, họ vẫn có những biện pháp ngừa thai đặc biệt. Tại thung lũng Mã
Ma Cà Tắp, già bản Bằn cho biết câu thần chú này chỉ có rất ít người
được biết và khẳng định với chúng tôi rằng nó chưa bị thất truyền.
Tuy nhiên để truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nó chỉ được
truyền theo lối "độc chỉ chân truyền", chỉ một người truyền
cho một người, không truyền cho hai, ba người, vì sẽ mất tác dụng. Điều
đặc biệt nữa với "câu thần chú" này là ai "thổi" cho
người phụ nữ tạm ngưng thụ thai, nếu sau này muốn mang thai thì phải
chính người thổi "tắt" mới thổi "mở". Tuy nhiên, các
chiến sĩ biên phòng của đồn Cà Xèng cho rằng không thể có chuyện chỉ
câu "thần chú" để thổi mà còn có một loại lá được nhai kèm
vào lúc được thổi thần chú. Như thế bản chất của việc ngừa thai có
thể nằm chính ở loại lá kia và câu thần chú chỉ đóng vai trò "huyền
bí" để giữ bí mật cho bài thuốc tránh thai kiạ Song, cho dù câu thần
chú ấy có thiêng đến cỡ nào thì thực trạng dân số ngày một ít đi của
người Rục không phải vì họ đã thực hiện các phương pháp tránh thai
theo bùa chú huyền bí kia, mà bởi đời sống hoang dã đã đe dọa diệt
vong họ. Lê Cát Nhẫn (Tạp chí Kiến thức ngày nay)
- Bưu điện cấu kết với
"lâm tặc"
- (Kon Tum - VNN, 5/12/00)
Từ khi khám phá tại khu rừng Măng
Đen, Kon Tum, tồn trữ loại gỗ quý, gỗ sưa trắng, giá gỗ sưa tại thị
xã Kon Tum lên đến 18 triệu đồng một thước khối, thì việc khai thác gỗ
sưa lậu tại khu rừng Măng Đen càng gia tăng. Lâm tặc đã cấu kết với
bưu điện địa phương, gây gián đoạn mọi liên lạc điện thoại giữa
các cơ quan hữu trách khi cần phối hợp để bắt giữ những kẻ khai thác
gỗ lậụ Trong địa phận rừng Măng Đen, người ta vẫn khám phá ra gỗ sưa
trắng lậu, song không bắt được những người phá rừng khai thác gỗ lậụ
Cho tới hồi 1 giờ rưỡi sáng ngày 19/9/2000, Trưởng ban quản lý bảo vệ
rừng, Nguyễn Trọng Phơn, phát giác dấu hiệu vận chuyển gỗ trái phép,
ông Phơn đã liên lạc điện thoại tới nhà riêng của Trưởng ty Công an
và Hạt Kiểm lâm địa phương để phối hợp đuổi bắt những kẻ khai
thác gỗ lậu, song tất cả các đường dây điện thoại đều bị gián
đoạn. Đồng thời các đường dây điện thoại của Phó văn phòng Ủy
ban Nhân dân huyện, điện thoại liên lạc của tài xế lái xe được giao
nhiệm vụ truy lùng bọn khai thác rừng lậu khi phát giác, và đường dây
điện thoại mật của cơ quan kiểm lâm, tất cả đều bị gián đoạn không
liên lạc được cho tới 5 giờ sáng. Khi các nhân viên hữu trách tới được
hiện trường thì còn gần 3.000 thước gỗ lậu chưa kịp tẩu tán. Tình
trạng tất cả đường dây điện thoại của các nhân viên hữu trách đồng
loạt bị gián đoạn trong cùng thời điểm khám phá việc vận chuyển gỗ
lậu, cho thấy có sự thông đồng giữa bưu điện địa phương với bọn
phá rừng. Tuy nhiên, khi sự việc được điều tra thì Bưu điện địa
phương xác nhận rằng "nhân viên Bưu điện có nhiệm vụ trực từ 5
giờ chiều ngày 18/9 đến 7 giờ sáng ngày 19/9 là Nguyễn Hùng Hưng đã ngủ
quên trong thời gian các chủ đường dây điện thoại cần liên lạc".
Nguyễn Hùng Hưng chỉ bị Bưu điện xử phạt kỷ luật mơ hồ là
"làm việc chất lượng kém" và chuyển sang làm việc tại phần vụ
khác. Khi được hỏi về hậu quả kỹ thuật xảy ra trong trường hợp
người trực tổng đài ngủ quên, như trường hợp Nguyễn Hùng Hưng, thì
giới chuyên môn tại Bưu điện cho hay là máy móc vẫn vận hành bình thường
vì tổng đài hoạt động tự động. Như vậy, nếu các đường dây điện
thoại không liên lạc được là có kẻ đã cố ý làm cho gián đoạn.
Triển lãm Bướm
và Côn trùng rừng Việt Nam
Chiều 18-1, Viện Goethe Hà Nội và
Viện điều tra quy hoạch rừng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã phối hợp tổ chức Triển lãm Bướm và côn trùng rừng Việt Nam
trong bộ sưu tập của các nhà nghiên cứu Đặng Ngọc Anh, Bùi Công Hiển,
Nguyễn Trung Tín, Hà Văn Hoạch và tập thể Bộ môn chuyên đề Viện điều
tra quy hoạch rừng. Đây là cố gắng bước đầu của các nhà nghiên cứu
nhằm giới thiệu một bộ sưu tập các loài côn trùng và chủ yếu là bướm
rừng ở Việt Nam, tập trung ở nhóm bướm ngày (Rhopalocera), những đại
diện còn chưa đầy đủ của các họ như Palilionidae, Nymphalidae, Pieridae,
Satyridae, Lycaenidae, Hesperiidae, Riodinidae,... Đây là một triển lãm đặc biệt,
mang đầy tính nghệ thuật thể hiện ở những cánh bướm rừng đa dạng,
đủ các kích cỡ được giữ nguyên vẹn trong các khung kính, và qua những
bức tranh dân gian do bàn tay khéo léo của các nhà nghiên cứu ghép lại từ
những cánh bướm không còn được nguyên vẹn trong quá trình thu thập mẫu.
Nhà nghiên cứu Đặng Ngọc Anh tâm sự rằng, thông qua triển lãm này, các
nhà nghiên cứu muốn giúp người xem có ý thức tốt hơn về việc bảo tồn
đa dạng sinh học, hiểu được vẻ đẹp của thiên nhiên và giữ gìn nó.
Đặc biệt các nhà nghiên cứu đề ra ý tưởng tạo ngành gây nuôi các giống
bướm đẹp và quý hiện đang có giá trên thị trường thế giới, tạo công
ăn việc làm cho các khu dân cư sống cạnh rừng, đồng thời cũng khuyến
khích họ gìn giữ rừng để lập nên những trang trại nuôi bướm. Hiện
nay, không ít các loài bướm đang có nguy cơ bị tiêu diệt do rừng bị
tàn phá, do ô nhiễm môi trường, do suy thoái sinh thái và cả do khai thác
trái phép các loài bướm. Tập thể các nhà nghiên cứu mong được sự giúp
đỡ của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước đối với việc
bảo vệ, gây nuôi, phát triển các loại động vật hoang dã này nhằm phục
vụ con người theo nhiều mục đích khác nhau.
Biển Hồ ở
Kontum
Biển Hồ ở cao nguyên Kontum được
liệt vào thắng cảnh hiếm quí ở Tây Nguyên. Trước năm 1975 dù trong
hoàn cảnh chiến tranh, Biển Hồ Kontum vẫn được coi là 1 vùng non nước
thơ mộng bị ô nhiễm rất ít và có nhiều cá. Ngày nay, Biển Hồ thơ mộng
đó rộng đến 230 mẫu tây (ha) đã bị tàn phá một cách thê thảm. Trên
đây là lời phát biểu của 1 kỹ sư lâm học nhiều năm ở Kontum ở trong
nước vừa gởi sang, được viết lại thành bản tin như sau : Kontum sau
hơn 21 năm dưới sự quản lý của XHCNVN, khí hậu cũng đã thay đổi một
cách đột ngột, độ nóng trung bình ở Kontum trước đây là 23 độ C (KN
: Đổi độ C sang Farenheit bằng cách trừ 32 và nhân với 5/9). Kontum là nơi
mưa rất nhiều nhưng vì rừng bị tàn phá nên lũ lụt chảy ào đi, trở
thành nơi khô khan quanh năm như có hạn hán. Cao nguyên Kontum cũng là nơi phát
nguồn của các con sông khá nổi danh như sông Đa Răng, sông Ba, sông Pkô,
sông Y A Yun...nay từ đầu nguồn các con sông này đều bị ô nhiễm một
cách đáng sợ. Cao nguyên Pleiku - Kontum là miền đất tốt nhất, đất nâu
đỏ, có đến 3 triệu ha rừng vào năm 1976 sau khi được "giải phóng",
cuối năm 1994, rừng chỉ còn từ 1.2-1.5 triệu ha, nghĩa là đã mất đi
500,000 mẫu rừng trong vòng 18 năm... Mật độ dân số ở Kontum vào năm vừa
"giải phóng" là 12-15 người trên 1 km2 rồi tăng dần, vào thập
niên 1980 là 20 người trên 1 km1, năm 1995 ước lượng lên đến 35 người
trên 1 km2, năm 1984 có khoảng 48% dân số là Kinh, năm 1994, dân số người
Kinh tăng lên từ 60-65% gây nên tình trạng khai khẩn bừa bãi, hoàn toàn
không có kế hoạch và cũng không có luật pháp. Ở đây không có Nhà nước
chỉ có các tổ Đảng tự tung tự tác chiếm đất phá rừng. Đa số dân
Kinh ở các vùng Quảng Ngãi và Nam Định, Thái Bình lên đây định cư định
canh, "họ chẳng sợ ai cả". Ở các vùng Bầu Cạn, Đức Cơ, Chu
Nghé tràn ngập dân mới, nhiều khu trở thành đồi trơ trọi như người
đầu trọc. Biển Hồ trước đây đầy cá, nước trong, sạch sẽ nay thì
nguồn cá đã cạn gần hết do Quân đội và Công an đánh cá bằng mìn nổ.
Chẳng những Biển Hồ mất hết cá mà nước lại bị ô nhiễm. Có nhiều
quyết định của chính phủ về bảo vệ môi sinh và cấm phá rừng nhưng
không ai theo. Nhiều nguồn suối sau 1 trận mưa lớn, chỉ một vài ngày là
nước khô cạn. Mặt khác, vẫn theo bản tin viết tay gởi sang thì nước sông
Trị An mỗi ngày một xuống thấp. Theo 1 kỹ sư Nhật Bản làm việc tại
đây thì chỉ mấy năm nữa, thác Trị An sẽ bị khô cạn. Viên kỹ sư Nhật
Bản này nói rằng, trong 1 thời gian nữa, VN sẽ phải nhập cảng nước uống
từ nước ngoài về cung cấp cho dân Saigon, Cá ở hồ Trị An thì đã cạn
từ lâu. Từ thượng nguồn Đồng Nai cũng hết cả tôm cá, gần như không
còn một sinh vật nào sống được do nạn đánh cá bằng điện và chất nổ.
Theo viên kỹ sư Nhật Bản nói trên, lưu lượng thác Trị An và sông Đồng
Nai sẽ sút giảm nhanh chóng nếu không có biện pháp ngăn chặn nạn phá rừng
đầu nguồn diễn ra hàng ngàỵ Lưu lượng nước sông Đồng Nai là 28 tỷ
m3 một năm, trên 530 m3 trung bìng 1 năm/giây. Vào mùa khô bây giờ chỉ còn
75-200 m3/giây. Số cá và sinh vật dưới nước trên sông Đồng Nai trong 20
giảm từ 30-60% theo ước lượng của dân cư vùng La Ngà - Hiếu Liêm.
Bảo vệ Vườn
Quốc gia Yoóc Đôn
Vườn quốc gia Yoóc Đôn (tỉnh Đác
Lắc) có quần thể động thực vật phong phú, trong đó có nhiều loài quý
hiếm được xem là mẫu chuẩn về rừng nhiệt đốị Yoóc Đôn là một
trong ba khu bảo tồn thiên nhiên của cả nước thực hiện dự án PAKC -
VIE/95/G31 do chương trình phát triển của Liên hợp quốc giúp đỡ, theo đó
các phương pháp mới được áp dụng để bảo tồn các loài sinh vật cảnh
độc đáo ở đây. Là một trong mười một khu rừng đặc dụng được công
nhận là rừng quốc gia, Vườn quốc gia Yoóc Đôn có những nét riêng. Các
nhà khoa học cho rằng đây là loại mẫu chuẩn về rừng nhiệt đới của
Việt Nam. Để giữ được những gì đã có ở rừng, nhiều năm qua, Vườn
quốc gia Yoóc Đôn không những làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng,
mà còn giúp đồng bào sống trong vùng phát triển sản xuất, ổn định cuộc
sống và cùng nhau phát triển vốn rừng... Không phải ngẫu nhiên mà Vườn
quốc gia Yoóc Đôn được chọn là một trong ba khu bảo tồn thiên nhiên của
cả nước thực hiện dự án PAKC - VIE/95/G31. Dự án này thực hiện trong 5
năm, bắt đầu từ năm 1999, do tổ chức Quỹ môi trường toàn cầu (GEF)
và Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) giúp đỡ; với
phương thức xây dựng và thử nghiệm những phương pháp mới trong công
tác bảo tồn các loài và sinh vật cảnh độc đáo, riêng Yoóc Đôn còn thực
hiện việc bảo vệ khu rừng khợp hay còn gọi là rừng có mẫu chuẩn về
rừng nhiệt đớị Nói đến Yoóc Đôn, nhiều người nghĩ ngay đến điểm
du lịch nổi tiếng của Đác Lắc, đó là Buôn Đôn. Khu rừng này là địa
điểm khá lý thú cho những ai quan tâm đến rừng, đến du lịch sinh thái,
đến các loài thú rừng, trong đó có nhiều loài thuộc loại quý hiếm của
thế giớị Được thành lập tháng 6-1992, Vườn quốc gia Yoóc Đôn có hơn
58 nghìn ha rừng nằm trên địa bàn xã Crông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đác
Lắc. Vườn có bốn xã vùng đệm với 20 buôn thôn, dân số khoảng 7
nghìn người, chủ yếu là đồng bào Ê Đê, M'nông, Lào, Thái, Ba Na, Gia Raị..
sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, hái lượm lâm sản, săn bắt động
vật rừng và đánh cá trên dòng sông Sê-rê-pốc. Nơi đây còn gắn với
buôn làng nổi tiếng là bản Đôn, bản có truyền thống về nghề săn bắt
và thuần dưỡng voị Qua nghiên cứu các chuyên gia kết luận, rừng ở
Yoóc Đôn là rừng mẫu chuẩn về rừng nhiệt đới, gọi là rừng khợp,
có chu kỳ rụng lá về mùa khộ Rừng ở đây còn dạng nguyên sinh, có
núi Yoóc Đôn, tên gọi của ngọn núi cao 482m so với mặt biển, nằm trong
khu vực, và người ta dùng tên ngọn núi ấy đặt tên gọi của vườn quốc
gia nàỵ Nhìn lên bản đồ địa lý, mọi người thấy ngay Vườn quốc
gia Yoóc Đôn có ba khu: khu bảo vệ nghiêm ngặt là rừng nguyên sinh rộng
40.638 ha, khu rừng phải phục hồi, tái sinh 13.579 ha và khu vực du lịch,
hành chính rộng 3,9 hạ. Thơ mộng hơn là rừng bị dòng sông Sê-rê-pốc cắt
đôi, vừa là địa hình tốt cho công tác bảo vệ cũng vừa là nơi giúp
cho khách du lịch đi thuyền trên sông, hoặc cưỡi voi lội sông ngắm cảnh
rừng, nhìn thú... Qua điều tra, khảo sát, các nhà chuyên môn cho biết: Vườn
quốc gia Yoóc Đôn có 464 loài thực vật, quần thể chủ yếu là cây dầu
đông, dầu chè ben, dầu rái, dầu nước và hương, cẩm lai, cà te, trắc...
lớp thảm của rừng rất ít dây leo, bụi rậm. Trong 464 loài thực vật,
có hai loài mới được phát hiện cho hệ thực vật Việt Nam, đó là quao
xẻ tua (tên khoa học Stveo spermunj briatum) và gạo lông len (Bombaxisigue).
Cùng với sự phong phú của thực vật, các loại động vật ở rừng Yoóc
Đôn rất đa dạng, rừng có 67 loài thú, chủ yếu là thú móng vuốt như:
voi, bò, hương, nai, hoẵng..., trong đó có 38 loài quý hiếm ở Đông Dương
và 17 loài được xếp vào sách đỏ của thế giới. Ở đây còn phát hiện
thêm loài chó rừng (Canisauvus) là loài động vật mới phát hiện ở Việt
Nam. Ngoài ra có 196 loài chim, có loại quý như Công, Hồng bàng. Những gì
đã có ở Vườn quốc gia Yoóc Đôn là tài sản quý, cho nên trong xây dựng
và phát triển, ban lãnh đạo vườn luôn đề ra chương trình bảo vệ,
chú trọng việc giữ gìn và phát triển các loài động vật, thực vật
ở đây. Vì vậy, công tác quản lý rất nghiêm ngặt, không những quy định
cho nhân viên mà cho cả những khu dân cư sống gần rừng. Vườn quốc gia
Yoóc Đôn thường xuyên giúp nhân dân sống ở các xã vùng đệm, như xây
dựng giao thông nông thôn, giúp dân làm thủy lợi, khai hoang và hướng dẫn
đồng bào dân tộc thiểu số biết làm ruộng nước, định canh định cự
591 hộ của bốn xã nói trên được tổ chức cho họ nhận khoán bảo vệ
rừng, với mức khoán 1,5 triệu đồng/năm, tương đương một tấn lương
thực. Bằng cách đó, các hộ có đủ lương thực ăn trong tám tháng để
làm công tác bảo vệ rừng và họ không bao giờ phá rừng mà còn phát hiện
nhiều người lạ mặt vào trong rừng, ngăn chặn không ít bọn lâm tặc
có ý định phá rừng. Dự án đang triển khai ở Yoóc Đôn sẽ làm phong
phú thêm vốn rừng, giúp người dân biết nhiều hơn về những tài sản
quý của quốc gia, và cũng là hướng đi mới để cán bộ, nhân viên ở
Yoóc Đôn học hỏi thêm nhiều điều bổ ích khi tiếp xúc với những phương
pháp nghiên cứu mới về rừng nhiệt đớị Những gì đã và đang làm ở
Vườn quốc gia Yoóc Đôn là bảo vệ cho được những loài động vật, thực
vật và phát triển chúng, làm phong phú thêm rừng Việt Nam. Nguyễn Hồng
Bảo vệ rừng
Tràm ở Cà Mau
Sự quản lý kém và khai thác không
hợp lý cộng với thiên tai những năm qua đã khiến Cà Mau mất hàng nghìn
ha rừng tràm, gây thiệt hại đến đời sống kinh tế và môi trường sinh
tháị Để bảo vệ tài nguyên rừng quý giá, Cà Mau đang sắp xếp lại
cơ cấu cây trồng cho phù hợp: tách cây lúa khỏi rừng tràm, hình thành
các cụm dân cư mới, quản lý chặt chẽ người ra vào rừng nhằm hạn chế
nguy cơ cháy rừng vào mùa khộ Hằng năm, cứ vào mùa khô, khi nước ở những
dòng kênh, con rạch dưới chân rừng tràm U Minh Hạ cạn kiệt và các yếu
tố thời tiết diễn biến phức tạp, gay gắt như nhiệt độ cao, độ ẩm
thấp... là lúc người dân Cà Mau thấp thỏm, âu lo trước nguy cơ, thảm họa
cháy rừng. Và, thực tế nhiều năm qua, rừng tràm ở đây thường xuyên xảy
ra cháy gây thiệt hại lớn về tài nguyên, môi sinh môi trường, ảnh hưởng
xấu đến những ngành nghề kinh tế khác trong vùng. Rừng tràm U Minh Hạ
thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới, mùa khô dễ gây cháy lớn. Tổng diện
tích vùng rừng tràm U Minh hơn 57.000 ha, trong đó, diện tích đất có rừng
hơn 35.000 ha, tập trung ở ba huyện: U Minh, Thới Bình và Trần Văn Thời.
Đây là tài nguyên quý giá của quốc gia, có giá trị đặc biệt về môi
sinh, môi trường, phòng hộ, nghiên cứu khoa học, lịch sử, văn hóa, du lịch
và an ninh quốc phòng. Cho nên, việc quản lý, bảo vệ, khôi phục ổn định
rừng sẽ góp phần cân bằng sinh thái, thúc đẩy phát triển kinh tế trong
vùng bán đảo Cà Mau và cả khu vực miền Tây Nam Bộ. Chính vì có tầm
quan trọng như vậy và chứa đựng tiềm năng kinh tế lâm nghiệp dồi
dào, tỉnh Cà Mau giao toàn bộ diện tích đất rừng tràm cho mười đơn vị,
gồm sáu lâm - ngư trường, nông trường, Hạt kiểm lâm, Trại K1 Cái Tàu
và Trung tâm nghiên cứu rừng ngập trực tiếp quản lý bảo vệ, chăm bồi.
Thực trạng rừng U Minh diễn biến phức tạp bởi nạn chiếm đất rừng,
chặt phá cây rừng, đốt đất làm rẫy, làm lúa gây cháy rừng chỉ vì lợi
ích nhỏ mọn cá nhân trước mắt đã tàn phá rừng một cách vô tội vạ,
làm kiệt quệ tài nguyên rừng. Tiếp đến, sự xuất hiện bất ngờ của
cơn bão số 5 hồi đầu tháng 11-1997 đã tàn phá, hủy hoại hàng nghìn ha
rừng. Và ngay sau đó, nắng hạn kéo dài, thời tiết khắc nghiệt, nước
dưới chân rừng khô kiệt... là những nguyên nhân xảy ra cháy rừng trên
diện rộng, gây thiệt hại nặng nề. Hậu quả là gần 1.500 ha diện tích
lâm phần ngập chìm trong biển lửa, trong đó đất có cây rừng 1.162 ha với
hơn 460 ha bị thiêu trụi, thiệt hại 100%. Ông Tạ Vĩnh Thắng, Chi cục
trưởng Chi cục kiểm lâm Cà Mau, cho biết: "Cháy rừng còn do một số
người thiếu ý thức, ham lợi ích nhỏ bé đã lén lút vào rừng trái
phép để bắt ong, bứt dây choại, săn bắt động vật rừng và các loài
thủy hải sản dưới tán rừng, sử dụng lửa bất cẩn. Mặt khác, do
không tuân thủ các quy định về phòng, chống cháy rừng mùa khô, một số
hộ dân trong và ven rừng tự đốt đất để sản xuất nông nghiệp,
không có các biện pháp phòng, chống cháy cho nên đã để cháy lan vào rừng.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 5 làm cho hàng nghìn
hộ dân mất nhà cửa, không công ăn việc làm, lâm vào cảnh nghèo đói phải
sống dựa vào rừng, chủ yếu khai thác sản phẩm từ rừng mà sinh sống,
tạo nên áp lực xã hội rất lớn đối với rừng". Mùa khô năm nay,
chúng tôi trở lại Lâm - ngư trường công ích Sông Trẹm, nơi xảy ra nhiều
vụ cháy, thiệt hại lớn tài nguyên rừng trong mùa khô vừa qua, mới thấy
công tác phòng, chống cháy rừng nơi này vô cùng vất vả. Đây là hệ rừng
tràm hình thành trên nền đất sét, hiện trạng rừng phần lớn là rừng
non, thảm thực vật dàỵ Thực bì phần nhiều là năng, sậy rộp, choại
với độ che phủ cao rất dễ bén lửa và gây cháy lớn, nhanh khi nước
dưới chân rừng khô kiệt. Mặt khác, lâm - ngư trường có địa hình trải
dài hơn 25 km tiếp giáp giữa U Minh Hạ (Cà Mau) và U Minh Thượng (Kiên
Giang) và nhiều xã, huyện trong tỉnh cho nên hệ thống tổ chức lực lượng
bảo vệ phân tán mỏng, phạm vi hoạt động rộng gây trở ngại, khó khăn
cho công tác quản lý, phòng, chống cháy rừng. Tìm hiểu thực trạng dân
sinh cư trú tại đây, chúng tôi được biết: Trên toàn lâm phần Sông Trẹm
hiện có 1.166 hộ dân, với hơn 5.800 khẩu hoạt động nghề rừng như
chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng, sản xuất nông nghiệp kết hợp dưới
tán rừng và một số hoạt động ngành nghề khác. Theo đó, nảy sinh mâu
thuẫn giữa khôi phục, bảo vệ rừng với sản xuất nông nghiệp và nuôi
cá đồng. Cây lúa ở đây không thể chung sống với cây tràm được vì
khi khép kín các bờ đập giữ nước phòng, chống cháy rừng vào cuối
mùa mưa thì lúa bị ngập chìm trong nước, không sống nổị Còn nếu xả
nước để lúa sống, trỗ bông cho hạt thì rừng kiệt nước, thảm họa
cháy rừng tràm không sao tránh khỏị Và, thực tế nhiều năm qua, việc
giao đất giao rừng cho hộ dân làm kinh tế gia đình theo mô hình sản xuất
"rừng - lúa kết hợp" trên đất lâm nghiệp U Minh tỏ ra không
phát huy tác dụng tích cực, kém hiệu quả. Một bộ phận đời sống nông
dân vốn đã nghèo càng nghèo thêm. Rừng luôn bị mất và nướng thành
than. Những vấn đề gay gắt kể trên ở Lâm - ngư trường công ích Sông
Trẹm là thực trạng chung trên toàn bộ lâm phần rừng tràm U Minh. Mùa
khô năm nay, rừng tràm U Minh có phần yên tĩnh, ổn định hơn so với năm
trước. Nhiều khu vực rừng được tập trung quản lý, bảo vệ, khoanh
nuôi tái sinh phát triển tốt và tạo thành rừng theo đúng nghĩạ Những
khu vực rừng bị cháy, gãy đổ do thiên tai hay bị chặt phá được trồng
mớị Dự báo thời tiết năm nay diễn ra bình thường, không có biến động
lớn về các yếu tố tự nhiên, các chỉ số như nhiệt độ, độ ẩm và
lượng mưa đạt ở mức trung bình so với cùng kỳ nhiều năm. Hiện nay, Cà
Mau vẫn còn mưa rải rác, lượng bốc hơi nước thấp, mực nước còn giữ
lại trong rừng tràm tương đối cao từ 0,4m đến 0,6m so với mặt đất rừng
và so với cùng kỳ năm trước thì cao hơn 0,3m - 0,5m. Do vậy, nguy cơ cháy
rừng sớm như mùa khô năm 1997 - 1998 là khó có khả năng xảy rạ Tỉnh
chi ngân sách hơn 2,4 tỷ đồng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả
năng cháy rừng. Ngành kiểm lâm tỉnh chỉ đạo và hướng dẫn các lâm -
ngư trường, đơn vị quản lý rừng xây dựng nhiều phương án phòng, chống
cháy rừng cụ thể trên từng lâm phần quản lý. Các địa phương có rừng
tràm đã đắp xong 114 con đập với hệ thống đê bao giữ nước, kênh mương
thủy lợi được nạo vét, bồi trúc tương đối hoàn chỉnh, xây dựng
xong 8 tháp canh lửa cố định bằng khung sắt, mỗi tháp cao từ 15m đến
17m tại các khu vực rừng trọng điểm thường xảy ra cháy để kịp thời
phát hiện. Ngoài ra, ngành kiểm lâm kiểm tra, rà soát chặt chẽ phương tiện,
trang thiết bị, máy móc để sửa chữa hoặc mua sắm mới, bảo đảm yêu
cầu công tác chữa cháy rừng. Hợp đồng lắp đặt hệ thống thông tin
liên lạc giữa các đội, lực lượng chống cháy rừng, đơn vị quản lý
rừng để kịp thời chi viện, ứng cứu khi có tình huống xấu xảy ra. Mặt
khác, các ngành chức năng có liên quan tổ chức tập huấn các thao tác sử
dụng máy bơm nước, xử lý nhanh tình huống khi có cháy, kỹ năng chữa cháy
cho lực lượng kiểm lâm và đội chống cháy rừng tại các lâm - ngư trường.
Tích cực tuyên truyền cổ động trong nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành chủ
trương và quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phòng, chống
cháy rừng bằng nhiều hình thức như loa truyền thanh, biển báo cấm lửa,
cấm vào rừng. Xác định "điểm nóng" trọng yếu bố trí lực lượng
tuần tra canh gác, trực thông tin liên lạc bảo đảm sẵn sàng đối phó với
lửa rừng và phát động hộ nhận đất, nhận rừng thực hiện cam kết
không để xảy ra cháy trên đất rừng mình quản lý. Tỉnh quy hoạch lại
sản xuất ở các lâm - ngư trường theo hướng tách diện tích lúa ra khỏi
rừng tràm, quy hoạch lại dân cư sống rải rác trong rừng thành từng cụm
dân cư mới để đầu tư cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường,
trạm phục vụ nhân dân nhằm quản lý chặt chẽ người ra vào rừng hợp
lý trong mùa khô, hạn chế nguy cơ gây cháy rừng. Mặc dù còn không ít những
khó khăn và phức tạp trong công tác quản lý, bảo vệ, phòng, chống cháy
rừng trước mắt cũng như lâu dài nhưng có thể nói rằng mùa khô này, rừng
tràm U Minh diễn biến theo chiều hướng tích cực. Và, rừng U Minh vẫn bốn
bề là tràm, yên tĩnh trong mùa khô, bởi Cà Mau đã chuẩn bị tốt và
hoàn thành xong những công việc phòng, chống cháy rừng. Lê Huy Hải
- BẮT SẤU RỪNG U MINH HẠ
- Sơn Nam
Là một người am hiểu Nam Bộ, tác
giả làm sống lại một vùng đất kỳ bí với những sông rạch dọc
ngang, cá sấu sống thành đàn. Bắt cá sấu ngoan ngoãn nối đuôi thành đoàntrở
về bên con người là một cuộc chinh phục đầy sáng tạọ Hình ảnh sống
động của quá khứ trong truyện ngắn này gợi cho bạn đọc nhớ về một
thời khẩn hoang đầy gian khổ của ông cha tạ Nơi sông rạch, cá sấu là
giống hung hăng nhứt. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn
sông sâu nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên
tĩnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch
Cái Tàu vào giữa rừng tràm. Tại sao vậỷ Tuy là thích ăn thịt người,
loại sấu vẫn tìm cá làm món ăn chánh. Rừng U Minh hạ thuộc về loại
trầm thủy (1) cá sanh sôi nẩy nở rất nhanh chóng; lên đó tha hồ mà ăn.
Đến mùa nắng hạn rừng khô, sấu khỏi phải trở về sông Cáị Trong rừng
có sẵn nhiều ao, nhiều lung (2), sấu cứ gom vào đó mà lập căn cứ sanh
con đẻ cháu, năm này qua năm khác, cứ như vậy cho tới khi người Việt
Nam ta đổ tràn xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp. Ban đầu, họ ngỡ rằng
sấu chỉ ở dưới sông, sau khi câu được chừng năm mười con sấu ở ngọn
rạch họ đinh ninh cho là sấu đã giảm bớt... Mười phần chết bảy còn
bạ Mãi đến khi có người lên rừng ăn ong (3) chạy về loan báo: - Sấu
ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng! So sánh như vậy, không phải
là quá đáng! Dân làng xúm nhau lên rừng để nhìn tận nơị Cái ao lớn
ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn
(4). Sấu nổi lên, chen vào những bức tranh mầu xanh ấy những vệt đen
chi chít: con thì nằm dài như chiếc xuồng lường (5), con thì dùng hai chân
trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại
bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng,
bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối
lui vào giữa lòng ao, để thủ thế. Dân làng nhìn nhau như ra lịnh rút luị
Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh (6). Nó là
"sấu chúa" sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài ngườị
Khi ở trên cạn, sấu không nguy hiểm bằng một con rắn hổ. Sấu chúa
khôn lắm, nó toan dụ địch thủ vào hang của nó nơi nước sâụ Trong số
người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông (7), lao, ná lẫy, nhưng
họ dư hiểu ra (Àng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp,
heo rừng. Đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầỵ Chống xuồng
vào thì ao quá cạn, còn đi bộ xuống thì lún ngập gốị Cái ao sấu ở
ngọn rạch Cái Tàu đã bị phát giác. Tin ấy đồn đãi lần lần, thấu
đến tai ông Năm Hên, người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo
(8), tức là vùng Rạch Giá ngày naỵ Ông bơi chiếc xuồng ba lá nhỏ đến
địa phận làng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàụ Trong xuồng, có vỏn vẹn
một lọng nhang trần (9) và một hũ rượụ Từ sớm tới chiều, ông bơi
xuồng tới lui theo rạch mà hát: Hồn ở đâu đâỷ Hồn ơi! Hồn hỡi! Xa
cây xa cối, Xa cội xa nhành, Đầu bãi cuối gành Hùm tha, sấu bắt Bởi
vì thắt ngặt Manh áo chén cơm U Minh đỏ ngòm, Rừng chàm xanh biếc! Ta thương
ta tiếc, Lập đàn giải oan... Giọng nghe ảo não, rùng rợn. Dân làng thấy
chuyện kỳ lạ, xuống đứng dưới bến để nhìn kỹ. Đoán chừng ông
lão nọ là người có kỳ tài, họ mời ông lên nhà, làm thịt gà, mua rượu
thết đãị Sau khi tự xưng danh tánh, ông bảo: - Nghe đồn có ao sấu, tôi
chẳng nệ đường xa để tới xứ Khánh Lâm này... - Té ra ông thợ câu sấu!
Ông Năm Hên lắc đầu: - Thợ bắt sấu chớ không phải thợ câụ Hai nghề
đó khác nhaụ Câu thì dùng lưỡi sắt, móc mồi bằng con vịt sống. Đó
là ở dưới nước. Đằng này tôi chuyên bắt sấu trên khô, không cần lưỡi.
- Vậy chớ ông bắt bằng gì? - Tôi bắt bằng... hai tay không. Ai nấy ngạc
nhiên. Ông Năm Hên cười giòn: - Bà con cô bác không tin saỏ Ai nấy nửa
tin nửa nghị Họ cố nhớ lại cách bắt sấu của mấy người thợ nào
đến giờ. Bắt sấu bằng hai tay không quả là phi phàm, thế gian hi hữu.
Không lẽ ông Năm Hên này lại nói láo để lường gạt, ổng nào đã mở
miệng xin tiền bạc cơm gạo gì của xóm này! Ai nấy nôn nao, thiếu điều
muốn năn nỉ ông đi bắt sấu tức thì để coi thử cách thức. - Thưa
ông, chừng nào ông ra nghề để cho dân làng chúng tôi được mừng? Nếu
cần tiếp giúp chuyện chi, chúng tôi sẵn sàng. ở xóm này thiếu gì trai lực
lưỡng đã từng gài bẫy cọp, săn heo rừng. Ông Năm Hên đáp: - Sáng mai
sớm, đi cũng không muộn. Tôi cần một người dẫn đường đến ao cá sấu
đó. Có vậy thôi! Chừng một giờ đồng hồ sau là xong chuyện! Sấu ở
ao giữa rừng, tôi bắt nhiều lần rồị Bà con cứ tin tôị Xưa nay, bị
sấu bắt là người đi ghe xuồng hoặc ngồi rửa chén dưới bến, có bao
giờ sấu rượt người ta giữa rừng mà ăn thịt? Tôi đây không tài giỏi
gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ
nói đó là bùa phép để kiếm tiền. Nghề bắt sấu có thể làm giàu được
ngặt tôi không mang thứ phú quới đó. Nói thiệt với bà con: cha mẹ tôi
sanh ra chỉ có hai anh em tụi tôi. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập
rẫy hồi mười hai năm về trước. Sau được tin cho hay: ảnh bị sấu ở
Ngã ba Đình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh. Cực lòng biết bao
nhiêu khi nghe ở miệt Rạch Giá, Cà Mau này có nhiều con rạch, ngã ba, mang
tên Đầu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu, sau này hỏi lại tôi mới biết đó
là nơi ghê gớm, hồi xưa lúc đất còn hoang. Rạch Cà Bơ He, đó là chỗ
sấu lội nhiều, người Miên sợ sấu không dám đi qua nên đặt tên như vậy,
cũng như phá Tam Giang, truông nhà Hồ của mình ngoài Huế.
Sáng hôm sau, ông Năm Hên đi lên ao
sấu, có Tư Hoạch một tay ăn ong rất rành địa thế vùng Cái Tàu dẫn
đường. Nhiều người nài nỉ xin đi theọ Ông Năm Hên cản lại: - Đi nhiều
chộn rộn lắm. Tôi không giấu nghề với bà con đâụ Có Tư Hoạch đi
theo coi mà. Đã quá giờ ngọ. Ngóng về phía ao sấu U Minh hạ, ai nấy đều
thấy một làn khói đen bốc lên. Ban đầu ngỡ là cháy rừng, chập sau,
khói lụn xuống. Trong lúc đó, bà con xóm Cái Tàu lo nấu cơm, mua rượu đợi
chiều làm tiệc ăn mừng. Nhưng ngạc nhiên làm sao, trời về xế, lúc ai nấy
đang nghỉ trên nhà, bỗng nghe tiếng kêu réo từng hồi: - Bà con ơi! Ra coi
sấu... Bốn mươi lăm con còn sống nhăn. Rõ ràng là giọng Tư Hoạch. - Diệu
kế ! Diệu kế! Tôi là Tư Hoạch đi bắt sấu về đâỵ Bà con coi sấu lội
có hàng dưới sông mình nè! Một đời người mới có một lần. Dưới sông,
Tư Hoạch ngồi trên xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát. Tiếp theo lái xuồng
là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như khúc cây
khô dàị Mỗi con sấu, hai chân sau thúc kê trên lưng, hai chân trước tự
do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư Hoạch để đẩy chiếc
bè quái dị kia đi nhẹ nhàng. Thực tế hay là chiêm bảo. Người thì đứng
há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn. Người khác khấn vái
lâm râm, e nay mai xóm này bị trừng phạt của quỷ thần. Vài người dạn
hơn, bơi xuồng ra giữa sông, nhìn bầy sấu nọ cho tỏ rõ rồi rước Tư
Hoạch vào bờ hỏi han rối rít. Đại khái Tư Hoạch trình bày: - Tới ao sấu,
ông Năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế rồi ngồi xuống uống một chung
rượụ Kế đó ổng với tôi lấy xuổng (10) đào một đường nhỏ, ngày
một cạn, từ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ông biểu tôi bứt
cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp
tươi (11), chặt ra khúc chừng ba tấc. Lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung
quanh, bắt cháy xuống đám sậy đế trong aọ Chập sau, bị khói bay cay mắt,
ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào
sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng
đòi táp ổng. ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính
chặt hai hàm răng: như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng
cho rộng để nhả ra cũng không được. Sau khi bị khúc mốp khóa miệng,
còn cái đuôi đập qua đập lạị Ông Năm Hên xách cây mác nhắm ngay sau
lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôị Đuôi sấu bị liệt. Thế
là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại,
chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình. - Thực là bực thánh của
xứ này rồi! Mưu kế như vậy thực quá cao cường. ổng đâu rồỉ Sao
không thấy ổng về? Xóm mình nhất định đền ơn ổng một số tiền, nuôi
ổng cho tới già, ở xóm này. Bà con tính sao ? Tư Hoạch nói: - Mà quên!
ổng biểu tôi về trước cho bà con coi thử. Phần ổng mắc ở lại cúng
"đất đai vương trạch" (12) rồi đi bộ về sau. Chưa dứt lời, bên
sông nghe tiếng hát của ông Năm Hên, ngày một rõ: Hồn ở đâu đây ? Hồn
ơi! Hồn hỡi! Xa cây xa cối, Xa cội xa nhành, Đầu bãi cuối gành, Hùm
tha, sấu bắt, Bởi vì thắt ngặt, Manh áo chén cơm, U Minh đỏ ngòm, Rừng
tràm xanh biếc! Ta thương ta tiếc, Lập đàn giải oan... Tiếng như khóc
lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhứt là khi thấy ông
đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang
cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay. - Coi tướng của ổng ghê như tướng
thầy pháp! Một người thốt lên như vậy. Nhưng có tiếng khóc sụt sùi
đâu đây. Đó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn
bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ
rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang
đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ?
(1). Trầm thủy: Loại đất thấp
ngậm nước. (2). Lung: đầm nhỏ, sình lầy cạn (3). Ăn ong: lấy mật ong
trong rừng (4). Dây cóc kèn: loại cây dây leo ở rừng nước mặn bền cha
('c, dùng để trói buộc rất tốt. (5). Xuồng lường: xuồng được làm bằng
một cây đục thành (xuồng độc mộc) (6). Tam tinh: điểm ở trán, giữa
hai mắt. (7). Mác thông: mác có cán dàị (8). Kiên Giang đạo: đạo là
đơn vị hành chính thời xưa tương đương một châu, một quận. (9). Lọn
nhang trần: bó (lọn) nhưng không có bao (trần). Nhà nghèo dùng loại nhang
này, vì rẻ tiền. (10). Xuổng: thuổng (dụng cụ để đào đất). (11). Mốp
tươi: loại cây như cây vông, gỗ xốp, dẻo, có thể làm nút chai hay cốt
mũ. Cá sấu ngậm phải khúc gỗ mốp, hai hàm răng dính chặt không há miệng
ra được nữa. (12). Cúng "đất đai vương trạch": cúng thần cai
quản đất đai (vương trạch, thực ra là viên trạch, nghĩa là vườn đất,
dân gian nói trệch ra là vương trạch)
Tiểu sử nhà văn Sơn Nam
* Tên khai sinh: Phạm Minh Tày, sinh ngày 11-12- 1926 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên
Giang. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
(1977). * Tác phẩm đã xuất bản: Chuyện xưa tình cũ (1958); Tìm hiểu đất
Hậu Giang (nghiên cứu, 1959); Hương rừng Cà Mau (1962); Chim quyên xuống đất
(1963); Hình bóng cũ (1964); Vạch một chân trời (1968); Hai cõi U Minh, Vọc nước
giỡn trăng, Bà Chúa Hòn, Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt
vườn; Lịch sử khẩn hoang miền nam, Bến nghé xưa (1981).
Ba Bể - ''viên
ngọc xanh''
Giữa nắng hè đến ''cháy da, cháy
thịt'', tôi và anh bạn đồng nghiệp từ Hà Nội vượt đèo dốc tới Vườn
Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) để tận mắt nhìn thấy ''Viên Ngọc xanh'' và
những gì thiên nhiên đã ban tặng cho vườn. Vượt 250 km đường, chúng
tôi đến bên bờ hồ trong xanh, những cơn gió nhẹ hơi nước mặt hồ mát
dịụ Giám đốc Vườn Quốc gia Bùi Văn Ddịnh cho biết: Hệ thống vườn
nằm ở độ cao 150m so với mặt biển, có diện tích tự nhiên 23.340 ha ở
địa bàn 7 xã: Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Trĩ, Cao Thượng, Quảng Khê, Ddồng
Phúc, Hoàng Trĩ. Nằm trong vùng núi rừng trùng điệp, Vườn có 3 hồ nước
nối liền kề, diện tích mặt nước rộng 500ha, độ sâu trung bình từ
30m đến 40m. Trên cạn có 603 loại thực vật, 30 loại bò sát, 16 loại lưỡng
cư, 160 loài chim, 65 loài thú, hàng ngàn loài côn trùng, ong, bướm... Trong
vườn còn nhiều động vật quý hiếm như hổ, gấu, voọng mũi hếch. Mới
đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện thêm 2 loài cá lạ ở lòng hồ:
Cá cóc và cá nheo vàng. Trên thảm thực vật xanh nơi vùng hồ có cây trúc
leo chỉ có ở hồ Ba Bể. Những thân trúc leo vươn mình thành thảm dài
xòa xuống mặt hồ đẹp như tóc tiên nữ. ở vùng hồ này cây sống nhờ
nước chứ không phải nhờ đất, vì cây ở mãi trên vách núi đá cao, thả
rễ hút nước mặt hồ để nuôi thân, cứ như vậy, hồ nước là ''ân
tình trăm năm'' của cây. Ba Bể còn là ''biển xưa" bởi cả vùng hồ
không có thềm, bạn chỉ cần bước xuống nước là gặp ngay độ sau tới
30-40m. Nhìn các vách đá vôi dựng đứng, nơi bị nước xâm thực nhiều năm
tạo ra các hang động, nhũ đá đa dạng tuyệt đẹp. Hồ Ba Bể quanh năm
nước trong xanh, bởi được 2 con sông điều phối nước, một sông bắt
nguồn từ đỉnh núi Pù Nọc Chắc, một sông bắt nguồn từ dãy Phiaboop.
Trong 21 điểm du lịch vườn Quốc gia Ba Bể, mỗi cảnh quan đều được gắn
với các tích truyện. Ddi sâu trong rừng thấp thoáng những căn nhà sàn của
đồng bào dân tộc, góp thêm phần thanh bình vùng caọ Do vườn Quốc gia
Ba Bể có cảnh đẹp huyền bí nên hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Hàng năm vườn đón hàng vạn lượt du khách tới, thưởng thức cảnh đẹp,
nghỉ ngơi, trong đó có nhiều khách quốc tế. Mỗi buổi sớm, từng đoàn
du khách trên thuyền xuôi dòng Ô Năng uốn mình ôm các vách núi xuyên qua
hang động đưa du khách tận hưởng một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú.
ở đây, phong cảnh hòa quyện vào nhau khiến du khách quên đi những ngày
lao động mệt nhọc để say mê với các tuyến ''du lịch xanh'', du lịch
''Văn hóa Tày, Nùng'', du lịch ''Hoang sớ'... Năm 1992 Nhà nước đã qui hoạch
nơi đây thành Vườn Quốc gia Ba Bể, và đầu tư 6 tỷ đồng để xây dựng
cơ sở hạ tầng, nơi ăn nghỉ, dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu vui chơi
giải trí của du khách. Âu Văn Lượng
Ba vùng kinh tế
Sơn La
Qua nhiều năm tập trung nguồn vốn
chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, đến nay, tỉnh Sơn La đã hình
thành được 3 vùng kinh tế với các thế mạnh về cây trồng, vật nuôi
và gắn theo đó là công nghiệp chế biến. Trong đó cây mía (3.250 ha) và
cà-phê (hơn 5.000 ha), cùng với cây chè tuyết đặc sản từng chiếm thế
"độc tôn" trước đây, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho
nông dân. Với 3 loại cây "chủ lực" này, Sơn La có cơ hội và khả
năng thoát khỏi đói nghèọ Đến nay, tỉnh Sơn La đã hình thành ba vùng
kinh tế: vùng dọc quốc lộ 6 (QL.6), vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao
biên giớị Trong đó vùng kinh tế dọc QL.6 qua 5 huyện, thị với chiều
dài hơn 250 km là sôi động nhất. Sự hình thành, phân chia ba vùng kinh tế
xuất phát từ điều kiện tự nhiên, tập quán dân cư của các cộng đồng
dân tộc trong sản xuất và đời sống. Chẳng hạn, với vùng kinh tế dọc
QL.6, chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hóa từ các loại cây và con như
chè, mía, ngô, cà-phê, đỗ tương, dâu, mơ, mận, và sữa bò, lợn, gia cầm.
Vùng lòng hồ Sông Đà, chủ yếu là cây công nghiệp, cây ăn quả. Vùng
cao biên giới, tuy chưa hình thành rõ nét về nền kinh tế hàng hóa, sản
xuất còn gặp nhiều khó khăn nhưng hàng năm sản lượng sắn, ngô, lúa nương,
bò thịt, vịt đàn được sản xuất ra khá lớn. Vai trò quyết định của
ngân hàng nông nghiệp Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNN
-PTNT) Sơn La đã bám sát các định hướng phát triển kinh tế của địa
phương để tổ chức huy động các nguồn vốn tại chỗ, cùng với sự hỗ
trợ của NHNN -PTNT Việt Nam để đầu tư đúng và có hiệu quả. Tổng nguồn
vốn huy động của Ngân hàng đến 31-12- 1998 đạt gần 200 tỷ đồng
(tăng 27,5 tỷ đồng so với cùng kỳ 1997) và đến qu I - 1999 đã lên 210
tỷ đồng. Tổng dư nợ cho các thành phần kinh tế đạt hơn 410 tỷ đồng.
Tốc độ tăng dư nợ bình quân hằng năm (từ 1995 đến 1998) dao động từ
10 đến 20% so với kế hoạch. Cơ cấu nợ tín dụng, nếu phân theo ngành
kinh tế thì cao nhất là nông - lâm nghiệp chiếm 77%, công nghiệp xây dựng
13,5%. Nếu phân vùng kinh tế thì vùng QL.6 chiếm 72%, kế đến là vùng
lòng hồ sông Đà chiếm 17% tổng dư nợ... Hai loại cây công nghiệp mũi
nhọn: mía - cà phê đã trở thành những "cực nam châm" thu hút nguồn
vốn của NHNN -PTNT Sơn Lạ Hộ nông dân vay vốn trồng mía được ngân
sách tỉnh hỗ trợ lãi suất 0,2% tháng để người vay chỉ phải trả cho
Ngân hàng lãi suất 1%/tháng. Đến thăm chủ hộ sản xuất Nguyễn Tài Mùi
ở bản Pó Học, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, trồng 18 ha mía, thường xuyên
thuê 5 người trông nom (chưa kể 20 người làm thuê trong các thời vụ gieo
trồng và thu hoạch). Doanh thu từ cây mía của ông Mùi không dưới 300 triệu
đồng/năm. Mía nguyên liệu bán cho nhà máy đường quốc doanh và một phần
bán cho các lò đường thủ công. Hiện tại, ông Mùi còn vay ngân hàng 50
triệu đồng. Ông rất mong việc mua nguyên liệu của nhà máy tiếp tục
ổn định cả về giá và lượng như các vụ mía 1997 - 1999. Số hộ nông
dân vay ngân hàng trên dưới 30 - 40 triệu đồng/vụ để trồng mía trong
vùng quy hoạch Mai Sơn - Yên Châu - Bắc Yên không phải ít. Vụ thu hoạch
1998 - 1999 đã chứng tỏ việc nhà máy đường tăng công suất chế biến
lên gấp hai lần như đề án của tỉnh đã thành hiện thực. Hai cây công
nghiệp đã giành được chỗ đứng Theo cách nói của các nhà quản lý tỉnh
Sơn La: "Thế trận cây công nghiệp tiếp tục được củng cổ, phát
triển, chú trọng đầu tư chiều sâu, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với
công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong đó mạnh nhất là hai cây công
nghiệp chủ lực mía và cà-phê". Tập đoàn cây công nghiệp của Sơn
La khá nhiều, trong đó có một số loại cây đã có tên tuổi như chè,
dâu, xoài, mận, mơ, ngô cao sản, đỗ tương. Về mía, Sơn La đã có gần
3.250 ha, năm 1998 trồng mới 381 hạ Sản lượng mía vụ 1997 - 1998 đạt
130.000 tấn, tăng gần 2,5 lần so vụ mía trước. Cây cà-phê có hơn 5.000
ha, trong đó hơn 2.000 ha cà-phê kinh doanh. Dù nắng hạn kéo dài nhưng sản
lượng vẫn ước đạt hơn 1.050 tấn. Có nguyên liệu, nhà máy đường công
suất bước đầu 1.000 tấn mía câỵngày và dây chuyền sản xuất bánh ngọt
đã hoạt động được hai, ba vụ. Công ty kinh doanh cà- phê ngày càng có
chỗ đứng vững chắc vì sản phẩm cà-phê chè Sơn La đang được thị
trường nước ngoài đón nhận. Cây cà-phê, cũng đang có sức hấp dẫn lớn
với người sản xuất. Rừng cà-phê trồng năm thứ 6 ở bản Nam, xã Hua
La, ngoài thị xã Sơn La, lá xanh, dày, quả sai gắn kín từ gốc đến ngọn.
Ông Lò Văn Pó, chủ hộ trồng 6,8 ha cà-phê, đã đầu tư hơn 240 triệu đồng
(cả chi phí ban đầu và chăm sóc trong các năm thứ hai, thứ ba). Ông đã
qua ba vụ thu hoạch, riêng năm 1998 thu 100 tấn quả cà-phê tươi, doanh thu
cũng kha khá. Hiện tại ông Pó còn vay ngân hàng 60 triệu đồng. Năm 1999,
NHNo -PTNT Sơn La còn xét duyệt cho ông Pó vay tiếp 40 triệu đồng để mở
thêm đồi cà-phê mớị Vậy là, bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng Sơn
La, nhất là các loại cây nguyên liệu cho công nghiệp chế biến - đã có
tín hiệu đáng mừng. Từ thế "độc tôn" cây chè tuyết trên cao
nguyên Mộc Châu, nay Sơn La lại có thêm cây mía và cà-phê. Với ba cây chủ
lực này, Sơn La sẽ có cơ hội và lực để thoát khỏi đói nghèo qua con
đường công nghiệp chế biến. Hữu Thời (Thời báo kinh tế)
Ai phá rừng
phòng hộ đầu nguồn Trị An?
LTS : Trên 2.000m3 gỗ do bọn phá rừng
bỏ lại để kịp kéo xe máy, xe tẹt, xe reo, xe ủi tháo chạy thoát thân
khi đường dây khai thác gỗ lậu bị phát hiện. Rừng phòng hộ đầu nguồn
Trị An - một vùng rừng quan trọng vào loại bậc nhất ở miền Đông Nam
bộ trong việc giữ vững môi trường cuộc sống cho hàng ngàn dân cư ở dọc
ven sông La Ngà, cũng như tích nước, giữ nước cung cấp cho hồ Trị An
trong những tháng mùa khô - liệu có còn chức năng phòng hộ nữa không khi
rừng bị tàn phá ? Tan tác rừng đầu nguồn Khu vực chúng tôi đến có địa
danh là thác Mưa Bay ở đỉnh núi 878 thuộc thượng nguồn suối Mêpu Klong
Du có chiều dài 4km. Tại đây, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 137
lóng gỗ, tương đương hơn 400m3 từ nhóm 5 đến nhóm 8. Như vậy, ngoài số
gỗ ở phía La Ngâu do nhân dân địa phương tố cáo và các cơ quan chức
năng đã xác định là 1.900m3, thì đến nay con số đã vượt lên 2.300m3.
Con số này cũng chưa phải là con số cuối cùng. Và, nếu như con số khoảng
15.000/32.228 ha rừng phòng hộ Trị An bị tàn phá như lời tố cáo của
nhân dân là có thật, thì liệu Trị An có còn là rừng phòng hộ nữa
không ? Tỉnh Bình Thuận đã quyết định khởi tố vụ án. Rất tiếc bọn
chủ mưu phá rừng đã "đánh hơi" sớm nên đủ thời gian đưa các
phương tiện khai thác cơ giới trái phép trốn khỏi rừng, chỉ để lại
toàn gỗ và gỗ. Công bằng mà nói, những năm qua Bình Thuận là một trong
những tỉnh đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác bảo vệ rừng.
Theo con số điều tra của các ngành trung ương thì rừng Bình Thuận còn độ
che phủ hơn 47%. Chính vì vậy, những khu rừng đầu nguồn, rừng bảo tồn,
rừng đặc dụng ở hai huyện Đức Linh và Tánh Linh là những mục tiêu
mà các đường dây mua bán gỗ lậu ở tỉnh Đồng Nai tấn công bằng mọi
giá. Nhưng vì sao bọn phá rừng có thể đem các phương tiện cơ giới vào
khai thác gỗ mà không bị ngăn chặn ? Ông Trần Văn Nên, chi cục trưởng
Chi cục kiểm lâm tỉnh, cho rằng : "Rừng đầu nguồn Trị An bị tàn
phá là rừng có chủ, ngành kiểm lâm chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm
soát mà thôi". Còn ông Lê Hòa, phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, thì khẳng định : "Sở chỉ làm nhiệm vụ quản lý
nhà nước cấp giấy phép khai thác gỗ khi có nhu cầu hợp pháp, còn việc
kiểm tra, kiểm soát, giám sát là chức năng của ngành kiểm lâm với một
lực lượng hùng hậu từ tỉnh đến cơ sở". Còn đối với chính quyền
địa phương, chúng tôi chưa có dịp phỏng vấn những vị lãnh đạo cao
nhất của huyện Tánh Linh; chỉ biết rằng khi trả lời phỏng vấn các đồng
nghiệp của chúng tôi (đã được đăng trên các báo) thì "việc quản
lý và cấp giấy phép khai thác gỗ là do ngành dọc trên tỉnh, huyện
không nắm được...". Như vậy ai là người chịu trách nhiệm chính
cho những cánh rừng đầu nguồn bị tàn phá không thương tiếc, trong khi vụ
án chưa có kết luận điều tra ? Lật lại hồ sơ Chúng tôi thử lật lại
một hồ sơ đã cũ : vụ Tà Pứa - Ngày 18-5-1995, UBND huyện Tánh Linh có
công văn số 27 do phó chủ tịch huyện Đinh Đây ký, xin phép UBND tỉnh và
các ngành chức năng cho chỉ tiêu khai thác gỗ làm cầu ở tuyến đường
336 từ Lạc Tánh đi La Ngâu vì hệ thống cầu đang xuống cấp. Số gỗ
huyện đề nghị xin khai thác lúc đó là 150m3 gỗ tròn (cây sao). Lúc này
chưa có ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Trị An mà là Lâm trường
La Ngà. Ngày 19-5-1995, Sở Nông lâm nghiệp lúc bấy giờ đồng ý cho phép
khai thác từ 100-150m3 ở vùng rừng thuộc Lâm trường La Ngà. Nhận thấy
đây là nhu cầu chính đáng nên ông Đặng Văn Hải, chủ tịch UBND tỉnh,
cũng đã phê đồng ý cho phép khai thác nhưng phải tuân thủ các biện
pháp bảo vệ rừng nghiêm ngặt của ngành kiểm lâm. Ngày 31-5-1995 đã diễn
ra một cuộc họp "bàn việc tổ chức khai thác gỗ làm cầu trên tuyến
đường 336 của huyện Tánh Linh" với đầy đủ thành phần các ngành
chức năng tham dự, và một trong những nội dung được cuộc họp xác định
là chỉ cho phép khai thác gỗ làm cầu ở các tiểu khu : 418, 419, 423, 429.
Nhưng đến giai đoạn thiết kế khai thác gỗ làm cầu theo giấy phép số
35 do Sở Nông lâm nghiệp cấp ngày 21-6-1995, đã xảy ra một chi tiết rất
lạ lùng là khu vực khai thác được chuyển vào khu vực tiểu khu 410, chứ
không phải hai tiểu khu 418, 419 như hồ sơ xin khai thác của Lâm trường La
Ngà cũng như của huyện ngay từ ban đầụ Sau khi có giấy phép và các thủ
tục cần thiết, Lâm trường La Ngà đã tiến hành hợp đồng khai thác
ngay với Xí nghiệp tư doanh Hồng Hà ở tỉnh Đồng Nai, kèm theo biên bản
giao rừng ngày 28-6-1995. Xí nghiệp Hồng Hà đã đưa ngay năm xe tẹt vào rừng
khai thác. Điều đáng nói là Xí nghiệp Hồng Hà cũng chẳng thèm khai thác
ở tiểu khu 410 hay 418, 419 mà là chỗ khác trong rừng theo ý riêng của
mình. Sự việc bị phát hiện chỉ sau khi đơn vị này đã chặt hạ 217m3
gỗ ngoài khu vực thiết kế, đã chở đi khỏi rừng 58m3 và bỏ lại rừng
159 m3. Đặc biệt trong số gỗ bỏ lại hiện trường của Xí nghiệp Hồng
Hà có ba lóng gỗ 10,689m3 để tại chân cầu Đại Lu, có đóng búa số đầu
lóng và số búa nghiệm thu của kiểm lâm mang số 241 của Hạt kiểm lâm
huyện Tánh Linh, trong khi số búa được sử dụng cho giấy phép của Sở
Nông lâm nghiệp qui định là QL-521. Ngày 16-12-1995, UBND tỉnh Bình Thuận đã
có quyết định số 2082 do ông Đặng Văn Hải ký về việc xử phạt vi phạm
khai thác gỗ trái phép của Lâm trường La Ngà và Xí nghiệp tư doanh Hồng
Hà, tỉnh Đồng Nai với mức 70 triệu đồng và tịch thu toàn bộ 159m3 gỗ
còn bỏ lại hiện trường. Được biết, sau khi có quyết định của tỉnh,
số gỗ 159m3 tịch thu đã được đem bán đấu giá và Công ty trách nhiệm
hữu hạn Quốc Khánh cũng của tỉnh Đồng Nai trúng thầu lô gỗ nàỵ Như
vậy "mèo vẫn hoàn mèo", những chiếc cầu ở con đường 336 ngay
sát rừng lại tiếp tục bị xuống cấp. Sau vụ này, Chi cục kiểm lâm tỉnh
đã cách chức hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Tánh Linh Lê Trung Phong, cảnh
cáo cán bộ kỹ thuật Lê Văn Tân. Còn phía Sở Nông lâm nghiệp, huyện
Tánh Linh và Lâm trường La Ngà có xử lý kỷ luật ai không thì chúng tôi
không có thông tin. Chỉ biết đến tháng 12-1995, Lâm trường La Ngà đã
không còn tồn tại vì nó đã chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ đầu
nguồn Trị An. Sở dĩ chúng tôi nêu lại hồ sơ này vì có nhiều ý kiến
cho rằng nó liên quan trực tiếp tới các vụ phá rừng đầu nguồn Trị
An sau này với qui mô ngày một lớn hơn. Làm rõ vấn đề này, xin nhường
cho các cơ quan điều trạ Chậm còn hơn không Cho đến tháng 4-1997, vụ án
phá rừng đầu nguồn Trị An mới được khởi tố. Các cơ quan bảo vệ
pháp luật của tỉnh chỉ mới bắt đầu nhảy vào sau khi có rất nhiều
đơn thư tố cáo lên tận trung ương của người dân ở vùng rừng đầu
nguồn. Ông Đinh Trung - bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận - khẳng định : Thường
vụ tỉnh ủy xác định đây là vụ án điểm giao cho cơ quan điều tra khẩn
trương điều tra, sớm hoàn chỉnh hồ sơ vụ án để đưa ra xét xử bọn
tội phạm, đồng thời sẽ tổ chức chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách
nhiệm của các cấp, các ngành có liên quan. Đến nay, các cơ quan điều
tra đã bắt được 11 đối tượng liên quan đến vụ án phá rừng. Trong
11 đối tượng ít oi mới bị bắt của những đường dây phá rừng rộng
lớn ở đầu nguồn Trị An, chúng tôi chú ý đến hai nhân vật là Phan
Vinh và K'Bộp. Đối với Phan Vinh, sinh năm 1953, nguyên là phân trường trưởng
Phân trường La Ngâu kiêm tổ trưởng tổ đặc nhiệm bảo vệ rừng, vậy
mà nhiều năm liền đã trở thành một đầu mối quan trọng của đường
dây phá rừng. Đối với nhân vật K'Bộp thì sự thật là một bi kịch.
Ông vốn là một già làng của dân tộc K'Ho và nguyên là bí thư xã La
Ngâu. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, đồng đội
của ông ai cũng biết ông là một chiến sĩ kiên cường, bám trụ cùng
dân làng đánh giặc. Thế mà hôm nay ông đã bị ngã trước sự cám dỗ của
đồng tiền. Hữu Thành
Home