>>> đọc báo trong nước

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

Ý nghĩa và nội dung chủ yếu của Luật Di Sản Văn Hóa
Ts Trương quốc Bình
Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn Bảo tàng - Bộ Văn hoá-Thông tin

LTS (trong nước) - Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X đã thảo luận và thông qua Luật di sản văn hóa. Đây là một công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người trong lĩnh vực di sản văn hoá. Luật Di sản văn hoá gồm 7 chương, 79 điều. Chương I qui định các điều khoản chung, chương VI qui định về khen thưởng và xử lý vi phạm, chương VII qui định về các điều khoản thi hành, còn lại 4 chương của Luật là những quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hoá. Để giúp bạn đọc tìm hiểu ý nghĩa và những nội dung của đạo luật quan trọng này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của TS Trương Quốc Bình, Thư ký Ban soạn thảo Dự án Luật Di sản văn hoá.

Di sản văn hoá là tài sản vô cùng quý giá của đất nước, là chất liệu gắn kết cộng đồng dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu văn hoá. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá của cha ông, góp phần to lớn vào việc bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Những năm qua, chúng ta đã có một số hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá. Tính đến nay, cả nước đã có hơn 2.500 di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh các loại được công nhận là di tích cấp quốc gia, trong đó có 4 di tích và thắng cảnh tiêu biểu đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới ( Khu di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn) ; đã có l 17 bảo tàng các loại (trong đó 5 l bảo tàng đã có kho bảo quản và nhà trưng bày cố định).

Những năm qua, mặc dù còn phải đương đầu với những khó khăn gay gắt về kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá những sự quan tâm không nhỏ. Thực hiện Chương trình quốc gia về văn hoá- trong đó có các mục tiêu liên quan tới việc tu bổ, chống xuống cấp di tích và nghiên cứu, tư liệu hoá các di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu, từ năm 1994 đến nay, 178 tỷ đồng đã được Nhà nước đầu tư cho việc tu bổ chống xuống cấp l. 197 di tích trong cả nước. Trong số hơn 80 di tích dự kiến trình Chính phủ quyết định công nhận là di tích quốc gia đặc biệt, có tới 21 di tích đã được đầu tư và hoàn thành cơ bản việc chống xuống cấp đưa vào khai thác phục vụ phát triển du lịch.

Không ít dự án tổng thể liên ngành kinh tế - xã hội và văn hoá, mà hạt nhân là các khu di tích lịch sử - văn hoá quan trọng như Pắc Bó, Tân Trào, Đền Hùng, Cổ Loa, AT K Việt Bắc ... đã được xây dựng và triển khai, phối hợp giải quyết các nhu cầu về giáo dục truyền thống, y tế, giao thông nông thôn, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc - những người đã từng bảo vệ, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng và hiện cũng là lực lượng chính bảo vệ di tích tại địa phương.

Một trong những thành tựu nổi bật của các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trong những năm qua là việc thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục và thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá trong cả nước. Việc phối hợp với cơ quan báo chí phát thanh, truyền hình ở Trung ương và địa phương nhằm tuyên truyền, quảng bá các giá trị của di tích lịch sử và văn hoá được đẩy mạnh. Việc giáo dục truyền thống cách mạng trên cơ sở các tài liệu, di vật lịch sử được đổi mới, đã và đang có những đóng góp không thể phủ nhận vào công tác tư tưởng của các Đảng bộ cơ sở. Mười năm qua, chỉ riêng 11di tích và chi nhánh của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã đón và phục vụ được 35 triệu lượt khách tham quan trong và ngoài nước.

Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá đã và đang thu hút được sự ủng hộ và tham gia tự nguyện của các tổ chức xã hội và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Cho đến nay, nhân dân ở các địa phương đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho việc tu bổ các di tích. Khu di tích Đền thờ Lý Bát Đế thuộc tỉnh Bắc Ninh được phục hồi chủ yếu dựa vào nguồn đóng góp lên tới hàng chục tỷ đồng của nhân dân. Riêng việc xây dựng công trình tôn vinh các danh nhân văn hoá Việt Nam tại khu di tích Văn Miếu, Quốc Tử Giám nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long đã nhận được hơn l triệu USD do Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam ủng hộ. Mặt khác, thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế dưới mọi hình thức, cùng với việc tranh thủ kinh nghiệm quốc tế về khoa học- công nghệ tiên tiến, chúng ta còn nhận được sự ủng hộ về tài chính và thiết bị kỹ thuật. Tính chung trong mười năm trở lại đây, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và chính phủ các nước đã tài trợ 3.758.000 USD trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ nói trên, hoạt động bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế và tồn tại. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này, ngoài những hạn chế về điều kiện tài chính, về tổ chức quản lý, về năng lực, trình độ cán bộ... là sự bất cập và sự không đồng bộ của hệ thống pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hoá. Pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh" năm 1984 và những quy định pháp luật khác cũng đã bộc lộ những tồn tại và hạn chế rất rõ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường .

Những quy định của Pháp lệnh năm 1984 chưa đề cập đến những vấn đề bức xúc của công tác quản lý di sản văn hoá hiện nay như : công nhận các hình thức sở hữu khác nhau về di sản văn hoá; sự tồn tại và nhu cầu quản lý thị trường cổ vật; xuất nhập khẩu cổ vật phục vụ giao lưu văn hoá quốc tế, những vấn đề tổ chức và hoạt động của hệ thống bảo tàng Việt Nam - trong đó có việc xây dựng các sưu tập và bảo tàng tư nhân.

Công tác thanh tra các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá không được tiến hành thường xuyên và xử lý nghiêm minh làm cho hiệu lực thực tế của Pháp lệnh bị hạn chế. Các quy định về khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, tổ chức có thành tích cụ thể chưa được thực hiện nên không động viên được phong trào chung. Đặc biệt hiện tượng vi phạm di tích do các hoạt động kinh tế, xây dựng còn khá nặng nề, trường hợp xâm lấn đất đai di tích vẫn chưa được giải toả và xử lý dứt điểm.

Việc phân cấp về thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về di sản văn hoá và chính quyền các cấp chưa cụ thể, nên còn hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, ỷ lại Nhà nước; các địa phương không chủ động dành ngân sách cho việc tu bổ di tích hoặc khoán trắng cho dân. Chính vì vậy, tình trạng đào bới trái phép các khu di tích khảo cổ, tìm kiếm và buôn bán trái phép cổ vật, xây dựng hoặc tu bổ di tích tuỳ tiện, thương mại hoá các hoạt động lễ hội đã và đang trở thành những vấn đề bức xúc, thành nỗi lo của nhiều cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và sự quan tâm không nhỏ của toàn xã hội. Pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh" năm 1984 mới chỉ điều chỉnh đối tượng di sản văn hoá ở dạng vật thể, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) là xác định việc bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể; đồng thời đưa ra những giải pháp lớn để xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu xây dựng Luật Di sản văn hoá.

Mặt khác, trong những năm qua, nhiều bộ luật mới đã được xây dựng và ban hành. Trong thực tiễn, những quy định cụ thể về quan hệ dân sự của Luật Dân sự, về sử dụng đất của Luật Đất đai, về bảo vệ cảnh quan môi trường của Luật Môi trường, Luật Biển, Luật Bảo vệ rừng,..có liên quan đến các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá cùng trách nhiệm tổ chức thực hiện những quy định của các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia trong quá trình hội nhập quốc tế những năm gần đây, khiến cho nhu cầu xây dựng mới một bộ luật về bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá ở Việt Nam đã trở nên vô cùng cấp bách.

Trong quá trình đổi mới đất nước, để hoà nhập vào xu thế phát triển chung của toàn nhân loại mà không bị hoà tan, để văn hoá thực sự trở thành "nền tảng tinh thần của toàn xã hội", "vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội " cần phải có cơ sở pháp lý vững chắc và hoàn chỉnh hơn cho các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá. Việc xây dựng và ban hành Luật di sản văn hoá chính là xuất phát từ ý nghĩa và nhu cầu thực tế nói trên. Những căn cứ pháp lý để xây dựng luật và các quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc soạn thảo Dự án Luật là: Hiến pháp 1992, các Nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển văn hoá, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII).

Dự án Luật Di sản văn hoá được xây dựng trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của Pháp lệnh năm 1984 và mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh là di sản văn hoá phi vật thể để phục vụ và đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Bảo vệ di sản văn hoá trên cơ sở thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc hướng cả vào di sản văn hoá vật thể và phi vật thể; kiểm kê, sưu tầm vốn văn hoá truyền thống (bao gồm văn hoá bác học và văn hoá dân gian) của người Việt và các đân tộc thiểu số; bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá và các danh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống, trọng đãi những nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống...

Bảo vệ di sản văn hoá là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thể chế hoá và cụ thể hoá trong Luật sẽ góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá. Chính sách này được tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về văn hoá - thông tin để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về bảo vệ di sản văn hoá.

Đồng thời, Luật Di sản văn hoá còn góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới.

Trước đây, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh chỉ bao gồm các di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh. Xuất phát từ nội dung của khái niệm văn hoá và di sản văn hoá theo nghĩa rộng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật lần này bao gồm các di sản văn hoá vật thể và các di sản văn hoá phi vật thể. Nội dung của Luật đưa thêm những quy định về quản lý bảo vệ và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức quản lý các bảo tàng ở Việt Nam.

Theo ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, và đây cũng là một trong những vấn đề mà Bộ Chính trị ( khoá VIII) đã đề nghị cần xác định rõ trong Luật, về quyền sở hữu đối với di sản văn hoá, xuất phát từ nhận thức cho rằng di sản văn hoá là một trong những tài sản đặc biệt, đồng thời, căn cứ vào những đặc thù của loại tài sản này, những quy định của Luật Dân sự về 7 hình thức sở hữu phổ biến đã được vận dụng để xác định những hình thức sở hữu cơ bản về di sản văn hoá là: sở hữu toàn dân, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác.Chính vì vậy,vấn đề về sở hữu đối với di sản văn hoá của Luật này có nội dung như sau: "Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định của pháp luật. ( Điều 5 Luật Di sản văn hoá)

Bên cạnh những quy định cụ thể nhằm đề cao trách nhiệm của nhà nước, Luật còn xác định cụ thể sự phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương; quyền và nghĩa vụ của công dân được xác định theo hướng tôn trọng sở hữu tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ, phát huy giá trị các di sản văn hoá.

Pháp lệnh chưa thừa nhận sở hữu tư nhân về di sản văn hoá, chưa công nhận tính chất hàng hoá của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, và vì vậy, chưa có những quy định cụ thể về thị trường cổ vật và mua bán cổ vật để Nhà nước chủ động quản lý, thậm chí còn nghiêm cấm mọi hành vi mua bán những loại hàng hoá đặc biệt này, mặc dù từ hàng chục năm nay, trên thực tế vẫn tồn tại thị trường cổ vật chưa được kiểm soát. Dự án luật quy định việc mở hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

Ngoài những quy định cụ thể về việc xếp hạng di tích, sưu tầm các di sản văn hoá phi vật thể, thăm dò khai quật khảo cổ học, Luật cũng đồng thời quy định cụ thể về công tác thanh tra, kiểm tra cùng mức độ khen thưởng , xử phạt trong lĩnh vực bảo tồn các di sản văn hoá.

Quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, Luật Di sản văn hoá cũng đồng thời có những quy định cụ thể , tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hoá, như việc cho phép tổ chức trưng bày cổ vật ở nước ngoài, việc nghiên cứu, sưu tầm các di sản văn hoá của người nước ngoài ở Việt Nam và đặc biệt là việc hợp tác quốc tế để bảo hộ những di sản văn hoá Việt Nam ở nước ngoài.

Về cơ bản, Luật Di sản văn hoá được thông qua ngày 14/6/2001 tại kỳ họp thứ 9, Quốc Hội khoá X vừa qua là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh việc đổi mới các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam, thiết thực góp phần triển khai thắng lợi những đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới đất nước nói chung, cùng xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng.

 

Home

 

©  Thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA.  Bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: tochucgiaodiem@yahoo.com & giaodiem@giaodiem.com
. ..........