| .......... |
. |
-
-
- Alexandre De
Rhodes chuẩn bị hướng về Viễn Đông
- Trần Quý
Lời giới thiệu: Trần Quý
là bút hiệu của bác sĩ y khoa, hiện ở trên đất Mỹ. Sau những giờ làm
việc mệt nhoài ở phòng mạch, mỗi đêm về tác giả lại cặm cụi
nghiên cứu một lãnh vực mới: khoa học lịch sử. Và trên hết là Lịch
sử Cận đại Việt Nam, với tâm thức duy nhất khai quật những khổ đau
của dân tộc trong hơn một trăm năm qua. Một phân tích về cơ thể học và
bệnh lý học không khác bao nhiêu với một khảo sát lịch sử, để từ
đó xác định một căn bệnh và phương thước trị liệu và ngừa bệnh.
Trần Quý đã từng gây tiếng vang qua tác phẩm Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!,
và bây giờ Alexandre De Rhodes Đã làm Gì Cho Việt Nam là một đóng
góp khác nằm trong tinh thần truyền thống đó.
Bài viết A. De Rhodes chuẩn bị hướng về Viễn đông
là một trích dẫn trong tác phẩm lịch sử nói trên. Quý độc giả muốn
có hai cuốn sách trên, xin liên lạc về Tòa soạn Giao Điểm: GĐ – P.O.
Box Graden Grove, Ca. 92842 – USA để biết thêm chi tiết
Rhodes bị đẩy sang Ba-tư, ba người ông nhắm nhấc lên
thành giám mục Đông-phương lủi thủi quay về nơi ở cũ. Năm 1655, sau khi
giáo-hoàng Innocent X chết, giáo hoàng Alexandre VII lên thay, hội Tuyên-truyền
lại ngỏ ý muốn đem vấn đề Viễn-đông ra xét. Người Pháp tức thời
vồn vã đáp ứng. Vincent de Paul báo tin rằng nhiều người ở Paris sẵn sàng
bỏ tiền ra giúp chương-trình bành trướng đạo Ca-tô sang vùng Tây
Thái-bình-dương. Hội-đồng Giáo-phẩm Pháp nhượng bộ, bằng lòng đặt
tiền quĩ dưới quyền quản lý của tòa thánh. Hội Tuyên-truyền chùn bước,
lờ đi lần nữa.
Người Pháp quyết nắm chặt món quà Viễn-đông Rhodes đã
dâng. Giữa năm 1657, Francois Pallu cùng một nhóm người Pháp sang Roma vận
động. Họ cả quyết với giáo hoàng rằng họ chẳng những đặt tiền
quĩ dưới quyền trực tiếp của ông, còn chẳng để tòa thánh mất xu
teng nào. Cuối năm ấy, một cha đạo là Pierre Lambert de la Motte, người miền
Normandie, sang Roma nhập vào nhóm Pallu. Ông ta giàu có, tự nguyện đem của
riêng ra ứng trước để nuôi các giám-mục tương lai bên đất chúa Trịnh,
chúa Nguyễn. Thế là một ủy-ban gồm bốn hồng-y quyết định tuyển ba
giám mục để gửi đi hoạt động dưới quyền điều động của hội Tuyên-truyền.
Dự định của Vatican mới đầu bằng con ễnh ương đã phồng
bằng con bò, họ cử giám mục cai quản chẳng những đất Việt-nam mà cả
cõi Viễn-đông bao la. Tháng 9-1658, họ đã ngông-nghênh nâng Pallu thành
giám mục Heliopolis, cai quản Đàng Ngoài, Lào, các tỉnh Quảng-tây,
Quí-châu, Vân-nam, Tứ-xuyên; cử Lambert làm giám mục Béryte, cai quản Đàng
Trong, đảo Hải-nam, các tỉnh Quảng-đông, Phúc-kiến, Giang-tây, Triết-giang.
Tháng 9-1660 họ nhấc Ignace Cotolendi, một cha đạo ở Aix-en-Provence, lên chức
giám mục Metellopolis, cai quản Nam-kinh, Bắc-kinh, Sơn-đông, Sơn-tây, Thiểm-tây,
cả các nước Triều-tiên, Mông-cổ nữa.
Bồ-đào-nha ấm ức vì thế là Pháp đã giẵm lên vùng đất
họ đang thao túng. Dòng Tên ngả về phe Bồ. Đức thánh cha rất hiểu bụng
dân Ca-tô đối với nhau, đã cảnh cáo Pallu chớ ăn cánh với dòng Tên nếu
không muốn hỏng việc (Chap- poulie, tome I, trang 120). Các giám mục được lệnh
rằng trên đường sang Viễn-đông phải hết sức bí mật, mai danh, ẩn
tích, chớ để phe Bồ biết gì hết; không được đi qua đất người Ca-tô
cầm quyền; phải đi đường bộ qua đất đạo nào tương đối dễ chịu
hơn, nghĩa là qua đất Hồi-giáo, tức vùng Lưỡng-hà, xứ Ba-tư, ở Ấn-độ
thì qua xứ Mogol; nếu đi đường biển, phải tìm tàu nào chạy thẳng một
mạch tới nơi, chớ có ghé đâu.
Tháng 9 năm 1660 giám mục Lambert cùng hai cha đạo Jacques de
Bourges, Francois Dey- dier xuống tàu ở Marseille đi Syrie để theo đường bộ
sang Đông-phương.
Pallu từ Roma trở về Pháp làm những việc ông chưa hề hé
miệng nói cho hội Tuyên-truyền biết. Ông cần tính việc với hội, tên
đúng là công-ti (compagnie), Saint Sacrement trước khi đi Viễn-đông. Hai bên
ý hợp tâm đầu, ông định lập một đoàn thể đi ngoại quốc tuyên truyền
thì hội cũng đang lo lập. Hội cử bốn cha đạo cùng mười hai thường dân
trông coi công việc tổ chức. Một dịp may đến đương khi họ cần tìm
trụ sở. Giám mục Jean Duval có mấy tòa nhà ở đường Bac, Paris, định dùng
làm nơi sinh hoạt cho những người sang Ba-tư tuyên truyền, việc không
thành nên nhà để trống. Hai bên mặc cả, Duval thấy được lợi bèn giao
nhà cho họ.
Tháng bảy, năm 1663, vua Louis XIV chuẩn y sự hình thành hội
đó với tên là "đoàn thể đi đổi đạo cho những người chưa theo
ở ngoại quốc" (séminaire pour la conversion des infidèles dans les pays
étrangers). Các Bạn Tốt cầm đầu hội. Tháng 6 năm 1664, họ bầu một
người trong nhóm họ, Vincent de Meur, kẻ có công môi giới cho Pallu gặp
giáo hoàng, làm chủ tịch. Nhiều giáo sĩ trong nhóm nhận làm đại diện
(procureur) để bênh vực quyền lợi cho đoàn khi cần thiết. Sau này đoàn
trở thành Missions Étrangères de Paris (Hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại),
công cụ lợi hại nhất của thực dân Pháp tại Việt-nam.
Công-ti Saint Sacrement muốn buôn bán trong khi tuyên truyền đạo
nên tính lập một công ti thương mại. Họ mong giáo sĩ, thương nhân cùng
vượt trùng dương bằng tàu Pháp, dựa lẫn vào nhau trên đường làm ăn.
Thương thuyền thì họ nhờ Fermanel de Favery, một nhà hàng hải, lo liệu.
Ông này đang có một con làm linh mục đại diện cho Lambert. Ông sang
Hoà-lan sắm sửa một chiếc tàu, tên đặt là Saint Louis, cho công-ti. Năm
1664, ông trở nên một trong những cột trụ của thượng thư Colbert trong
cuộc thành lập công-ti Đông Ấn-độ (compagnie des Indes Orien- tales) của Pháp.
Không có Rhodes chỉ lối, ắt Công-ti Saint Sa- crement của
giáo-hội Ca-tô mù tịt chẳng biết đường sang Viễn-đông làm ăn, không
dựng nên Hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại, Công-ti Đông Ấn-độ được
thành lập ngay sau đó cũng thiếu kẻ dẫn lối. Con người thích phiêu-lưu,
mạo hiểm và bất hạnh ấy đã chỉ đường cho giáo-hội Ca-tô và nước
Pháp đi sang miền Tây Thái-bình-dương khuân về những món lợi lớn lao.
Giáo-hội Ca-tô không nhớ ơn, Pháp không thổi phồng Rhodes sao được!
Giám-mục Pallu mộng làm ăn lớn. Ông tính cộng tác với
Công-ti Đông-phương và Madaga- scar của Pháp để đóng hoặc mua một tàu
to, một thuyền to, một thuyền nhỏ, tuyển mộ một hoa tiêu, 50 sĩ quan, 55
thủy thủ và 2 bác sĩ giải phẫu; tàu chuyển hàng từ Âu-châu tới tận
Đàng Ngoài. Về tiền nong, ông tính các giám mục hùn vốn một nửa, nửa
kia công ti chịu. Ông tính đòi được quyền mang theo 20 người riêng của
mình (Chappoulie, tome I, trang 125).
Tiếng đồn về các hoạt động của Pallu làm hội
Tuyên-truyền ở Roma giật mình. Sự chào đời của tàu Saint Louis làm người
Hòa-lan sợ Pháp cướp mất chỗ buôn bán mặc dù tháng chạp năm 1660, tàu
ấy bị bão phá tan. Nghe thấy Pallu không tàu Pháp để đi theo dự định,
tính dựa vào phương tiện của Tây-ban-nha đạo Ca-tô, Lesley bên hội
Tuyên-truyền ở Roma vội can gián, khuyên nên đi tàu Anh đạo Tin Lành an
toàn hơn. Tháng giêng năm 1662, Pallu cùng hai cha đạo Louis Laneau, Pierre
Brindeau và mấy người nữa xuống tàu ở Marseille. Khi ấy bọn Lambert đang
ở giữa đường đi Xiêm.
Lambert ở
Xiêm
Bọn Lambert tới Syrie, đi đường
bộ qua vùng Lưỡng-hà đến Ba-tư. Tháng 10 năm 1661 tới hải-cảng Gomeron
trên xứ ấy, bên bờ eo biển Ormuz, họ thấy người Anh, người Hòa-lan đã
chiếm hết cơ-sở của Bồ-đào-nha, một nước đang lâm cảnh suy vi. Gặp
lúc Anh đang hòa-thuận với Pháp, người Anh giúp họ xuống tàu Hồi đi
nước Mogol. Lên bến Surate, xa về phía Bắc Bombay, họ nghe nói hải cảng
Gao của Bồ, rất xa về phía Nam, đang tàn tạ nên tiếng đồn rằng nhà cầm
quyền Gao được lệnh tìm bắt họ không làm họ ngại ngùng. Họ ngồi
trên ba xe bò, đi bốn mươi mốt ngày, băng ngang bán đảo Ấn-độ sang hải
cảng Masulipatam, nước Golcon -de, bên bờ biển Coromandel trông ra vịnh Ben-
gale. Họ lại nghe thấy Bồ bất hòa với nước Golconde nên cơ sở Bồ ở
Meliapour xa về phía Nam Madras chắc cũng chẳng bao lâu nữa bị nước ấy
chiếm mất. Họ đáp tàu Hồi tới Tenas- serim ở miền Tây bán đảo Mã-lai,
nằm trong địa phận nước Xiêm. Gặp Jean Cardoso, một cha đạo người Bồ
dòng Tên, Lambert khoe khoang địa-vị giám mục, quên khuấy lời dặn dò của
hội Tuyên-truyền ở Roma.
Bọn Lambert đặt chân lên Tenasserim khi nước Xiêm, tức
Thái-lan, đang thanh bình thịnh vượng, vua Xiêm đang dễ dãi với đạo Giê-su.
Họ ngồi thuyền, đi bộ rồi lại ngồi thuyền, tháng 8 năm 1662 tới kinh
đô Xiêm là Ayouthia. Thành thị này cũng nằm trên bờ sông Menam Chao Phraya
như Bangkok ngày nay nhưng nhích lên phía Bắc mấy chục cây số. Thuyền bè
từ Âu-châu, Ấn-độ, Phi-luật-tân, Nhật-bản ghé tới. Anh, Hòa-lan, Bồ-đào-nha
đều có cửa hàng buôn bán. Chùa năm trăm ngôi, ngôi nào ngôi nấy nhiều
tượng nạm vàng.
Năm 1622, vua Phra-chao Song-tham chiều các thương-gia Bồ đang
làm ăn trong nước đã dục dã giám-mục Gonvalve da Silva ở Malacca gửi cha
đạo sang sống với họ. Hai năm sau, Jules Cé- sar Margico được phái đến.
Ông khéo léo, vừa ý vua, được lòng các đại thần, nhưng chẳng bao lâu
ông bị một người Ca-tô đầu độc đưa về chầu thiên chúa Giê-hô-va.
Mãi năm 1655 mới có một giáo-sĩ dòng Tên khác, người đảo Sicile, từ
Macao tới. Việc chính ông Thomas Valguarnera này nhằm vào là sinh hoạt với
nhóm người Ca-tô đã trốn khỏi Đàng Trong, Nhật-bản để tránh đàn
áp.
Hầu hết dân Xiêm theo một đạo duy nhất là Phật-giáo,
khác dân Việt, dân Nhật. Một cá nhân thuộc các dân tộc này có thể đồng
thời theo nhiều đạo, thờ nhiều thần mà chẳng gặp trở ngại gì, vì
thế họ đón nhận thần Giê-hô-va không mảy may nghĩ tới cái nguy hại về
sau. Họ không ngờ rằng thần dâm ác ấy đã ra lệnh: "Phải dứt
khoát giết đi người lễ thần nào khác ngoài Giê-hô-va ra" (Exodus
22:20) và những kẻ thờ Giê-hô-va đã thực hiện lời đó dọc theo lịch
sử nhân loại. Dân Xiêm nghe giáo sĩ tuyên truyền cứ như không, vẫn một
lòng tuân lời Phật. Trước Lambert gần một thế kỷ, các giáo sĩ dòng
Đa-minh đã bỏ công Dã-tràng ra dụ họ. Nhưng Lambert vẫn hi-vọng.
Dưới triều vua Narai, quan đại thần Constance Phaulcon nước
Xiêm theo đạo Tin Lành là người Lambert cần giao thiệp nhất. Phaulcon nguyên
tên là Gerachi, người vùng Vénétie, sinh trong một gia đình thế tộc ở
Custodia, đảo Céphalonie, có người nói ông gốc Hi-lạp. Làm cho công-ti Ấn-độ
của Anh, ông trôi dạt tới Xiêm, được tể-tướng rồi được cả vua
tin dùng. Khi tể tướng qua đời, Phaulcon trẻ măng, được vua cử cầm quyền
thay nhưng ông chẳng bao giờ chính thức tuyên bố giữ chức ấy.
Bọn Lambert đang hòa điệu êm ái với dân Tây-phương ở
Xiêm thì người Bồ tại đó trở mặt. Người Bồ được lệnh phó vương
Goa là phải bắt đám giáo sĩ Pháp vì tội hành nghề cha đạo lậu. Đang
bối rối lo sợ, Lambert được dân Đàng Trong đến cứu đem về cùng ở
trong xóm cạnh sông. Hoàn cảnh đưa đẩy, ông tĩnh tọa, lại kiêng ăn thịt.
Ông hỏi han đám dân Đàng Trong, thấy mang tiếng đã rửa tội mà ai cũng
dốt nát, chẳng hiểu gì về tín lý. Thì ra ai muốn rửa tội là giáo sĩ
rửa liền hôm đó hay hôm sau cho có số đông chớ chẳng huấn luyện gì.
Lambert có lý do để quật lại phe Bồ. Tháng bảy năm 1663, ông viết thư mách
giáo hoàng nhiều điều bê-bối của giáo-sĩ Bồ, rồi mấy ngày sau, ông
cùng Deydier xuống thuyền sang Trung-quốc. Thuyền bị bão phá hỏng, dạt
vào đất Cao-miên, cả bọn đành lội bộ quay lại Xiêm.
Ignace Cotolendi khởi hành bên Pháp năm 1661 với Louis
Chevreuil và Antoine Hainques, ông ngả bệnh rồi tháng 8 năm 1662 qua đời tại
Masulipatam. Hai người còn lại gặp nhóm Pallu, nhập chung với nhau. Họ
cùng tới kinh đô Xiêm tháng giêng năm 1664. Người Xiêm không chịu đổi
đạo, bọn Lambert chẳng có việc mà làm, bây giờ có thêm nhóm Pallu nữa.
Đương lúc Đàng Trong, Đàng Ngoài đều đang cấm gắt đạo Giê-su, họ muốn
đưa giáo sĩ sang Việt-nam cũng không được. Tính đi tính lại, thấy đất
Xiêm yên ổn, tự do, là nơi nên xây dựng trụ sở chính để từ đó đến
các nước lân cận làm ăn, Pallu quyết định trở về Âu-châu để xin chuẩn
y các dự tính của mình, nhân thể cũng muốn đòi thêm quyền hành. Tháng
giêng năm 1665 ông xuống tàu.
Phạm vi Lambert được cử làm giám mục không có đất Xiêm,
đang thèm nắm quyền ở đấy ông mừng thấy cơ hội đã đến. Xiêm thuộc
địa phận giám mục Malacca. Khi bị Hòa-lan chiếm, Malacca thiếu giám mục,
chỉ có người quyền giám-mục (gouverneur) là cha đạo già yếu Paul d’Acosta,
ông này chạy trốn sang Cao-miên ẩn náu với mấy gia đình Bồ. Lambert cho
Louis Chevreuil đến bẻ ông về tội bỏ bê phận sự và ngỏ ý rằng
Lambert sẵn sàng gánh vác. Ông sợ hãi nhường quyền.
Tháng 5 năm 1666, Lambert đòi cấm hành nghề một giáo sĩ Bồ
đại diện tòa án đạo Goa là Fragoso, dòng Đa-minh. Fragoso đòi ông trình
giấy tờ để chứng minh thẩm quyền, ông đưa thư của Acosta ra, Fragoso
cho là vô giá trị, trục xuất ông khỏi đạo, lại viết thư báo cho các
tín đồ ở Xiêm biết và cấm họ giao dịch với ông, người giáo sĩ Bồ
còn cho niêm yết thư ở nhà thờ dòng Đa-minh, dòng Tên tại khu vực dân Bồ
sinh sống. Dẫu vậy, ông sống trong xóm dân Đàng Trong, được họ che chở,
chẳng sợ Fragoso tí nào.
Lambert viết thư về Paris vạch tội giáo sĩ dòng Tên, lời
lẽ phũ phàng nhưng nội dung vẫn là đã hốt của làm giầu lại sống
buông tuồng, không có gì mới hơn những thư ông đã viết từ năm 1663.
Tiền cấp cho không đủ sống, các giáo sĩ ở Viễn đông
cần kiếm thêm. Họ không cày cấy, chỉ nhằm vào buôn bán. Giáo-sĩ dòng
Tên phụ trách địa-phận Nhật hàng năm mua lụa ở Macao, nhờ thương gia
Bồ đem sang Nhật bán, lời lãi chia nhau. Vì Alexandre Valignano, trưởng dòng
Tên, vận động, chính phủ Macao ban cho bọn ấy đặc ân là hàng năm được
hưởng lời lãi của 50 tạ lụa bán ra đầu tiên. Valignano dò ý
giáo-hoàng Gré- goire XIII, ông này cho Aquaviva trả lời là ông chấp thuận,
lại nói thẳng rằng đó là nhu cầu cần thiết. Năm 1611, Philip III, vua kiêm
hai nước Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, cấp môn bài chấp-thuận đặc quyền kể
trên. Tháng chín năm 1666, chính phủ Macao công bố rằng buôn bán là nhu cầu
cần thiết của giáo sĩ dòng Tên địa phận Nhật, tòa thánh và vua đều
cho phép. Đế quốc thế quyền cấu kết với đế quốc giáo quyền chặt
chẽ như vậy.
Lambert vạch ra rằng chẳng tàu nào nhổ neo ở Macao đi Xiêm,
Cao-miên hay nhiều miền khác không có những khối hàng lớn của dòng Tên.
Tháng 10 năm 1667, ông cho dán lên cửa nhà thờ xóm Đàng Trong ở kinh-đô
Xiêm một thư tố cáo bằng tiếng La-tinh kèm với bản dịch thành tiếng Bồ.
Ông phàn nàn là giáo sĩ dòng Tên lầm-lỗi, không biết liêm sỉ. Phe Bồ
phản công. Valguarnera tố cáo với Vatican rằng ông phạm nhiều lỗi, một
lỗi là làm lễ khi chưa được Acosta ủy quyền. Ông bẻ lại rằng dòng
Tên đã cho phép con chiên cúng giỗ, còn đút lót vua chúa để được sủng
ái. Ông bèn bị bẻ là buôn vàng và gửi một thuyền đầy hoa quả sang bán
bên Quảng-đông.
Dòng Tên ở Xiêm vận động các giáo sĩ đòi Lambert xuất
trình giấy tờ. Tháng 8 năm 1669, họ ra lệnh bắt ông trình nội trong ba
ngày, nếu không sẽ bị trục xuất khỏi giáo hội, lại bị phạt hai trăm
đồng bạc kim loại. Ông nhượng bộ, trình sắc lệnh giáo hoàng cùng các
giấy tờ khác. Phe Bồ công nhận giấy tờ của ông là thật cả, nhưng
ông đã đi lén vua Bồ nên họ vẫn coi ông là kẻ hành nghề cha đạo bất
hợp pháp.
Một người Bồ quyền quí mới đến Xiêm muốn hạch tội
Lambert bèn cùng một đoàn hộ tống đi thuyền treo cờ Bồ tới đòi ông
trình giấy phép của vua Bồ. Sợ mấy người Pháp lâm nguy, độ trên chục
người Đàng Trong vội vàng cầm gươm dao chạy đến. Người Bồ thấy họ
hung hăng bèn rút lui. Sáng sau, dân Đàng Trong võ trang ngồi trên hai chiến
thuyền vua Xiêm ban cho từ trước, diễu đi diễu lại qua xóm Bồ, chẳng
ai dám phản ứng gì.
Vua Narai gửi mười thần dân đến học khoa học với các
giáo sĩ Pháp, cho phép những người này tự do đi tuyên truyền, lại tặng
đất cho họ xây nhà thờ. Bọn giáo sĩ không biết điều, hí hửng lên
chân quá trớn. Một ông hoàng bị bệnh, tay chân liệt đã trên mười
năm, chẳng thuốc men gì chữa khỏi, họ nhận chữa bằng phép lạ. Họ cầu
nguyện rồi họ nói bệnh đã bớt nhưng nếu muốn bệnh khỏi hẳn, ông
hoàng phải theo đạo Ca-tô. Vua Narai thông minh nhận ra sự thật, vẫn nhã
nhặn ban cho bọn họ nhiều đặc ân nhưng tuyệt đối không để họ nói
chuyện đạo Ca-tô trong chốn triều đình nữa. Lambert mở trường đào tạo
giáo sĩ. Năm 1668, ông phong cho một người Đàng Trong làm cha đạo lấy tên
là Joseph.

|
© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và
ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài
đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com |
|
|
. |
.......... |