-
- Dư luận xung quanh phẩm
chất thực phẩm Việt Nam:
- Khoa học hay phản bội tinh
thần khoa học?
Nguyễn Văn
Tuấn

Nông
dân Việt Nam có lẽ là một trong những người khốn khổ nhất thế giới.
Ở trong nước, họ là thành phần nghèo nhất trong xã hội, với mức thu
nhập bình quân thấp hơn mức thu nhập trung bình của cả nước khoảng
40%. Làm việc quanh năm suốt tháng trên đồng, dưới sông, ngoài biển, để
làm ra sản phẩm cung cấp cho xã hội hay xuất khẩu, nhưng cuộc sống nghèo
vẫn hoàn nghèo. Gần đây, sản phẩm của nông dân Việt Nam đã được xuất
khẩu ra ngoài nước, người ta tưởng là họ sẽ thoát cảnh nghèo, nhưng
không, họ lại phải đương đầu với nhiều bất công và hàng rào cản
trở, ở trong nước lẫn ngoài nước. Ơ렴rong
nước, theo thống kê, trong năm 1997, số lượng gạo xuất khẩu từ vùng
Đồng bằng sông Cửu Long là 3 triệu tấn, đem về 800 triệu đô-la Mỹ
ngoại tệ cho cả nước; nhưng trớ trêu thay, chỉ có 15% số tiền này là
đến tay người nông dân, phần còn lại nằm trong tay các công ty quốc
doanh và các tay trung gian buôn bán.
Đã thế, thị trường ở ngoài nước
lại gặp nhiều khó khăn. Vài tháng trước đây, vụ tranh cãi xung quanh vấn
đề tên gọi cá tra (hay cá bông lau) và "catfish" đã là một thiệt
thòi cho nông dân Việt Nam, dù cá traViệt Nam chỉ mới chiếm khoảng 10% thị
trường "catfish" Mỹ. Trong vụ tranh cãi này, một số nông dân Mỹ
tố cáo cá tra Việt Nam bị nhiễm hóa chất; nhưng vì không có bằng cớ,
nên chẳng mấy ai để ý. Vụ này tưởng như đã ổn thì một vụ khác lại
nổ ra. Nhật báo Orange County Register (OCR, California, Mỹ), số ra ngày 3
Tháng Một, 2002, có đăng một bài viết của ký giả John Gitteksohn, mà
trong đó, tác giả trò chuyện với ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang
về vấn đề môi sinh Việt Nam, và thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam.
Theo hai ông Truyết và Quang, các hóa chất dùng trong đồng ruộng, chứ không
phải chất màu da cam (Agent Orange), mới là mối đe dọa sức khỏe của
người dân Việt Nam, vì chúng có ảnh hưởng xấu đến môi trường nông
nghiệp ở Việt Nam. Ông Truyết còn đi xa hơn và cho rằng một số thực
phẩm nhập cảng [từ Việt Nam] vào Mỹ bị nhiễm chất DDT.
Khác với vụ cá tra, người chủ
trương và đặt vấn đề là nông dân và chính khách Mỹ; lần này, người
chủ trương và nêu vấn đề là hai người Mỹ gốc Việt Nam. Trong vụ
tranh cãi cá tra, các giáo sư người Mỹ dùng khoa học để đưa ra những
chứng minh có lợi cho nông dân Việt Nam; lần này, hai người Mỹ gốc Việt
Nam nhân danh khoa học để đưa đến khó khăn cho nông dân Việt Nam.
Khả năng mà hai người Mỹ gốc Việt
Nam này có thể gây tác hại cho nông dân Việt Nam không nhỏ, vì họ được
sự tiếp tay của giới truyền thông Mỹ và trong cộng đồng người Việt
hải ngoại. Các báo Việt ngữ ở Mỹ và Úc, đài phát thanh, kể cả Đài
phát thanh BBC (chương trình Việt ngữ), hoặc trích dịch lại, hoặc tường
thuật lại những phát biểu của hai người Mỹ gốc Việt Nam trên, và có
khi thêm thắt nhiều lời lẽ xúc động, cảm tính. Có lẽ nhận thức được
mức độ tai hại của những lời phát biểu này, phía chính phủ Việt Nam
cũng có phản ứng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Phan Thúy
Thanh, nói: "đây là một nhận định thiếu cơ sở khoa học được
đưa ra với mục đích cạnh tranh." Phản ứng của người Việt hải
ngoại trước những phát biểu rất đa dạng: từ nghi ngờ dữ kiện của
hai người Mỹ gốc Việt Nam, đến kêu gọi mọi người nên thận trọng với
thực phẩm Việt Nam.
Tôi có lí do để cho rằng những
phát biểu của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang không những đánh
lạc hướng vấn đề, mà còn thiếu trung thực và thiếu căn cứ khoa học.
Vấn đề hóa chất trong thực phẩm
là một vấn đề đầy cảm tính. Ở một vài nước Tây phương như Mỹ và
Úc, người ta không ngừng đặt vấn đề về nguy cơ rau và trái cây bị
nhiễm chất hóa học, mà họ tin là có hại cho sức khỏe. Cường độ và
xu hướng loan tin giật gân của giới truyền thông có lúc đã biến những
ích lợi của việc ăn trái cây và rau xanh thành những nguy hiểm cho sức
khỏe! Tuy nhiên, ít ai chịu để ý đến khoa học, đến mức độ chính
xác và trung thực của những bản tin như thế. Thực ra, theo FDA (Cơ quan Quản
lí Thực phẩm), ngộ độc thực phẩm, chứ không hẳn thuốc trừ sâu, mới
là một đe dọa lớn cho sức khỏe con người.
Phải nói ngay rằng trong phần lớn
thực phẩm mà chúng ta dùng hàng ngày đều, không ít thì nhiều, có chứa
một số hóa chất, có thể độc hại hay không độc hại. Theo một phân
tích của Giáo sư Bruce Ames, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về môi trường
và sức khỏe thuộc Trường đại học California (Berkeley), 99% cặn bã của
thuốc trừ sâu tìm thấy trong thực phẩm mà chúng ta dùng hàng ngày là những
chất hóa học tự nhiên, do chính cây cỏ tự sản xuất để chống lại với
các yếu tố ngoại lai.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp thực
phẩm bị nhiễm hóa chất do con người tạo nên. Những hóa chất này thường
là những loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ mà nông dân hay dùng để bảo vệ
mùa màng. Phần lớn các hóa chất này "phôi pha" theo thời gian sau
vụ mùa, nhưng một phần nhỏ có thể tồn tại trong trái cây hay cây lúa.
Những tồn đọng này tiếng Anh gọi là "pesticide residues", hay bã.
Bằng các kỹ thuật sinh học hiện đại, các nhà khoa học có thể đo lường
mức độ bã tồn tại trong thực phẩm.
Vì thuốc trừ sâu, diệt cỏ là những
hóa chất không thể thiếu trong nghề nông, nên vấn đề thực phẩm nhiễm
hóa chất không là một vấn đề chung cho toàn thế giới, và có thể nói
là một cái "giá" mà người dân sống trong các xã hội văn minh phải
trả cho sự tiến bộ của khoa học. Chẳng hạn như trong một báo cáo năm
1999 mang tựa đề "Do you know what you are eating: an analysis of US
Government data on pesticide residues in foods," các nhà nghiên cứu Mỹ đã
chỉ ra rằng những trái cây [trồng tại Mỹ hay nhập cảng] như đào, cam,
táo, nho, lê, rau "spinach", v.v. đều có chỉ số nhiễm hóa chất
cao hơn trung bình.
Chẳng riêng gì thực phẩm Mỹ có
nhiễm hóa chất, mà ngay cả các nước Á châu như Hồng Kông và Thái Lan cũng
có vấn đề. Vài tháng trước đây, giới y tế thuộc Chính phủ Úc khuyến
cáo một số thực phẩm của Hồng Kông như nước tương, tương đậu, và
nước chấm có chứa một số hóa chất ở mức độ có hại cho sức khỏe.
Thái Lan, một nước có nền nông nghiệp gần gũi với Việt Nam cũng có
"vấn đề". Theo Báo cáo của Cơ quan Thực phẩm Liên hiệp quốc,
Thái Lan là một trong những nước dùng thuốc trừ sâu nhiều nhất thế giới.
Chỉ riêng năm 1995, thị trường thuốc trừ sâu ở Thái Lan là 534 triệu
đô-la. Trong tất cả các loại thuốc trừ sâu này, 73% được liệt vào hạng
Ia hay Ib, tức là hạng "extremely hazardous" hay "highly
hazardous" (tức cực kỳ nguy hiểm), theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế
Thế giới (World Health Organization). Nghiên cứu trên còn cho thấy phân nửa
nông dân Thái Lan dùng những loại thuốc như thế quá liều lượng do hãng
sản xuất đề nghị. Nghiên cứu của chính phủ Thái Lan còn cho thấy hơn
phân nửa (52%) trong số 552 mẫu thực phẩm khảo sát có tàn dư (bã) của
chất DDT và dieldrin. Năm 1993, một nghiên cứu khác của Hội đồng Môi trường
Quốc gia (Thái Lan) cho thấy bã của thuốc trừ sâu hiện diện trong 86% mẫu
nước, 25% rau cải, và 17% lúa.
Còn tình hình ở Việt Nam? Tuy chưa
có nghiên cứu nào cụ thể, nhưng người ta có lí do để cho rằng thực
phẩm Việt Nam cũng không thoát khỏi tình trạnh bị nhiễm hóa chất. Nhưng
những hóa chất nào, mức độ cỡ bao nhiêu, thay đổi với thời gian ra
sao, v.v. thì chưa ai biết rõ, vì theo tôi biết, chưa có nghiên cứu qui mô
nào để cung cấp dữ kiện một cách có hệ thống. Tuy nhiên, người ta
ghi nhận rằng Việt Nam từng phát động nhiều phong trào nhằm báo động
cho nông dân Việt Nam biết về những tai hại và hậu quả của vấn đề
dùng hóa chất quá mức.
Nhưng một điều mà ai cũng có thể
ghi nhận được là người Việt hải ngoại đã và đang dùng thực phẩm
nhập cảng từ Thái Lan nhiều hơn là dùng thực phẩm nhập cảng từ Việt
Nam. Chúng ta đã dùng thực phẩm Thái Lan hơn một phần tư thế kỷ, trong
khi thực thực từ Việt Nam chỉ mới được nhập cảng sang các nước
như Mỹ và Úc gần đây, thường với số lượng rất ít so với số lượng
nhập từ Thái Lan. Từ gạo, đồ hộp, đến trái cây tươi, cộng đồng
Việt Nam hải ngoại là một khách hàng lớn và trung thành không những với
Thái Lan, mà còn với Phi Luật Tân, Hồng Kông, Mã Lai, Nam Dương, và Trung
Quốc. Do đó, cho rằng thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam là một mối
đe dọa đến sức khỏe cho đồng hương hải ngoại là một tuyên bố
không công bằng, mà lại đánh lạc hướng vấn đề.
Những lời phát biểu của ông Mai
Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang còn mang tính phi khoa học, vì những lời
tuyên bố của họ thiếu bằng chứng, hay bằng chứng không được rõ
ràng. Thật vậy, có thể nói là chưa thể có sự thật trong lúc này, vì
chưa có dữ kiện nào đáng tin cậy cả. Tuy nhiên một sự thật mà ai cũng
có thể ghi nhận được là trong bài báo trên tờ OCR, hai người Mỹ gốc
Việt này không trình bày một dữ kiện đáng tin cậy nào, thậm chí không
dẫn chứng một ví dụ cụ thể nào để thuyết phục người đọc. Chẳng
hạn như trong một phát biểu quan trọng, ông Quang nói, "Mức độ tích
tụ của một số hóa chất [trong thực phẩm Việt Nam] cao hơn mức độ
trong nước uống được cho phép ở California đến 890,000 lần"
(nguyên văn: "The concentrations of some of the chemicals were 890,000 times the
California drinking level allowed"), nhưng ông Quang không cho biết đó là những
hóa chất nào, trong loại thực phẩm gì, và được thử nghiệm ra sao.
Tương tự, ông Truyết hoàn toàn không đưa ra một dữ kiện nào về mức
độ tích tụ của DDT trong thực phẩm Việt Nam.
Theo tường thuật của bài báo, hai
ông Truyết và Quang đã từng nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm môi trường
ở Việt Nam. Nhưng cách làm việc theo kiểu hai ông mô tả, như nhìn các tấm
ảnh chụp bằng vệ tinh nhân tạo và kết luận về lũ lụt, hay lén lút
đem vài mẫu vật, vài lít nước từ trong nước qua Mỹ để phân tích
không thể được xem là những nghiên cứu nghiêm túc. Người có tinh thần
khoa học, nhất là giới trí thức Mỹ, đọc cách làm "nghiên cứu"
này của hai ông ắt phải cười thầm cho cách làm việc quái gở, và nó
có thể trở thành một câu chuyện tiếu lâm để họ răn dạy sinh viên.
Có thể nói ngay rằng những "nghiên cứu" như thế của hai ông
hoàn toàn (xin nhắc lại: "hoàn toàn") không có một giá trị hay ý
nghĩa khoa học gì cả.
Một nghiên cứu nghiêm túc cần phải
được tiến hành một cách có ý thức, có tổ chức, và có phương pháp.
Nhà nghiên cứu phải có một giả thiết, bằng chứng, và những giả định
trước khi bắt tay vào tổ chức nghiên cứu. Nhà nghiên cứu phải công bố
những phương pháp nghiên cứu một cách rõ ràng, không ởm ờ, dấu diếm:
như lấy mẫu ra sao, ở đâu, thời gian nào, bao nhiêu; thử nghiệm bằng kỹ
thuật gì; mức độ chính xác thế nào, v.v.. Trong khi phương pháp nghiên cứu
còn mơ hồ, mà hai ông đã lên tiếng trước công chúng, thì quả là một
hành động cực kỳ bất thường và phản khoa học. Ở các viện nghiên cứu
hay trường đại học, việc làm của hai ông được xem là "scientific
misconduct" (vi phạm đạo đức khoa học), một vi phạm nghiêm trọng,
và người vi phạm có thể bị kỷ luật hay đuổi khỏi nhiệm sở.
Ấy thế mà báo chí Việt ngữ cũng
như tờ OCR đề cập đến hai ông như là hai "nhà khoa học"! Nhà
khoa học chân chính là một thành viên có trách nhiệm và lương tâm với
xã hội, dân tộc. Người làm khoa học chân chính phải tuân thủ theo những
đạo đức khoa học. Một số trong những đạo đức căn bản đó là:
trung thực với số liệu, thành thật trước đồng nghiệp, và chấp nhận
những khiếm khuyết của nghiên cứu khoa học. Nhưng cách làm việc và những
lời phát biểu của hai người Mỹ gốc Việt này đã gieo một mối nghi ngờ
về những đạo đức khoa học đó của họ.
Thứ nhất, họ phát biểu những
vấn đề quan trọng, nhưng không trình bày một bằng chứng nào rõ ràng cả.
Tức là, những phát biểu của họ không dựa vào những gì họ có. Đã
không có số liệu về dioxin và dị thai thì họ không nên phán xét mối
liên hệ giữa hai sự kiện. Một người bình thường cũng có thể thấy rằng
lấy một vài lít nước ở vài ba địa điểm ở Việt Nam về Mỹ thử
nghiệm, rồi phóng đại, khái quát hóa về chất lượng nông phẩm của Việt
Nam, là một việc làm cực kỳ phản khoa học.
Thứ hai, tất cả các phương pháp
nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của họ, nếu có, chưa bao giờ được
công bố trước cộng đồng khoa học để cho đồng nghiệp có thể phán
xét. Cần nói rằng người phán xét nhà khoa học không ai khác hơn là đồng
nghiệp của họ (các nhà khoa học). Theo nguyên tắc, trước khi công bố một
kết quả nghiên cứu trước công chúng, nhà khoa học phải công bố trong
các diễn đàn khoa học. Các diễn đàn này thường là các tập san nghiên
cứu khoa học do chính các nhà khoa học điều hành và quản lí. Trong một
diễn đàn như thế, các kết quả nghiên cứu sẽ được thẩm định một
cách khách quan bởi các đồng nghiệp của nhà khoa học, đảm bảo khoa học
tính của cuộc nghiên cứu. Ở đây, tất cả các kết quả nghiên cứu của
hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang đều nằm trong vòng bí mật. Thực
vậy, tuy bài báo viết rằng hai ông đã viết hàng tá báo cáo khoa học, nhưng
qua truy tìm trong hệ thống Medline (một thư viện y-sinh học trên thế giới),
tôi không thấy bất cứ bài viết nào của hai ông! (Cần phải nhấn mạnh
rằng các bài báo xuất hiện trong các tập san hay tạp chí Việt ngữ hải
ngoại không được xem là các bài báo khoa học.)
Thứ ba, khoa học không phải là một
giải pháp cho tất cả mọi vấn đề trên thế giới. Nhà khoa học phải
thành thật chấp nhận những yếu điểm của khoa học. Một nghiên cứu
có thể không đưa đến một kết luận nào, mà nhiều khi cần phải có
hàng chục, thậm chí hàng trăm, nghiên cứu mới có thể đi đến một kết
luận. Không một nhà khoa học chân chính nào lại ngớ ngẩn dại dột
tuyên bố rằng không có mối liên hệ nào giữa dioxin và dị thai. Người
ta có thể nói chưa có bằng chứng cho một mối liên hệ như thế. Chưa-có-bằng-chứng
khác với không-có-bằng-chứng. Tương tự, bằng chứng chưa đầy đủ không
có nghĩa rằng không có bằng chứng ("the absence of evidence does not mean
that the evidence is absent.")
Hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn
Minh Quang cho rằng dioxin (trong chất màu da cam, hay Agent Orange) không phải
là một mối đe dọa môi trường và sức khỏe người Việt Nam. Hãy lấy
vài ví dụ để xem lời phát biểu này đúng hay sai. Giáo sư Arnold Schecter
thuộc Trường Đại học Texas, người đã bỏ ra cả đời làm khoa học của
ông để nghiên cứu tác hại của AO, đã đo lường độ tích tụ dioxin
trong khoảng 1000 cư dân Việt Nam từ Bắc phần, sang Trung phần, và xuống
Nam phần. Ở các tỉnh miền Bắc, mức độ tích tụ dioxin trung bình chỉ
khỏang 2.2 ppt, miền Trung là 13.2 ppt, và miền Nam là 12.9 ppt. Tuy nhiên, mức
độ không phải đồng đều như thế, có vài nơi cao hơn, và có nơi thấp
hơn, trung bình. Ở miền Trung, các tỉnh như Đà Nẵng có mức độ tích tụ
cao nhất (khoảng 19 ppt). Riêng ở miền Nam, các tỉnh sau đây có mức độ
dioxin khá cao: Đồng Nai-Biên Hòa (28 ppt), Sông Bé (32), và huyện Trà Nóc (Hậu
Giang) với mức độ tích tụ lên đến 33 ppt. Như vậy, dù Biên Hòa có mức
độ tích tụ dioxin cao hơn các nơi khác trong nước, nhưng mức độ không
quá báo động như 135 lần. Dựa vào số liệu của Giáo sư Schecter và theo
sự ước đoán của người viết bài này, mức độ tích tụ dioxin ở
Biên Hòa – Đồng Nai cao hơn Hà Nội khoảng 8,5 lần. Nhưng đó vẫn là một
mức độ rất đáng quan tâm. Ngoài ra, theo báo cáo "The American People’s
Dioxin Repot", độ dioxin trong sữa tìm thấy ở Đà Nẵng là cao nhất thế
giới (34 ng/kg), kế đến là Nhật và Đức (27 ng/kg), Canada (26 ng/kg), Mỹ
(20 ng/kg), Sài Gòn (19 ng/kg). Hà Nội (9 ng/kg), Thái Lan và Cambodia có độ
dioxin trong sữa thấp nhất (3 ng/kg). Rõ ràng, dioxin là một vấn đề ở Việt
Nam.
Trong hai mươi năm qua, Mỹ đã chi
tiêu hàng trăm triệu đô-la để tiến hành hàng trăm cuộc khảo cứu trong
các cựu quân nhân Mỹ về tác hại của dioxin đến sức khỏe. Hai năm
trước đây, Quốc hội Mỹ đã ủy nhiệm cho Viện Y khoa (Institute of
Medicine, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ) duyệt xét và tóm tắc
các kết quả nghiên cứu. Để làm việc này, Viện Y khoa thành lập một
ủy ban khoa học (gọi là "Committee to Review the Health Effects in Vietnam
Veterans of Exposure to Herbicides) để xem xét, cân nhắc phương pháp và kết
quả nghiên cứu và từ đó tổng kết thành một báo cáo cho chính phủ. U빠ban này gồm có 11 nhà khoa học từ các trường đại học
và viện nghiên cứu trên toàn nước Mỹ, do Giáo sư Irva Hertz-Picciotto (thuộc
Trường đại học North Carolina), một chuyên viên về y tế công cộng, chủ
trì. Sau khi duyệt qua và cân nhắc hơn 50 nghiên cứu khác nhau có liên quan
đến hóa chất dioxin và sức khỏe của cựu chiến binh được tiến hành
trong vòng 20 năm qua, ủy ban đã soạn thảo thành một loạt sách, trong đó,
có một cuốn tóm lược ảnh hưởng của dioxin đến sức khoẻ. Một vài
nét chính của quyển sách này có thể tóm lược như sau:
Thứ nhất, cho đến nay, các nhà
nghiên cứu đã có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận rằng
dioxin trực tiếp gây ra các bệnh sau đây: Soft-tissue sarcoma, Non-Hodgkin's
lymphoma, bệnh Hodgkin, và bệnh ban clor (chloracne). Tháng 4 năm 2001, Viện Y
khoa công bố một thông cáo báo chí mà trong đó các nhà nghiên cứu cảm
thấy có đủ dữ kiện để có thể kết luận rằng con của các cựu
quân nhân Mỹ bị nhiễm dioxin có tỷ lệ bị bệnh ung thư máu cao hơn
trung bình.
Thứ hai, mối liên hệ giữa AO
và một số bệnh vẫn còn nằm trong vòng nghi vấn, vì kết quả của
các nghiên cứu vẫn chưa nhất quán. Những bệnh này là: ung thư hệ thống
hô hấp (phổi, thanh quản, khí quản), ung thư tuyến tiền liệt (prostate
cancer), myeloma, một số bệnh thần kinh cấp tính, và bệnh nứt đốt sống
(spina bifida).
Thứ ba, Viện Y khoa cảm thấy chưa
có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận về mối liên
hệ giữa dioxin và các bệnh sau đây: ung thư gan, ung thư mũi, ung thư
xương, ung thư vú, ung thư hệ thống tái sản sinh trong phụ nữ (tử cung,
noãn xào), ung thư bọng, ung thư thận, ung thư bộ tinh hoàn, dị thai, sanh
thai chết (Neonatal/infant death and stillbirths), trọng lượng hài nhi thấp (Low
birthweight), bất bình thường chỉ số tinh trùng và hiếm muộn, rối loạn
hệ thống phối hợp (coordination dysfunction), các triệu chứng thần kinh ngoại
vi kinh niên, các bệnh thuộc hệ thống nội tiết và tiêu hóa (như tiểu
đường, loét, thay đổi enzyme của gan, bất bình thường lipid), các chứng
miễn nhiễm, bệnh tim, bệnh đường hô hấp, và ung thư da.
Thứ tư, các nhà nghiên cứu thuộc
Viện Y khoa cũng thêm rằng họ chưa có đủ bằng chứng để loại bỏ mối
liên hệ giữa dioxin và các bệnh sau đây: ung thư dạ dày, ung thư tuyến tụy,
ung thư ruột, ung thư trực tràng, và ung thư não (brain tumors).
Thứ năm, ngoài ra, trong một cuộc
khảo cứu công phu ở Ý, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học
Milano-Bicocca (Ý) và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Y tế (Mỹ) đã
theo dõi tỷ lệ sinh sản suốt 25 năm liền trong vùng Seveso (Ý), nơi có một
hãng sản xuất thuốc diệt cỏ bị cháy, nổ tung, và thải ra môi trường
chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin vào năm 1977. Họ khám phá rằng những đàn
ông bị nhiễm dioxin có xác suất sinh con trai thấp hơn những đàn ông
không bị nhiễm dioxin (hay bị nhiễm nhưng ở mức độ thấp). Trong các người
cha không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm nhưng có
mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt, tỷ lệ sinh con trai là khoảng
56%; và trong các người cha sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ
dioxin trong máu từ 16 ppt hay cao hơn, tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%.
Đã từ lâu, giới y học Tây phương
và Việt Nam đã ghi nhận tỷ lệ dị thai ở miền trung Việt Nam cao hơn
trung bình, nhưng ý kiến về nguyên nhân thì khác nhau. Phía Việt Nam tin rằng
AO và dioxin là nguyên nhân, nhưng phương pháp nghiên cứu và cách xử lý số
liệu của họ không được chấp nhận là nghiêm túc và khoa học. Do đó,
mối liên hệ giữa dị thai và dioxin ở Việt Nam vẫn còn nằm trong vòng
nghi vấn, vì bằng chứng chưa đầy đủ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là dioxin không phải là nguyên nhân gây ra dị thai. Gần đây, một nhóm
nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas vừa được chính phủ Mỹ cấp
một ngân sách $874,000 để nghiên cứu về mối liên hệ quan trọng này. Nếu
không có một giả thiết đáng tin cậy thì các nhà nghiên cứu này chắc
chắn không được tài trợ một số tiền lớn như thế để nghiên cứu.
Với gần 72 triệu lít chất khai
hoang rải xuống Việt Nam và những bằng chứng khoa học trên đây mà hai
ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Xuân Quang cho rằng dioxin không phải là mối
đe dọa cho môi trường và sức khỏe của người dân Việt Nam thì quả
là khó hiểu. Nhưng mối đe dọa này lớn hay nhỏ hơn mối đe dọa do ảnh
hưởng của các hóa chất trừ sâu là một câu hỏi chưa thể trả lời
được hiện nay, vì một lí do đơn giản: chưa có dữ kiện khoa học. Thực
ra, muốn trả lời câu hỏi này đến nơi đến chốn, cần phải có cả
triệu đô-la để nghiên cứu, và chắc cũng không ai lại ngớ ngẩn để
tiêu ra một số tiền như thế để tìm câu trả lời cho một câu hỏi
không thiết thực như thế. Ở Việt Nam, còn nhiều vấn đề y tế quan trọng
hơn.
Đến đây, người ta phải đặt câu
hỏi tại sao cách làm việc của hai "nhà khoa học" người Mỹ gốc
Việt này lại khác thường, và phát biểu của họ lại phản khoa học như
thế. Một phần câu trả lời có thể tìm thấy ở quá trình đào tạo và
công ăn việc làm của họ. Cả hai ông Truyết và Quang là tư chức ở
California. Ông Mai Thanh Truyết là một nhà hóa học hữu cơ, đang quản lí
một phòng thí nghiệm thuộc một công ty xử lí chất thải ở Quận West
Covina (Los Angeles), và ông Quang là kỹ sư công chánh. Cả hai người đều
không trựctiếp làm việc trong ngành nghiên cứu thực phẩm hay khoa học
môi trường. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là hai ông không có quyền
lên tiếng về các vấn đề thực phẩm. Tuy nhiên, đối chiếu với những
vấn đề căn bản mà tôi nêu trên đây, người ta có quyền đặt câu hỏi
về tư cách làm nghiên cứu khoa học của hai ông.
Nói tóm lại, qua bài báo trên tờ
OCR và các bản tin Việt ngữ sau đó, có thể nói rằng tất cả những
phát biểu trong bài viết chỉ là những suy luận cá nhân của hai ông Mai
Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang. Một điều rất đáng tiếc cho khoa học
là hai ông lại nhân danh khoa học để phát biểu những điều phi khoa học.
Có thể nói đây là một trường hợp tiêu biểu nhất về sự lạm dụng
danh nghĩa khoa học. Nói cho đúng hơn, đây là một sự phản bội tinh thần
khoa học ở mức độ thô sơ nhất. Tôi chỉ, và sẽ rất vui lòng, rút lại
câu phát biểu này khi hai ông cho công bố tất cả các nghiên cứu liên
quan đến những gì ông tuyên bố trước công chúng, theo những thủ tục
khoa học thông thường mà các nhà khoa học phải tuân theo.
Tôi rất tâm đắc với câu phát biểu
của ông Nguyễn Minh Quang trong phần cuối của bài báo, "Người ta
không thể phủ nhận khoa học" ("You cannot deny science").
Vâng, tôi cũng tin như thế, và với tinh thần đó, tôi tin rằng hai ông
Nguyễn Minh Quang và Mai Thanh Truyết cũng sẽ không thoát khỏi sự xét xử
nghiêm minh của khoa học dành cho hai ông trong tương lai.
Chú thích.
Vì khuôn khổ và giới hạn của bài viết, tôi không thể trình bày một
cách chi tiết về nguồn gốc của các số liệu mà tôi trích dẫn trong
bài. Nếu cần, quí độc giả có thể liên lạc trực tiếp với tôi để
có thêm chi tiết.
Home | Go top page