-
Phản trí thức và lạm dụng khoa học trong so sánh
Nguyễn Văn
Tuấn

Nếu
dùng cách nói của một nhà triết học, các hoạt động khoa học có thể
thu gọn vào ba lĩnh vực chính: phân loại, xác định, và so sánh. So sánh,
tự nó, là một khoa học, bởi vì nó cũng là một phương pháp hệ thống
hóa tri thức. Vì so sánh là một khoa học nên nó đòi hỏi phải có nguyên
lí và phương pháp. Vì thế, một so sánh chỉ có ý nghĩa khi nào nó được
dựa trên những nguyên lí có nền tảng lí thuyết vững vàng và logic và
những phương pháp đúng. Một so sánh sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu một
hai khía cạnh này (nguyên lí và phương pháp) sai lầm hay không thích hợp.
Thế nhưng, trên mặt báo người ta vẫn đọc thấy những so sánh thiếu
công bằng, thậm chí lố bịch. Nếu những việc làm sai trái đó xuất
phát từ những nhà báo hay giới truyền thông thì cũng không có gì đáng
bàn sâu, song nếu tác giả chúng là những người có học, có huấn luyện
về phương pháp khoa học thì đó là điều đáng bàn, vì nó có thể là
triệu chứng của một sự phá sản trong khoa học.
Nói đến so sánh là phải đề cập
đến khoa học thống kê, bởi vì một phần lớn lí thuyết thống kê đặt
trọng tâm vào so sánh giữa các mô hình, giữa các tỉ số, giữa các
thông số, v.v. Ngày nay, những số liệu thống kê được lưu truyền trong
báo chí hàng ngày, nhiều, và đa dạng đến độ không ai hiểu nổi chúng
có nghĩa gì, và cái nào đúng hay cái nào sai nhiều khi chỉ là một võ đoán.
Công chúng thờ ơ với khoa học có lẽ sẽ rất ấn tượng với những
người nói chuyện và trưng dẫn những con số thống kê, bởi vì họ cho rằng
đó là "khoa học." Nhưng một điều chắc chắn là không phải con
số thống kê nào cũng nên được chấp nhận một cách dễ dàng. Nhiều
khi những kết luận hoàn toàn sai được rút ra từ những dữ kiện được
thu thập thiếu cẩn thận và phân tích sai. Ấy thế mà có người vẫn viết
sách, viết báo, tạo nên tên tuổi trong công chúng, qua những lạm dụng
khoa học, lạm dụng thống kê. Có nhiều người trích một con số nào đó
từ báo chí và cho đó là "bằng chứng khoa học", nhưng không màng
tự hỏi xem con số đó được thu thập và xử lí trong trường hợp nào,
cho mục đích gì, và ở đâu. Có người không ngần ngại và sẵn sàng
cung cấp những giải đáp, những câu trả lời êm tai cho những vấn đề
chưa ai dám giải quyết. Thật vậy, sự hữu dụng của khoa học thống kê
ngày nay đã đôi khi trở thành lạm dụng khoa học thống kê.
Lạm dụng khoa học là một hiện tượng
rất phổ biến ngày nay. Nó xuất phát từ cái vị trí mơ hồ của nhà
khoa học trong cái thế giới bị thống trị bằng chính trị và kinh tế: họ
là những thành viên có ảnh hưởng, nhưng lại không phải là những thành
viên "đủ lông đủ cánh", trong trường kinh tế – chính trị. Với
cái vị trí đặc biệt này, họ có quyền thế đưa ra một sự yểm trợ
mang tính biểu trưng cho giới làm chính trị, một điều mà giới chính trị
rất cần trong việc vận động quần chúng. Điều này có nghĩa là người
làm khoa học có khi phải đóng vai một gã Chí Phèo, sẵn sàng ném liệng
chữ nghĩa và những con số vào các trang báo, vào không gian âm thanh, mà
không cần biết chúng có tác dụng hay tác hại ra sao.
Vả lại, trong một xã hội bị chi
phối bằng những nỗi lo ngại về sự tẻ nhạt, tình trạng bấp bênh,
thiếu tự tin, người ta phải, bằng mọi giá, tìm đến giải trí, và khoa
học trở thành một đề tài giải trí. Giới truyền thông biết được cái
tâm lý này nên họ cố tìm mọi cách đưa các đề mục liên quan đến
khoa học thành những câu chuyện giật gân để hấp dẫn người nghe hay
người đọc. Mặt khác, khi đến với giới truyền thông, nhà khoa học rất
sợ bị chê là nhạt nhẽo, nên họ phải cố gắng hướng đến công
chúng với những loại tin mang cảm tính mạnh. Những thông tin giật gân hấp
dẫn chú ý, nhưng đồng thời cũng làm trệch hướng, giống như một tay
ảo thuật với cái nguyên lí căn bản là "điệu hổ ly sơn". Bởi
vì họ nhìn khoa học như là một trò chơi có mục đích giải trí là
chính, nên họ tìm cách, bằng mọi giá, tránh xa những vấn đề mang tính
hàn lâm phức tạp mà họ gọi là những "vũng lầy"; họ không ngần
ngại đơn giản hóa một vấn đề phức tạp thành những giá trị 0/1,
có/không, trắng/đen, bạn/thù, v.v. Hậu quả quan trọng của sự đơn giản
hóa vấn đề là nó làm cho chúng ta trở thành nô lệ với sự tầm thường,
với những khuôn sáo đã có sẵn. Triết gia Theodor Adorno, trong những năm
cuối đời, hay phê phán một cách gây gắt những ngôn từ mà ông gọi là
"ngôn từ nhai" (masticated language) là kẻ thù của trí tuệ. Ông viết:
"Chỉ có những gì người ta không có nhu cầu để hiểu ban đầu, người
ta cho đó là có thể hiểu."
Nhưng điều đáng buồn là sự lạm
dụng khoa học và con số như thế có xu hướng càng ngày càng gia tăng
trong cộng đồng người Việt. Hãy lấy bức thư "không niêm" của
ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang gửi người viết bài này được
lưu truyền trên internet [1] làm một ví dụ về trường hợp lạm dụng so
sánh và tác hại của sự đơn giản hóa. Trong thư, hai tác giả trích dẫn
tài liệu của Công ty Hatfield Consultants (Canada) để cho thấy mức độ tích
tụ của p,p’-DDE trong vùng "A So" ở Việt Nam (8.900 ppb) cao hơn mức
độ cho phép ở California (0,01 ppb), mà theo tính toán của hai ông là cao đến
890 ngàn lần (8.900 / 0,01). Con số này được hai ông tuyên bố trên Nhật
báo Orange County Register hôm 3 Tháng Một, 2002, và đã tạo nên nhiều quan
tâm trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhưng người ta có lí do để
hỏi có phải đó là sự thật? Trả lời câu hỏi đó không dễ dàng chút
nào, vì nó đòi hỏi một sự cân nhắc thận trọng về phương pháp
nghiên cứu (như đo lường, lấy mẫu, phân tích, v.v.). Thực ra, cái mà người
ta có thể thấy rõ, cách so sánh này là một nhầm lẫn mang tính cổ điển
trong khoa học, và thể hiện một sự thiếu thận trọng trong nghiên cứu
[2]. Nó còn là một ví dụ điển hình về vấn đề lạm dụng danh nghĩa
khoa học và con số để gây hoang mang trong công chúng một cách nguy hiểm.
Sự hiện diện của dioxin trong môi
trường Việt Nam có phải là một vấn đề lớn hay không? Tôi cho là lớn.
Và tôi đã trình bày vấn đề này trong một bài viết khác. Người Mỹ,
người Úc đã bỏ ra hàng trăm triệu đô-la để nghiên cứu vấn đề này
hàng ba mươi năm nay. Trong một báo cáo khoa học mật sắp được đệ trình
lên Quốc hội Mỹ (nhưng đã bị tiết lộ ra ngoài báo chí gần đây),
các nhà nghiên cứu Mỹ đề nghị Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ
(Environmental Protection Agency, EPA) phân loại lại dioxin là độc chất số một,
tức độc hại nhất trong các hóa chất. Tưởng cần nhắc lại là trước
đây, EPA chỉ phân loại dioxin như là một chất "có thể gây ra ung thư".
Như vậy, qua bản tường trình này và các nghiên cứu trong vài thập niên
qua, dioxin đã từ từ lộ nguyên hình là một độc chất nguy hiểm nhất
do con người tạo ra và biết đến. Tháng Ba sắp tới đây, một cuộc hội
thảo khoa học Mỹ – Việt sẽ diễn ra ở Hà Nội để bàn về ảnh hưởng
của dioxin trong môi trường Việt Nam và phương pháp nghiên cứu. Nếu vấn
đề nhỏ thì chắc chắn chính phủ Mỹ và Úc không tiêu ra nhiều tiền như
thế để nghiên cứu. Sự tham gia của các nhà khoa học trong Viện Nghiên cứu
Môi trường của Mỹ trong việc nghiên cứu dioxin ở Việt Nam là một ví dụ
khác để cho thấy vấn đề không phải nhỏ.
Nhưng hai ông Mai Thanh Truyết và
Nguyễn Minh Quang thì quan điểm ngược lại. Thực ra, bất đồng quan điểm
giữa chúng tôi là chuyện bình thường, nhưng vấn đề đáng nói ở đây
là cái luận điểm. Để bảo vệ lập luận của mình rằng dioxin không phải
là vấn đề lớn ở Việt Nam, hai tác giả tính toán lượng dioxin trên mỗi
m2 (mét vuông) ở Việt Nam, ở Seveso (Ý) và ở Times Beach (MI). Qua
mật độ này, tác giả cho rằng lượng tích tụ (concentration) dioxin ở
Seveso cao hơn ở Việt Nam đến 900 lần, và lượng tích tụ dioxin ở Times
Beach cao hơn ở Việt Nam đến 20 lần. Một lần nữa, ở đây, vấn đề
phương pháp đo lường (assay methodology) giữa ba vùng cần phải đặt ra
như một nghi vấn. Tất nhiên, vấn đề chọn mẫu và qui mô nghiên cứu cũng
không được đỏ qua khi nhận định và so sánh những con số này. Nhưng
ngoài vấn đề đo lường và qui mô chọn mẫu, và hãy bỏ qua cách cường
điệu hóa bằng những số lần (900 và 20), ai có chút suy nghĩ cũng thấy
đây là một cách so sánh sai lầm. Nó sai ở cái giả định (assumption) thống
kê đằng sau cách tính, và cái mẫu số của những tỉ số này, và từ đó
sai về cách đặt vấn đề [3].
Những con số thống kê chỉ có nghĩa
khi chúng được đặt vào đúng bối cảnh của sự kiện và phương pháp
đo lường. Còn nếu dùng chúng như những con số ngẫu nhiên thì sẽ phạm
vào lời cáo buộc của Benjamin Disrael (một chính khách Anh), "lies,
damned lies, and statistics" (tạm dịch: "láo, quá láo, và thống
kê"). Do đó, một trong những kỹ năng của người làm khoa học là phải
biết tiếp nhận và xử lí thông tin. Tuy nhiên, ở hai tác giả, cái kỹ năng
này trở thành một vấn đề. Trong thư, hai ông đề cập đến cuộc nghiên
cứu của Giáo sư Mocarelli và đồng nghiệp (Ý) về ảnh hưởng của dioxin
trong tỉ lệ giới tính. Trong thư, hai ông viết: "[…] Mặc dù
nghiên cứu của Bác sĩ Mocarelli rất công phu, các kết luận vừa kể chắc
chắn sẽ gây nhiều tranh luận vì nó không ăn khớp với các dữ kiện
được dùng cho cuộc nghiên cứu và trình bày trong bài viết của ông trên
tạp chí The Lancet. Một trong những dữ kiện có thể làm sụp đổ giá trị
của cuộc nghiên cứu là dữ kiện trong Bảng 2 được tóm tắt như sau:
Nồng độ Dioxin của Cha (ppt) |
Tỉ lệ Trai Gái |
15,1-31,3 |
0,438 |
31,9-60,7 |
0,506 |
61,4-117,0 |
0,469 |
[hết
trích dẫn.]
"Sụp đổ giá trị nghiên cứu"?
Có lẽ đó là một quyết đoán quá vội vàng qua một nhận xét thiếu cân
nhắc. Sự thực là hai ông chỉ trích có 50% số liệu trong bảng thống kê
của Giáo sư Morcarelli. Hai ông đã bỏ qua những dữ kiện liên quan đến
những người cha không bị nhiễm và những người bị nhiễm ở mức độ
cao hơn 117 ppt. Trong khoa học, hành động này được xem là một sự thiếu
thành thật tri thức (intellectual dishonesty). Tôi xin trình bày lại [bằng tiếng
Việt] nguyên bảng thống kê được đăng trong bài báo của Giáo sư
Morcarelli như sau:
- Nồng độ dioxin trong
Tỉ lệ
- trong những người cha
trai:gái
- Không bị nhiễm--------------->0,557
- Nhiễm từ 15,1 – 31,3---------->0,438
- Nhiễm từ 31,9 – 60,7---------->0,506
- Nhiễm từ 61,4 – 117,0--------->0,469
- Nhiễm từ 118,0 – 264,0-------->0,400
- Nhiễm từ 281,0 – 26400,0----->0,383
Không cần phải lí giải dài dòng
hay phân tích thống kê, ai cũng ghi nhận được những dữ kiện trên đây
cho thấy tỉ lệ trai:gái giảm một cách đáng kể và rõ ràng, nhất là
trong những người cha với độ tích tụ (nhiễm) TCDD cao hơn 61,4 ppt. Ấy
thế mà hai ông viết: "Dựa theo dữ kiện trên thì nồng độ Dioxin
trong máu của người cha không phải là một yếu tố ảnh hưởng đến tỉ
lệ trai gái, vì tỉ lệ trai gái gia tăng khi nồng độ Dioxin trong máu của
của người cha gia tăng"! Không ảnh hưởng? Thế thì con số
"probability value" nhỏ hơn 0.001 (dùng cách tính "Poisson regression
analysis") có nghĩa là gì hở hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh
Quang? Thật là khó hiểu hai ông đọc và tiếp thu những dữ kiện khoa học
như thế nào mà lại đi đến một nhận xét hấp tấp trên.
"Chắc chắn sẽ gây nhiều
tranh luận" ? Không biết hai ông có theo dõi các nghiên cứu liên
quan đến dioxin thường xuyên hay không, nhưng riêng người viết bài này
thì theo dõi hầu như hàng tuần, và trong hai năm qua (kể từ khi công trình
này được công bố), chưa có một ai chất vấn hay đặt vấn đề với những
con số trên đây của Giáo sư Morcarelli. Ngược lại, còn có vài nhà
nghiên cứu uy tín trên thế giới viết xã luận đánh giá cao nghiên cứu
này như là một trong những nghiên cứu quan trọng về dioxin. Mà cũng đúng
thôi: đây là một công trình nghiên cứu được kéo dài hơn 20 năm, với sự
cộng tác của hàng trăm chuyên viên trên thế giới. Phải là người có
kinh nghiệm thực tế trong nghiên cứu khoa học mới nhận thức và biết
giá trị của một cuộc nghiên cứu qui mô như thế.
Điều làm tôi càng ngạc nhiên là
hai ông còn trích dẫn một bảng thống kê khác trong bài báo, và đưa ra nhận
xét rằng: "Tài liệu hộ tịch trong vùng A được trình bày trong Bảng
6 [trình bày dưới đây] cũng không cho thấy ảnh hưởng
của Dioxin trên tỉ lệ trai gái, trước cũng như sau vụ nổ ở nhà máy
ICMESA năm 1976."
Năm |
Tỉ lệ trai:gái |
1966 đến 1972 |
0,524 |
1973 đến 1976 |
0,341* |
1977 đến 1984 |
0,414+ |
1985 đến
1990 |
0,552 |
1991 đến 1996 |
0,471 |
*p
= 0.001, +p = 0.03
Đây cũng là một nhận xét hết sức
ngớ ngẩn. Thời gian từ 1966 đến 1972 là thời gian mà dân chúng trong
vùng A chưa bị nhiễm dioxin (xin xem chú thích [4] dưới đây)! Trong bài
báo, các nhà nghiên cứu đã viết rất rõ ràng: "After a ‘normal’
sex-ratio period (1966 – 1972), we found a substantially clear increase in the number of
females born from 1973 through to 1976. This trend in the A zone continued in the period
1977 through to 1984 for those parents who had lived for some period of time in the A zone
between 1971 and 1976." (Tạm dịch: Sau một giai đoạn ‘bình thường’
về tỉ lệ giới tính (từ năm 1966 đến 1972), chúng tôi nhận thấy số
trẻ em gái được sinh ra trong quãng thời gian từ 1977 đến 1976 gia tăng một
cách đáng kể và rõ ràng. Chiều hướng gia tăng này trong vùng A còn tiếp
tục trong quãng thời gian từ 1977 đến 1984 trong những cặp cha mẹ đã từng
sống một thời gian trong vùng A vào thời kỳ 1971 đến 1976.) Trong bài
báo, họ còn dùng thống kê học để chứng minh cho phát biểu trên (xin xem
các con số xác suất p phía dưới bảng thống kê trên mà tôi trích dẫn).
Cần nói thêm, những con số trong bảng thống kê này chỉ thu thập trong
cho vùng A (vùng bị nhiễm dioxin nặng nhất), chứ không phải tất cả các
vùng mà bảng thống kê số 2 đề cập đến. Nói một cách khác cho rõ
ràng hơn, hai bảng thống kê này dựa vào hai mẫu số khác nhau, và dùng
cho hai mục đích khác nhau. Do đó, cách chấp nối hai bảng thống kê để
cho ra một nhận xét (như hai ông Truyết và Quang làm) là rất sai lầm.
Sự sai lầm về những nhận xét
liên quan đến dioxin còn có nguồn gốc từ sự thiếu quán triệt khái niệm
"bằng chứng khoa học" (scientific evidence) của hai ông, mà nó thể
hiện cụ thể qua cách diễn dịch [sai văn phạm tiếng Anh] của hai ông về
câu nói "Bằng chứng chưa đầy đủ không có nghĩa rằng không có bằng
chứng" của tôi. Nếu một nghiên cứu cho ra kết quả rằng dioxin
không có ảnh hưởng một cách xác định đến dị thai, thì điều đó
không có nghĩa là mối liên hệ giữa dioxin và dị thai là không hiện hữu,
nhưng chỉ có nghĩa rằng dữ kiện của nghiên cứu đó chưa nhất quán với
cái giả thiết dioxin gây ra dị thai. Đó là vấn đề bằng chứng chưa đầy
đủ, chứ không phải là không có bằng chứng. Còn nhận xét về bằng chứng
trong khoa học và bằng chứng trong pháp lí ở Mỹ của hai ông nó quá lạc
đề.
Với sự tiếp thu thông tin lạ
lùng và cách chất vấn sai lạc như thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy
Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp không màng trả lời thư của ông
Mai Thanh Truyết. Đó là chưa nói đến cách hành văn thiếu "lịch sự
khoa học" trong lá thư của ông Truyết gửi cho Giáo sư Mocarelli. Người
ta chỉ trả lời khi một câu hỏi có ý nghĩa và nghiêm túc, chứ không ai
lại tốn thì giờ cho những câu hỏi có tính cách thách thức mà lại vô
ý nghĩa.
Ngoài ra, tôi có cảm tưởng hai
ông bị ám ảnh bởi một điều gì đó (chính trị?) khi hai ông tỏ vẻ
hoài nghi kết quả nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli, và chất vấn tại
sao Giáo sư Arnold Schecter không viết về DDT mà chỉ chú tâm đến dioxin. Về
ông Schecter, lí do rất đơn giản, theo tôi, là vì ông có sở trường nghiên
cứu về dioxin, chứ không phải DDT. Trong các diễn đàn khoa học, nhà
nghiên cứu không khi nào đi ra khỏi sở trường và chủ đề nghiên cứu của
mình. Chẳng hạn như người viết bài này không làm trong toán học hay là
nhà toán học (như hai ông phong cho [5]) nên tôi không có thẩm quyền bàn về
toán học. Nếu thật sự hai ông tin rằng kết luận của Giáo sư Mocarelli
sai, tôi đề nghị hai ông nên liên lạc với ban biên tập của Tập san [chứ
không phải "tạp chí"] Lancet để họ và đồng nghiệp họ
thẩm định lại. Một tạp chí Việt ngữ như Tạp chí Đi Tới không
phải là một diễn đàn khoa học, do đó, lên tiếng đối thoại với Giáo
sư Mocarelli trong Đi Tới là một việc làm … kỳ cục. Còn chuyện cá
nhân tôi duyệt bài của Tập san Lancet (như hai ông đề cập đến
trong thư) hoàn toàn không dính dáng gì đến bài báo của Giáo sư Mocarelli;
do đó, tôi thấy việc đề cập đến vai trò của tôi trong Tập san này
là một điều không cần thiết và không thích hợp.
Thật là khó hiểu khi hai người đã
từng được huấn luyện về phương pháp khoa học trong đại học, có người
có học vị tiến sĩ, mà lại vấp phải những lầm lẫn khoa học mang
tính căn bản và đáng tiếc như thế. Tuy nhiên, những lầm lẫn này hình
như xuất phát từ quan điểm làm khoa học của hai ông, đó là – theo chữ
của hai ông – "[…] càng đơn giản càng tốt" (the simpler, the
better) ; bởi vì, nếu không ai hiểu và biết kết quả việc nghiên cứu
thì việc nghiên cứu của chúng tôi cùng lắm cũng chỉ có giá trị loanh
quanh trong khuôn viên đại học hoặc trên vài tạp chí chuyên môn nặng phần
lý thuyết mà thôi." Có vài điều đáng nói ở đây. Nếu những
nghiên cứu y sinh học không được công bố trên các tập san khoa học để
cho cộng đồng khoa học thẩm định thì làm sao người ta biết được những
nghiên cứu như thế đã được tiến hành đúng theo các tiêu chuẩn khoa học,
và nếu những chi tiết như thế chưa rõ ràng thì làm sao người ta có thể
tin vào kết quả. Hai ông cho rằng hai ông đã "nghiên cứu", nhưng
hai ông chưa hề công bố những kết quả đó trước đồng nghiệp thì
làm sao công chúng có thể tin được những gì hai ông phát biểu. Trong khoa
học, người ta có câu "Garbage in, garbage out," nếu phương pháp
nghiên cứu hư hỏng, hay sai lầm, thì kết quả của những nghiên cứu như
thế chỉ là rác rưởi mà thôi.
Câu phát biểu trên còn biểu hiện
một tinh thần phản khoa học. Tiến bộ trong khoa học dựa vào thông tin.
Những tập san chuyên môn là phương tiện giao chuyển thông tin không thể
thiếu được trong hoạt động khoa học. Những tập san chuyên môn không chỉ
có "giá trị loanh quanh trong khuôn viên đại học" mà là những tri
thức của nhân loại, của văn minh. Không có những tập san như thế, thì
chúng ta sẽ không có kiến thức để bàn thảo như ngày hôm nay. Công bố
kết quả nghiên cứu trong các tập san chuyên môn còn là nghĩa vụ của
người làm khoa học, bởi vì phần lớn những nghiên cứu đều do chính phủ
tài trợ (tức là dùng tiền đóng thuế của dân chúng), do đó, nhà khoa học
có nhiệm vụ phải báo cáo lại cho người dân mình đã làm gì và đạt
được kết quả gì. Một nghĩa vụ khác của việc công bố kết quả
trên các tạp san khoa học là nó tạo một nhịp cầu giữa những nhà
nghiên cứu, vì những kết quả như thế, dù tích cực hay tiêu cực, là những
thông tin cần thiết để các nhà khoa học khác quyết định có nên tiến
hành thêm nghiên cứu hay không. Cố nhiên, những thông tin trong các tập san
như thế không phải nhắm vào người không chuyên môn. Người làm hóa học
chưa chắc hiểu được một bài báo y học, và ngược lại, một người làm
trong y học chưa chắc hiểu một bài báo hóa học. Nhưng đó là một sự
phân công tự nhiên trong khoa học.
Tuy nhiên, điều làm tôi rất kinh tởm
và sửng sốt cho câu phát biểu trên là hai ông tỏ vẻ ghét lí thuyết.
Thù-ghét-lí-thuyết thường là thái độ của những người làm chính trị
mị dân, chứ không phải thái độ của nhà khoa học. Tôi cho rằng đó
còn là một thái độ phản trí thức, bởi vì người trí thức (mà nhà
khoa học là một thành phần), ngoài phần thực tiễn, còn phải luôn luôn
dựa vào lí thuyết. Lí thuyết dạy cho nhà khoa học đặt câu hỏi, tìm đối
tượng nghiên cứu, vạch ra phương pháp nghiên cứu, và truy tầm tri thức
mới. Không có lí thuyết thì không có nghiên cứu. Nghiên cứu mà không có
lí thuyết thì kết quả nghiên cứu sẽ mang tính ngẫu nhiên, và trở
thành vô nghĩa, vô dụng.
Cái quan điểm đơn giản hóa vấn
đề của hai ông rất nguy hiểm. Tôi không dấu được một cái lắc đầu
khi thấy hai ông làm những con toán theo qui tắc tam suất ("Nếu em
ở thung lũng A Lưới và bú 500 ml sữa mẹ mỗi ngày, em sẽ tiếp nhận
175.000 pg nếu em ở Hồng Lâm, 265.000 pg nếu em ở A Sô, 600.000 pg nếu em
ở Hồng Thương, và 1.100.000 pg nếu em ở Hồng Vân. Như vậy, các em phải
tiếp nhận từ 290 đến 1.830 lần nhiều hơn số lượng tiếp nhận cho phép").
Thật là một cách tính toán đơn giản ở mức độ thấp nhất mà chỉ
có học sinh tiểu học mới dám làm (bởi vì học sinh đại học còn biết
cân nhắc với thực tế). Tuy nhiên, điều này thì có thể châm chước
được vì có lẽ hai ông không làm việc trong lâm sàng y khoa và sinh học,
nên không biết rằng không có một mối liên hệ nào trong sinh học tuân
theo một phương trình đường thẳng. Xin lấy một ví dụ điển hình: nếu
một nghiên cứu nào đó cho thấy mỗi điếu thuốc mà người ta hút sẽ
rút ngắn tuổi thọ người đó 5 phút; điều này không có nghĩa là bất cứ
ai hút một triệu điếu thuốc đều bị giảm 694 ngày thọ, bởi vì mối
liên hệ không phải xác định. Một ví dụ khác: nếu một người phát biểu
rằng "Thuốc A làm giảm tỉ lệ gãy xương 50%", thì điều này
không có nghĩa là một bệnh nhân X nào đó dùng thuốc A sẽ có xác suất
giảm gãy xương 50% (bởi vì một suy đoán như thế hoàn toàn vô nghĩa cho
cá nhân người bệnh), và cũng không có nghĩa là người bệnh nào cũng
kinh nghiệm một hiệu quả như nhau. Cần phải hiểu rằng con số trung bình
nó không đại diện cho một cá nhân nào. Ứng dụng con số trung bình cho
cá nhân là một việc làm cực kỳ nguy hiểm, bởi vì cái xác suất mà
kinh nghiệm của một cá nhân tuân theo qui luật bình quân cực kỳ thấp.
Suy luận cần phải có kiến thức và kinh nghiệm thực tế, chứ không phải
chỉ dựa vào những con số thống kê vô hồn. Đó là chưa nói đến hàng
vạn yếu tố khác mà toán học chưa phát triển để có thể giải thích
các hiện tượng một cách đầy đủ. Không một nhà nghiên cứu có ý thức
nào lại ngớ ngẩn đi mô hình và giải thích những mối liên hệ sinh học
bằng những phương trình bậc nhất như thế.
Có lẽ mang tâm trạng thù ghét lí
thuyết, hai ông tỏ ra rất dị ứng trước sự phức tạp, và thay vào đó
là chỉ muốn tìm một câu trả lời đơn giản cho một vấn đề rắc rối.
Vấn đề môi sinh ở Việt Nam rất rắc rối, vì nó liên quan đến quyền
lợi và nhận thức của người dân, và những yếu tố mà chúng không thể
nào đơn giản hóa bằng những con số thống kê. Không phải vùng nào trong
nước Việt Nam cũng đều được đơn giản hóa thành một vài con số
trung bình. Những số liệu về thực phẩm mà hai trích dẫn từ một báo
cáo của Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang ở Hà Nội chỉ là những con số sơ bộ,
bởi vì nó được thu thập từ một "Pre-case study" [như hai ông viết],
tức là một nghiên cứu sơ khởi, chứ không phải là một nghiên cứu
chính thức. Một người có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học phải biết một
điều sơ đẳng là những dữ kiện thu thập từ những nghiên cứu sơ khởi
như thế không có giá trị khoa học gì đáng kể cả, vì mục đích của
những nghiên cứu như thế là nhằm thu thập đủ số liệu để tiến hành
một nghiên cứu qui mô và có hệ thống hơn. Những số liệu như thế không
cho phép hai ông và ông Nguyễn Đình Quang kết luận gì về mức độ và
tình trạng nhiễm độc thực phẩm ở Việt Nam. Tương tự, không thể lấy
một vài con số loại "mì ăn liền" từ những mẩu tin trong các tờ
báo ở Việt Nam hay hải ngoại, hay những tin đồn ra làm dữ kiện để phán
đoán một vấn đề phức tạp.
Đơn giản hóa câu trả lời cho một
vấn đề phức tạp là một hành động dã man với tri thức, phản trí thức,
và đi ngược lại với lí tưởng của khoa học. Muốn có một cái nhìn
chính xác về thực trạng môi trường ở Việt Nam cần phải có nhiều
nghiên cứu có hệ thống với sự hợp tác của chuyên viên từ nhiều
ngành khác nhau (môi trường học, sinh học, hóa học, thống kê học, y học,
dân số học, v.v.). Muốn lấy mẫu cho có ý nghĩa thì phải cần đến cố
vấn của các nhà thống kê và dân số học; muốn đo lường hay phân tích
chính xác thì cần đến sự giúp đỡ của các nhà hóa học; muốn biết
những tác hại của hóa chất đến sức khỏe thì các y sĩ là người cần
được tham vấn; muốn đặt một câu hỏi nghiên cứu cho có ý nghĩa thì cần
phải hỏi các nhà môi trường học, v.v.. Một vài cá nhân, dù tài giỏi
đến đâu đi nữa, nếu chỉ loay hoay trong phòng thí nghiệm, hay ngồi trước
máy computer để truy tìm những bản tin rời rạc trên internet, để rồi sản
xuất ra những phân tích kiểu du kích sẽ không bao giờ cho được một kết
quả có ý nghĩa, mà trái lại, còn làm cho vấn đề thêm rối loạn một
cách không cần thiết.
Người ta thường nói nhầm lẫn
là thường tình vì "nhân vô thập toàn", nhưng kiên trì với nhầm
lẫn là ma quái, là nguy hiểm. Để khỏi phải mang tiếng ma quái, và tránh
mất công bàn thảo theo kiểu "khoa học sofa," tôi có hai đề nghị
chân tình và cụ thể như sau. Thứ nhất, hai ông Mai Thanh Truyết nên công
bố những nghiên cứu liên quan đến môi trường Việt Nam mà hai ông nói
là đã từng làm, kể cả phương pháp làm và kết quả, trong các diễn đàn
khoa học có "peer review", tức là được duyệt xét công bằng và
khoa học bởi đồng nghiệp. (Cố nhiên, ở đây tôi không nói đến những
"nghiên cứu" dựa vào các bản tin báo chí.) Thứ hai, tôi rất
thông cảm cho hai ông là không có ngân sách để làm những nghiên cứu
nghiêm túc (như nói trong thư), do đó, tôi đề nghị hai ông nên soạn thảo
một đề án nghiêm chỉnh, nói rõ mục tiêu, phương pháp, ý nghĩa, tác dụng,
và kế hoạch làm nghiên cứu, và đệ trình lên Viện Y tế Hoa Kỳ
(National Institutes of Health, NIH) hay một cơ quan nào đó của Liên Hiệp Quốc
để xin tài trợ. Soạn một đề án như thế còn giúp cho hai ông có cơ hội
hệ thống hóa kiến thức và nâng cao kỹ năng xử lí thông tin cũng như
trao dồi phương pháp luận. Để tỏ thiện chí, tôi xin hứa là sẽ sẵn
sàng tiếp hai ông một tay trong hai việc làm trên, hoàn toàn không vụ lợi.
Phải thành thật mà nói, tôi rất
thất vọng ở những luận điểm của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn
Minh Quang. Thành ra, đọc xong lá thư dài của hai ông, tôi thấy chưa có bằng
chứng hay lí do gì để tôi phải thay đổi ý kiến trong bài viết trước
của tôi. Thật vậy, nếu phải phát biểu lại, tôi vẫn phải nói: sự
hiện diện của dioxin trong môi trường Việt Nam là một vấn đề y tế
cho người dân Việt ở những vùng bị ảnh hưởng. Và tôi vẫn nói
hai ông chưa có bằng chứng khoa học nào khả tín để làm cơ sở cho những
phát biểu của hai ông trên tờ Orange County Register. Trong bài viết trước
tôi cho rằng phương pháp làm việc của hai ông là phản khoa học. Đọc
xong lá thư này của ông, tôi phải thêm một nhận xét khác: lạm dụng
khoa học.
Chú thích:
[1] Thực
ra, đó là một lá thư mà hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang nhằm
vừa bảo vệ cho quan điểm, vừa nhằm làm sáng tỏ những phát biểu, của
hai ông mà trong một bài viết trước tôi đã bày tỏ ý kiến không đồng
ý với những phát biểu của hai ông về thực phẩm nhập cảng từ Việt
Nam, vấn đề chất màu da cam (Agent Orange, hay AO, hay gọi ngắn gọn là
dioxin), và cách làm nghiên cứu của hai ông.
[2] Thực
ra, viết ra những điều dưới đây trên mặt báo đại chúng là một việc
làm tôi không lấy làm vui, vì nó có thể cho người đọc hiểu lầm là
tôi đang giảng bài; vả lại, những điều này quá căn bản trong khoa học
mà bất cứ một nhà khoa học chân chính nào cũng phải biết. Nói cho đúng
hơn, chúng là những đạo đức, những kiến thức cơ bản mà bất cứ
sinh viên đại học nào cũng phải học qua. Nhưng đọc đi đọc lại lá thư
của hai ông, tôi phải viết.
- Thứ nhất, trước khi phát biểu, nhà khoa học phải
kiểm chứng là dữ kiện của công ty Hatfield thu thập và mức độ ấn định
của California phải dựa trên cùng một phương pháp đo lường, và có độ
chính xác (accuracy) và độ tin cậy (reliability) như nhau thì mới so sánh
được. Nếu hai nơi dùng hai phương pháp đo lường khác nhau, thì một so
sánh giữa hai con số chẳng khác gì so sánh quả cam và quả quít. Độ tin
cậy có ảnh hưởng đến cách so sánh, bởi vì những đo lường trong khoa
học đều chịu ảnh hưởng các yếu tố ngẫu nhiên mà người nghiên cứu
không kiểm soát được. Độ chính xác thay đổi tùy theo máy và phương pháp
đo lường. Trong y học, chẳng hạn như đo mật độ xương, cũng là tính số
lượng gram trên mỗi cm2 (centimetre vuông), nhưng khác phương pháp
đo lường cho ra các mật độ khác nhau, và có thể làm cho bác sĩ nhầm
trong việc chẩn đoán. Thậm chí, với cùng một phương pháp đo lường, máy
của hãng A có thể cho kết quả khác với máy của hãng B. Vấn đề khác
biệt trong đo lường hiện diện hầu như trong mọi ngành nghiên cứu y sinh
học, nhất là các đo lường dựa vào máu và nước tiểu. Trong nhiều trường
hợp, thời gian lấy mẫu (samples) cũng có ảnh hưởng đến việc đo lường.
Không biết, hay không để ý đến, những yếu tố như thế có thể gây
nên nhầm lẫn nghiêm trọng.
- Thứ hai, muốn biết con số 8.900 cao hay thấp, người
ta phải xét đến mức độ tối thiểu và tối đa mà phương pháp đo lường
có thể đo được (lower and upper detection limits). Nếu mức độ đo lường
tối đa là 1.000.000 (một triệu ppb) thì con số 8.900 có thể không phải
là cao, nhưng nếu mức độ đo lường tối đa của máy là 10.000 thì con số
8900 có thể cho là cao. Ngoài ra, muốn đánh giá con số 8.900 hay 89.000 hay
890.000 cao hay thấp, người ta phải phân tích nó với một đối tượng
sinh học (có thể là một chứng bệnh nào đó) để biết mối quan hệ giữa
mức độ và chứng bệnh. Ở đây, nếu những thông tin như thế chưa đầy
đủ thì chúng ta chưa thể kết luận gì từ con số này.
- Thứ ba, trước khi so sánh, người ta phải xem xét
con số 8.900 ppb hay 0,01 ppb được thu thập và xử lí như thế nào. Mức độ
0,01 là một "độ chuẩn" ("reference range"), và để xác định
một cái chuẩn như thế, người ta phải dựa vào nhiều đối tượng được
chọn lựa một cách ngẫu nhiên, và trong nhiều trường hợp, phải khỏe mạnh.
Còn nguồn gốc và đối tượng của con số 8.900 thì chưa rõ ràng: bao
nhiêu người, quá trình bệnh tật, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính,
v.v. là những thông tin cần phải có để có thể đưa ra một kết luận về
nguyên nhân và hậu quả. Nếu những dữ kiện này không rõ ràng thì nhà
khoa học không nên so sánh hay kết luận gì cả. Không thể lấy, chẳng hạn
như, mức độ vitamin D ở Phi châu mà so sánh với mức độ vitamin D trong
người Mỹ da trắng.
- Thứ tư, để so sánh cho có ý nghĩa, người ta phải
xem xét kỹ những con số thống kê xem chúng có cùng đặc tính toán học
hay không. Nếu lấy một con số tối đa để so với một con số trung bình
thì nó cũng chẳng có ý nghĩa gì, nếu không muốn nói là lừa dối. Chẳng
hạn như gần đây giới báo chí loan tin rằng mức độ tích tụ dioxin
trong cư dân Biên Hòa cao hơn mức độ dioxin trong người Hà Nội đến 135
lần (Nguyên văn: "A comparison, pooled sample from 100 residents of Hanoi, where
Agent Orange was not used, measured blood TCDD levels of 2 ppt. TCDD levels of UP TO 271
ppt, a 135-fold increase, were found in Bien Hoa residents.") Tuy nhiên, người ta
đã so sánh mức độ tích tụ tối đa ở Biên Hòa (271 ppt) với mức độ
trung bình ở Hà Nội (2 ppt), và đây là một việc làm không nghiêm túc,
vì cách làm này cũng giống như lấy chiều cao của một người Mỹ cao nhất
nước Mỹ để so với chiều cao trung bình của dân số Việt Nam! Trong trường
hợp này, mức độ ấn định của California là 0,01 là con số trung bình
(mean) hay là tối thiểu (minimum), tối đa (maximum), hay số trung tuyến
(median). Tương tự con số 8.900 mà công ty Hatfield báo cáo là con số gì?
Trung bình, trung tuyến, tối thiểu, hay tối đa?
- Thứ năm, cách nói 8.900 ngàn lần là một cách cường
điệu hóa mà người ta thường hay thấy trong giới truyền thông, giới
chính khách, bởi vì hai ông lấy con số cao nhất để nhấn mạnh, nhưng không
lấy những con số khác trong bảng thống kê. Nó cũng chẳng khác gì người
ta so sánh giữa hai tỉ lệ 0,01 và 0,001, và giữa 10 và 1; mà trong cả hai
trường hợp, con số trước cao hơn con số sau 10 lần, nhưng mức độ khác
biệt thật sự giữa 0,01 và 0,001 là 0,009, và giữa 1 và 10 là 9. Giả dụ
như trong trường hợp giữa 0,01 và 0,001 thì không có ý nghĩa lâm sàng gì
cả, nhưng giữa 1 và 10 thì có ý nghĩa lâm sàng. Tuy nhiên, cách nói
"cao gấp 10 lần" sẽ làm cho người ta chú ý hơn là "mức độ
khác nhau 0,009". Đó là một cách nói cường điệu mang tính cổ điển,
thường được dùng để gây hoang mang cho người dân thường, hay để gây
tiếng vang, hay thậm chí để lừa gạt người không để ý, chứ không thể
nào qua mắt được người có ý thức và suy nghĩ.
[3]
Những sai lầm trong cách tính và nhận định này có thể tóm gọn như sau:
- Thứ nhất, cách tính toán bình quân như thế bề
ngoài có vẻ hấp dẫn, nhưng nó dựa trên một giả định quan trọng: mức
độ dioxin phân phối đều trong tất cả các vùng. Không cần phải dài
dòng lí giải, ai cũng biết giả định này không thể chấp nhận được,
bởi vì số lượng dioxin rải xuống Việt Nam trong thời chiến tranh không
đồng đều giữa các vùng. Có nơi ít và có nơi nhiều. Do đó, mức độ
tích tụ dioxin ở Việt Nam khác nhau tùy theo vùng. Ngay cả ở Biên Hòa, mức
độ dioxin cũng khác nhau từng huyện và từng xã. Do đó, một kiểu tính
toán quân bình như thế là một kiểu đơn giản hoá đến … dã man.
- Thứ hai, nó sai ở cái lối so sánh con voi và con
chuột. Những ai từng học khoa học, kể cả học sinh trung học, cũng biết
rằng so sánh hai tỉ lệ mà mẫu số của chúng không tương đương thì sự
so sánh đó không có ý nghĩa. Hãy lấy một ví dụ đơn giản: nếu trong thời
gian 20 năm số lượng hành khách đi xe lửa tăng từ 50 ngàn đến 200 ngàn,
và số lượng hành khách đi máy bay tăng từ 2 ngàn đến 50 ngàn; nếu
tính theo tỉ lệ thì số lượng hành khách xe lửa tăng 4 lần, nhưng số
lượng hành khách máy bay tăng đến 25 lần; nhưng dù tăng 25 lần, con số
hành khách máy bay 20 năm sau vẫn chỉ bằng con số hành khách xe lửa của
20 năm trước. Như vậy, so sánh 2 lần với 25 lần như thế có công bằng
không? Câu trả lời đã quá hiển nhiên!
- Trong thời gian 1962 đến 1971, quân đội Mỹ đã
rải xuống Việt Nam khoảng 72 triệu lít thuốc khai hoang, trong đó có khoảng
167 kg dioxin, trên một diện tích 1,5 triệu hectares (chứ không phải 2,3 triệu
ha). Còn diện tích mà các vùng như Seveso hay Times Beach bị ảnh hưởng
dioxin chỉ là những số rất nhỏ so với 1,5 triệu ha. Một khi mẫu số
khác nhau cả ngàn lần, và tử số khác nhau vài chục lần, thì mức độ
biến thiên của mẫu (sampling variability) trở nên rất cao, và các phương
pháp so sánh thống kê sẽ chẳng có ý nghĩa gì. (Ở đây, hai ông thậm
chí chưa dùng đến một phương pháp thống kê nào để so sánh!) Ấy thế
mà hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang lại so sánh những tỉ số,
và lặp đi lặp lại những so sánh như thế như là những chân lí!
- Thứ ba, sự nghiêm trọng của vấn đề không hẳn
chỉ tùy thuộc vào số lượng dioxin, mà quan trọng hơn là số người dân
bị ảnh hưởng dioxin. Trong sinh học, mối quan hệ giữa một nhân tố như
dioxin và bệnh tật thường theo hàm số mũ (logistic function), và theo hàm số
này, xác suất bị bệnh tăng dần theo cấp số nhân đến một mức độ
"threshold" nào đó (chẳng hạn như 45 ppt) và sau mức độ đó thì
xác suất trở nên bất biến. Điều này có nghĩa là nếu bệnh nhân có mức
độ 1000 ppt thì xác suất bị bệnh vẫn tương đương với bệnh nhân có
mức độ 50 ppt. Do đó, độ tích tụ cao không phải là một điều kiện cần
và đủ để cho rằng vấn đề đó là lớn. Điều kiện quan trọng hơn là
số người bị nhiễm hay ảnh hưởng. Nếu trong hai xã hội, một nơi có
30% người hút thuốc và một nơi có 5% người hút thuốc, thì nơi nào có
vấn đề lớn hơn? Câu trả lời đã quá rõ ràng! Tương tự, ở Việt
Nam, số người bị nhiễm dioxin trải rộng ra nhiều tỉnh, huyện, và có
thể lên đến hàng triệu hay chục triệu người, chứ không phải chỉ
vài ngàn và vài chục ngàn như ở Seveso hay Times Beach. Vấn đề dioxin ở
Việt Nam là một vấn đề y tế công cộng có tầm vóc lớn.
- Thứ tư, nên nhớ rằng trong số 72 triệu lít chất
màu da cam (Agent Orange) được rải xuống Việt Nam không chỉ chứa dioxin,
mà còn nhiều hóa chất khác. Tuy nhiên, chỉ dioxin thôi đã có khả năng
ảnh hưởng (làm thay đổi) cấu trúc di truyền của con người, và số người
bị nhiễm dioxin ở Việt Nam có thể đã và đang trải dài qua hai hay ba thế
hệ. Vấn đề, do đó, không phải chỉ đơn giản là độ tích tụ dioxin
mà còn ở chỗ ảnh huởng trong các di truyền tố. Chưa ai biết được cấu
trúc di truyền trong các thế hệ này đã thay đổi ra sao. Thành ra, cho rằng
vấn đề dioxin ở Việt Nam không lớn bằng ở Seveso hay Times Beach mà chỉ
dựa trên con số quân bình thì quả là một kết luận hết sức sai lầm
và có thể nói là cực kỳ ngây ngô. Trong một bài viết khác, tôi có viết
rằng theo tiêu chuẩn ở các nước Tây phương, một tình trạng như thế có
thể được xem là khủng hoảng y tế công cộng, tuy nhiên, giới y tế Việt
Nam vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể để giải quyết vấn đề. Nếu
theo lí giải của ông Mai Thanh Truyết thì chính phủ Việt Nam có quyền
làm ngơ trước vấn nạn dioxin!
[4]
Bài báo nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp có tên là
"Paternal concentration of dixin and sex ratio of offspring", công bố trên Tập
san y khoa Lancet, số 355, ra ngày 27 tháng 5, 2000, trang 1858-1863. Bài báo này
có thể tóm lược như sau:
Vào tháng Bảy, năm 1976, một hãng
sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4,5-trichlorophenol (TCP) tại vùng Seveso (Ý) bị
cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin.
Chính quyền địa phương và các nhà chức trách y tế Ý nghi ngờ là dân cư
sống trong vùng có thể bị nhiễm độc chất dioxin. Do đó, kể từ năm
1977, Chính phủ Ý đã thành lập một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học
và bác sĩ chuyên nghiên cứu về tác hại của dioxin trong sức khỏe của
dân cư trong vùng Seveso và phụ cận.
Cho tới năm 1996, các nhà nghiên cứu
này đã thu thập đầy đủ các số liệu lâm sàng và mẩu máu (dùng để
xác định độ tích tựu chất dioxin) của nhiều cư dân; trong đó có 296
bà mẹ và 239 người cha. Trong vòng 20 năm, có 328 em trai và 346 em gái sinh
ra từ 535 cha mẹ này. Tính trung bình, độ tích tụ dioxin trong máu được
ghi nhận là 96,5 ppt trong các người cha và 62.5 ppt trong các bà mẹ. Để tiện
việc so sánh, nhóm nghiên cứu chia các cha mẹ thành hai nhóm: nhóm A gồm
các cha mẹ không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm
nhưng có mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt; và nhóm B gồm các cha mẹ
sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ 16 ppt hay
cao hơn.
Trong các người cha thuộc nhóm A, tỷ
lệ sinh con trai là khoảng 56%; và nhóm B, chỉ 44%. Trong các bà mẹ thuộc
nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và nhóm B, 49%. Tuy nhiên, nếu cả cha và
mẹ bị nhiễm (tức thuộc nhóm B), tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%. Như vậy,
ảnh hưởng của dioxin trong các người cha nghiêm trọng hơn trong các bà mẹ.
Phân tích trong nhóm các người cha
bị nhiễm dioxin cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong máu càng cao càng
có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sinh con trai. Chẳng hạn như trong các ngừơi
cha có mức độ dioxin từ 61 tới 117 ppt, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và
dioxin từ 118 trở lên, tỷ lệ nam giới giảm xuống còn chỉ 40%! Quan trọng
hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng những người cha bị nhiễm
dioxin trong độ tuổi dậy thì có tỷ lệ sinh con trai chỉ khoảng 40%. Điều
này cho thấy ảnh hưởng của dioxin bắt đầu rất sớm và thể kéo dài một
cách vĩnh viễn.
Ngoài khám phá trên đây của các
nhà nghiên cứu Ý, vài cuộc điều tra khoa học trong khoảng mười năm qua
ở Mỹ và Tô Cách Lan (Scotland) cũng đi đến một kết luận tương tự.
Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một khu kỹ nghệ thuộc nước
Scotland (3) được xem là bị ô nhiễm môi trường nhất nhì Aⵠchâu năm
1992, các nhà khoa học cũng ghi nhận tỷ lệ sinh con trai ở vùng này thấp
hơn trung bình. Bốn năm sau đó, một nghiên cứu khác ở tiểu bang Minnesota
(Mỹ), các nhà khoa học Mỹ cũng nhận xét là những người cha hay gần
gũi với các hóa chất diệt cỏ (như công nhân trong hãng thuốc diệt cỏ,
công nhân dùng thuốc diệt cỏ, v.v.) có tỷ lệ sinh con trai thấp hơn trung
bình (4). Có thể nói tất cả những nghiên cứu này cộng với các dữ kiện
của Giáo sư Paolo Mocarelli là những bằng chứng đáng tin cậy cho sự tác
hại của dioxin trong vấn đề làm mất cân bằng tỷ lệ giới tính, nhất
là trong đàn ông.
Cũng cần nói thêm là trên thế giới,
tỷ lệ giới tính tương đối ổn định: cứ 100 trẻ em nữ thì có 106 trẻ
em nam được sinh ra, hay nói theo ngôn ngữ thống kê, tỷ lệ nam giới là
51.4%. Tuy nhiên, ở các nước có nền kỹ nghệ tiên tiến như Mỹ, Gia Nã
Đại, Đan Mạch, Thụy Điển, và Hoà Lan, tỷ lệ sinh con trai đã giảm từ
51.6% trong thập niên 70 còn 51.3% trong thập niên 90. Giới nghiên cứu môi trường
cho rằng vấn đề ô nhiễm ở các nước này là một trong những yếu tố
gây ra sự mất cân bằng trong giới tính. Vì thế, một số nhà nghiên cứu
y học đề nghị lấy tỷ lệ giới tính làm một chỉ tiêu về mức độ
nhiễm độc tử cung, hay một chỉ tiêu về sự bất bình thường trong quá
trình sinh sản.
[5] Trong thư
"không niêm" gửi tôi, hai ông đề là "Tiến sĩ toán học Nguyễn
Văn Tuấn". Xin nói ngay là tôi không thích (thực ra rất ghét thì
đúng hơn) với lối xưng hô theo bằng cấp. Lần sau, xin hai ông đừng để
mấy chữ "sĩ" với "sư" trước tên tôi. Tôi bàn thảo với
hai ông trên tinh thần đồng hương, chứ không dựa trên tinh thần đẳng cấp
khoa học. Tuy nhiên, hai chữ "toán học" có lẽ là một sự cố ý
của hai ông để ngụ ý đánh giá thấp các lập luận của tôi vì, có lẽ
theo hai ông, một người làm về toán không biết về môi trường và sinh học.
Nhưng đó là một cách trình bày không lương thiện trí thức. Đúng là
tôi từng học toán, nhưng hiện nay tôi không làm việc trong toán học.
Ngoài toán ra, tôi cũng có học về y khoa, và luận án tốt nghiệp của
tôi thuộc về ngành nội tiết học (endocrinology), cụ thể là nghiên cứu
di truyền trong xương. Tôi làm việc trong môi trường nghiên cứu y khoa, từ
nghiên cứu "epidemiology" đến nghiên cứu lâm sàng (clinical
research), và những công trình của tôi đều không có gì bí mật cả. Những
ai muốn biết quá trình làm việc của tôi có thể tham khảo trang nhà của
Thư viện Y học của Mỹ (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi)
thì sẽ rõ. Tôi không đi ngoài lĩnh vực mình nghiên cứu về nội tiết học
và loãng xương. Những gì tôi bày tỏ trong bài viết trước và bài viết
này chỉ liên quan đến phương pháp và lập luận khoa học của hai ông.
Khác với hai ông, tôi hoàn toàn có đầy đủ tư cách chuyên môn và thẩm
quyền để bàn những vấn đề này.
Home | Go top page