>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Phản trí thức và lạm dụng khoa học trong so sánh

Nguyễn Văn Tuấn

sunflowers_wave_mw.gif (13479 bytes)

Nếu dùng cách nói của một nhà triết học, các hoạt động khoa học có thể thu gọn vào ba lĩnh vực chính: phân loại, xác định, và so sánh. So sánh, tự nó, là một khoa học, bởi vì nó cũng là một phương pháp hệ thống hóa tri thức. Vì so sánh là một khoa học nên nó đòi hỏi phải có nguyên lí và phương pháp. Vì thế, một so sánh chỉ có ý nghĩa khi nào nó được dựa trên những nguyên lí có nền tảng lí thuyết vững vàng và logic và những phương pháp đúng. Một so sánh sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu một hai khía cạnh này (nguyên lí và phương pháp) sai lầm hay không thích hợp. Thế nhưng, trên mặt báo người ta vẫn đọc thấy những so sánh thiếu công bằng, thậm chí lố bịch. Nếu những việc làm sai trái đó xuất phát từ những nhà báo hay giới truyền thông thì cũng không có gì đáng bàn sâu, song nếu tác giả chúng là những người có học, có huấn luyện về phương pháp khoa học thì đó là điều đáng bàn, vì nó có thể là triệu chứng của một sự phá sản trong khoa học.

Nói đến so sánh là phải đề cập đến khoa học thống kê, bởi vì một phần lớn lí thuyết thống kê đặt trọng tâm vào so sánh giữa các mô hình, giữa các tỉ số, giữa các thông số, v.v. Ngày nay, những số liệu thống kê được lưu truyền trong báo chí hàng ngày, nhiều, và đa dạng đến độ không ai hiểu nổi chúng có nghĩa gì, và cái nào đúng hay cái nào sai nhiều khi chỉ là một võ đoán. Công chúng thờ ơ với khoa học có lẽ sẽ rất ấn tượng với những người nói chuyện và trưng dẫn những con số thống kê, bởi vì họ cho rằng đó là "khoa học." Nhưng một điều chắc chắn là không phải con số thống kê nào cũng nên được chấp nhận một cách dễ dàng. Nhiều khi những kết luận hoàn toàn sai được rút ra từ những dữ kiện được thu thập thiếu cẩn thận và phân tích sai. Ấy thế mà có người vẫn viết sách, viết báo, tạo nên tên tuổi trong công chúng, qua những lạm dụng khoa học, lạm dụng thống kê. Có nhiều người trích một con số nào đó từ báo chí và cho đó là "bằng chứng khoa học", nhưng không màng tự hỏi xem con số đó được thu thập và xử lí trong trường hợp nào, cho mục đích gì, và ở đâu. Có người không ngần ngại và sẵn sàng cung cấp những giải đáp, những câu trả lời êm tai cho những vấn đề chưa ai dám giải quyết. Thật vậy, sự hữu dụng của khoa học thống kê ngày nay đã đôi khi trở thành lạm dụng khoa học thống kê.

Lạm dụng khoa học là một hiện tượng rất phổ biến ngày nay. Nó xuất phát từ cái vị trí mơ hồ của nhà khoa học trong cái thế giới bị thống trị bằng chính trị và kinh tế: họ là những thành viên có ảnh hưởng, nhưng lại không phải là những thành viên "đủ lông đủ cánh", trong trường kinh tế – chính trị. Với cái vị trí đặc biệt này, họ có quyền thế đưa ra một sự yểm trợ mang tính biểu trưng cho giới làm chính trị, một điều mà giới chính trị rất cần trong việc vận động quần chúng. Điều này có nghĩa là người làm khoa học có khi phải đóng vai một gã Chí Phèo, sẵn sàng ném liệng chữ nghĩa và những con số vào các trang báo, vào không gian âm thanh, mà không cần biết chúng có tác dụng hay tác hại ra sao.

Vả lại, trong một xã hội bị chi phối bằng những nỗi lo ngại về sự tẻ nhạt, tình trạng bấp bênh, thiếu tự tin, người ta phải, bằng mọi giá, tìm đến giải trí, và khoa học trở thành một đề tài giải trí. Giới truyền thông biết được cái tâm lý này nên họ cố tìm mọi cách đưa các đề mục liên quan đến khoa học thành những câu chuyện giật gân để hấp dẫn người nghe hay người đọc. Mặt khác, khi đến với giới truyền thông, nhà khoa học rất sợ bị chê là nhạt nhẽo, nên họ phải cố gắng hướng đến công chúng với những loại tin mang cảm tính mạnh. Những thông tin giật gân hấp dẫn chú ý, nhưng đồng thời cũng làm trệch hướng, giống như một tay ảo thuật với cái nguyên lí căn bản là "điệu hổ ly sơn". Bởi vì họ nhìn khoa học như là một trò chơi có mục đích giải trí là chính, nên họ tìm cách, bằng mọi giá, tránh xa những vấn đề mang tính hàn lâm phức tạp mà họ gọi là những "vũng lầy"; họ không ngần ngại đơn giản hóa một vấn đề phức tạp thành những giá trị 0/1, có/không, trắng/đen, bạn/thù, v.v. Hậu quả quan trọng của sự đơn giản hóa vấn đề là nó làm cho chúng ta trở thành nô lệ với sự tầm thường, với những khuôn sáo đã có sẵn. Triết gia Theodor Adorno, trong những năm cuối đời, hay phê phán một cách gây gắt những ngôn từ mà ông gọi là "ngôn từ nhai" (masticated language) là kẻ thù của trí tuệ. Ông viết: "Chỉ có những gì người ta không có nhu cầu để hiểu ban đầu, người ta cho đó là có thể hiểu."

Nhưng điều đáng buồn là sự lạm dụng khoa học và con số như thế có xu hướng càng ngày càng gia tăng trong cộng đồng người Việt. Hãy lấy bức thư "không niêm" của ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang gửi người viết bài này được lưu truyền trên internet [1] làm một ví dụ về trường hợp lạm dụng so sánh và tác hại của sự đơn giản hóa. Trong thư, hai tác giả trích dẫn tài liệu của Công ty Hatfield Consultants (Canada) để cho thấy mức độ tích tụ của p,p’-DDE trong vùng "A So" ở Việt Nam (8.900 ppb) cao hơn mức độ cho phép ở California (0,01 ppb), mà theo tính toán của hai ông là cao đến 890 ngàn lần (8.900 / 0,01). Con số này được hai ông tuyên bố trên Nhật báo Orange County Register hôm 3 Tháng Một, 2002, và đã tạo nên nhiều quan tâm trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhưng người ta có lí do để hỏi có phải đó là sự thật? Trả lời câu hỏi đó không dễ dàng chút nào, vì nó đòi hỏi một sự cân nhắc thận trọng về phương pháp nghiên cứu (như đo lường, lấy mẫu, phân tích, v.v.). Thực ra, cái mà người ta có thể thấy rõ, cách so sánh này là một nhầm lẫn mang tính cổ điển trong khoa học, và thể hiện một sự thiếu thận trọng trong nghiên cứu [2]. Nó còn là một ví dụ điển hình về vấn đề lạm dụng danh nghĩa khoa học và con số để gây hoang mang trong công chúng một cách nguy hiểm.

Sự hiện diện của dioxin trong môi trường Việt Nam có phải là một vấn đề lớn hay không? Tôi cho là lớn. Và tôi đã trình bày vấn đề này trong một bài viết khác. Người Mỹ, người Úc đã bỏ ra hàng trăm triệu đô-la để nghiên cứu vấn đề này hàng ba mươi năm nay. Trong một báo cáo khoa học mật sắp được đệ trình lên Quốc hội Mỹ (nhưng đã bị tiết lộ ra ngoài báo chí gần đây), các nhà nghiên cứu Mỹ đề nghị Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency, EPA) phân loại lại dioxin là độc chất số một, tức độc hại nhất trong các hóa chất. Tưởng cần nhắc lại là trước đây, EPA chỉ phân loại dioxin như là một chất "có thể gây ra ung thư". Như vậy, qua bản tường trình này và các nghiên cứu trong vài thập niên qua, dioxin đã từ từ lộ nguyên hình là một độc chất nguy hiểm nhất do con người tạo ra và biết đến. Tháng Ba sắp tới đây, một cuộc hội thảo khoa học Mỹ – Việt sẽ diễn ra ở Hà Nội để bàn về ảnh hưởng của dioxin trong môi trường Việt Nam và phương pháp nghiên cứu. Nếu vấn đề nhỏ thì chắc chắn chính phủ Mỹ và Úc không tiêu ra nhiều tiền như thế để nghiên cứu. Sự tham gia của các nhà khoa học trong Viện Nghiên cứu Môi trường của Mỹ trong việc nghiên cứu dioxin ở Việt Nam là một ví dụ khác để cho thấy vấn đề không phải nhỏ.

Nhưng hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang thì quan điểm ngược lại. Thực ra, bất đồng quan điểm giữa chúng tôi là chuyện bình thường, nhưng vấn đề đáng nói ở đây là cái luận điểm. Để bảo vệ lập luận của mình rằng dioxin không phải là vấn đề lớn ở Việt Nam, hai tác giả tính toán lượng dioxin trên mỗi m2 (mét vuông) ở Việt Nam, ở Seveso (Ý) và ở Times Beach (MI). Qua mật độ này, tác giả cho rằng lượng tích tụ (concentration) dioxin ở Seveso cao hơn ở Việt Nam đến 900 lần, và lượng tích tụ dioxin ở Times Beach cao hơn ở Việt Nam đến 20 lần. Một lần nữa, ở đây, vấn đề phương pháp đo lường (assay methodology) giữa ba vùng cần phải đặt ra như một nghi vấn. Tất nhiên, vấn đề chọn mẫu và qui mô nghiên cứu cũng không được đỏ qua khi nhận định và so sánh những con số này. Nhưng ngoài vấn đề đo lường và qui mô chọn mẫu, và hãy bỏ qua cách cường điệu hóa bằng những số lần (900 và 20), ai có chút suy nghĩ cũng thấy đây là một cách so sánh sai lầm. Nó sai ở cái giả định (assumption) thống kê đằng sau cách tính, và cái mẫu số của những tỉ số này, và từ đó sai về cách đặt vấn đề [3].

Những con số thống kê chỉ có nghĩa khi chúng được đặt vào đúng bối cảnh của sự kiện và phương pháp đo lường. Còn nếu dùng chúng như những con số ngẫu nhiên thì sẽ phạm vào lời cáo buộc của Benjamin Disrael (một chính khách Anh), "lies, damned lies, and statistics" (tạm dịch: "láo, quá láo, và thống kê"). Do đó, một trong những kỹ năng của người làm khoa học là phải biết tiếp nhận và xử lí thông tin. Tuy nhiên, ở hai tác giả, cái kỹ năng này trở thành một vấn đề. Trong thư, hai ông đề cập đến cuộc nghiên cứu của Giáo sư Mocarelli và đồng nghiệp (Ý) về ảnh hưởng của dioxin trong tỉ lệ giới tính. Trong thư, hai ông viết: "[…] Mặc dù nghiên cứu của Bác sĩ Mocarelli rất công phu, các kết luận vừa kể chắc chắn sẽ gây nhiều tranh luận vì nó không ăn khớp với các dữ kiện được dùng cho cuộc nghiên cứu và trình bày trong bài viết của ông trên tạp chí The Lancet. Một trong những dữ kiện có thể làm sụp đổ giá trị của cuộc nghiên cứu là dữ kiện trong Bảng 2 được tóm tắt như sau:

Nồng độ Dioxin của Cha (ppt)

Tỉ lệ Trai Gái

15,1-31,3

0,438

31,9-60,7

0,506

61,4-117,0

0,469

[hết trích dẫn.]

"Sụp đổ giá trị nghiên cứu"? Có lẽ đó là một quyết đoán quá vội vàng qua một nhận xét thiếu cân nhắc. Sự thực là hai ông chỉ trích có 50% số liệu trong bảng thống kê của Giáo sư Morcarelli. Hai ông đã bỏ qua những dữ kiện liên quan đến những người cha không bị nhiễm và những người bị nhiễm ở mức độ cao hơn 117 ppt. Trong khoa học, hành động này được xem là một sự thiếu thành thật tri thức (intellectual dishonesty). Tôi xin trình bày lại [bằng tiếng Việt] nguyên bảng thống kê được đăng trong bài báo của Giáo sư Morcarelli như sau:

Nồng độ dioxin trong               Tỉ lệ
trong những người cha              trai:gái
Không bị nhiễm--------------->0,557
Nhiễm từ 15,1 – 31,3---------->0,438
Nhiễm từ 31,9 – 60,7---------->0,506
Nhiễm từ 61,4 – 117,0--------->0,469
Nhiễm từ 118,0 – 264,0-------->0,400
Nhiễm từ 281,0 – 26400,0----->0,383

Không cần phải lí giải dài dòng hay phân tích thống kê, ai cũng ghi nhận được những dữ kiện trên đây cho thấy tỉ lệ trai:gái giảm một cách đáng kể và rõ ràng, nhất là trong những người cha với độ tích tụ (nhiễm) TCDD cao hơn 61,4 ppt. Ấy thế mà hai ông viết: "Dựa theo dữ kiện trên thì nồng độ Dioxin trong máu của người cha không phải là một yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trai gái, vì tỉ lệ trai gái gia tăng khi nồng độ Dioxin trong máu của của người cha gia tăng"! Không ảnh hưởng? Thế thì con số "probability value" nhỏ hơn 0.001 (dùng cách tính "Poisson regression analysis") có nghĩa là gì hở hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang? Thật là khó hiểu hai ông đọc và tiếp thu những dữ kiện khoa học như thế nào mà lại đi đến một nhận xét hấp tấp trên.

"Chắc chắn sẽ gây nhiều tranh luận" ? Không biết hai ông có theo dõi các nghiên cứu liên quan đến dioxin thường xuyên hay không, nhưng riêng người viết bài này thì theo dõi hầu như hàng tuần, và trong hai năm qua (kể từ khi công trình này được công bố), chưa có một ai chất vấn hay đặt vấn đề với những con số trên đây của Giáo sư Morcarelli. Ngược lại, còn có vài nhà nghiên cứu uy tín trên thế giới viết xã luận đánh giá cao nghiên cứu này như là một trong những nghiên cứu quan trọng về dioxin. Mà cũng đúng thôi: đây là một công trình nghiên cứu được kéo dài hơn 20 năm, với sự cộng tác của hàng trăm chuyên viên trên thế giới. Phải là người có kinh nghiệm thực tế trong nghiên cứu khoa học mới nhận thức và biết giá trị của một cuộc nghiên cứu qui mô như thế.

Điều làm tôi càng ngạc nhiên là hai ông còn trích dẫn một bảng thống kê khác trong bài báo, và đưa ra nhận xét rằng: "Tài liệu hộ tịch trong vùng A được trình bày trong Bảng 6 [trình bày dưới đây] cũng không cho thấy ảnh hưởng của Dioxin trên tỉ lệ trai gái, trước cũng như sau vụ nổ ở nhà máy ICMESA năm 1976."

Năm

Tỉ lệ trai:gái

1966 đến 1972

0,524

1973 đến 1976

0,341*

1977 đến 1984

0,414+

1985 đến 1990

0,552

1991 đến 1996

0,471

*p = 0.001, +p = 0.03

Đây cũng là một nhận xét hết sức ngớ ngẩn. Thời gian từ 1966 đến 1972 là thời gian mà dân chúng trong vùng A chưa bị nhiễm dioxin (xin xem chú thích [4] dưới đây)! Trong bài báo, các nhà nghiên cứu đã viết rất rõ ràng: "After a ‘normal’ sex-ratio period (1966 – 1972), we found a substantially clear increase in the number of females born from 1973 through to 1976. This trend in the A zone continued in the period 1977 through to 1984 for those parents who had lived for some period of time in the A zone between 1971 and 1976." (Tạm dịch: Sau một giai đoạn ‘bình thường’ về tỉ lệ giới tính (từ năm 1966 đến 1972), chúng tôi nhận thấy số trẻ em gái được sinh ra trong quãng thời gian từ 1977 đến 1976 gia tăng một cách đáng kể và rõ ràng. Chiều hướng gia tăng này trong vùng A còn tiếp tục trong quãng thời gian từ 1977 đến 1984 trong những cặp cha mẹ đã từng sống một thời gian trong vùng A vào thời kỳ 1971 đến 1976.) Trong bài báo, họ còn dùng thống kê học để chứng minh cho phát biểu trên (xin xem các con số xác suất p phía dưới bảng thống kê trên mà tôi trích dẫn). Cần nói thêm, những con số trong bảng thống kê này chỉ thu thập trong cho vùng A (vùng bị nhiễm dioxin nặng nhất), chứ không phải tất cả các vùng mà bảng thống kê số 2 đề cập đến. Nói một cách khác cho rõ ràng hơn, hai bảng thống kê này dựa vào hai mẫu số khác nhau, và dùng cho hai mục đích khác nhau. Do đó, cách chấp nối hai bảng thống kê để cho ra một nhận xét (như hai ông Truyết và Quang làm) là rất sai lầm.

Sự sai lầm về những nhận xét liên quan đến dioxin còn có nguồn gốc từ sự thiếu quán triệt khái niệm "bằng chứng khoa học" (scientific evidence) của hai ông, mà nó thể hiện cụ thể qua cách diễn dịch [sai văn phạm tiếng Anh] của hai ông về câu nói "Bằng chứng chưa đầy đủ không có nghĩa rằng không có bằng chứng" của tôi. Nếu một nghiên cứu cho ra kết quả rằng dioxin không có ảnh hưởng một cách xác định đến dị thai, thì điều đó không có nghĩa là mối liên hệ giữa dioxin và dị thai là không hiện hữu, nhưng chỉ có nghĩa rằng dữ kiện của nghiên cứu đó chưa nhất quán với cái giả thiết dioxin gây ra dị thai. Đó là vấn đề bằng chứng chưa đầy đủ, chứ không phải là không có bằng chứng. Còn nhận xét về bằng chứng trong khoa học và bằng chứng trong pháp lí ở Mỹ của hai ông nó quá lạc đề.

Với sự tiếp thu thông tin lạ lùng và cách chất vấn sai lạc như thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp không màng trả lời thư của ông Mai Thanh Truyết. Đó là chưa nói đến cách hành văn thiếu "lịch sự khoa học" trong lá thư của ông Truyết gửi cho Giáo sư Mocarelli. Người ta chỉ trả lời khi một câu hỏi có ý nghĩa và nghiêm túc, chứ không ai lại tốn thì giờ cho những câu hỏi có tính cách thách thức mà lại vô ý nghĩa.

Ngoài ra, tôi có cảm tưởng hai ông bị ám ảnh bởi một điều gì đó (chính trị?) khi hai ông tỏ vẻ hoài nghi kết quả nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli, và chất vấn tại sao Giáo sư Arnold Schecter không viết về DDT mà chỉ chú tâm đến dioxin. Về ông Schecter, lí do rất đơn giản, theo tôi, là vì ông có sở trường nghiên cứu về dioxin, chứ không phải DDT. Trong các diễn đàn khoa học, nhà nghiên cứu không khi nào đi ra khỏi sở trường và chủ đề nghiên cứu của mình. Chẳng hạn như người viết bài này không làm trong toán học hay là nhà toán học (như hai ông phong cho [5]) nên tôi không có thẩm quyền bàn về toán học. Nếu thật sự hai ông tin rằng kết luận của Giáo sư Mocarelli sai, tôi đề nghị hai ông nên liên lạc với ban biên tập của Tập san [chứ không phải "tạp chí"] Lancet để họ và đồng nghiệp họ thẩm định lại. Một tạp chí Việt ngữ như Tạp chí Đi Tới không phải là một diễn đàn khoa học, do đó, lên tiếng đối thoại với Giáo sư Mocarelli trong Đi Tới là một việc làm … kỳ cục. Còn chuyện cá nhân tôi duyệt bài của Tập san Lancet (như hai ông đề cập đến trong thư) hoàn toàn không dính dáng gì đến bài báo của Giáo sư Mocarelli; do đó, tôi thấy việc đề cập đến vai trò của tôi trong Tập san này là một điều không cần thiết và không thích hợp.

Thật là khó hiểu khi hai người đã từng được huấn luyện về phương pháp khoa học trong đại học, có người có học vị tiến sĩ, mà lại vấp phải những lầm lẫn khoa học mang tính căn bản và đáng tiếc như thế. Tuy nhiên, những lầm lẫn này hình như xuất phát từ quan điểm làm khoa học của hai ông, đó là – theo chữ của hai ông – "[…] càng đơn giản càng tốt" (the simpler, the better) ; bởi vì, nếu không ai hiểu và biết kết quả việc nghiên cứu thì việc nghiên cứu của chúng tôi cùng lắm cũng chỉ có giá trị loanh quanh trong khuôn viên đại học hoặc trên vài tạp chí chuyên môn nặng phần lý thuyết mà thôi." Có vài điều đáng nói ở đây. Nếu những nghiên cứu y sinh học không được công bố trên các tập san khoa học để cho cộng đồng khoa học thẩm định thì làm sao người ta biết được những nghiên cứu như thế đã được tiến hành đúng theo các tiêu chuẩn khoa học, và nếu những chi tiết như thế chưa rõ ràng thì làm sao người ta có thể tin vào kết quả. Hai ông cho rằng hai ông đã "nghiên cứu", nhưng hai ông chưa hề công bố những kết quả đó trước đồng nghiệp thì làm sao công chúng có thể tin được những gì hai ông phát biểu. Trong khoa học, người ta có câu "Garbage in, garbage out," nếu phương pháp nghiên cứu hư hỏng, hay sai lầm, thì kết quả của những nghiên cứu như thế chỉ là rác rưởi mà thôi.

Câu phát biểu trên còn biểu hiện một tinh thần phản khoa học. Tiến bộ trong khoa học dựa vào thông tin. Những tập san chuyên môn là phương tiện giao chuyển thông tin không thể thiếu được trong hoạt động khoa học. Những tập san chuyên môn không chỉ có "giá trị loanh quanh trong khuôn viên đại học" mà là những tri thức của nhân loại, của văn minh. Không có những tập san như thế, thì chúng ta sẽ không có kiến thức để bàn thảo như ngày hôm nay. Công bố kết quả nghiên cứu trong các tập san chuyên môn còn là nghĩa vụ của người làm khoa học, bởi vì phần lớn những nghiên cứu đều do chính phủ tài trợ (tức là dùng tiền đóng thuế của dân chúng), do đó, nhà khoa học có nhiệm vụ phải báo cáo lại cho người dân mình đã làm gì và đạt được kết quả gì. Một nghĩa vụ khác của việc công bố kết quả trên các tạp san khoa học là nó tạo một nhịp cầu giữa những nhà nghiên cứu, vì những kết quả như thế, dù tích cực hay tiêu cực, là những thông tin cần thiết để các nhà khoa học khác quyết định có nên tiến hành thêm nghiên cứu hay không. Cố nhiên, những thông tin trong các tập san như thế không phải nhắm vào người không chuyên môn. Người làm hóa học chưa chắc hiểu được một bài báo y học, và ngược lại, một người làm trong y học chưa chắc hiểu một bài báo hóa học. Nhưng đó là một sự phân công tự nhiên trong khoa học.

Tuy nhiên, điều làm tôi rất kinh tởm và sửng sốt cho câu phát biểu trên là hai ông tỏ vẻ ghét lí thuyết. Thù-ghét-lí-thuyết thường là thái độ của những người làm chính trị mị dân, chứ không phải thái độ của nhà khoa học. Tôi cho rằng đó còn là một thái độ phản trí thức, bởi vì người trí thức (mà nhà khoa học là một thành phần), ngoài phần thực tiễn, còn phải luôn luôn dựa vào lí thuyết. Lí thuyết dạy cho nhà khoa học đặt câu hỏi, tìm đối tượng nghiên cứu, vạch ra phương pháp nghiên cứu, và truy tầm tri thức mới. Không có lí thuyết thì không có nghiên cứu. Nghiên cứu mà không có lí thuyết thì kết quả nghiên cứu sẽ mang tính ngẫu nhiên, và trở thành vô nghĩa, vô dụng.

Cái quan điểm đơn giản hóa vấn đề của hai ông rất nguy hiểm. Tôi không dấu được một cái lắc đầu khi thấy hai ông làm những con toán theo qui tắc tam suất ("Nếu em ở thung lũng A Lưới và bú 500 ml sữa mẹ mỗi ngày, em sẽ tiếp nhận 175.000 pg nếu em ở Hồng Lâm, 265.000 pg nếu em ở A Sô, 600.000 pg nếu em ở Hồng Thương, và 1.100.000 pg nếu em ở Hồng Vân. Như vậy, các em phải tiếp nhận từ 290 đến 1.830 lần nhiều hơn số lượng tiếp nhận cho phép"). Thật là một cách tính toán đơn giản ở mức độ thấp nhất mà chỉ có học sinh tiểu học mới dám làm (bởi vì học sinh đại học còn biết cân nhắc với thực tế). Tuy nhiên, điều này thì có thể châm chước được vì có lẽ hai ông không làm việc trong lâm sàng y khoa và sinh học, nên không biết rằng không có một mối liên hệ nào trong sinh học tuân theo một phương trình đường thẳng. Xin lấy một ví dụ điển hình: nếu một nghiên cứu nào đó cho thấy mỗi điếu thuốc mà người ta hút sẽ rút ngắn tuổi thọ người đó 5 phút; điều này không có nghĩa là bất cứ ai hút một triệu điếu thuốc đều bị giảm 694 ngày thọ, bởi vì mối liên hệ không phải xác định. Một ví dụ khác: nếu một người phát biểu rằng "Thuốc A làm giảm tỉ lệ gãy xương 50%", thì điều này không có nghĩa là một bệnh nhân X nào đó dùng thuốc A sẽ có xác suất giảm gãy xương 50% (bởi vì một suy đoán như thế hoàn toàn vô nghĩa cho cá nhân người bệnh), và cũng không có nghĩa là người bệnh nào cũng kinh nghiệm một hiệu quả như nhau. Cần phải hiểu rằng con số trung bình nó không đại diện cho một cá nhân nào. Ứng dụng con số trung bình cho cá nhân là một việc làm cực kỳ nguy hiểm, bởi vì cái xác suất mà kinh nghiệm của một cá nhân tuân theo qui luật bình quân cực kỳ thấp. Suy luận cần phải có kiến thức và kinh nghiệm thực tế, chứ không phải chỉ dựa vào những con số thống kê vô hồn. Đó là chưa nói đến hàng vạn yếu tố khác mà toán học chưa phát triển để có thể giải thích các hiện tượng một cách đầy đủ. Không một nhà nghiên cứu có ý thức nào lại ngớ ngẩn đi mô hình và giải thích những mối liên hệ sinh học bằng những phương trình bậc nhất như thế.

Có lẽ mang tâm trạng thù ghét lí thuyết, hai ông tỏ ra rất dị ứng trước sự phức tạp, và thay vào đó là chỉ muốn tìm một câu trả lời đơn giản cho một vấn đề rắc rối. Vấn đề môi sinh ở Việt Nam rất rắc rối, vì nó liên quan đến quyền lợi và nhận thức của người dân, và những yếu tố mà chúng không thể nào đơn giản hóa bằng những con số thống kê. Không phải vùng nào trong nước Việt Nam cũng đều được đơn giản hóa thành một vài con số trung bình. Những số liệu về thực phẩm mà hai trích dẫn từ một báo cáo của Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang ở Hà Nội chỉ là những con số sơ bộ, bởi vì nó được thu thập từ một "Pre-case study" [như hai ông viết], tức là một nghiên cứu sơ khởi, chứ không phải là một nghiên cứu chính thức. Một người có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học phải biết một điều sơ đẳng là những dữ kiện thu thập từ những nghiên cứu sơ khởi như thế không có giá trị khoa học gì đáng kể cả, vì mục đích của những nghiên cứu như thế là nhằm thu thập đủ số liệu để tiến hành một nghiên cứu qui mô và có hệ thống hơn. Những số liệu như thế không cho phép hai ông và ông Nguyễn Đình Quang kết luận gì về mức độ và tình trạng nhiễm độc thực phẩm ở Việt Nam. Tương tự, không thể lấy một vài con số loại "mì ăn liền" từ những mẩu tin trong các tờ báo ở Việt Nam hay hải ngoại, hay những tin đồn ra làm dữ kiện để phán đoán một vấn đề phức tạp.

Đơn giản hóa câu trả lời cho một vấn đề phức tạp là một hành động dã man với tri thức, phản trí thức, và đi ngược lại với lí tưởng của khoa học. Muốn có một cái nhìn chính xác về thực trạng môi trường ở Việt Nam cần phải có nhiều nghiên cứu có hệ thống với sự hợp tác của chuyên viên từ nhiều ngành khác nhau (môi trường học, sinh học, hóa học, thống kê học, y học, dân số học, v.v.). Muốn lấy mẫu cho có ý nghĩa thì phải cần đến cố vấn của các nhà thống kê và dân số học; muốn đo lường hay phân tích chính xác thì cần đến sự giúp đỡ của các nhà hóa học; muốn biết những tác hại của hóa chất đến sức khỏe thì các y sĩ là người cần được tham vấn; muốn đặt một câu hỏi nghiên cứu cho có ý nghĩa thì cần phải hỏi các nhà môi trường học, v.v.. Một vài cá nhân, dù tài giỏi đến đâu đi nữa, nếu chỉ loay hoay trong phòng thí nghiệm, hay ngồi trước máy computer để truy tìm những bản tin rời rạc trên internet, để rồi sản xuất ra những phân tích kiểu du kích sẽ không bao giờ cho được một kết quả có ý nghĩa, mà trái lại, còn làm cho vấn đề thêm rối loạn một cách không cần thiết.

Người ta thường nói nhầm lẫn là thường tình vì "nhân vô thập toàn", nhưng kiên trì với nhầm lẫn là ma quái, là nguy hiểm. Để khỏi phải mang tiếng ma quái, và tránh mất công bàn thảo theo kiểu "khoa học sofa," tôi có hai đề nghị chân tình và cụ thể như sau. Thứ nhất, hai ông Mai Thanh Truyết nên công bố những nghiên cứu liên quan đến môi trường Việt Nam mà hai ông nói là đã từng làm, kể cả phương pháp làm và kết quả, trong các diễn đàn khoa học có "peer review", tức là được duyệt xét công bằng và khoa học bởi đồng nghiệp. (Cố nhiên, ở đây tôi không nói đến những "nghiên cứu" dựa vào các bản tin báo chí.) Thứ hai, tôi rất thông cảm cho hai ông là không có ngân sách để làm những nghiên cứu nghiêm túc (như nói trong thư), do đó, tôi đề nghị hai ông nên soạn thảo một đề án nghiêm chỉnh, nói rõ mục tiêu, phương pháp, ý nghĩa, tác dụng, và kế hoạch làm nghiên cứu, và đệ trình lên Viện Y tế Hoa Kỳ (National Institutes of Health, NIH) hay một cơ quan nào đó của Liên Hiệp Quốc để xin tài trợ. Soạn một đề án như thế còn giúp cho hai ông có cơ hội hệ thống hóa kiến thức và nâng cao kỹ năng xử lí thông tin cũng như trao dồi phương pháp luận. Để tỏ thiện chí, tôi xin hứa là sẽ sẵn sàng tiếp hai ông một tay trong hai việc làm trên, hoàn toàn không vụ lợi.

Phải thành thật mà nói, tôi rất thất vọng ở những luận điểm của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang. Thành ra, đọc xong lá thư dài của hai ông, tôi thấy chưa có bằng chứng hay lí do gì để tôi phải thay đổi ý kiến trong bài viết trước của tôi. Thật vậy, nếu phải phát biểu lại, tôi vẫn phải nói: sự hiện diện của dioxin trong môi trường Việt Nam là một vấn đề y tế cho người dân Việt ở những vùng bị ảnh hưởng. Và tôi vẫn nói hai ông chưa có bằng chứng khoa học nào khả tín để làm cơ sở cho những phát biểu của hai ông trên tờ Orange County Register. Trong bài viết trước tôi cho rằng phương pháp làm việc của hai ông là phản khoa học. Đọc xong lá thư này của ông, tôi phải thêm một nhận xét khác: lạm dụng khoa học.

Chú thích:

[1] Thực ra, đó là một lá thư mà hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang nhằm vừa bảo vệ cho quan điểm, vừa nhằm làm sáng tỏ những phát biểu, của hai ông mà trong một bài viết trước tôi đã bày tỏ ý kiến không đồng ý với những phát biểu của hai ông về thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam, vấn đề chất màu da cam (Agent Orange, hay AO, hay gọi ngắn gọn là dioxin), và cách làm nghiên cứu của hai ông.

[2] Thực ra, viết ra những điều dưới đây trên mặt báo đại chúng là một việc làm tôi không lấy làm vui, vì nó có thể cho người đọc hiểu lầm là tôi đang giảng bài; vả lại, những điều này quá căn bản trong khoa học mà bất cứ một nhà khoa học chân chính nào cũng phải biết. Nói cho đúng hơn, chúng là những đạo đức, những kiến thức cơ bản mà bất cứ sinh viên đại học nào cũng phải học qua. Nhưng đọc đi đọc lại lá thư của hai ông, tôi phải viết.

  • Thứ nhất, trước khi phát biểu, nhà khoa học phải kiểm chứng là dữ kiện của công ty Hatfield thu thập và mức độ ấn định của California phải dựa trên cùng một phương pháp đo lường, và có độ chính xác (accuracy) và độ tin cậy (reliability) như nhau thì mới so sánh được. Nếu hai nơi dùng hai phương pháp đo lường khác nhau, thì một so sánh giữa hai con số chẳng khác gì so sánh quả cam và quả quít. Độ tin cậy có ảnh hưởng đến cách so sánh, bởi vì những đo lường trong khoa học đều chịu ảnh hưởng các yếu tố ngẫu nhiên mà người nghiên cứu không kiểm soát được. Độ chính xác thay đổi tùy theo máy và phương pháp đo lường. Trong y học, chẳng hạn như đo mật độ xương, cũng là tính số lượng gram trên mỗi cm2 (centimetre vuông), nhưng khác phương pháp đo lường cho ra các mật độ khác nhau, và có thể làm cho bác sĩ nhầm trong việc chẩn đoán. Thậm chí, với cùng một phương pháp đo lường, máy của hãng A có thể cho kết quả khác với máy của hãng B. Vấn đề khác biệt trong đo lường hiện diện hầu như trong mọi ngành nghiên cứu y sinh học, nhất là các đo lường dựa vào máu và nước tiểu. Trong nhiều trường hợp, thời gian lấy mẫu (samples) cũng có ảnh hưởng đến việc đo lường. Không biết, hay không để ý đến, những yếu tố như thế có thể gây nên nhầm lẫn nghiêm trọng.
  • Thứ hai, muốn biết con số 8.900 cao hay thấp, người ta phải xét đến mức độ tối thiểu và tối đa mà phương pháp đo lường có thể đo được (lower and upper detection limits). Nếu mức độ đo lường tối đa là 1.000.000 (một triệu ppb) thì con số 8.900 có thể không phải là cao, nhưng nếu mức độ đo lường tối đa của máy là 10.000 thì con số 8900 có thể cho là cao. Ngoài ra, muốn đánh giá con số 8.900 hay 89.000 hay 890.000 cao hay thấp, người ta phải phân tích nó với một đối tượng sinh học (có thể là một chứng bệnh nào đó) để biết mối quan hệ giữa mức độ và chứng bệnh. Ở đây, nếu những thông tin như thế chưa đầy đủ thì chúng ta chưa thể kết luận gì từ con số này.
  • Thứ ba, trước khi so sánh, người ta phải xem xét con số 8.900 ppb hay 0,01 ppb được thu thập và xử lí như thế nào. Mức độ 0,01 là một "độ chuẩn" ("reference range"), và để xác định một cái chuẩn như thế, người ta phải dựa vào nhiều đối tượng được chọn lựa một cách ngẫu nhiên, và trong nhiều trường hợp, phải khỏe mạnh. Còn nguồn gốc và đối tượng của con số 8.900 thì chưa rõ ràng: bao nhiêu người, quá trình bệnh tật, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, v.v. là những thông tin cần phải có để có thể đưa ra một kết luận về nguyên nhân và hậu quả. Nếu những dữ kiện này không rõ ràng thì nhà khoa học không nên so sánh hay kết luận gì cả. Không thể lấy, chẳng hạn như, mức độ vitamin D ở Phi châu mà so sánh với mức độ vitamin D trong người Mỹ da trắng.
  • Thứ tư, để so sánh cho có ý nghĩa, người ta phải xem xét kỹ những con số thống kê xem chúng có cùng đặc tính toán học hay không. Nếu lấy một con số tối đa để so với một con số trung bình thì nó cũng chẳng có ý nghĩa gì, nếu không muốn nói là lừa dối. Chẳng hạn như gần đây giới báo chí loan tin rằng mức độ tích tụ dioxin trong cư dân Biên Hòa cao hơn mức độ dioxin trong người Hà Nội đến 135 lần (Nguyên văn: "A comparison, pooled sample from 100 residents of Hanoi, where Agent Orange was not used, measured blood TCDD levels of 2 ppt. TCDD levels of UP TO 271 ppt, a 135-fold increase, were found in Bien Hoa residents.") Tuy nhiên, người ta đã so sánh mức độ tích tụ tối đa ở Biên Hòa (271 ppt) với mức độ trung bình ở Hà Nội (2 ppt), và đây là một việc làm không nghiêm túc, vì cách làm này cũng giống như lấy chiều cao của một người Mỹ cao nhất nước Mỹ để so với chiều cao trung bình của dân số Việt Nam! Trong trường hợp này, mức độ ấn định của California là 0,01 là con số trung bình (mean) hay là tối thiểu (minimum), tối đa (maximum), hay số trung tuyến (median). Tương tự con số 8.900 mà công ty Hatfield báo cáo là con số gì? Trung bình, trung tuyến, tối thiểu, hay tối đa?
  • Thứ năm, cách nói 8.900 ngàn lần là một cách cường điệu hóa mà người ta thường hay thấy trong giới truyền thông, giới chính khách, bởi vì hai ông lấy con số cao nhất để nhấn mạnh, nhưng không lấy những con số khác trong bảng thống kê. Nó cũng chẳng khác gì người ta so sánh giữa hai tỉ lệ 0,01 và 0,001, và giữa 10 và 1; mà trong cả hai trường hợp, con số trước cao hơn con số sau 10 lần, nhưng mức độ khác biệt thật sự giữa 0,01 và 0,001 là 0,009, và giữa 1 và 10 là 9. Giả dụ như trong trường hợp giữa 0,01 và 0,001 thì không có ý nghĩa lâm sàng gì cả, nhưng giữa 1 và 10 thì có ý nghĩa lâm sàng. Tuy nhiên, cách nói "cao gấp 10 lần" sẽ làm cho người ta chú ý hơn là "mức độ khác nhau 0,009". Đó là một cách nói cường điệu mang tính cổ điển, thường được dùng để gây hoang mang cho người dân thường, hay để gây tiếng vang, hay thậm chí để lừa gạt người không để ý, chứ không thể nào qua mắt được người có ý thức và suy nghĩ.

[3] Những sai lầm trong cách tính và nhận định này có thể tóm gọn như sau:

  • Thứ nhất, cách tính toán bình quân như thế bề ngoài có vẻ hấp dẫn, nhưng nó dựa trên một giả định quan trọng: mức độ dioxin phân phối đều trong tất cả các vùng. Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng biết giả định này không thể chấp nhận được, bởi vì số lượng dioxin rải xuống Việt Nam trong thời chiến tranh không đồng đều giữa các vùng. Có nơi ít và có nơi nhiều. Do đó, mức độ tích tụ dioxin ở Việt Nam khác nhau tùy theo vùng. Ngay cả ở Biên Hòa, mức độ dioxin cũng khác nhau từng huyện và từng xã. Do đó, một kiểu tính toán quân bình như thế là một kiểu đơn giản hoá đến … dã man.
  • Thứ hai, nó sai ở cái lối so sánh con voi và con chuột. Những ai từng học khoa học, kể cả học sinh trung học, cũng biết rằng so sánh hai tỉ lệ mà mẫu số của chúng không tương đương thì sự so sánh đó không có ý nghĩa. Hãy lấy một ví dụ đơn giản: nếu trong thời gian 20 năm số lượng hành khách đi xe lửa tăng từ 50 ngàn đến 200 ngàn, và số lượng hành khách đi máy bay tăng từ 2 ngàn đến 50 ngàn; nếu tính theo tỉ lệ thì số lượng hành khách xe lửa tăng 4 lần, nhưng số lượng hành khách máy bay tăng đến 25 lần; nhưng dù tăng 25 lần, con số hành khách máy bay 20 năm sau vẫn chỉ bằng con số hành khách xe lửa của 20 năm trước. Như vậy, so sánh 2 lần với 25 lần như thế có công bằng không? Câu trả lời đã quá hiển nhiên!
  • Trong thời gian 1962 đến 1971, quân đội Mỹ đã rải xuống Việt Nam khoảng 72 triệu lít thuốc khai hoang, trong đó có khoảng 167 kg dioxin, trên một diện tích 1,5 triệu hectares (chứ không phải 2,3 triệu ha). Còn diện tích mà các vùng như Seveso hay Times Beach bị ảnh hưởng dioxin chỉ là những số rất nhỏ so với 1,5 triệu ha. Một khi mẫu số khác nhau cả ngàn lần, và tử số khác nhau vài chục lần, thì mức độ biến thiên của mẫu (sampling variability) trở nên rất cao, và các phương pháp so sánh thống kê sẽ chẳng có ý nghĩa gì. (Ở đây, hai ông thậm chí chưa dùng đến một phương pháp thống kê nào để so sánh!) Ấy thế mà hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang lại so sánh những tỉ số, và lặp đi lặp lại những so sánh như thế như là những chân lí!
  • Thứ ba, sự nghiêm trọng của vấn đề không hẳn chỉ tùy thuộc vào số lượng dioxin, mà quan trọng hơn là số người dân bị ảnh hưởng dioxin. Trong sinh học, mối quan hệ giữa một nhân tố như dioxin và bệnh tật thường theo hàm số mũ (logistic function), và theo hàm số này, xác suất bị bệnh tăng dần theo cấp số nhân đến một mức độ "threshold" nào đó (chẳng hạn như 45 ppt) và sau mức độ đó thì xác suất trở nên bất biến. Điều này có nghĩa là nếu bệnh nhân có mức độ 1000 ppt thì xác suất bị bệnh vẫn tương đương với bệnh nhân có mức độ 50 ppt. Do đó, độ tích tụ cao không phải là một điều kiện cần và đủ để cho rằng vấn đề đó là lớn. Điều kiện quan trọng hơn là số người bị nhiễm hay ảnh hưởng. Nếu trong hai xã hội, một nơi có 30% người hút thuốc và một nơi có 5% người hút thuốc, thì nơi nào có vấn đề lớn hơn? Câu trả lời đã quá rõ ràng! Tương tự, ở Việt Nam, số người bị nhiễm dioxin trải rộng ra nhiều tỉnh, huyện, và có thể lên đến hàng triệu hay chục triệu người, chứ không phải chỉ vài ngàn và vài chục ngàn như ở Seveso hay Times Beach. Vấn đề dioxin ở Việt Nam là một vấn đề y tế công cộng có tầm vóc lớn.
  • Thứ tư, nên nhớ rằng trong số 72 triệu lít chất màu da cam (Agent Orange) được rải xuống Việt Nam không chỉ chứa dioxin, mà còn nhiều hóa chất khác. Tuy nhiên, chỉ dioxin thôi đã có khả năng ảnh hưởng (làm thay đổi) cấu trúc di truyền của con người, và số người bị nhiễm dioxin ở Việt Nam có thể đã và đang trải dài qua hai hay ba thế hệ. Vấn đề, do đó, không phải chỉ đơn giản là độ tích tụ dioxin mà còn ở chỗ ảnh huởng trong các di truyền tố. Chưa ai biết được cấu trúc di truyền trong các thế hệ này đã thay đổi ra sao. Thành ra, cho rằng vấn đề dioxin ở Việt Nam không lớn bằng ở Seveso hay Times Beach mà chỉ dựa trên con số quân bình thì quả là một kết luận hết sức sai lầm và có thể nói là cực kỳ ngây ngô. Trong một bài viết khác, tôi có viết rằng theo tiêu chuẩn ở các nước Tây phương, một tình trạng như thế có thể được xem là khủng hoảng y tế công cộng, tuy nhiên, giới y tế Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể để giải quyết vấn đề. Nếu theo lí giải của ông Mai Thanh Truyết thì chính phủ Việt Nam có quyền làm ngơ trước vấn nạn dioxin!

[4] Bài báo nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp có tên là "Paternal concentration of dixin and sex ratio of offspring", công bố trên Tập san y khoa Lancet, số 355, ra ngày 27 tháng 5, 2000, trang 1858-1863. Bài báo này có thể tóm lược như sau:

Vào tháng Bảy, năm 1976, một hãng sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4,5-trichlorophenol (TCP) tại vùng Seveso (Ý) bị cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin. Chính quyền địa phương và các nhà chức trách y tế Ý nghi ngờ là dân cư sống trong vùng có thể bị nhiễm độc chất dioxin. Do đó, kể từ năm 1977, Chính phủ Ý đã thành lập một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học và bác sĩ chuyên nghiên cứu về tác hại của dioxin trong sức khỏe của dân cư trong vùng Seveso và phụ cận.

Cho tới năm 1996, các nhà nghiên cứu này đã thu thập đầy đủ các số liệu lâm sàng và mẩu máu (dùng để xác định độ tích tựu chất dioxin) của nhiều cư dân; trong đó có 296 bà mẹ và 239 người cha. Trong vòng 20 năm, có 328 em trai và 346 em gái sinh ra từ 535 cha mẹ này. Tính trung bình, độ tích tụ dioxin trong máu được ghi nhận là 96,5 ppt trong các người cha và 62.5 ppt trong các bà mẹ. Để tiện việc so sánh, nhóm nghiên cứu chia các cha mẹ thành hai nhóm: nhóm A gồm các cha mẹ không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm nhưng có mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt; và nhóm B gồm các cha mẹ sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ 16 ppt hay cao hơn.

Trong các người cha thuộc nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là khoảng 56%; và nhóm B, chỉ 44%. Trong các bà mẹ thuộc nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và nhóm B, 49%. Tuy nhiên, nếu cả cha và mẹ bị nhiễm (tức thuộc nhóm B), tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%. Như vậy, ảnh hưởng của dioxin trong các người cha nghiêm trọng hơn trong các bà mẹ.

Phân tích trong nhóm các người cha bị nhiễm dioxin cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong máu càng cao càng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sinh con trai. Chẳng hạn như trong các ngừơi cha có mức độ dioxin từ 61 tới 117 ppt, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và dioxin từ 118 trở lên, tỷ lệ nam giới giảm xuống còn chỉ 40%! Quan trọng hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng những người cha bị nhiễm dioxin trong độ tuổi dậy thì có tỷ lệ sinh con trai chỉ khoảng 40%. Điều này cho thấy ảnh hưởng của dioxin bắt đầu rất sớm và thể kéo dài một cách vĩnh viễn.

Ngoài khám phá trên đây của các nhà nghiên cứu Ý, vài cuộc điều tra khoa học trong khoảng mười năm qua ở Mỹ và Tô Cách Lan (Scotland) cũng đi đến một kết luận tương tự. Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một khu kỹ nghệ thuộc nước Scotland (3) được xem là bị ô nhiễm môi trường nhất nhì Aⵠchâu năm 1992, các nhà khoa học cũng ghi nhận tỷ lệ sinh con trai ở vùng này thấp hơn trung bình. Bốn năm sau đó, một nghiên cứu khác ở tiểu bang Minnesota (Mỹ), các nhà khoa học Mỹ cũng nhận xét là những người cha hay gần gũi với các hóa chất diệt cỏ (như công nhân trong hãng thuốc diệt cỏ, công nhân dùng thuốc diệt cỏ, v.v.) có tỷ lệ sinh con trai thấp hơn trung bình (4). Có thể nói tất cả những nghiên cứu này cộng với các dữ kiện của Giáo sư Paolo Mocarelli là những bằng chứng đáng tin cậy cho sự tác hại của dioxin trong vấn đề làm mất cân bằng tỷ lệ giới tính, nhất là trong đàn ông.

Cũng cần nói thêm là trên thế giới, tỷ lệ giới tính tương đối ổn định: cứ 100 trẻ em nữ thì có 106 trẻ em nam được sinh ra, hay nói theo ngôn ngữ thống kê, tỷ lệ nam giới là 51.4%. Tuy nhiên, ở các nước có nền kỹ nghệ tiên tiến như Mỹ, Gia Nã Đại, Đan Mạch, Thụy Điển, và Hoà Lan, tỷ lệ sinh con trai đã giảm từ 51.6% trong thập niên 70 còn 51.3% trong thập niên 90. Giới nghiên cứu môi trường cho rằng vấn đề ô nhiễm ở các nước này là một trong những yếu tố gây ra sự mất cân bằng trong giới tính. Vì thế, một số nhà nghiên cứu y học đề nghị lấy tỷ lệ giới tính làm một chỉ tiêu về mức độ nhiễm độc tử cung, hay một chỉ tiêu về sự bất bình thường trong quá trình sinh sản.

[5] Trong thư "không niêm" gửi tôi, hai ông đề là "Tiến sĩ toán học Nguyễn Văn Tuấn". Xin nói ngay là tôi không thích (thực ra rất ghét thì đúng hơn) với lối xưng hô theo bằng cấp. Lần sau, xin hai ông đừng để mấy chữ "sĩ" với "sư" trước tên tôi. Tôi bàn thảo với hai ông trên tinh thần đồng hương, chứ không dựa trên tinh thần đẳng cấp khoa học. Tuy nhiên, hai chữ "toán học" có lẽ là một sự cố ý của hai ông để ngụ ý đánh giá thấp các lập luận của tôi vì, có lẽ theo hai ông, một người làm về toán không biết về môi trường và sinh học. Nhưng đó là một cách trình bày không lương thiện trí thức. Đúng là tôi từng học toán, nhưng hiện nay tôi không làm việc trong toán học. Ngoài toán ra, tôi cũng có học về y khoa, và luận án tốt nghiệp của tôi thuộc về ngành nội tiết học (endocrinology), cụ thể là nghiên cứu di truyền trong xương. Tôi làm việc trong môi trường nghiên cứu y khoa, từ nghiên cứu "epidemiology" đến nghiên cứu lâm sàng (clinical research), và những công trình của tôi đều không có gì bí mật cả. Những ai muốn biết quá trình làm việc của tôi có thể tham khảo trang nhà của Thư viện Y học của Mỹ (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi) thì sẽ rõ. Tôi không đi ngoài lĩnh vực mình nghiên cứu về nội tiết học và loãng xương. Những gì tôi bày tỏ trong bài viết trước và bài viết này chỉ liên quan đến phương pháp và lập luận khoa học của hai ông. Khác với hai ông, tôi hoàn toàn có đầy đủ tư cách chuyên môn và thẩm quyền để bàn những vấn đề này.

 

Home   |  Go top page

 

© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về:

hoa95121@yahoo.com

 

. ..........