-
VỊ THIỀN SƯ
Ở BORDELAIS
Bài viết của Jean-Sébastien
Stehli
Báo "L’Express"
ngày 27/ 12/ 2001
Trần văn Kha dịch
Định
cư từ 30 năm nay ở Loubès-Bernac, trong vùng "Lot-et-Garonne", người
Việt Nam Thích Nhất Hạnh đã làm cho cái làng ấy trở thành một trong những
trung tâm Phật Giáo lớn nhất thế giới. Những lời kêu gọi hòa bình
vang dội tới tận nước Mỹ sau ngày 11 tháng 9.
Thích Nhất Hạnh.
"Đó là người Phật Giáo quan trọng nhất ở Tây phương, cùng với
Ngài Đạt-lai Lạt-ma".
Trời hãy còn tối, cái ngày thứ năm
22 tháng 11 ấy. Lúc đầu, người ta chỉ nhìn thấy một vệt ánh sáng dài
của đoàn xe đến từ khắp mọi nơi, những xe này, theo một nhịp đều
đặn, đổ xuống cánh đồng trống những nhóm người vừa đàn ông, vừa
đàn bà. Lặng lẽ, tất cả mọi người tiến về một khu nhà xây bằng
đá, đẹp đẽ nhưng giản dị, chỉ có một tầng. Một vài người mặc
áo nâu, đầu cạo trọc; những người khác thì ăn mặc kiẻu du khách
đương thời: giầy vải, quần "jean" và áo "anorak" (áo ấm
có mũ chùm lên đầu). Vào đầu mùa đông ấy, căn phòng đầy ắp. Những
người tham dự – khoảng 250 người – ngồi theo hình vòng cung trước một
bục giảng mà trên đó có đặt một bó hoa, làm cho hoa nổi bật lên giữa
một khung cảnh khắc khổ. Mỗi người ngồi trên một cái gối nhỏ để
thiền và mang vào tai đồ để nghe bài dịch đồng thời. Đối với những
người đi "hành hương" đến từ các nơi ở Tây phương và nước
Mỹ, Loubès-Bernac, ở bên dòng sông Dordogne và Gironde, trong vùng
Lot-et-Garonne, đã trở thành một thánh địa của Phật Giáo. Những người
đàn ông và đàn bà ấy đi du lịch tới đây để nghe Thích Nhất Hạnh giảng
dạy.
Cánh cửa bên hông mở ra, thiền sư
tiến vào với một người phụ tá giúp thày cởi bỏ áo choàng. Chân bước
nhẹ, một người nhỏ nhắn với cái đầu cạo trọc, mặc chiếc áo nâu
giản dị, tiến tới bục giảng và ngồi xếp chân. Ngài bắt đầu nói với
một giọng thật dịu dàng, làm cho người nghe chú tâm. Thỉnh thoảng hai
tay nâng chén trà, Ngài uống từng ngụm nhỏ. "Trong lúc này, Ngài đột
ngột nói, linh tính của chúng ta thúc đẩy chúng ta mong muốn tiêu diêt những
người khủng bố. Nhưng chúng ta không tiêu diệt được khủng bố bằng máy
bay. Bóng tối không thể tan đi bởi bóng tối. Chỉ có sự hiểu biết đối
phương và lòng từ bi mới có thể xóa bỏ được bạo động và thù hận.
Sự khủng bố ở trong trái tim con người. Phải loại nó ra từ đó, nếu
không, chúng ta chỉ gieo rắc thêm khủng bố".
"Nơi ngự trị của khủng bố
nằm trong trái tim con người"
Định cư ở Pháp từ 30 năm nay, vị
thày Việt Nam mà tất cả mọi người chăm chú lắng nghe, là một trong những
ngọn đuốc về thiền ở Tây phương. Mathieu Ricard, đồng tác giả sách
"Tu Sĩ và Triết Gia" (Le Moine et le Philosophe) với cha ông
Jean-Francois một hàn lâm viên, xác nhận "đó là một vị thày chính thống,
với sự thực hành tâm linh sâu sắc". Thích Nhất Hạnh là một ngôi
sao thực sự ở bên Mỹ, mà ở đó Ngài có trên 100.000 đệ tử. "Cùng
với Đức Đạt-lai Lạt-ma, đó là một người Phật Giáo quan trọng nhất
ở Tây phương", Cuong T. Nguyễn xác nhận, Nguyễn là giáo sư về tôn
giáo ở đại học George Mason, ở Virginia, và đã biết Ngài ở Saigon, giữa
những năm 60.
Ngày 10 tháng 9, không đầy 24 giờ
trước sự phá hoại của "Trung Tâm Thương Mại Thế Giới" (WTC,
World Trade Center), quyển sách cuối cùng của Thích Nhất Hạnh được bán
ở các hiệu sách, sách đó mang cái tên tiên tri: "Anger" (Tức giận).
Nhà xuất bản, Riverhead Books, đã
tiên đoán rằng tác phẩm, một sự pha trộn tâm lý và tâm linh, sẽ là
sách bán chạy kỷ lục. Trước hết, sách "Living Buddha, Living
Christ", trong năm 1995 đã bán được 200.000 cuốn trên khắp thế giới,
và sách "Peace is every step" (Hòa Bình trong mỗi bước đi) bán được
1 triệu cuốn. Nhưng nhà xuất bản vĩ đại nước Anh không chờ đợi in
ra nhiều theo kiểu Stephen King. Tuy nhiên, ngay sau ngày khủng bố, sách trở
thành một hiện tượng. Đợt đầu in 37.000 cuốn bán hết trong 8 ngày.
Sách cứ thế bán ra theo nhịp độ 50.000 cuốn một tuần. "Việc xảy
ra nhanh quá! Amy Herzt, người nữ xuất bản sách của Thích Nhất Hạnh rất
ngạc nhiên. Thường thường cứ phải chờ hai hay ba tuần lễ mới bắt đầu
biết sách có được quần chúng đón nhận hay không". Nhưng ở đây,
ngay từ tuần lễ đầu, "Anger" (sách sẽ do Lattès phát hành tháng
Hai) đã ở trong danh sách những sách bán chạy nhất của New York Times, một
cái thước đo sự thành công ở nước Mỹ.
Ngày 25 tháng 9, được người nọ
truyền khẩu thông báo cho người kia, 3.000 người chen chúc nhau để nghe
thiền sư nói chuyện ở Riverside Church, phía Tây Bắc Manhattan. Hơn 1.500
người nữa đứng nghe ngoài cửa. Vài ngày sau, ở Berkeley, phía đầu kia của
nước Mỹ, cũng một đám đông như thế ở nhà hát thành phố. Sau bài
nói chuyện của Thích Nhất Hạnh, khán giả đứng cả lên và la lớn
"Chúng tôi yêu Ngài! Chúng tôi yêu Ngài", sư cô Chân Không kể lại,
sư cô là cánh tay phải của thiền sư từ 30 năm nay. Có vẻ như là, trong
khi người Mỹ vỗ tay trước màn ảnh truyền hình tán thành những lời
tuyên bố báo thù của tổng thống của họ, thông điệp của thiền sư Việt-nam
làm cho họ chú ý. "Ngài đã kể cho khán giả, trong chiến tranh Việt
Nam, hàng ngàn người, gồm bạn và đệ tử, đã bị giết. Tâm tôi chứa
đầy thù hận, nhưng hành động hay nói năng trong lúc tức giận có thể
gây nên nhiều tàn phá hơn. Tôi biết rằng không phải chỉ có người Việt
Nam đau khổ, những người Mỹ trẻ tuổi bị đưa sang Việt Nam để giết
và bị giết cũng đau khổ rất nhiều. Thành ra tôi không cảm thấy thù
ghét dân chúng Mỹ. Bây giờ tôi cảm thấy tôi là người Nữu Ước. Chúng
ta phải lấy lại sự bình tĩnh và sáng suốt". Rồi Thích Nhất Hạnh
nói thêm: "Nơi ngự trị của khủng bố nằm trong trái tim con người.
Càng giết nhiều người, thì càng đẻ ra nhiều khủng bố. Người khủng
bố bị vi khuẩn thù hận xâm nhập. Anh ta tin rằng anh ta chống lại điều
xấu. Chúng ta phải giết bệnh, chứ không giết người bệnh". Daniel
Odier, tác giả tiểu thuyết Diva, với cái tên Delacorta, và đã biết Thích
Nhất Hạnh từ 1967, nói thêm: "Thày nói rằng phải nhìn thế giới như
là tấm gương soi sự bạo động của chính chúng ta".
Trong khi nước Mỹ bị khủng bố,
Jack Weller, giáo sư tại đại học "Integra Studies", một đại học
ở California, đã đề nghị với sinh viên một bài học nhan đề "Thích
Nhất Hạnh và sự sáng tạo". Đề tài đã lôi kéo được nhiều sinh
viên, đến nỗi Weller sẽ đem giảng lại bài đó vào 6 tháng sau.
"Thích Nhất Hạnh dạy rằng chúng ta phải, riêng từng người một,
đương đầu với sự tức giận trong những trường hợp đó, chứ không
phải như một đám đông không tên tuổi, Weller cắt nghĩa".
Thích Nhất Hạnh đã gây xúc động
cho Martin Luther King, và đã được ông đề nghị ghi vào danh sách nhận giải
thưởng Nobel Hòa Bình.
Đối với rất nhiều người Mỹ,
những biến cố "11/ 9" gây vang dội tới một thời kỳ đau đớn
khác trong lịch sử của họ: chiến tranh Việt Nam. Đó là một chấn thương
ghê gớm, họ khám phá, 30 năm sau, ra rằng chắc chắn nước Mỹ không phải
là vô địch. Khi thiền sư nói với người Mỹ là họ có lý để tức giận
và họ phải sử dụng sự tức giận đó để biến họ thành những người
hành động cho hòa bình, những người phá mìn khủng bố, Ngài đáng được
tín nhiêm hai lần. Bởi vì thiền sư đã khuyến khích họ tìm ở trong
chính họ sự thanh thản – dù rằng, trong thực tế, họ không được chọn
lựa – đồng thời họ cảm thấy sự túc giận của họ là chính đáng.
Thích Nhất Hạnh – cái tên có nghĩa trong tiếng Việt là "hành động"
– giảng dạy một thứ Phật Giáo dấn thân, vừa thỏa mãn sự thực tiễn
của người Mỹ, vừa cung cấp thức ăn cho sự khao khát tâm linh của họ.
Thứ Phật Giáo dấn thân này, đó là đặc điểm, hình ảnh sáng giá và
là "lá bài thương mại" của Thích Nhất Hạnh.
Ngay từ những năm 60, trong khuôn
viên đại học Columbia, ở Manhattan, người trẻ tuổi Thích Nhất Hạnh,
khi đó đang học môn tôn giáo đối chiếu, đã tổ chức những cuộc xuống
đường cho hòa bình… "Rất ít người nghe nói đến ông ta, nhưng người
tu sỉ trẻ ấy, chống chiến tranh của miền Bắc cũng như miền Nam và đồng
minh Mỹ, và chủ trương hòa giải, làm cho chúng tôi chú ý", Joan
Halifax một nhà văn nữ và nhân chủng học nhớ lại, bây giờ bà ủng hộ
những người bị kết tội tử hinh trong nhà tù Mỹ. Thích Nhất Hạnh gây
được nhiều cảm tình với Martin Luther King, giải thưởng Nobel Hòa Bình năm
1964, và được ông này đề nghị ghi tên vào danh sách ứng viên cho hội
đồng Stockholm. Nhưng sự độc lập của ông mang lại cho ông không ít kẻ
thù. Đặc biệt là ở trong nước ông mà ở đó, đã có thời, ông bị tố
cáo trên đài phát thanh như là kẻ phản bội, bởi chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.
"Một phần cộng đồng Việt Nam có những cảm giác lẫn lộn về
thái độ của ông, giáo sư Cuong T. Nguyễn giải thích. Hơn một người coi
ông như thân cộng vì những hoạt động hòa bình của ông".
Phật Giáo hướng vào nội tâm, về
thiền định. Thích Nhật Hạnh là một trường hợp đặc biệt. Trong khi rất
nhiều người mới theo đạo Phật, nhất là bắt đầu từ những năm 60,
nhận thấy tôn giáo ấy như là một cách để thoát khỏi những xáo trộn
của xã hội, một nơi tĩnh dưỡng, "Thích Nhất Hạnh chứng tỏ trong
đời sống của Ngài sự cần thiết phải dấn thân, tỉ dụ như cho hòa
bình", nhà xã hội về tôn giáo Frédéric Lenoir, giải thích thế, ông
là tác giả sách "Sự Gặp Gỡ của Phật Giáo và Tây phương". (La
Rencontre du bouddhisme et de l’Occident.- Albin Michel).
Ở bên Mỹ, Thích Nhất Hạnh sinh
hoạt với rất nhiều nhóm cưụ chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam.
Trong khi còn chiến tranh, Lee Thorn, 58 tuổi, xếp bom vào những máy bay đi bỏ
bom ở Việt Nam và Lào. Bây giờ ông làm việc với hiệp hội của ông,
Jhai Foundation, để thực hiện những dự án hòa giải giữa những cựu chiến
binh của chiến tranh bẩn thỉu và những người dân bị thiệt hại vì bom
- xây cất trường học, trạm phát thuốc, v.v. "Tôi bắt đầu nghe nói
về Thích Nhất Hạnh khi tôi trở về Mỹ và tôi tích cực chống chiến
tranh, Lee Thorn kể thế. Ngài yêu tất cả mọi người, và chúng ta, chúng
ta không yêu ai cả. Tôi bắt đầu đọc sách của Ngài mỗi ngày và rồi
sau làm theo lời Ngài chỉ dạy. Điều mà tôi hiểu với Ngài, đó là nhu cầu
của sự từ bi. Đó là lý do tại sao tôi bắt đầu công việc này ở
Lào".
Joan Halifax giải thích: "Thày đã
quan sát tâm lý của người Âu-châu và làm cho họ hiểu được Phật Giáo.
Phật Giáo của Ngài đẹp, giản dị, trực tiếp". Sử dụng những mẫu
quảng cáo cổ điển về tuyên truyền, Thích Nhất Hạnh dùng những sách của
ông như là những loa phóng thanh cho thông điệp của ông. Một trong những
học trò của Ngài, Arnold Cutler, đã lập ra một nhà xuất bản, Parallax
Press, để phổ biến những bài viết của Ngài. Thày nói, "sách đã
giúp ích cho tôi rất nhiều, giúp cho độc giả hòa hợp sự đau khổ của
họ với sự đau khổ của tôi".
Tuy nhiên nước Pháp thì chống lại.
"Nước Pháp cần phải có 30 năm, Frédéric Lenoir nhận xét. Ở nước
ta, người ta say mê rất sớm với Phật Giáo Tây-tạng. Thích Nhất Hạnh,
giản dị hơn, không đến, như Tây-tạng, với một hào quang kỳ diệu".
Không có bài hát, không có áo vàng, không truyền thống dân gian, không
chuông, không ma quỷ. Việt Nam không có khả năng gây cho tâm hồn người
Pháp những tư tưởng kỳ dị như Tây-tạng, giữa Hergé và Alexandra
David-Neel.
Tuy nhiên, sách của ông bây giờ
ở bên Pháp bán được trung bình 30.000 – đó là những sách về tâm linh
bán chạy nhất. Thày hưởng lợi sự say mê hiện thời về Phật Giáo mà,
theo bộ nội vụ, ở nước Pháp có 600.000 người thực hành ít nhiều
tích cực. Năm 1994, cuộc thăm dò của Sofres-Le Figaro cho biết Phật Giáo
là tôn giáo ưa thích của 2 triệu người Pháp. Bây giờ, theo cuộc điều
tra của Psychologie-BVA, con số người gần với Đức Phật lên tới 5 triệu.
Phật Giáo đối với một số người,
đáp ứng cho việc tìm tòi sự "tái say mê" thế giới mà nhiều người
Âu-châu mong muốn. "tôn giáo ấy có cách giải thích hợp lý nhưng không
hoàn toàn tin vào lý trí, Frédéric Lenoir giải thích. Nó hấp dẫn đối với
những ai, chán với tư tưởng phân tích, bị thu hút bởi một hệ thống
tinh vi, không hai, và để một phần cho linh tính". Bằng sự khai thác sợi
dây rất tân tiến: chủ nghĩa cá nhân. Mỗi người đều phải tự mình cố
gắng để thay đổi: người ta đang ở giữa sự ám ảnh thời đại về sự
thành tựu cá nhân. Tôi trước hết.
Thích Nhất Hạnh, sinh ở Trung Phần
Việt Nam, đã có khuynh hướng tu vào lúc mới lớn lên, năm 16 tuổi. Bố của
ông làm việc cho cơ quan hành chánh của vua tương lai Bảo Đại. "Tôi
nghĩ rằng Phật Giáo có thể là giải pháp để Việt Nam thoát khỏi sự bảo
hộ của Pháp, như Gandhi đã thành công ở Ấn-độ", ông nói. Ông đậu
cử nhân văn chương, viết sách dưới một bút hiệu, và tu học với một
trong những vị thày Phật Giáo của thời ông – một đệ tử của
Lin-Tsi, một trong số những nhà tu vĩ đại thế kỷ IX. Năm 1950, 24 tuổi,
Thích Nhất Hạnh thành lập viện cao học Phật Giáo Ấn Quang, sau này trở
thành cái nôi tranh đấu bất bạo động của Phật Giáo chống lại chiến
tranh Việt Nam từ 1963 đến 1975. Các nhà sư tự thiêu đốt để chống chiến
tranh (chống sự đàn áp Phật Giáo của chế độ Ca-tô toàn trị Ngô đình
Diệm thì đúng hơn) là những thân hữu của ông.
Năm 1961, người tu sĩ trẻ đi du học
sang Mỹ, trước hết ở Princeton, rồi ở Columbia. Trở về Saigon, ông tham
gia vào việc thành lập viện Đại Học Vạn Hạnh, đại học đầu tiên của
Phật Giáo ở Việt Nam, khác xa với những cơ sở tu viện truyền thống,
"theo kiểu những đại học Mỹ", giáo sư Cuong T. Nguyễn giải thích.
Với những bài giảng về thuật công tác, khoa học chính trị, không kể
những bài giảng về tôn giáo. Sư cô Chân Không giải thích, Thích Nhất Hạnh
muốn có một cơ sở giảng dạy đạo Phật thực hành nhiều hơn là lý
thuyết. Phật Giáo không chỉ ngồi thiền dưới gốc cây. Khi bom rơi, thì
không có vấn đề ngồi thiền. Phải băng bó cho người bị thuơng, cho trẻ
con ăn uống".
"Tôi như một cục sắt được
tôi luyện trong lửa chiến tranh"
Thích Nhất Hạnh bắt đầu trở nên
nổi tiếng từ thời kỳ đó. Ông rất được giới trí thức Phật Giáo
yêu mến, Cuong T. Nguyễn nhớ lại. Sinh viên say mê ông, bởi vì ông tượng
trưng cho giấc mơ của họ: ông đã học ở Tây phương. Hơn thế nữa, những
lời giảng của ông rất dễ hiểu đối với sinh viên".
Những năm 60 ấy, ở một nước Việt
Nam trong chiến tranh, xây dựng sự dấn thân của Thích Nhất Hạnh. Ông
tâm sự, "Tôi như một cục sắt được tôi luyện trong lửa chiến
tranh". Rất nhanh, ông thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội,
một tổ chức với 10.000 người tình nguyện, trước khi bị cấm, bởi chế
độ cộng sản vào năm 1975, sau khi Saigon thất thủ. Những người làm việc
xã hội song hành ấy giúp những người Việt Nam ở nơi nào họ cần đến,
trong việc chăn nuôi cũng như về sức khỏe hay giáo dục.
Công việc xã hội đó bây giờ vẫn
còn tiếp tục. Mỗi tháng, cùng với Sư cô Chân Không, Thày gửi 50.000 đô
về Việt Nam để giúp đỡ gần 1.100 trường mẫu giáo ở những làng nhỏ
trên miền núi. "Đó là công việc của một vị bồ tát đã từ chối
niết bàn để phục vụ con người", Nguyễn Hữu Khoa, chủ tịch mạng
lưới Internet BuddhaLine, giải thích.
Tháng 6/ 1966, Thích Nhất Hạnh mở
đầu việc kêu gọi hòa bình cho Việt Nam và đi một vòng sang các nước
Âu-châu và Mỹ quốc. Ông không ngờ rằng ông sẽ không còn được nhìn lại
Việt Nam. Vào năm 40 tuổi, ông bắt buộc phải sống tha hương bởi lệnh
của Hanoi cũng như chính phủ Nam Việt Nam, mà những lời kêu gọi cho hòa
bình và công tác xã hội của ông làm cho họ tức giận. Bây giờ ông vẫn
còn nói khôi hài "Tôi là tu sĩ đầu tiên đi xe đạp, và cũng là người
đầu tiên tổ chức tập thiền ở ngoài bãi biển. Đó là cuộc cách mạng
lớn nhất của tôi".
Năm 1968, Thích Nhất Hạnh đổ bộ
vào nước Pháp, mà ở đó, ông cố gắng, không kết quả, tham dự vào những
hòa đàm cho hòa bình ở Việt Nam. Ông thành lập ở Troyes một trung tâm để
đón nhận những làn sóng tị nạn Việt Nam. Năm 1982, vì nhà không đủ chỗ
chứa cho những người đến thăm quá đông, Thích Nhất Hạnh di chuyển tới
Loubès-Bernac, cách xa Bordeaux 85 cây số. Ông mua một căn trại thứ nhất,
đặt tên là "Làng Mai", bằng 200.000 đô, đó là tiền trả trước
cho một trong những sách của ông. Ông tậu thêm một căn trại thứ hai,
ở Dieulivol, cách xa đó vài cây số, rồi trại thứ ba ở Thénac. Bây giờ,
Làng Mai gồm có một tổ hợp bảy "xóm" hay một số nhà, chia ra
thành nhiều xã.
Khi tới nơi, Thích Nhất Hạnh cho
nhổ hết nho và trồng năm mẫu cây mai – 250 cây một mẫu. Một sự ngẫu
nhiên mà ông hay nhắc đến, 1.250 cây mai ấy làm thành một cái chớp mắt
của Đức Phật. Những bài giảng kể rằng người "Giác Ngộ" đã
nói trước 1.250 đệ tử: một con số thiêng liêng. "Chúng tôi cũng muốn
trồng một cái gì đem lại tiền bạc, Sư cô Chân Không giải thích một
cách thực tế hơn. Chúng tôi cần phải tự túc tiền bạc".
Mỗi năm, những trái mận khô đem
về cho cộng đồng 20.000 quan (tương đương với $ 3.000 đô, theo hối xuất
7 quan, 1 đô): 130 nam nữ tu sĩ sống ở đó. Nhưng nguồn tài chính căn bản
là do tiền sách đem lại. Thích Nhất Hạnh đã viết khoảng 50 quyển
sách, ngoài những sách của nhà xuất bản của ông – tiểu thuyết, thơ
phú và nhất là những sách viết về tâm linh. Những sách của ông đem lại
nhiều lợi tức: nhà xuất bản Mỹ của ông vừa trả một số tiền
600.000 cho một quyển sách sẽ xuất bản. Làn sóng không ngừng của những
người đến thăm cũng là một nguồn lợi tức đáng kể. Hơn 4.000 nguời
mỗi năm đến thăm cái góc của thế giới đã trở thành đất thánh của
Phật Giáo tân tiến, làm cho dân địa phương hết sức ngạc nhiên.
"Mùa hè, chúng tôi đón tiếp tới 700 người mỗi tuần, Sư cô Chân
Không giải thích. Lều cắm ở khắp nơi. Chúng tôi phải thuê thêm nhà của
địa phương".
Cách sống ở trong làng cũng không
nhàn nhã lắm. Tiếng chuông êm dịu không làm cho quên phải thức dạy lúc
5 giờ. Trước khi ăn sáng, tất cả mọi người phải tập thiền 2 giờ.
Khi có mặt ở làng, Thày giảng hai bài pháp dài môi tuần, thứ năm và chủ
nhật. Tất cả công việc phải làm là tập thở, để đạt tới sự
"Thức Tỉnh Hoàn Toàn". Trước khi ăn trưa, một giờ "thiền hành",
trong khi đi người ta điều chỉnh bước đi theo nhịp thở, để làm cho đói
bụng, ăn ngon. Sau những công việc dọn dẹp nhà cửa trong ngày, tín đồ
còn phải nghe môt bài giảng và tập thiền trong một giờ rưỡi trước
khi đi ngủ. Sụ "im lặng quý phái" của buổi chiều được đón
nhận vui vẻ.
Một "ngày lười biếng" mỗi
tuần cũng được tiên liệu trong đời sống nghiêm khắc của làng. Thỉnh
thoảng, Thày cũng kể chuyện khôi hài không tao nhã lắm. Ngày 22 tháng 11 vừa
qua, trong một buổi thiền hành, người ta bất ngờ thấy Thày rung mạnh một
cái cây còn non làm cho những lá cây khô rụng như mưa xuống đệ tử, làm
cho họ cười rộ.
"Tôi quan tâm tới sự thần
thánh hóa không thể tưởng tượng được mà Ngài là mục tiêu", Joan
Halifax than thở, bà là một nhà nhân bản, và đã là học trò của Ngài. Một
vài đệ tử thỉnh thoảng than trách sự xa cách của Ngài. "Vì Ngài nổi
tiếng và cũng vì Ngài tương đối mảnh khảnh, một trong số người đó
ghi nhận, Ngài ít khi tiếp xúc trực tiếp với học trò. Đó là một vấn
đề, bởi vì, muốn thực hành, sự tiếp xúc với Thày là quan trọng. Sự
hiểu biết được trao truyền như thế".
Thích Nhất Hạnh di chuyển nhiều
tháng mỗi năm. Ngài đã thành lập hai tu viện ở bên Mỹ, một ở Vermont,
năm 1997, một mới đây ở gần San Diego, bên California. Từ ngày 11 tháng 9,
Ngài khuyến khích chính phủ Mỹ nên thiết lập một hội đồng thiện trí
thức mà nhiệm vụ là để "nghe sự đau khổ của người Mỹ để hiểu
rõ hơn sự đau khổ của kẻ thù". Giống như những hội đồng để hòa
giải ở Nam Phi, những buổi hội thảo đó có thể chiếu trên truyền
hình, Ngài xác nhận. Nhất là từ 1995, Thích Nhất Hạnh giảng dạy ở
bên Tàu, mà Ngài đến thăm như một du khách.
Sư cô Chân Không kể lại, "Dần
dà người ta đồn đãi là có một vị thày vĩ đại du hành trong nước".
Khi kết thúc chuyến du hành, 600 tu sĩ đã đến gặp Ngài để nghe Ngài giảng
trong ba ngày liên tiếp. Thích Nhất Hạnh giải thích một cách tinh nghịch,
"người du khách cũng có thể giảng dạy". Kể từ đó, Ngài được
mời với sự hoan nghênh của chính phủ. Nguyễn Hữu Khoa giải thích,
"Rất nhiều tu sĩ Tàu quay trở về với Thày để nhận những lời giảng
không được trao truyền vào thời kỳ Mao Trạch Đông".
Ảnh hưởng của Ngài tới Phật
Giáo của một nước lớn nhất thế giới sẽ vô cùng quan trọng: trong một
thế hệ rất nhiều tu sĩ Tàu sẽ là những đứa con tinh thần của Ngài.
Trong thời gian đó, giống như Ngài, những sách và băng nhựa của Ngài bị
cấm lưu hành trong chính quê hương của Ngài, nước Việt Nam, dù rằng nó
vẫn được di chuyển lậu. Ngài than thở, "người ta sợ một tu sĩ tầm
thường".
Tu sĩ ấy, từ từ, có
phương pháp đã quyết định chinh phục Tây phương.
Mời đọc nguyên bản tiếng Pháp của
Jean-Sébastien Stehli – L’Express
Home | Go top page