>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
THẢO LUẬN VỚI CỤ HOÀNG THANH ĐẠM
VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
 
BÙI KHA

II. VẠCH NHỮNG SAI  LẦM

1. Hợp tác với Pháp:  Để có thể thấy rõ điều lợi hoặc hại lúc Nguyễn Trường Tộ đề nghị hợp tác với Pháp, chúng ta nên tìm hiểu tổng quát tình hình quân sự và chính trị thời bấy giờ.

Về phía quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam,  thì từ 1858 đến 1863, họ đang ở trong tình trạng nguy khốn, mà chúng tôi đã trích thuật qua sáu văn thư mật của các ông đô-đốc Pháp gởi cho chính phủ của họ. Xin xem các trích dẫn trong cuốn Nguyễn Trường Tộ, Giao Điểm xuất bản (tr.21-29). Ở đây, chỉ lược trích vài đoạn ngắn :

“...Quả thật tôi thấy cần thiết và hết sức đau đớn xác nhận với ngài về tình trạng tồi tệ... chúng ta đang nhanh chóng tuột dốc đến kiệt quệ và đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng ”(Đđ. Genouilly, 4.1.1859)...“Vì thế Hoàng-thượng tin cậy vào kinh nghiệm và sự sáng suốt của ông...có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên vương quốc An Nam không... hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các vị trí... và từ bỏ mọi mưu toan...” (Bộ Hải Quân 8.4.1859)... “Càng đi sâu vào tình hình Vương Quốc An Nam... Không thể không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh chống lại xứ nầy còn khó hơn cuộc chiến tranh chống lại thiên triều” ( Genouilly 21.9.1859)... “Người An Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò, giờ đây họ tấn công ngay những vị trí của chúng ta” ( lời kêu cứu của Bonard)... “ Các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi... tôi bị đẩy vào thế tự vệ...” (Bonard 18.12.1862). Ngày 27.1.1863 Bonard cũng than thở: “Lực lượng chúng ta giảm dần... đang bị đuối sức từng ngày... không thể tiếp tục trong sáu tháng một chiến trận như thế nầy”.

Sử liệu Việt Nam cũng viết:

            “Ngày 17.12.1862 nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Rạch Trà của giặc Pháp, thu nhiều thắng lợi”. Qua ngày 18, “1.200 nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Thuộc Nhiêu (trên đường từ chùa Cây Mai đi Mỹ Tho) tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Hai trận tấn công thắng lợi liên tiếp trong hai ngày 17 và 18.12.1862 này của nghĩa quân Gò Công đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ. Bonard phải khẩn cấp xin viện binh” (Dương Kính Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, 1858-1918, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Viện Sử Học, TP HCM, 1999, tr.34).

Những sử liệu trên cho thấy tình hình quân sự đen tối của Pháp xẩy ra và đã kéo dài gần 5 năm, từ tháng 9, 1858 đến tháng 2, 1863, nghĩa là khoảng một tháng trước lúc Nguyễn Trường Tộ viết bài “Thiên Hạ Đại Luận”. Trong lúc quân thực dân nguy khốn đến thế thì Nguyễn Trường Tộ lại hù dọa:

             Tàu diệt Việt, Pháp diệt Á-đông... “ Quân ta mới nghe thân thế họ đã phách lảng hồn xiêu rồi... Ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên... Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách... nên để cho quân lính nghỉ ngơi... để họ (Pháp) giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới..” (NTT, Giao-Điểm tr.24-40).

             Những nhận định sai lạc có dụng tâm nầy đã ảnh hưởng đến chính sách của triều đình vua Tự-Đức và tinh thần chiến đấu của nghĩa quân. Tại sao Nguyễn Trường Tộ có những tư tưởng nghịch lý đến thế ? Tôi thấy có hai lý do chính:

            Lý do tình thế : Sau hòa ước Nhâm Tuất,1862, phong trào chống Pháp rất mạnh, làm cho công cuộc bình định của Pháp gặp nhiều trở ngại. Triều đình Huế chia làm hai: phe chủ chiến và phe chủ hòa.“Phe chủ chiến có rất nhiều ảnh hưởng và thế lực”. Thượng-tướng Ohier (quyền đô đốc) gởi thư cho triều đình vua Tự-Đức phản đối phong trào chống Pháp làm trở ngại chương trình bình định của ông ta (Nguyễn Thế Anh,“Việt Nam thời Pháp đô hộ”, Lửa Thiêng xuất bản, Saigon 1970, tr.63-64).

            Phong trào nghĩa quân kháng Pháp gây cho địch khó khăn đến nỗi :“Thực dân Pháp ra điều kiện: sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh-Long cho triều đình Huế, một khi triều đình Huế chấm dứt được các cuộc khởi nghĩa chống đối Pháp ở các tỉnh Gia Định, Định Tường, và phải gọi tất cả các thủ lĩnh nghĩa quân trở về, tuyệt đối không còn bóng dáng một ai tại hai tỉnh đó nữa” (Dương Kính Quốc, SĐD, tr.32).

            Như thế, kế hoạch hòa với Pháp là thượng sách... cho lính  nghỉ  ngơi  để họ giữ bờ cõi cho mình” của Nguyễn Trường Tộ là cái phao đúng lúc để quân Pháp thoát hiểm và giúp cho chương trình bình định của thực dân có thể thực hiện được!

            Lý do tín lý và giáo dục : Nguyễn Trường Tộ không muốn thực dân Pháp rút về nước nên ông đã cố ý đưa ra những nhận định sai lầm về tình hình quân sự và khuyên hòa với Pháp để cứu vãn cơn nguy khốn cho thực dân. Sau đây là một số sử liệu giải thích tại sao.

            Người Công-giáo thường có khuynh hướng ly khai với tổ quốc, vì điều răn thứ nhất trong 10 điều răn của tôn giáo nầy là “Thờ Thiên Chúa trên tất cả mọi sự”, mà giáo-hoàng là người đại diện cho Chúa theo tín lý Công-giáo. Do đó, điều răn thứ nhất phải hiểu là “Thờ giáo-hoàng và Vatican trên tất cả mọi sự”,việc Pháp đánh chiếm Việt Nam là do Vatican vận động và chủ động như chúng tôi đã chứng minh bằng nhiều tài liệu mật trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo” nói trên . Bởi thế, chúng ta không lấy làm lạ, những người như các Linh-mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Trần Lục, giáo sinh Trương Vĩnh Ký, Giám-mục Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn, Giám-mục Ngô Đình Thục... đều làm tay sai cho Pháp. Còn tín đồ Công-giáo Việt Nam thì chính Đô-đốc thực dân Page cũng mô tả:

            “Ngoài ra không một người Việt Nam nào theo đạo Công-giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp, ông vua Việt nam không theo đạo không phải là vua của họ. Chắc bây giờ ngài (Bộ-trưởng) đã hiểu tại sao vua, quan đã coi các nhà truyền giáo là kẻ tử thù (Du reste, pas un Vietnamien catholique n’hesita à demander à s’enriler comme soldat sous les drapeau francais, les roi payen du Vietnam n’etait point leur roi “Votre Excellence comprenda sans doute maintenant comment le Roi et les mandarins regardent les missionnaires catholiques comme des ennemies ?" Depêche de L’amiral Page, du 14-12 et 25.12.1859. Archives Nationales, Fonds Marines BB4-777, cité par Cao Huy Thuan, pp. 128 & 129).

            Lịch sử cho thấy, đã là người Công-giáo thì luôn luôn nặng tình với Vatican hơn là đối với chính quốc gia của họ, danh từ thông thường để chỉ thái độ nầy là “vong-bản”. Thật vậy, ngay cả nước Mỹ, không có người nào theo đạo Công-giáo mà có thể đắc cử tổng thống. Ngoại trừ Kennedy là một trường hợp đặc biệt ngoại lệ trong lịch sử 44 tổng thống vừa qua của đất nước nầy, nhờ có tài, nói năng hoạt bát, đẹp trai. Lúc ra tranh cử, có người đặt câu hỏi với ông về bổn phận một công dân và bổn phận của một tín đồ. Kennedy trả lời rằng lúc nào có sự xung đột giữa quyền lợi tôn giáo và đất nước thì ông sẽ nghiêng về phía tổ quốc. Tuy nhiên, vào thập niên 1960, Vatican có thái độ hòa bình để cứu tín đồ của giáo hội trong các quốc gia chiến tranh, thì Kennedy cũng muốn triệt thoái quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam, và ông bị ám sát năm 1963, đến nay chưa tìm ra thủ phạm. Nhưng người ta nghi rằng, một trong những nguyên nhân chính đưa đến cái chết là vì ông có tư tưởng phản chiến như giáo-hoàng.

            Tư tưởng đó và việc dự định rút quân ra khỏi Việt Nam của Kennedy đã đi ngược lại quyền lợi của giới tư bản vì khí giới chiến tranh còn thặng dư sau Thế Chiến Thứ 2. Mà khí giới chiến tranh chỉ có thể tiêu thụ bằng chiến tranh khí giới. Đất Việt-Miên-Lào là thị trường thuận lợi nhất vào giai đoạn đó để Hoa-Kỳ trút bom đạn xuống. Nhưng bom đạn và dụng cụ chiến tranh đâu phải miễn phí. Chính phủ Mỹ dùng tiền đóng thuế của dân chúng và tiền của các nước đồng minh viện trợ để mua khí giới do các công ty Hoa-kỳ chế tạo. Một số lớn giai cấp tư bản được giàu nhờ có nhiều cổ phần trong các công ty và kỹ nghệ chiến tranh ấy. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ là Tết Mậu-Thân, 1968, có nhiều nơi tại miền Nam (Việt Nam) không quân Hoa-Kỳ ồ ạt thả bom bình địa. Thủ tướng Trần Văn Hương (VNCH) rất bực phiền nhưng cũng chỉ phát biểu được: “Đánh con ruồi, chúng ta không cần phải dùng cái búa”. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ không những chỉ dùng cái búa con để đánh ruồi mà họ dùng cái búa tạ.

            Và trong cuộc chiến tranh Việt-Nam trước đây, “để giết một người lính cọng-sản, Hoa Kỳ phải tốn hơn 400 ngàn Mỹ kim” (To kill one communist soldier cost the U.S. no less than $400.000. Joseph Buttinger,Vietnam the Unforgetable Tragedy, NY. 1977, p. 93), một cuộc chiến tranh tốn kém chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Và số khí giới Hoa Kỳ tiêu thụ tại Việt Nam bằng tổng số khí giới của hai cuộc Chiến Tranh Thế Giới cọng lại. Tôi trình bày hơi dài dòng về vấn đề nầy để chúng ta thấy mối dây chằng chịt giữa các tôn giáo Tây-phương nhất là Công-giáo La-Mã và vấn đề chính trị cũng như giữa tư bản và ý thức hệ...

            Sử gia Hoàng Thanh Đạm bênh vực Nguyễn Trường Tộ và lý luận rằng: “... những khó khăn mà tướng soái Pháp nêu lên là ở thời điểm 1858-1862, trong đoạn khởi đầu xâm lược, còn điều mà Nguyễn Trường Tộ nói trong Thiên hạ đại thế luận về thế áp đảo của Pháp là ở thời điểm 1863 ” (Cách Tân, tr.112). Nhận định như vậy là nhà sử học Hoàng Thanh Đạm thấy một mà không thấy được nhiều hơn. Vì ông Nguyễn Trường Tộ tự khoe là cái gì cũng biết hết, vậy thì tình trạng quân Pháp yếu quân ta mạnh trong giai đoạn trước lúc,  không phải sau khi , viết bài “Thiên hạ đại thế luận” tại sao ông không biết ? Hơn nữa, một trong 6 văn thư mật mà tôi nêu trên là vào năm 1863; thời gian Nguyễn Trường Tộ viết bài chiêu dụ ấy. Để biết rõ thêm thái độ Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình hòa với Pháp là có hậu ý và dụng tâm của một người Việt không ngay, chúng ta nên biết thêm sử liệu sau đây:

            Ngày 16.10.1858, Nguyễn Trường Tộ, Linh-mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và 5 người Việt Nam khác cùng đi với Giám-mục tình báo Gauthier đến cửa Mành Sơn, tại đây:“...Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà nẳng đứng đầu là Giám-mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp  chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng đô-đốc chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Saigon. Do đó trước khi đem quân vào Saigon, Đô-đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hồng Kông. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859” (Giao-Điểm, SĐD, tr.166-167, dẫn theo TBC, SĐD, tr.22).

            Nhắc lại đoạn sử liệu nêu trên để thấy rằng, Nguyễn Trường Tộ đã không tham gia các phong trào chống Pháp. Trái lại, ông theo sát gót giầy của thực dân từ ngày chúng bắt đầu chà đạp quê hương, 1.9.1858. Ông là một trong những phần tử “làm áp lực để Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm”. Bị Đô-đốc de Genouilly đuổi đi Hồng-Kông. Đến năm 1861 lại theo gót thực dân về làm thư ký cho Tổng hành-dinh Soái phủ tại Sài Gòn để chúng mở rộng vòng chiếm đóng. Từ năm 1858 đến năm 1863, ít nhất là hơn 4 năm ròng rã ông đi theo Pháp và sát cánh với Giám-mục tình báo Gauthier. Yêu nước Việt hay nước Pháp mà lạ đến thế ?

            Từ những sự kiện trên chúng ta có thể nói, Nguyễn Trường Tộ biết rất rõ tình hình nguy khốn của quân Pháp, nhưng ông sợ Pháp rút quân về nên viết bài để hù dọa quân dân ta và giữ chân Pháp. Nếu quả thật ông không biết tình hình của ta và Pháp đã và đang xảy ra xung quanh ông và trên các vùng mà Pháp vừa chiếm được tại Đà Nẵng và Sài Gòn, thì ông có thể biết được gì mà dám bàn “Thiên hạ đại thế luận”, tức là luận bàn những tình thế lớn trong thiên hạ! Sự mâu thuẫn quá lớn như thế, những người bênh vực N.T. Tộ trả lời thế nào ?

            Để hiểu rõ hơn, một lý do khác cho thấy hậu ý Nguyễn Trường Tộ khuyên dân Việt Nam hợp tác với Pháp, chúng ta nên tìm hiểu về nội tình của Pháp tại Việt Nam và tại Âu-châu trong giai đoạn Nguyễn Trường Tộ viết bài chiêu dụ “Thiên hạ đại thế luận” đầu năm 1863.  

       Theo hòa ước Nhâm Tuất, 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng, nhưng sự chiếm đóng nầy phần lớn là ở trung tâm thành phố, còn các đồng bằng và vùng lau sậy do nghĩa quân điều khiển. Các cuộc hành quân của Pháp rất vất vả trong các vùng nầy; lính bị muỗi đốt và nước độc sinh sốt rét và dịch tả chết rất nhiều. Mặt khác, nghĩa quân đánh theo lối du kích làm cho giặc Pháp tổn thất nặng nề. Hơn nữa, từ lúc bắt đầu đánh Nam-kỳ đến lúc đạt được hòa ước 1862, Pháp phải mất hơn 4 năm và thiệt mạng trên 2 ngàn người, đó là một con số rất lớn vào thời điểm ấy’ (Theo NTA, SĐD, tr. 25-54). Vì thế, các ông đô đốc Pháp đã than thở như chúng ta thấy ở trên.

            Với tình hình như thế, Nguyễn Trường Tộ làm việc dịch thuật cho Tổng hành dinh của quân đội viễn chinh Pháp, sống sát cánh với tên tình báo Gauthier, thì ông không thể không biết Pháp đang khốn đốn. Vì vậy, ông viết thêm nhiều bài khác khuyên triều đình cọng tác với Pháp để giải tỏa khó khăn cho thực dân. Còn sử gia Hoàng Thanh Đạm không đồng quan điểm nầy, nhưng ông đã không trưng bày được một sử liệu nào để làm nền tảng cho luận điểm của mình.

            Một cách gắn gọn, trong khi sáu bức thư mật của các đô đốc thực dân than thở về tình hình quân sự  bi đát của họ tại Việt Nam, và tình hình chính trị tại Âu-châu cũng không thuận tiện cho lực lượng Pháp muốn mở rộng thêm vùng chiếm đóng tại Sài-gòn, thì Nguyễn Trường Tộ lại viết tiếp: “Theo cách ngày nay thì nên để cho quân lính nghỉ ngơi... để họ (thực dân Pháp, BK) giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới”. Lý luận nầy cũng giống như nói rằng trong nhà có nhiều cô con gái đẹp, nên để cho hải tặc gìn giữ thì bọn sở khanh sẽ không “bén mảng tới ”. Thật là “cao kiến” chẳng còn gì để phê phán !

            Đọc kỹ “Thiên hạ đại thế luận” và những bài chiêu dụ khác của nhà thuyết khách họ Nguyễn, chúng ta sẽ thấy nhiều điều hết sức mâu thuẫn và sai lầm có dụng tâm. Lối trích dẫn của Hoàng sử gia cũng đầy mâu thuẩn và không để ý đến sự kiện và sử liệu. Ông viết:

      Tháng 5.1863, viết Trần tình khải, ông (N.T.Tộ, BK) thanh minh rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược:“Đối với những hạng người cho quân Pháp  là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà tự diệt uy phong của mình...Tôi lại đem những lợi hại phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Xin cứ hỏi những người xung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không...” (Hoàng Thanh Đạm, SĐD, tr.114). Đoạn vừa dẫn cho chúng ta thấy một sự mâu thuẫn quá lớn:

            Bài “Thiên hạ đại thế luận” viết vào khoảng tháng 3-4.1863, ông nói rằng quân ta yếu, quân Pháp mạnh. Nhưng chưa đầy 2 tháng sau ông viết như trên: có nghĩa là quân Pháp yếu, quân ta mạnh. Như thế, ông đã phủ nhận những điều viết bậy có hậu ý trong bài “Thiên hạ đại thế luận”, và nói giống tôi.

             Thực ra, lúc viết “Thiên hạ đại thế luận”, N.T.Tộ cố tình xuyên tạc lịch sử để cứu nguy cho Pháp như tôi đã chứng minh. Nhưng có lẽ vì bị phản đối hoặc thấy sai lầm quá lộ liễu, nên viết bài khác để bào chữa và bảo vệ mình. Cũng vì tâm chất dối trá nên tiền hậu bất nhất. Vì thế, ông đã không thấy sự mâu thuẫn to lớn về hai bài vừa viết cách nhau chưa đầy 2 tháng ! Còn sử gia họ Hoàng đã nhọc công nghiên cứu đến hơn 20 năm, lại trích dẫn hai bài viết gần nhau của N.T.Tộ, trong đó mâu thuẫn rõ ràng đến thế mà không thấy, lại bênh vực ông ta và cho tôi viết sai về tình hình quân Pháp, và cố ý chối bỏ sự thực lịch sử trong các tài liệu mật của Pháp về thế khốn cùng của chúng, nên cụ Hoàng viết tiếp:“Chúng ta không vội nghi ngờ độ tin cậy của những câu  trích dẫn (của Bùi Kha) được dịch ra tiếng Việt lại còn đăng tải cả nguyên văn tiếng Pháp” (HTĐ, SĐD, tr. 111).

            Một điểm quan trọng khác là trong bài nầy Nguyễn Trường Tộ viết :“...lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chận đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của quân đội Cần Vương...” . Mặc dầu Lm. Trương Bá Cần không nói rõ trong sách, nhưng tôi được biết rằng ông không biết chữ Nho, nên 58 bản chiêu dụ đều do ông Lý Kim Hoa dịch ra Việt-ngữ . Tuy vậy cả dịch giả lẫn tác giả Trương Bá Cần đã không thấy cụm từ quân đội Cần-Vương ” [1] được nhắc đến trong bài Thiên hạ đại thế luận” viết vào đầu năm 1863. Trong lúc đó, quân đội Cần-Vương chỉ xuất hiện 22 năm sau khi vua Hàm-Nghi bỏ kinh thành đi kháng chiến do cuộc nổi dậy chống Pháp bất thành tại Huế ngày 7. 5.1885. Nhiều tác giả, trong đó có sử gia Hoàng Thanh Đạm, đã trích dẫn và ca tụng ông N.T.Tộ hết mình qua bài chiêu dụ nầy, nhưng quên để ý sự sai lầm trong thời gian tính của từng biến cố, cho nên có thể đây là một bài  ngụy tạo. Dù ngụy tạo hay thật, và cụm từ nào đó bị dịch nhầm thành “quân đội Cần Vương”, nhưng nếu đọc kỷ bài nầy chúng ta cũng sẽ thấy cái tư tưởng: Ăn cơm Việt nam, thờ giặc Pháp của N.T. Tộ như đã chứng minh.

            2. “ Lấy thịt đè người” : Sử gia Hoàng Thanh Đạm đã dẫn chứng rất nhiều nhân vật tên tuổi ca ngợi Nguyễn Trường Tộ, trong đó có cụ Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Quan điểm của tôi là mỗi nhân vật đều có sở trường và sở đoản, nhất là trong thời kỳ Pháp thuộc và đất nước chiến tranh, nhiều tài liệu mật bị khóa chặt trong các thư khố, còn một số sách thì được viết bởi phần lớn các người theo Công-giáo, mang đầy tình cảm tôn giáo, che đậy và đảo lộn sự thực vì  mặc cảm. Thí dụ, ngay cả đến sau năm 1994, tiến-sĩ Thần-học Linh-mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, trong cuốn “Divers Voyages Et Missions”, dịch cụm từ “Plusieur Soldats” là vài binh lính. Lại còn chú thích là lính thừa sai chứ không phải lính chiến. Giáo-sư Chương Thâu, Viện Sử-học Hà-nội, lại bênh vực và đồng ý ngữ nghĩa nầy. Mà thực ra chữ “plusieur soldats” có nghĩa là nhiều binh lính và chữ missionaires mới có nghĩa là lính thừa sai (tức là giáo sĩ), và chữ quelque mới có nghĩa là (một) vài. Người ta cố tình đổi nghĩa văn tự như vậy để che đậy cái tội vận động chính phủ Pháp vào xâm chiếm nước ta của Linh-mục A. De Rhodes (năm 1652).

Một thí dụ khác, Thánh-kinh Tân Ước xuất bản tại thành phố HCM năm 1997. Theo mấy trang đầu và lời giới thiệu của Tổng Giám-mục Nguyễn Văn Bình thì ban dịch thuật có đến 14 người gồm các linh mục, tu sĩ và những người có hiểu biết chuyên môn về Thánh-kinh và đã để ra hơn 20 năm để nghiên cứu và dịch thuật, nhưng có nhiều chỗ sai, nhất là chương 15, đoạn 22-26 sách Ma-thi-ơ (Matthew). Các dịch giả đã cố tình dịch sai có hậu ý mà tôi đã vạch rõ trong cuốn “Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi ?” (Giao Điểm, tái bản lần thứ nhất  2001, tr.13-18). [2]

            Vì thế, trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo” trang 184 tôi có đặt câu hỏi :“Một con người như thế tại sao có nhiều người nhầm lẫn ? Để ca tụng ông bằng những danh từ cao quí...”  Tôi đưa ra mấy lý do: 1. Thiếu sử liệu; 2. Vài tác giả trích vài câu, vài đoạn rồi ghép lại với nhau, nhưng không đọc hết toàn bài và lồng nó vào trong bối cảnh của tình hình lúc bấy giờ để tìm xem   hậu ý của Nguyễn Trường Tộ đang thập thò sau bức màn canh tân là gì, v.v. Chính tôi lúc đầu cũng đã lầm và ca tụng ông về việc sửa đổi võ bị đến 11 trang trong bản thảo. Nhưng sau đó sực nhớ lại cuốn “Tôn Ngô Binh Pháp” mà tôi có đọc lúc học lớp 9. Sau khi đem ra đối chiếu, tôi đã tìm ra ít nhất là 6 binh lược mà Nguyễn Trường Tộ lấy từ trong đó lại còn không đề xuất xứ. Do đó, vấn đề đúng sai không thể hoàn toàn căn cứ vào số đông mà phải căn cứ vào sử liệu có chính xác hay không. Hơn nữa, chúng ta nên hiểu rằng lời ca ngợi của Chủ-tịch Hồ chí Minh đối với N.T.Tộ là mang tính chính trị và tâm lý của một chính khách, chứ không phải là lời phát biểu của một người nghiên cứu.

            3. Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?: Cũng thế, nhằm mục đích chứng minh cho bằng được Nguyễn Trường Tộ có lòng yêu tổ quốc, sử gia Hoàng Thanh Đạm viết “Sau khi đã mất 6 tỉnh Nam-kỳ, triều đình cuống quýt lo toan cử người sang Pháp chuộc lại, thì Nguyễn Trường Tộ trong di thảo số 36 ngày 7.4.1868, bàn với triều đình nên “bãi bỏ việc cử phái bộ đi Pháp...” Ông khuyên nên tính kế lâu dài, dầ⮠nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp...” (Cách Tân, SĐD, tr.116). Sử gia họ Hoàng cứ nghĩ  N.T.Tộ thật sự yêu nước nên mới có cái “cao kiến” ấy, chứ không chịu tìm hiểu tình hình Pháp và Âu-châu thời bấy giờ để biết cái hậu ý tại sao ông Việt gian nầy lại khuyên triều đình nên “Bãi bỏ việc cử phái bộ đi Pháp” ? Tôi xin trả lời hộ sử gia bằng sử liệu dưới đây:

 Tình hình Âu-châu lúc nầy rất bất lợi, không cho phép Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh mới.“Đô-đốc La Grandiere nhận được lệnh phải từ bỏ mọi dự định chiếm đóng ba tỉnh miền tây Nam-kỳ”...

            “Chính phủ Pháp phản đối mọi biện pháp vũ lực có thể làm nước Pháp lâm vào một cuộc chiến lâu dài với Triều-đình Huế. Nhưng Đô-đốc de La Grandiere trông đợi ở sự thành công của hành động của ông để đặt chính phủ Pháp trước một sự việc đã rồi. Tân Bộ-trưởng Hàng-hải , Rigault de Genouilly, luôn luôn khuyến cáo La Grandiere phải tránh tất cả những gì có thể làm cho Triều-đình Huế lo ngại. Ngày 10.6.1867, ông còn viết cho La Grandere là: “Mặc dầu tình trạng (chính trị Âu-châu) bớt căng thẳng hơn, nhưng cho tới khi có lệnh mới ông đừng nghĩ tới chuyện biểu dương lực lượng đối với ba tỉnh. Cho nên, phản ứng đầu tiên của Rigault de Genouilly khi được tin quân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây là bất mãn đối với La Grandiere... Điều quan trọng đối với ông (La Grandiere, BK) là làm sao khiến Triều-đình Huế chấp nhận sự việc đã xảy ra  (đã chiếm 3 tỉnh miền Tây, BK); ngày 30.6.1867, ông gởi thư cho vua Tự-Đức để đề nghị thương lượng, nhưng vua Tự-Đức bằng một văn thư lời lẽ cứng rắn, trách cứ La Grandiere đã lạm dụng sức mạnh mà xâm phạm quyền lợi của chính phủ Việt Nam... Nhà vua còn tỏ ý là sẽ phái sứ giả sang Paris để thương lượng thẳng với chính phủ Pháp” (Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr. 54, 58, 59 & 60).

            Vua Tự-Đức nhất quyết không chịu thương thuyết với La Grandiere, nên tên thực dân nầy đã xử dụng đường lối chính trị khác. Theo phó tiến sĩ Y.Tsuboi thì:“Khi đạo quân bên nầy không thể áp đảo bên kia được thì tìm một giải pháp chính trị. Người Pháp biết rõ như thế và bằng cách sai một nhân viên mật vụ, Charles Duval, đến Bắc-kỳ với sứ mệnh xúi giục một cuộc nổi loạn chống chính quyền (Huế, BK), liên kết với giáo dân – đó là cuộc nổi loạn do Lê Duy Phụng chỉ huy – họ hướng Triều-đình Huế đến cuộc đình chiến ở Nam-kỳ” (Y.Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847-1885, bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Ban Khoa Học Xã Hội Thành Ủy, TP HCM, 1990, tr.261-262).

Như vậy, nếu Triều-đình Huế cử sứ bộ đi Pháp thì La Grandiere sẽ bị thượng cấp khiển trách và Việt-nam có thể đã lấy lại được 3 tỉnh miền Tây Nam-kỳ. Sự cố nầy dĩ nhiên là ông đô-đốc, các ông giáo sĩ, những kẻ Việt-gian, trong đó có Nguyễn Trường Tộ, không muốn ! Đó mới là lý do để ông viết thư khuyên triều đình “Bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp ” vào năm 1868, chứ chẳng phải ông Tộ có lòng yêu nước như sử gia Hoàng Thanh Đạm lầm tưởng ! Tôi sẽ trở lại vấn đề nầy ở một đoạn sau, và sẽ dẫn thêm một số sử liệu khác để thấy tâm địa thờ Pháp của N.T.Tộ.

            Biết được hậu ý của ông Tộ, nên trong bài trước đây tôi đã viết rõ :“...tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ không được bố cục một cách nhất quán, mà viết theo những biến chuyển của tình hình và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam cũng như theo bối cảnh lịch sử Việt Nam thời đó”(NTT, Giao Điểm, SĐD, tr.9) để dối gạt triều đình và cứu nguy cho Pháp !

            4. Nhà nuôi trẻ: Sử gia Hoàng Thanh Đạm viết “...Một kiến nghị thực tâm thiện chí như thế bị anh Nguyễn Kha thêm vào mấy chữ “do giám mục tình báo Gauthier cử người điều khiển” lập tức biến thành một âm mưu hại nước” (HTĐ, SĐD, tr.122).

Như tôi đã viết trong bài, Nguyễn Trường Tộ lộng giả thành chơn; ông đưa ra một vài nhận định trông có vẻ hợp lý để đánh lừa, nhưng mục đích không phải nói cái nầy mà cái khác, cái hậu ý đàng sau đó. Nói theo kiểu người miền Nam:“Nói dậy nhưng không phải dậy ”. Tôi cũng đã đưa ra hai thí dụ về vai trò của các giáo-sĩ thời bấy giờ. Thứ nhất là vụ Linh-mục Ân ở Xuân Hòa (Huế). Thứ 2 là vụ Thiên Tân Giáo Án ở Trung Quốc (Nguyễn Trường Tộ, Giao Điểm, tr.131-133). Thực ra trong lịch sử có rất nhiều trường hợp phản loạn do người Công-giáo  chủ xướng như Lê văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, chiếm toàn tỉnh Gia Định năm 1835. Giáo-sĩ Marchand (cố Du) đóng vai cố vấn và yểm trợ với âm mưu thiết lập một “Vương quốc Công-giáo ly khai ”. Sau khi triều đình dẹp yên, gần 2000 giáo dân bị chém còn Marchand bị xử “lăng trì”. Cùng thời, tại Bắc-kỳ, Tạ Văn Phụng được các giáo sĩ đổi tên thành Lê Duy Phụng rồi cùng với giáo dân nổi loạn chống lại triều đình với chiêu bài “Khôi phục nhà Lê”. Năm 1850 ở Trung Quốc có loạn “Thái Bình Thiên Quốc” của Hồng Tú Toàn với đạo quân Giê-su đánh chiếm nhiều tỉnh.

            Hiện tượng núp dưới chiếc áo chùng thâm  [3] và xử dụng chiêu bài tự do tôn giáo cho mục tiêu chính trị, cũng được công sứ Bonnal cho biết: “Khi một giáo sĩ đã thiết lập được một xứ đạo trong một làng rồi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Người bản xứ từ chối không đóng thuế, tuyên bố không thừa nhận chính quyền nào ngoài chính quyền của ông giáo sĩ, là người đích thân dạy cho giáo dân không thừa nhận chính quyền nào ngoài chính quyền của giám mục...” (Tiến-sĩ Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Tại Việt Nam, 1858-1897, Hoa-kỳ 1995, tr. 360-361).

            Ngay cả đến năm 1886 mà ông linh mục Việt gian tên “Trần Lục, quản xứ Phát Diệm...nhận phép của Giám-mục Puginier rồi tiếp viện cho quân Pháp 5 ngàn giáo dân. Vì vậy chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng bị thất thủ” (... père Tran Luc, curé de Phát Diệm… Celui-ci avec la bénédiction de Mgr. Puginier vint à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Dinh fut pris F. Rouvier, Loin du pays, Paris 1896, p.103-104, cité par le Father Tran Tam Tinh, Dieu et Casar, Paris 10.1978, pp. 41 & 42).

            Ngay gần 100 năm sau thời N.T. Tộ, con quạ lúc nào cũng vẫn màu đen:

 Những giáo-sĩ Công-giáo tự động trở nên những“tác viên chính trị” tạo thành nền tảng quyền lực chính trị của Giáo-hội bất cứ nơi nào họ dựng   lên những cọng-đồng Công-giáo” (Avro Manhattan, Catholic Imperialism and World Freedom, London 1952, P.365, NTT, Giao-điểm, SĐD, tr. 218, bài viết của Tiến-sĩ Vật-lý Trần Chung Ngọc ). Xin xem thêm kế hoạch Liên Minh Thánh và lời tuyên bố của Giáo hoàng Phao Lồ 2 trong cuốn NTT, GĐ, SĐD, tr.153, 154.

Giám-mục Puginier cũng cho biết tín đồ Công-giáo là những người Pháp tay trong:

“Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng giống như cua bị bẻ gãy hết càng(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes).

            Hành động của giáo sĩ và giáo dân như thế mà ông Nguyễn Trường Tộ lại đề nghị mỗi tỉnh mở một nhà nuôi trẻ do giám mục cử người đến điều khiển. Phải chăng, đó không phải là một hành động giúp cua thêm càng để có được một cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền toàn cõi Việt Nam do chính các giáo sĩ chỉ huy con chiên dưới trướng họ? Sử gia Hoàng Thanh Đạm phê bình chúng tôi như trên, nhưng ông không nêu ra được một chứng cớ nào để cho thấy nếu theo kế sách đó của ông Tộ thì sẽ không có tình trạng nào đáng tiếc xẩy ra cho tổ  quốc ?  Giả sử N.T. Tộ có “thành tâm thiện chí” chứ không có âm mưu làm lợi cho Pháp như sử gia Hoàng Thanh Đạm hiểu lầm thì tôi đoan chắc rằng, kế hoạch  nầy của N.T.Tộ sẽ giúp cho Pháp đánh chiếm Việt Nam mau lẹ và rút ngắn thời gian đồng hóa dân tộc ta mà thầy của ông từng chủ trương như tôi đã trình bày (NTT, SĐD , tr. 118-128 ).

            5. Trọng tâm phê phán nhắm vào tôn giáo?:  Đây cũng là một trong những điểm chính mà sử gia họ Hoàng phê bình. Ông còn cẩn thận hơn lúc viết :“Nguyễn Kha dùng tới 77 trang trong 188 trang của luận văn...và Trần Chung Ngọc dành 48 trang trong 70 trang để nói về các vấn đề tôn giáo nhằm phê phán Nguyễn Trường Tộ”.

Tôi không xem lại để thấy số trang như vậy có đúng không. Nếu có, cũng không phải vì thế mà bài viết của chúng tôi giảm giá trị. Vả lại, tại sao chúng ta phải tránh né không chịu mỗ xẻ con người và cái tôn giáo đã tác hại cho tổ quốc và cả nhân loại ? Nhưng điều thiếu sót của Hoàng sử gia là không thấy trong hầu hết các bài viết, Nguyễn Trường Tộ đã lồng tư tưởng Thánh-kinh, nói đến giáo hoàng, nhắc tên mấy ông giám mục, linh mục Việt-gian và tình báo rồi đề nghị dùng họ vào việc canh tân và những việc khác. Ông Tộ đã xử dụng hầu hết 58 bản chiêu dụ để nói về Thánh-kinh, để thuyết khách theo sách lược của Pháp, của Vatican và của phái đoàn truyền giáo Hải-ngoại Paris. Dẫu sao, vấn đề quan trọng vẫn không phải ở chỗ tỉ số bao nhiều phần trăm trong bài viết nói về tôn giáo mà vấn đề là bàn đến “canh tân”(?), tại sao nhà thuyết khách họ Nguyễn lại đem những ý niệm sai lầm về Ki-tô-giáo, về Kinh Thánh, giáo-hội, giám-mục, linh-mục vào hầu hết các bản chiêu dụ với dụng tâm gì ? Do đó, nếu chúng tôi có nhiều trang viết về tôn giáo thì đó là điều không thể tránh. Nhưng nếu so với những bản chiêu dụ, chúng tôi thấy Nguyễn Trường Tộ thuyết minh về tôn giáo của ông đến khoảng 90 phần trăm.

            Và dĩ nhiên, Nguyễn Trường Tộ và có lẽ cả sử gia Hoàng Thanh Đạm chưa biết điều nầy: mấy năm trước đây,“Hội Jesus Seminar”, gồm các giám mục, mục sư, linh mục và các học giả người Công-giáo và Tin Lành, qua nhiều năm nghiên cứu Thánh-kinh, đã khám phá ra rằng “80% Thánh-kinh được ngụy tạo”  (Jesus Seminar, which recently declared that Jesus did not say 80% of what is attributed to him. LA Times, 30.3.1991). Vì thế, Thánh-kinh được in thành hai loại mực, đỏ và đen. Mực đỏ là thật, mực đen là ngụy tạo. Thánh-kinh là tôn chỉ của một tôn giáo, cũng như hiến pháp là kim chỉ nam  cho một quốc gia. Vậy mà tôn giáo đó lại được thiết lập trên cuốn Thánh-kinh ngụy tạo đến mức độ như thế thử hỏi còn gì là giá trị của nó ? Dẫu vậy, cuốn Thánh-kinh vẫn được xử dụng như một loại khí giới hiệu nghiệm nhất, và mấy chữ “tự do tôn giáo” đã được khai thác triệt-để trong quá khứ để chiếm thuộc địa và đồng hóa dân lành. Ngày nay nhãn hiệu tự do tôn giáo đang bị lạm dụng để ngoại bang theo đuổi một chính sách thực dân mới. Vì thế, Nguyễn Trường Tộ cặp kè với ông giám-mục tình báo và trình bày nhiều về tôn giáo của ông trong hầu hết các bài chiêu dụ là lý do cần phải hiểu . Ông là một trong những người xử dụng chiêu bài canh tân và sách lược tôn giáo nhằm đặt cái thứ có đến 80% ngụy tạo ấy lên đầu dân tộc ta để khống chế trước hết là lãnh thổ và tiếp theo là văn hoá.

Chúng tôi không dám bàn thêm vấn đề nầy mà muốn thuật lại lời than phiền cay đắng về đạo Tin-lành và Công-giáo, [4] của vị giám mục Anh-giáo Desmond Tutu, người Phi-châu, được giải thưởng hòa bình Nobel năm 1984, như sau:

       Lúc người da trắng đến, chúng tôi có đất đai, họ có cuốn Thánh-kinh.  Chúng tôi tin tưởng họ, nhắm mắt lại và cầu nguyện với cuốn Thánh-kinh trong tay. Lúc mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh-kinh, còn họ có tất cả đất đai của chúng tôi..”

            (We have our lands and they came with their Bible. We believe in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands).

            Sử gia Hoàng Thanh Đạm có thể cũng chưa có thông tin sau đây:“Từ 1975, số tân tòng Tin Lành Việt-nam thuộc các dân tộc thiểu số tăng 4 lần...Ý niệm về ngày xuống thế thứ nhì của Chúa vang vọng hấp dẫn đặc biệt với dân Hmong...Cọng-sản VN không quên rằng người Pháp đã cho dân Hmong (Mường) tự trị, và Hmong cũng đã được Mỹ hứa hẹn nhiều thứ. Nicholas Tapp, một học giả Hmong, nói, “Dân Hmong luôn luôn muốn có một quê hương riêng...” Vài nhà truyền giáo đã không ngần ngại hứa hẹn với dân Hmong rằng nếu họ chấp nhận đức tin Kitô (Công-giáo và Tin-lành, BK) thì họ sẽ có quê hương riêng, cũng như sự giàu có như người Mỹ(báo Thời-Luận, Los Angeles, CA. Hoa-Kỳ, 29. 9.1999). Hai cái bánh vẽ: Chúa xuống thế lần thứ nhì để cứu chuộcgiàu có như Mỹ đã làm cho một số bộ lạc dân-tộc Thiểu-số nỗi loạn muốn ly-khai. Mà chính họ lại không biết rằng, ngài Giê-su đã không tự cứu được mình nên bị đóng đinh vào cây Thập-ác, ngài quá đau khổ khóc la, nước mắt chảy tràn trụa. Cứ nhìn vào ảnh tượng của ngài trong nhà thờ thì thấy rõ. Còn sự giàu có, nhìn nước Phi luật-Tân kế cạnh Việt-nam. 80% theo Kitô nhưng có giàu hơn Việt-nam không? Mặc dầu Phi độc lập và tự trị trước Việt-nam từ lâu. Và nhiều quốc-gia Châu Mỹ La-tinh theo Tin-lành toàn diện, lại là những nước nghèo nhất thế giới!  Trong lúc đó, Nhật chỉ có 1% Tinh lành, Công giáo không đáng kể, Phật giáo đa số lại là một nước giàu thứ nhì trên thế giới.  Những người đi dụ kẻ khác cải đạo để làm hại cho tổ quốc Việt-nam trả lời  thế nào?

            Một trong những chủ trương của tôn giáo độc thần Tây-phương là đổi đạo dân miền Thượng để thiết lập những quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn, chúng tôi đã báo động 6 kế hoạch của họ trong bài “Những Đại Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt Nam” trong cuốn “Phật Giáo Trong Thế kỷ Mới” tập I, Giao Điểm xuất bản năm 1996, và được nhắc lại trong  cuốn Nguyễn Trường Tộ nói trên. Do đó, tháng 2 năm rồi (2001), tại Pleiku người sắc tộc đòi độc lập tự trị, chúng tôi  đã biết trước nên không ngạc nhiên .

            Mấy thí dụ trên cho thấy đến thế kỷ nầy mà người ta còn trắng trợn chủ trương như thế huống nữa là thời ông Nguyễn Trường Tộ. Và do đó, một lần nữa chúng ta thấy rõ hơn tại sao ông Tộ lồng ý niệm Thánh-kinh, nói về Thượng-đế, nhắc đến giáo sĩ... vào hầu hết các bài khuyến dụ. Nghiên cứu ông Tộ hơn 20 năm mà Hoàng sử-gia vẫn chưa thấy cái chiêu bài tôn giáo lại còn phê bình sai: “Trọng tâm phê phán của N. Kha và T. C. Ngọc đối với N. T. Tộ tập trung nhất vào vấn đề tôn giáo” (HTĐ, SĐD. tr. 105).

            6. Thực tâm mở Trường Kỹ Thuật?: Bài viết trước đây, tôi đã dành gần 20 trang (từ tr.110-130) để bàn luận về vấn đề nầy một cách khá đầy đủ, từ việc tốn kém mua sắm dụng cụ đến việc khao đãi của nhà vua và sự tán đồng chương trình mở trường kỹ thuật của các quan đại thần trong triều. Tôi cũng nêu lên lập luận sai lầm của Linh-mục Trương Bá Cần về lý do khiến việc mở trường thất bại, cũng như sự mâu thuẫn giữa lý lịch do Bộ Truyền Giáo Paris cho biết và tờ trình về khả năng các thầy giáo mà Tộ và Gauthier trình lên vua Tự-Đức . Tôi nghĩ là vì thiếu thận trọng và cố tình đánh bóng cho ông Tộ, nên Lm Tiến-sĩ sử học Trương Bá Cần đã để lại vô số mâu thuẫn và sai lầm trong sách của ông mà tôi sẽ phê bình vào một dịp khác. Lúc phân tích và đối chiếu sự mâu thuẫn nầy, tôi để đoạn văn trong ngoặc kép và in chữ nghiêng rõ ràng. Nhưng sử gia Hoàng Thanh Đạm trích sai rồi chê tôi, và ca ngợi Nguyễn Trường Tộ điều mà ông ta không hề có. Hoàng Thanh Đạm viết (trang 122):

            “Anh (Nguyễn Kha) chứng minh việc thầy giáo không có khả năng là: một ông thi đậu cử nhân văn chương mà nói là biết phép toán học, bản đồ và điện khí, một ông thì mới gia nhập Hội-truyền-giáo, đi học khóa kiến trúc một năm mà nói là thạo môn đồ bản và biết làm cột thu lôi...”  Ý cũng như lời của đoạn văn nầy không có trong bài viết của tôi. Trái lại, tôi trích nguyên văn của Linh-mục Trương Bá Cần như sau (Nguyễn Trường Tộ, Giao-Điểm 1998, tr.115-117): “Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868):

            - “Linh mục Thông, (tức Montrouzies) biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi”. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì Linh mục Montrouzies trước khi nhập Hội Truyền giáo Paris, ngày 1-5-1867 đã đậu cử nhân văn chương.

            - “Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ”.

            Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris thì sau khi học xong chủng viện, Linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền Giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam.

            - “Giáo sĩ (tức bác sĩ Hernaiz) không phải linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi giáo sĩ như Nguyễn Trường Tộ⠣ũng được gọi là giáo sĩ, “thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp Linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc”. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày “giáo sĩ” nầy do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại”.

            - “Còn Ca Xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài gòn đem về giới thiệu với triều đình, nhưng Ca Xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dùng” (TBC, SĐD, tr. 49 & 50).

            Đoạn văn trên (trong sách của Linh-mục Trương Bá Cần, người ca tụng NTT) đã cho chúng ta thấy sự mâu thuẫn và lừa dối về khả năng của thầy giáo do Nguyễn Trường Tộ và Gauthier mời về để mở trường kỹ thuật hay không ? Sử-gia Hoàng Thanh Đạm viết bài tranh luận với chúng tôi nhưng trích dẫn sai cả ý lẫn lời. Ông tiếp tục:

“Tất cả những chuyện nầy Trương Bá Cần đều viết rõ trong tác phẩm N.T.Tộ Con Người Và Di Thảo, và Nguyễn Kha đều sử dụng tư liệu của Tr.B.Cần, nhưng anh lờ đi đoạn văn quan trọng của Trương Bá Cần: “Triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam-kỳ đã mất vào tay Pháp (... nên có 3 chấm, BK). Việc dự án mở trường ở Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong triều đình (...) Còn có cả một luồng dư luận khá rộng rãi trong triều đình cũng như ở các tỉnh tỏ ra dè đặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ Pháp (...) Những ngày tháng 4.1868 có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người Công-giáo” ( Tr.B.Cần, sđd. tr. 51-53 , Hoàng Thanh Đạm, tr.122-123).

Sử gia Hoàng Thanh Đạm trách không đúng. Vì cụ cho đoạn văn đó là quan trọng nhưng tôi không nghĩ như thế. Vì vậy mà tôi không trích chứ không phải “lờ đi ”. Thực ra, tôi đã bác bỏ luận điểm sai lầm của Linh-mục Trương Bá Cần về vấn đề thất bại trong việc mở trường và đã viết rõ như sau:

            Qua sự khao thưởng như trên mà tôi trích dẫn dài giòng để thấy, triều đình Tự Đức cũng biết chiêu hiền đãi sĩ. Ngay cả việc vua Tự Đức đồng ý đề nghị của Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier xây dựng trường sở trên hai mẫu đất nằm giữa nhà thờ Kim Long và tòa Giám mục Huế, theo thư của Giám mục Gauthier viết ngày 31-3-1868 (TBC, SĐD, tr. 50).

 “Nhưng việc mở trường chưa bao giờ được thực hiện. Lý do, theo Linh mục Trương Bá Cần là bị Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình, hai vị quan có thế lực trong triều ngăn cản. Cũng theo Linh mục Trương Bá Cần (SĐD trang 52) ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier gởi thư cho bộ truyền giáo có đoạn như sau:

            “Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử phái bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ nầy... Trong các quan thượng thư có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua”.

            “Linh Mục Trương Bá Cần nêu lý do trên để kết luận “vì thế mà trường không mở được”. Theo tôi lý do nầy không đúng.

             Thứ nhất, trong tờ tấu của Cơ Mật Viện, ngày 4-3-1868 mà chúng ta đã thấy ở trên, có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình đề nghị ban thưởng cho phái bộ và 4 giáo chức. Điều đó cho thấy, nếu hai vị nầy có ý cản trở thì họ đã không đề nghị vua Tự Đức ban thưởng như vậy.

            Thứ hai, thư của Giám mục Gauthier gởi cho bộ truyền giáo, đề ngày 31-3-1868, nghĩa là 27 ngày sau khi bảy vị đại thần đề nghị ban thưởng cho “phái bộ Gauthier...”. Thư cho biết, vua Tự Đức đồng ý dùng hai mẫu đất để xây trường sở. Sự đồng ý của vua Tự Đức không thể không có sự tham khảo với các đại thần trong đó có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình. Hơn nữa Trần Tiễn Thành mới là nhân vật chính trong Triều (chức phụ chính) sau vua Tự Đức chứ không phải Nguyễn Tri Phương hoặc Vũ Trọng Bình.

            Thứ ba, Linh mục Trương Bá Cần trích dẫn chỉ có một đoạn thư “gởi cho bộ truyền giáo" như trên, không nói lên được điều gì cho thấy hai vị thượng thư đó cản trở. Việc trích dẫn như vậy không rõ ràng, không chứng minh được luận điểm mà Linh mục Trương Bá Cần muốn nói.

            Theo tôi, những lý do chính để việc mở trường không thành vì triều đình Tự Đức quá tin tưởng Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ, trái lại hai ông nầy thì lừa dối triều đình có hậu ý: kẻ thì ngu muội chạy theo ngoại bang, người thì khoác áo chùng thâm để làm gián điệp. Sau đây là một số bằng chứng” (8 đoạn chữ nghiêng trên là trích nguyên văn trong cuốn NTT, Giao-Điểm, tr.113-115).

Sử-gia Hoàng Thanh Đạm đọc nhưng không thấy được các chứng cớ tôi đưa ra, nên đã nhận định sai lầm về những sự kiện lịch sử cũng như về người mà mình đang tranh luận. Vì thế ông viết tiếp:

“Rõ ràng việc mở trường ở Huế không thành là do nguyên nhân thời thế chứ không phải do giám-mục Gôchiê và Nguyễn Trường Tộ là người đã cất công đi lo toan việc nầy trở mặt đánh lừa nhà vua bằng cách chọn thầy dạy học thiếu năng lực. Vả lại có ai cấm một cử nhân văn học mà có thêm hiểu biết về kỹ thuật, một linh mục học về kiến trúc một năm mà có được khả năng dạy vẽ đồ bản và cách làm cột thu lôi. Lời buộc tội của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc thật là gượng ép” (HTĐ,  SĐD, tr.123).

Về nội dung đoạn văn này, tôi không những đồng ý cách đánh giá của sử-gia Hoàng Thanh Đạm về khả năng thầy giáo, mà còn muốn nói thêm rằng bằng cấp chỉ là một nấc thang giá trị nào đó của học vấn, chứ nó không nhất thiết sẽ cho thấy kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ. Một chuyên gia không cần có bằng cấp nhưng có thể có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về vấn đề mà mình muốn dạy cho người khác. Trong bài tôi không hề nói ông thầy giáo nầy chỉ có bằng cử nhân văn chương, ông linh mục kia chỉ có bằng kiến trúc sư ... Mà tôi trích văn thư của Bộ Truyền-giáo qua LM Trương Bá Cần. Rất mong sử gia Hoàng Thanh Đạm nên đọc kỹ hơn lúc tranh luận để tránh tình trạng “Trật đường rầy(out of context).

            Giả sử không có ai cản ngăn và không vì hoàn cảnh v.v...như Lm. Trương Bá Cần nêu ra, nghĩa là trường kỹ thuật được mở như dự liệu, thì xin Sử-gia Hoàng Thanh Đạm cho biết bốn ông thầy giáo nêu trên với khả năng và tư cách (mà Bộ Truyền-giáo của họ cho biết) như thế, liệu họ có thể dạy cho trường kỹ thuật được không ? Tôi nghĩ không. Nhưng nếu có ai trả lờithì câu hỏi khác được nêu ra: thầy trò gián điệp Gauthier - Nguyễn Trường Tộ một mặt : muốn “biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ ” rồi đồng hóa toàn dân Việt Nam như tài liệu mật đã cho thấy, mặt khác lại muốn giúp dân Việt Nam tiến lên để giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân qua con đường giáo dục kỹ thuật, phải chăng không có một sự mâu thuẫn quá lớn ?

             Trong sách (từ tr.117-129) tôi đã dẫn 5 sử liệu mật của Pháp cho thấy Giám-mục Gauthier là một tên gián điệp nguy hiểm nhất tại Việt Nam thời bấy giờ, ông ta chỉ thua ông giám mục gian ác nhất, Puginier, có một bậc! Còn Nguyễn Trường Tộ ít nhất là 10 năm ròng rã, từ lúc ra cửa Mành-sơn, phụ sức “làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh  thẳng Huế cho chóng dứt điểm” vào năm 1858, đến lúc lao xao mở trường kỹ thuật vào 1868, vai kề vai lòng cạnh lòng với tên gián điệp Gauthier mà không biết ông ta là gián điệp, có ai tin nỗi điều đó không? Câu “thầy sao trò vậy”, va#147;Cho tôi biết anh lân la với ai tôi sẽ nói anh thuộc thành phần nào” (Dire moi qui tu hantes je dirai qui tu es) sẽ không sai trong trường hợp Nguyễn Trường Tộ.

            Giả sử Nguyễn Trường Tộ thật tình không biết thầy mình là tên gián điệp phá nước mình, hại dân ta, thì việc ông lớn tiếng tự khoe cái gì cũng biết (NTT, GĐ, tr.177) sẽ trở thành một kẻ đại ngôn khoác lác và dối trá. Nếu biết mà không tố cáo lại còn viết “... xin giám mục giúp đỡ... Đừng cho giám mục biết tôi đã bàn với triều đình như thế..., Những việc Giám-mục Gauthier có thể giúp”,  như thế thì quả thật đó là một loại ngôn ngữ kiểu gián điệp để đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin mà thôi. Nên dùng ngữ nghĩa nào để đánh giá N.T. Tộ đây?

            7. Bình Tây Sát Tả?:  Sử gia Hoàng Thanh Đạm cho chúng tôi có tư tưởng “Bình Tây sát Tả ”. Đó là lời cáo buộc chỉ đúng một nữa, Bình Tây. Cũng như nghĩ rằng chúng tôi viết bài theo lối đặt hàng, và không muốn nước nhà canh tân đổi mới. Xin trả lại những ý nghĩ không có cơ sở và vu khống này cho sử gia. Mong rằng, không nên cáo buộc bất cứ người nào lúc mình không có bằng chứng.

             Trở lại vấn đề bình Tây sát Tả. Sở dĩ chúng tôi không có tư tưởng“Sát Tả” vì tín đồ Công-giáo và Tin-lành nguyên họ là những người Việt chân thật đầy lòng yêu nước thương nòi. Nhưng lúc trở thành con chiên, chính sách giáo dục của hai tôn giáo nầy đã biến họ từ một người Việt yêu nước thành những kẻ bán nước. Do đó, họ là nạn nhân của các ông giáo hoàng, nạn nhân của các ông giám-mục, linh-mục và mục sư, mà trên hết là nạn nhân của hai cuốn “Thánh” kinh; Tân-ước và Cựu-ước. Vì thế, như trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ, Thực chất con người và di thảo” trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng tại Việt-nam, các tín đồ Phật-giáo, Khổng-giáo và Lão-giáo không bao giờ bị triều đình hay vua chúa trừng phạt, nhưng chỉ có các tín đồ đạo Ki-tô bị mà thôi vì lý do như đã nêu trên. Đó là mấu chốt của vấn đề, chứ chẳng phải có gì khó hiểu để sử gia Hoàng Thanh Đạm cho rằng chúng tôi không hiểu được cái nghịch lý của thời cuộc, nghịch lý tôn-giáo và nghịch lý của triều-đình.

            Để rõ hơn, chúng ta nên lắng nghe những lời phát biểu sau đây:

            Giáo-sư Lý Chánh Trung, một trí thức Công-giáo trong cuốn “Tôn Giáo và Dân Tộc” phát biểu rằng ‘Đặt mình vào địa vị của các vua quan nhà Nguyễn thời bấy giờ, chúng ta cũng không thể làm khác hơn được’.

            Đô-đốc R.de Genouilly cũng khẳng định: “Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Công-giáo, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ” (các giáo sĩ, BK).

             Hiến pháp 1917 của Mễ Tây Cơ đặt giáo hội Công-giáo ra ngoài vòng pháp luật, mặc dầu 80% dân Mễ theo Công-giáo. Giáo-hội Công giáo Mễ bị truất hữu tài sản, linh mục và bà xơ bị cấm không được dạy học, không được nuôi trẻ, không có quyền bầu cử, ứng cử, ra đường không được mặc áo dòng...Sở dĩ hiến pháp phải buộc chặt tay họ như thế vì sợ họ bán nước cho ngoại bang như họ đã từng làm trong quá khứ.

Ngay cả đến ngày nay mà nhân loại còn đặt mình trong tình trạng báo động về Ki-tô-giáo (Công-giáo và Tin-Lành). Thật vậy, quốc hội Nga ngày 22.7.1997 thông qua một dự luật với đa số tuyệt đối “Cấm Tin Lành và Công-giáo truyền đạo tại Nga, ngoại trừ Hồi, Do Thái, Phật và Chính-thống-giáo” (It pleges respect for Islam, Judaism, Buddhism, and the nation’s largest faith, Russian Orthodoxy. LA Times, Wed. July 23, 1997).

Còn Do-thái và hầu hết các quốc gia Hồi-giáo, vì an-ninh quốc-gia, vì chủ quyền đất nước và toàn vẹn lãnh thổ, nên họ không bao giờ cho phép các giáo-sĩ Kitô đến truyền đạo trên đất nước họ. Dẫu vậy, cũng chẳng có cường quốc nào hoặc tổ chức nhân quyền nào lên án vi phạm tự-do tôn-giáo và nhân quyền đối với các nước nầy. Gần chúng ta, hiện nay Trung Quốc cũng vẫn còn sợ cái “Đạo quân thứ năm  (Fifth Column) là Công giáo và Tin-lành, đang mai phục sẵn trong nội địa !

            Vì thế, trước ông Nguyễn Trường Tộ cả trăm năm, đại tư tưởng gia Voltaire (1694-1778) đã nhận định “Suốt 17 thế kỷ qua, Công-giáo và Tin Lành chẳng làm nên tích sự gì, chỉ có hại mà thôi ” ( The Christian sect has done nothing but harm).

            Tháng 2, 2001, đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở Pleiku đòi độc lập tự trị. Vì an ninh quốc gia và vẹn toàn lãnh thổ, và giả sử đó là chính quyền do Sử-gia Hoàng Thanh Đạm lãnh đạo, tôi không nghĩ là ông có thể ngồi yên ?

            Thế kỷ 17, sau những cuộc nổi dậy của giáo dân, chính phủ Nhật nhờ có Hòa Lan giúp sức, đã tiêu diệt được những kẻ nội thù trên quê hương họ vào năm 1637. Do đó, lúc canh tân, Nhật không bị các lực cản. Còn Việt Nam, giả sử vua quan nhà Nguyễn có chương trình canh tân, thì chính thầy trò Nguyễn Trường Tộ sẽ chống phá trước tiên. Vì nếu không, làm sao ông Giám-mục tình báo Gauthier thực hiện được kế hoạch “biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ”  như ông đã từng chủ trương?

            Gauthier là một tên gián điệp cao cấp, tôi đã chứng minh bằng 5 tài liệu mật không thể chối cãi! Vì vậy, cựu thẩm phán Charlie Nguyễn, vốn là một trí thức Công-giáo, đã hô lớn: “Cách mạng 1 tháng 11, 1963 Muôn Năm. Điện Biên Phủ Muôn Năm. Bình Tây Sát Tả Muôn Năm” (Charlie Nguyễn, “Công-giáo Trên Bờ Vực Thẳm”, Giao Điểm, hè 2001, tr.).

            Mặc dầu chúng tôi chỉ đồng ý việc “bình Tây” mà không “sát Tả ”, nhưng mỗi người có một cách nhìn chủ quan tuy cùng phát xuất từ tinh thần yêu nước như chúng ta. Vì thế, suy nghĩ chín chắn và nhìn lịch sử theo chiều dài của nó, từ đó có thể rút ra được một bài học để tránh những tái phạm.

            Một số vấn đề khác mà nói ra sẽ bị mất lòng, đụng chạm và dễ bị hiểu lầm. Nhưng dù nói hay không, thì nó là một sự thực không thể chối cãi. Đó là Phật-giáo, Cao Đài và Hòa Hảo, tuy có số lượng tín đồ đông tại nhiều nơi ở Việt Nam nhưng họ không bao giờ đòi độc lập tự trị. Trái lại, nếu là Công-giáo hay Tin-lành thì sự việc sẽ xảy ra. Lúc ở thế yếu, họ kêu gọi đoàn kết và hô hoán “không có tự do tôn giáo”. Nhưng lúc mạnh, họ giết và cưỡng bách kẻ khác phải theo họ, đổi đạo. Ngay cả những vấn đề  như hôn nhân giữa các cặp vợ chồng, họ cũng “bắt bí”, cũng như lợi dụng hoàn cảnh tang chế của những gia đình nghèo để vào phút lâm chung cải đạo người ta. Tình trạng nầy đã kéo dài từ lâu, nay vẫn còn tiếp diễn. Thật là một sự vi phạm nhân quyền và chà đạp quyền tự do tôn giáo trắng trợn và phi lý đến thế ! Vậy mà cứ mở miệng ra là hô hoán “Vi phạm nhân quyền, chà đạp quyền tự do tín ngưỡng ”. Làm như hai thứ đó là đặc sản của riêng họ, không ai được phép đụng đến !

            Hơn tám cuộc “Thánh” chiến đẫm máu trong lịch sử nhân là một bài học bi thảm. Đông Timor ở Nam Dương, sau bao năm biểu tình bạo động xương rơi máu đổ, đã độc lập tự trị sau một cuộc bỏ phiếu (tháng 8, 1999) là một bài học khác. Tin Lành và Công-giáo tại Bắc Ái Nhĩ Lan đang còn chém giết nhau vì số lượng tín đồ của hai tôn giáo nầy xấp xỉ bằng nhau. Tại Việt Nam, nếu một ngày nào đó số lượng con chiên Công-giáo và Tin-lành tăng lên ngang ngửa với tín đồ các tôn giáo khác thì Việt Nam sẽ nội chiến, và sẽ có nhiều tiểu quốc tự trị trên giải đất hình cong chữ  S!

            Do đó, bất cứ ai, có thái độ “bảo hoàng hơn vua”, không dám đối diện với sự thực hoặc uốn bút theo thời, xa rời lịch sử là điều rất đáng phàn nàn và đắc tội với tổ quốc.

             Sử gia Hoàng Thanh Đạm viết: “Trong lịch sử các tôn giáo khác nhau công kích nhau thậm tệ là chuyện bình thường. Có khi còn chém giết nhau nữa”. Chúng tôi cũng biết sử gia muốn nói gì trong câu nầy. Chúng tôi chỉ mong rằng ông đừng sợ, cứ nói rõ tên đó là tôn giáo nào, như thế câu văn mới đủ nghĩa. Và nếu khách quan, chúng ta sẽ thấy trong suốt chiều dài lịch sử, Phật-giáo chưa bao giờ và sẽ không bao giờ làm đổ máu bất cứ một ai để bảo vệ hay bành trướng hoặc bất cứ một lý do nào khác. Trong giáo lý đạo Phật, không có chỗ nào Phật dạy phải làm hại kẻ khác, kể cả các sinh vật hữu tình lẫn vô tình. Từ đó để thấy cuộc khủng bố tại Mỹ tháng 9 năm 2001 vừa qua đã cho chúng ta thấy rõ thêm rằng từ nhiều ngàn năm nay, phần lớn các cuộc chiến tranh đều phát xuất từ tôn giáo, nhưng trong đó không có Phật-giáo.

Chú thích:     

[1] Trong cuốn “NTT, GĐ, tr.8, phần chú thích tôi đã viết: “Bài viết nầy tôi không tìm hiểu mức độ chính xác của việc dịch các bài Điều Trần từ nguyên bản chữ Hán và lúc sao chép từ bản gốc, người chép lại có thêm bớt hay bỏ sót câu nào hoặc đoạn nào không” .

[2] Đó là chưa nói đến, những gián điệp văn hóa và tình báo được ngoại bang huấn luyện rồi để lại trên đất nước Việt-nam sau năm 1975. Những thành phần nầy, thường cố tình tráo trở lịch sử để chạy tội và để phục vụ cho ngoại bang

[3] Áo màu đen, rộng của các giáo-sĩ.

[4] Lúc so sánh sự tác hại giữa Công-giáo và Tin-lành, Đại-tá Robert Ingersoll ví Công giáo như con cá sấu lớn (alligator) và Tin-lành như con cá sấu nhỏ( crocodile) [Công-giáo chính sử, Trần Chung Ngọc, tr.259-260].

across.gif (195 bytes)    Đọc tiếp bài ba: Những mâu thuẫn và sai thực tế

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: tochucgiaodiem@yahoo.com

. ..........