>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
THẢO LUẬN VỚI CỤ HOÀNG THANH ĐẠM
VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
 
BÙI KHA

III. NHỮNG MÂU THUẪN VÀ SAI THỰC TẾ

            Để thấy rõ hơn về ông Nguyễn Trường Tộ, chúng tôi tóm lược một số mâu thuẫn và sai thực tế giữa ý kiến của ông và tình hình chính trị cũng như thực trạng xã hội lúc bấy giờ.

            1. Nguyễn Trường Tộ:Ai hòa với họ là phúc, chống lại họ là họa... hòa với Pháp là thượng sách... nên cho lính nghỉ ngơi... để Pháp giữ bờ cõi cho mình như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới... Quân ta mới nghe thanh thế Pháp đã phách lãng hồn xiêu...”. Nhưng các tài liệu mật của Pháp cho thấy từ 1858 đến năm 1863, tình hình quân đội Pháp tại Việt Nam vô cùng nguy kịch. Họ có ý định rút về và bỏ hẳn mọi mưu toan đánh chiếm Việt Nam. Hơn nữa, lúc tổ quốc lâm nguy, giang sơn bị quân thù chiếm đóng mà “Cho lính nghỉ ngơi” thay vì tổng động viên. Một “danh nhân” cho đất nước nào  mà kỳ quái đến thế ?

            2. Nguyễn Trường Tộ: Tại sao giết giáo sĩ ”. Ý kiến của Đô-đốc R. De Genouilly: “Không một nền cai trị nào, dẫu phục vụ cho đạo Công-giáo, lại có thể dung thứ...”

            3. Nguyễn Trường Tộ:  ... giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống gian tà,... chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả ”. Nhưng Đô-đốc Boanrd (ngày 24.7.1862) cho biết: “Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ phủ nhận tính chính thống của vua nầy, và khi lật đổ được triều đình hiện tại, thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ... Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha, thường chiếm cứ miền thượng du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn”.

            4.  Nguyễn Trường Tộ:  Lúc đầu dân bản xứ xem họ như thù địch, dần dần chịu gần gũi... những người dân ở đây đã học được hết những kỹ xảo của người phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi đất mình... Họ là kẻ phở hoang mà ta thì hưởng cái thành quả” ! Tộ viết như vậy để thuyết phục Việt Nam hợp tác với Pháp. Nhưng lịch sử cấu trúc của Hoa Kỳ không cho thấy như thế. Ông viết tiếp: “Xin kể ra các phương pháp làm hột nổ và đúc súng, đúc kim loại, cùng các môn quang học, cơ học, hóa học, khai thác mõ than”. Nhưng đọc trong bài và kể cả các bài chiêu dụ khác chúng ta cũng không thấy ông nêu ra một phương pháp nào cả.

            5. Nguyễn Trường Tộ:Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với giáo hoàng...” để nhờ giúp đỡ. Nhưng kể từ Giáo-hoàng Innocent X, 1652, đến những ông giáo hoàng kế tiếp, tất cả đều vận động để Pháp chiếm nước ta. Dưới đây, là vài sử liệu thu gọn:

            “Bí thư của phái đoàn Pháp ở Trung Quốc... tiếp xúc với các đại diện Giáo-hoàng ở Thái Lan, Việt Nam và Kampuchia. Căn cứ vào các tin tức do những người này cung cấp, chính phủ Pháp đã quyết định phái Montigny thực hiện sứ mệnh trong vùng này... các vận động được hỗ trợ bằng sự can thiệp của các nhân vật quan trọng như Tổng-giám-mục Bonnechose ở Rouen và của chính Hoàng-hậu, bà này đã thuyết phục được vua, dù lúc đó vua không có kế hoạch thực dân nào rõ rệt. Các vận động này được thực hiện bởi hai người truyền giáo: Linh-mục Huc,... cựu đại diện Giáo-hoàng ở Trung Quốc... và Giám-mục Pellerin đại diện Giáo-hoàng tại Bắc Nam-kỳ”... Kế đến tháng 11, Giám-mục Pellerin đi Rôma, Giáo-hoàng Pie IX tán thành các vận động...” (đánh chiếm Việt-nam, BK). Do đó, tôi đã kết luận: Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình thương hiếu với giáo hoàng cũng tương tự như khuyên cha mẹ gởi con cho cọp.

            6. Nguyễn Trường Tộ:Gấp rút việc sửa đổi võ bị”. Nhưng về chiến lược, thì ông cóp nhặt ý trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp. Về binh, ông khuyên nên cho lính nghỉ ngơi  thay vì phải tổng động viên, phải nghiên cứu phương pháp huấn luyện như thế nào, đánh theo cách nào cho hợp với tình hình mới và các phong trào nghĩa quân hiện có nên chỉnh đốn bổ túc thế nào để chống Pháp có hiệu quả hơn, v.v... Giả sử đất nước có điều kiện và phương pháp để canh tân, và ngay cả trong thời bình, cũng cần binh lính để giữ an ninh trật tư,uống nữa là thời chiến mà lính thì ông Tộ khuyên nên cho nghỉ ngơi. Thật là nghịch lý!

            Còn giải pháp nhờ người Anh huấn luyện lính cho ta mà ông Tộ đề cập trong bài “Lục lợi từ”, tôi đã chứng minh là không thể thực hiện được. Hơn nữa, dụng tâm chính của Tộ là dụ triều đình gởi con cho cọp. Tất cả các bài chiêu dụ, trong đó có bài LLT, của Tộ cũng được viết theo tình hình chính trị của Pháp và Việt Nam thời bấy giờ để bủa lưới, nhưng được ngụy trang và theo lối tình báo để che đậy cái hậu ý của mình, chứ chẳng phải canh tân canh cải gì đâu mà lầm! Để rõ hơn xin đọc tiếp dưới đây.

            7. Nguyễn Trường Tộ: Giờ đây trong số các quan viên văn võ có những vị nào quê ở lục tỉnh Nam-kỳ, triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa” (Di Thảo số 27, TBC, SĐD, tr.239). Tại sao Tộ khuyên như vậy ?

            Vì dân Nam-kỳ lúc đó đã làm cho thực dân khó bình định các vùng mới chiếm, như Sử-gia Chesneaux mô tả:“cuộc ra đi” hàng loạt của các bậc sĩ phu và của dân chúng, rời bỏ các tỉnh miền Đông Nam-kỳ bị người Pháp chiếm đóng, để về vùng tự do ở miền Tây, và tổ chức kháng chiến.

            “Thái độ bất hợp tác chung khắp nơi đó buộc các đô đốc toàn quyền, muốn duy trì bộ máy hành chính Pháp tại Nam-kỳ, chỉ còn xử dụng được một số tối thiểu những công chức Việt Nam (phiên dịch, thư ký...) mà thôi. Và duy chỉ có những phần tử kém hạnh kiểm nhất trong dân, tình nguyện đứng ra phục vụ cho những ông chủ mới.

            “Đề-đốc Rieunier, về sau, nói rằng “Chúng tôi chỉ có những giáo dân và bọn du thủ du thực” (Xin xem thêm NTT, Giao Điểm, SĐD, tr.59-65). Đó là thêm một bằng chứng cho thấy cái tâm địa và hành trạng của ông Tộ, là một người “phục vụ những ông chủ mới”, một phần tử trong“những giáo dân và bọn du thủ du thực” núp dưới chiêu bài canh tân ! Chúng ta nên thận trọng, chớ lầm.

            8. Nguyễn Trường Tộ: “Bổ túc kế hoạch đánh-úp Gia Định” viết ngày 9.2.1871.

Vì tình yêu tổ quốc và tự ái dân tộc, nên cụm từ “Kế hoạch đánh úp Gia Định” dễ khiến chúng ta có nhiều thiện cảm và kính trọng Nguyễn Trường Tộ, tác giả của kế hoạch. Sử gia Hoàng Thanh Đạm cũng nằm trong cái tâm tư yêu nước đáng quí ấy nên ông viết :

 Thế rồi thời thế chuyển biến: năm 1870 nổ ra chiến tranh Pháp-Phổ. Pháp thua to,vua Pháp Louis Bonaparte bị bắt làm tù binh tháng 9-1870, rồi nổ ra cách mạng Công-xã Paris tháng 3-1871. N.T.Tộ thấy rõ đây là một cơ hội rất tốt phù hợp với điều ông  dự đoán“cơ hội khôi phục phải sau 10 năm (N.tr.Tr.316). Từ tháng 2 đến tháng 5.1871 ông liên tục viết 7 bản điều trần liên quan đến kế sách khôi phục: Kế hoạch thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ. Bổ túc kế-hoạch đánh úp thành Gia-định,” v.v. (HTĐ, SĐD, tr. 116 & 117).

Sử gia bị thu hồn vào mấy chữ “kế hoạch thu hồi, kế hoạch đánh úp, cũng như kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh, chú trọng thực dụng, phải đổi mới, canh tân, v.v. ”, rồi cứ thế mà ca tụng ông Tộ lên tận mây xanh, chứ không chịu tìm hiểu xem các đề nghị được lồng dưới các cụm từ hoa mỹ đó có gì mâu thuẫn, khả thi và dụng tâm của N.T.Tộ là gì? Tôi nghĩ rằng Hoàng sử gia không phải nhọc công nghiên cứu ông Tộ đến 20 năm, mà chỉ cần khách quan tìm hiểu các đề nghị rồi đối chiếu với sử liệu, là sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng vì những mâu thuẫn nội tại, sai lầm, phi-lý và dối trá trong hầu hết 58 bài chiêu-dụ của ông, và đặc biệt, cái gọi là “Kế hoạch đánh úp Gia-định”.

       Thật vậy, trước đó 7 năm (1863), ông đề nghị cho lính nghỉ ngơi để thực dân Pháp giữ bờ cõi cho mình. Năm 1868, La Grandiere bất chấp lệnh của chính phủ ông là “Không được chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam-kỳ”, nhưng y vẫn làm. Vua Tự Đức phản đối việc nầy và định cử sứ bộ qua Pháp tố cáo La Grandiere đã lạm quyền và đòi trả lại 3 tỉnh mới chiếm. Nếu sứ bộ đi Pháp thì có thể 3 tỉnh ấy đã được trao trả, nhưng ông Tộ viết bài chiêu dụ cản ngăn. Đến nay (1870), Pháp thua Phổ nhưng đã “cho lính nghỉ ngơi ” từ lâu lấy ai để đánh?  Ông lại “bày mưu” đánh. Nhưng đề nghị bí mật tuyển người từ Bắc, Trung và một số khác tại địa phương, chứ không hề đề cập đến các phong trào đang kháng Pháp tại Nam-kỳ và kêu gọi họ hợp tác hay ủng hộ để đuổi kẻ thù chung? N.T.Tộ còn nói ông cũng vào Gia Định để chỉ huy nhưng ngụy trang đi giảng đạo, và đồng thời báo tin cho ông Giám-mục tình báo Ngô Gia Hậu (Gauthier) biết. Trong bài chiêu dụ nầy, có thêm vài chi tiết rất quan trọng khác chúng ta cần lưu ý:

        (a) Ông Tộ tiết lộ: “ Như lần trước, lúc tôi ở Gia Định, nguyên soái Gia Định đã nhiều lần muốn đem công việc bộ Công giao hết cho tôi ”(T.B. Cần, tr. 327). Điều nầy cho thấy ông ta được đô-đốc La Grandiere, tin dùng đến mức“đem công việc bộ Công giao hết cho” y.

            (b) N.T.Tộ viết :“Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế(Khoản nầy các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ đều bị chìm hoặc bị vùi dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết” (T.B. Cần, SĐD, tr.330). Tại Gia Định làm gì có sông nào, đê nào ngăn nước để phá để chôn thuyền như thế ?

Và dưới đây là một đề nghị hết sức quan trọng:

       (c) Nếu N.T.Tộ đề nghị đánh gấp, thì ông ta quả tình là một người yêu nước không còn phải bàn cãi. Nhưng rất tiếc, ông viết :“Kế nầy phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành” (T.B. Cần, SĐD, tr.331). Thời gian “hai năm” đã tố cáo cái dã tâm của ông. Thế mà một sử gia đã nghiên cứu ông ta đến hơn 20 năm mà vẫn không thấy hoặc cố tình không muốn thấy ?

        Thật vậy, ông Tộ nói đến chuyện đánh nhưng không phải đánh ngay bây giờ; sau tháng 9, 1870, thời cơ đã đến, mà phải hai năm sau, tức là 1873. Tại sao vậy? Vì nếu đánh bây giờ thì ta nhất định thắng mà Pháp chắc chắn thua. Đó là điều mà ông Tộ, những người Việt-gian và thực dân không bao giờ muốn ! Cáo buộc N.T.Tộ không muốn Việt-nam thắng Pháp có oan không, chứng minh ?

         Một, như trên đã nói, ông Tộ đề nghị xử dụng những thường dân (không phải lính) chiêu mộ từ Bắc, Trung, Nam chứ không kêu gọi nghĩa quân tại địa phương, người vừa có tinh thần chiến đấu vừa đã được huấn luyện và có kinh nghiệm v.v., thì làm sao thắng được ?

         Hai, lịch sử cho thấy nếu đánh vào giai đọan sau tháng 9.1870 Việt Nam nhất định thắng. Dưới đây là sử liệu:

            “Ở Âu-châu, chiến tranh bùng nổ giữa nước Pháp và nước Phổ ngày 19.7.1870, nhưng mãi tới ngày 5.8.1870 tin ấy mới tới Sài Gòn. Cornulier-Lucinere vội cho tổ chức sự phòng thủ sông Sài Gòn vì sợ rằng Triều-đình Huế thừa cơ hội mà tiến quân xuống miền Nam hay ra lệnh cho Lục-tỉnh Nam-kỳ nổi loạn. Song cả cho đến ngày 25.9.1870 là khi tin quân Pháp đại bại ở Sedan tới Sài Gòn, Triều-đình Huế vẫn án binh bất động. Quốc triều chánh biên toát yếu chép là: “Năm Canh Ngọ tháng 9, nước Đại Pháp đánh với Phổ-lỗ-sĩ, quan Pháp-soái thương cho ta biết, ngài khiế⮠quan thương-bạc hỏi thăm”. Thái độ của Triều-đình Huế còn kỳ quặc hơn khi triều đình tỏ lòng mong muốn quân Pháp sẽ rút khỏi Nam-kỳ để trở về Pháp cứu vãn tổ quốc lâm nguy. Triều đình đã hoàn toàn không lợi dụng những nỗi khó khăn của Pháp khi nền đệ nhị thế chế sụp đổ thay thế bởi một chính thể cộng hòa, và khi mà quân Pháp bị cô lập ở Nam-kỳ” (Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr.66).

        Tình hình chín muồi như vậy, nếu không đánh ngay thì mấy tháng sau đó phải đánh, nhưng N.T.Tộ khuyên phải “hai năm” sau. Ông ta yêu nước nào mà lạ đến thế ?

            Mấy hàng đầu của bài“Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh” (viết trước bài “Kế hoạch đánh úp Gia-định” 8 ngày) ông Tộ nói “Đại phàm việc thiên hạ, để thời cơ trôi qua mà hối tiếc...gặp thời làm được thì gấp rút ra tay, không bỏ lỡ cơ hội”. Nói một đường làm một nẻo, một người mâu thuẫn dối trá không biết ngượng, thế mà sử gia Hoàng Thanh Đạm cứ cặm cụi ca tụng “một danh nhân văn hóa, một người đã lao tâm khổ tứ lo cho dân cho nước”!

Giả sử triều-đình bị mắc lừa bởi kế hoạch của ông Tộ, hai năm sau mới đánh, thì kết quả sẽ thế nào? Hai năm sau tức là năm 1873. Lúc nầy Việt Nam ở vào thế rất yếu nhưng Pháp rất mạnh, khó lòng thắng. Vì tại chính quốc, tình hình chính-trị đã được ổn định, chính phủ mới đã được thành lập. Tại thuộc địa, Pháp đã bình định 3 tỉnh miền Đông Nam-kỳ được 11 năm, và 3 tỉnh miền Tây được 6 năm. Họ rất rảnh tay. Còn tại Bắc-kỳ, chính phủ Pháp ngăn cấm Đô-đốc Dupré về một cuộc phiêu lưu mới tại Bắc-kỳ, nhưng cũng giống như La Grandiere, ông ta không tuân lệnh thượng cấp. Và các viên chức trong tòa lãnh sự Pháp tại Trung Hoa cũng muốn chính phủ họ chiếm Bắc-kỳ như Dupré. Sử liệu cho thấy:

“Vào năm 1873, lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, Bá-tước Chappedelaine, báo cáo về Paris như sau: “Ở Bắc-kỳ, quan lại An-nam-mít bị thù ghét dữ dội. Không phải dùng đến 2000 người và 4 tuần-dương-hạm, mà chỉ cần phái một tuần-dương-hạm cùng vài pháo-hạm và một đại đội thủy quân lục chiến tới cửa sông Hồng Hà là đủ làm xứ Bắc-kỳ trở thành một thuộc địa Pháp” (J. Dupis, Le Tonkin de 1872 à 1886, Histoire et Politique. Paris,1910, p.125. Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr. 81). N.T.Tộ, một người “yêu nước, cao kiến, sáng kiến lớn” là thế đấy!

       Trên đây là vài phân tích để thấy cái hậu ý và âm mưu “Đánh úp Gia-định” của N.T.Tộ! Nếu nhìn kế sách nầy dưới khía cạnh tình báo, gián điệp và phản gián, chúng ta sẽ biết thêm một số dụng tâm khác của N.T.Tộ lúc đề nghị “phải hai năm” nữa mới đánh chứ không phải bây giờ. Mời độc giả đọc mục số 9 kế tiếp, để hiểu rõ thêm cái dụng tâm của ông.

9. “Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh: viết ngày   1.2.1871, và“Kế hoạch đánh úp Gia-định” viết ngày 9.2.1871. Hai bài nầy viết cách nhau 8 ngày, mâu thuẫn với nhau và cũng được viết theo kiểu “nước rút”. Tại sao vậy ? Vì tình hình chính trị và quân sự của Pháp quá nguy khốn như sử liệu dẫn trên cho thấy. Tại chính quốc, Pháp bị “tang gia bối rối ” vì thua Phổ. Triều đình Napoleon III bị giải tán, chính phủ mới chưa thành lập, một quốc gia vô chủ. Đó chính là thời điểm nghìn năm một thuở để đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước bằng võ lực, nhưng triều-đình vua Tự-Đức lại quá ngây thơ không chịu đánh. Dẫu vậy, quân đội Pháp tại Nam kỳ dĩ nhiên là thấp thỏm đứng ngồi không yên vì run sợ một trận đánh úp của quân đội Việt-nam có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Do đó, ông Tộ hẳn được lệnh quan thầy phải gấp rút viết các bài chiêu dụ, để “kẻ thù của Pháp” xử dụng con đường ngoại giao thay vì quân sự. Trong đó có việc cử phái đoàn đi Pháp, đi Anh và Y pha-nho để vận động xin lại phần lãnh thổ bị chiếm, chứ không dùng võ trang. Đó là kế đẩy đối phương (Việt-nam) về hướng khác, hướng ngoại-giao.

Tuy vậy, khuyên theo kế sách ngọai-giao trông    lộ liễu và phi lý quá! ngoài ra, để cầm chắc triều đình Việt-nam theo con đường đi xin chứ không dùng võ lực, nên 8 ngày sau, ông Tộ lại viết bài chiêu dụ “Kế hoạch đánh úp Gia-định” nhằm mục đích nhận diện xem ai xuất hiện đề nghị đánh, thì Pháp sẽ tiêu diệt ngay từ đầu. Và nhóm nào muốn đánh nhưng không thể bắt hoặc cản ngăn được thì dùng kế hoản binh, khuyên không nên đánh bây giờ mà phải “hai năm” sau, như đã phân tích ở mục số 8 nói trên !

 Nói gọn, thời vua Tự-Đức có hai cơ hội tốt nhất để đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi. Cơ hội một là từ 1858 đến 1863. Nếu toàn dân và triều đình một lòng quyết chiến chứ không hòa thì Pháp đã rút khỏi Việt-nam như đã chứng minh ở phần trước. Nhưng ông Tộ khuyên nên cho lính nghỉ ngơi, hợp tác và để Pháp giữ bờ cõi cho mình! Cơ hội hai là từ tháng 9 năm 1870 đến nửa năm 1871, Pháp thua Phổ, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Pháp bị rối loạn. Đó là một cơ may hiếm có, nếu đánh thì tất thắng, nhưng ông Tộ khuyên nên theo đường lối ngoại giao. Tuy vậy, vẫn sợ quân đội Việt-nam có thể đánh, nên ông cũng bày ra chuyện đánh, nhưng không đánh bây giờ, mà phải hai năm sau.

 Nói rõ hơn, mặc dầu Hoàng sử gia hồ hởi ca ngợi, nhưng thực sự 7 bài viết của ông Tộ từ tháng 2 đến tháng 5,1871, chỉ xoáy vào một trọng điểm mang tính sinh tử cho số phận, chiến lược và chính sách thuộc địa của Pháp là tránh, đừng để Việt-nam xử dụng vũ lực đối với quân Pháp tại Nam-kỳ. Và nếu để ý thêm, chúng ta sẽ thấy rằng hầu hết 58 bài chiêu dụ của ông N.T.Tộ cũng chỉ nhắm vào hai điểm then chốt. Một, bằng mọi cách, phải kêu gọi hòahợp tác chứ đừng bao giờ để quân dân Việt-nam xử dụng võ lực đối với thực dân Pháp. Hai, xử dụng tất cả các thủ đoạn chính trị lươn lẹo để đưa các ông giám-mục linh-mục lọt vào hầu hết các cơ quan công quyền nhằm Công-giáo hóa rồi Pháp hóa dân tộc ta. Để che đậy các âm mưu ấy, ông Tộ phải giả vờ nguyền rủa Pháp, phải xử dụng những danh từ hoa mỹ, phải bày ra chương trình nầy, kế hoạch nọ để đánh lạc hướng và đẩy triều đình theo con đường mà thực dân Pháp và Vatican mong muốn.

 Cũng thế, hành động của ông Tộ giống như ông Huỳnh văn Trọng, một điệp viên tình báo cao cấp của miền Bắc, được gài vào chức cố vấn cho cựu Tổng-thống Nguyễn văn Thiệu trước năm 1975 tại Sai-gòn. Ông Trọng phải giả bộ nguyền rủa “Bác và Đảng”, phải chê bai các nước Cọng-sản thậm tệ, phải năng nổ bày ra kế hoạch nầy chính sách nọ v.v., mới có thể che được mắt cơ quan tình báo của Mỹ và Việt-nam Cọng-hoà, để hoàn thành nhiệm vụ mà đảng và nhà nước đã tin tưởng giao phó.

  Dưới đây, tôi sẽ phân tích một bài chiêu dụ khác của ông Tộ để thấy rõ thêm rằng, cứ mỗi bài viết, ông đều hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình và quyền lợi của thực dân Pháp và của Vatican.

10.  N.T.Tộ chỉ nhắc tên các giáo sĩ: Cùng thời với ông có những tấm lòng muốn canh tân đất nước như: Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phan Thanh Giản... và các sĩ phu yêu nước như : Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Quản Thanh, Quản Lịch...N.T.Tộ được gán cho hai chữ “canh tân” và “yêu nước”, nhưng đọc tất cả 58 bản điều trần, chúng ta không thấy có chỗ nào ông Tộ nhắc đến tên vài người Việt nam yêu nước, hoặc nêu tên một vài sĩ phu nói trên để dùng vào việc canh tân, vào việc “đánh úp” mà chỉ thấy ông lặp đi lặp lại nhiều lần tên giáo-hoàng, các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt-gian. Tại sao vậy? Chúng ta nên nghe cuộc đối thoại giữa ông Toàn Quyền de Lanessan và Giám-mục Puginier như sau:

            De Lanessan: Theo ông thì nước Pháp nên đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào?

            Puginier: Phải thủ tiêu họ đi.

            De Lanessan: Tại sao?

            Puginier: Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn một điều nữa là chẳng ai trong họ chịu theo đạo Công-giáo cả.” (Nguyễn Xuân Thọ, SĐD, tr.436-437).

             Chúng ta nhớ rằng, Gauthier (thầy của ôngTộ) là thuộc hạ của Puginier tại Việt-nam vào giai đoạn ấy. Đó là lý do để giải thích tại sao Tộ không bao giờ nhắc đến tên một sĩ phu nào ngoại trừ các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt-gian.

            Đầy dẫy những mâu thuẫn và sai lầm trong 58 bài chiêu dụ của ông Tộ, trong sách “Nguyễn Trường Tộ con người và di-thảo” của Lm. Trương Bá Cần cũng như trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ thời thế & tư duy cách tân ” của H. T.Đạm. Nhưng, bài nầy chỉ liệt kê10 trường hợp tiêu biểu nhân lúc viết về một chương sách mà Hoàng sử gia đề cập đến cuốn sách của chúng tôi.

across.gif (195 bytes)     Đọc phần kết và “Vài lời với cụ Hoàng Thanh Đạm"

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: tochucgiaodiem@yahoo.com

. ..........