>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

Gia Tô Giáo
 
Nguyễn Xuân Thọ
(Tốt nghiệp tiến sĩ Sorbonne, cựu viên chức Bộ Ngoại giao Pháp...)

[Phần Phụ lục trong tác phẩm “Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)”, tác giả tự xuất bản 1994.]

  Việc các nhà truyền giáo Gia-tô nhắm phá cho tan rả quốc gia Việt Nam đã được trình bày: Ta hãy cứ nghĩ tới hoạt động của giám mục Pigneau de Béhaine, hãy cứ nhớ lại bức thư của linh mục Huc gời cho Napoléon III, thư của Roche gửi cho uỷ viên Pháp Harmand năm 1885, những bản báo cáo của giám mục Puginier gởi về Paris năm 1889, hoăc những sự can thiệp của giám mục Frappel trước Hạ nghị viện.

Người ta không thể phủ nhận vai trò của các giáo sĩ trong việc Việt Nam mất độc lập và việc Pháp đã xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Đã bao lần chúng ta thấy họ tìm cách lật đổ chính quyền đương trị để thay thế vào đó chính quyền của một tên tay sai của họ, tên gác cổng nhà tu của họ là Tạ Văn Phụng, mà họ mạo danh là “hoàng thân” và là kẻ “thừa kế ngôi nhà Lê”, hay của một tên Lê, tên Lý nào đó, đã từng hứa suôn với họ; chúng ta đã thấy các giáo sĩ xúi giục nhân dân nổi loạn, và thường xuyên ngấm ngầm phá hoại chính quyền [nhà Nguyễn] , làm cho nó sớm bị sụp đổ, để giúp cho công cuộc xâm lăng của quân Pháp được dễ dàng đó sao ?.

Jean Raoul Clementin viết về vấn đề này, như sau:

“Người giáo sĩ ở nước thuộc địa, đó thực sự là một “con người chính trị” (‘Homo politicus’) khác thường, đứng trước ba điều quan tâm trọng đại: tinh thần yêu nước của mình, nếu không nói là tinh thần quốc gia của họ; xu hướng vươn lên độc lập của đất nước mà ông ta thường truyền giảng phúc âm; lợi ích thực sự của tôn giáo mình, mà La Mã được coi như là vị quan tòa phán xét chung thẩm.

“Lịch sử của thái độ chính trị ấy, ngày hôm nay cũng như hôm qua, chúng nằm trong mạng lưới những sự phản kháng, những cuộc gặp gỡ có dụng ý, những xung đột gay gắt giữa ba xu hướng lớn trên đây.

“Những chỉ thị của La Mã: “Trong lời tựa cho một cuốn “Lịch sử các hội Truyền giáo”, Ferdinand Brunetìere có viết:

“Tại phương Đông và Viễn Đông, chính các giáo sĩ chúng ta là những người hiểu rõ chiều sâu của những vấn đề mà các nhà ngoại giao ta chỉ thấy được bề mặt. Ở đó, họ là những người thông tin tốt nhất và những tay chân đáng tin cậy nhứt của các nhà ngoại giao.”

“Chính giáo hoàng Alexandre VII đã sáng lập những hội truyền giáo ở Đông Dương, và ngày 8/6/1658 đã chỉ định hai vị khâm mạng Tòa Thánh, Francois Pallu, cho Bắc Kỳ, và P. Lambert de la Motte, cho Nam Kỳ. Sự thành lập hai địa phận công giáo này là kết quả nhiều cuộc vận động và cổ vũ của các giáo sĩ đầu tiên, đặc biệt là của giáo sĩ dòng Tên (Jésuite) Alexandre de Rhodes; họ đã xây dựng được một cộng đồng  nho nhỏ ở Việt Nam.

Tuy vậy, không phải các giáo sĩ dòng Tên được vinh dự xây dựng các địa phận công giáo tại Đông Dương, mà là một hội đặc biệt, nẩy sinh trong những năm tiếp theo 1658, dưới sự thúc đẩy của các bạn bè Francois Pallu: “Hội Truyền giáo nước ngoài”, có trụ sở tại Paris.

“Những chỉ thị, năm 1659, cho hai vị khâm mạng toà Thánh của “Thánh hội truyền bá đức tin” biểu hiện khá cụ thể các học thuyết chính trị truyền giáo của nhà thờ, của thế kỷ XVII, một học thuyết mà, về mặt lý luận, sẽ không bao giờ thay đổi. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc riêng của đức tin, những chỉ thị này định nghĩa mục đích của các Hội truyền giáo là: đào tạo một đội ngũ linh mục bản xứ - ngày nay chúng ta gọi là "dân tộc" – trong lòng các cộng đồng công giáo đã hiện hữu. La Mã yêu cầu các linh mục "dân tộc" đó phải qua một cái, mà chúng ta gọi lúc này, là một sự “huấn luyện chuyên môn cấp tốc”... “Để dễ dàng cho việc phong chứ các linh mục bản xứ, chúng tôi trao cho các ngài cái chức năng được miễn cho các linh mục mới  khỏi phải học biết tiếng Latinh...”, vv... Rome mời gọi các giáo sĩ đừng bao giờ làm cái việc tuyên truyền quốc gia ở những nước mình đang truyền đạo: “Không phải cái đó, mà là đức tin mới là điều các ngài cần nhập cảng.” Cấm không được Âu hóa đất nước người ta.

“... Sự công tác tích cực của các giáo sĩ Pháp với công cuộc chinh phục Việt Nam là một vấn đề mà người ta biết khá rõ. Những người lãnh đạo của nhà nước đệ Tam Cộng hòa đã biểu dương sự kiện này một cách trịnh trọng; các giáo sĩ đã đề cao điều đó. Ta nên lưu ý rằng trong nội bộ họ không phải tất cả đều nhất trí, có những người nhận thức sâu sắc hơn, chỉ dám yêu cầu sự bảo vệ của nước Pháp mà vẫn sợ sự hiện diện của chủ nghĩa thực dân. Trong số họ, có giám mục Puginier, mà chúng ta sắp nói đến.

“Một vua Constantin, một vua Clovis . Chiến tranh chống các sĩ phu”.

“Giai đoạn mở đầu công cuộc chiếm đóng Việt Nam của Pháp, giai đoạn mệnh danh là “giai đoạn các ông đô đốc”, đã mang đến cho các giáo sĩ những điều an ủi mong đợi: trong số những tôn giáo ở nước ngoài vào Việt Nam, thì duy nhất đạo Gia tô được quyền truyền giáo; các giám mục Gia tô trở thành những “nhà chức trách”; những khoản trợ cấp và những chuyện chuyển nhượng đất đai ngày càng dồn dập và triều đình Huế buộc phải nhận những ông bộ trưởng, thậm chí cả một ông vua nữa do, các nhà chức trách Pháp áp đặt, theo âm mưu xếp đặt của chính các hội truyền giáo. Gesta Dei per Francos (nguyên văn tiếng Latinh, có nghĩa là: “Việc chúa làm qua tay người Pháp”).

“Chẳng được bao lâu. Nếu như La Mã tin (hoặc vờ tin) qua lời trung gian của các tổng giám mục Bordeaux và Rouen, rằng sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương sẽ đảm bảo cho sự thắng lợi của đức tin, nếu như chủ nghĩa đế quốc Pháp lấy làm hài lòng về sự đóng góp có tính chất quyết định của giáo dân Việt Nam vào công cuộc chinh phục, thì trong thực tế mối quan hệ giữa hai bên đã diễn biến nhanh chóng khi cái giờ tổ chức lại những đất đai chinh phục đã điểm.Các Hội truyền giáo chỉ có một mục đích duy nhất: tạo ra một dân tộc Việt Nam, theo đạo Gia tô. Phương tiện căn bản nhứt đối với họ là sự thiết lập tại Việt Nam một nền cai trị vừa Pháp vừa bản xứ, chẳng những công giáo mà còn là hoàn toàn tận tuỵ với sự truyền bá đức tin. Chủ nghĩa đế quốc Pháp lại có những mối lo khác. Họ chẳng cần gì cái chuyện dân Việt Nam là công giáo hay không công giáo, miễn nó chịu sống yên lặng mà thôi.

“Sự hiện diện của Pháp khuyến khích La Mã và các Hội truyền giáo - nhứt là “hội truyền giáo nước ngoài”, mà chỗ đứng ở Việt Nam sẽ luôn luôn vững vàng hơn cả và số giáo sĩ ngày nay chiếm 80% tất cả các giáo sĩ có mặt tại Việt Nam - thử làm lại cái điều họ đã không làm được năm 1787 với Gia Long: đưa nước Việt Nam “trở lại” đạo Gia tô từ trên xuống, bằng cách làm cho nhà vua theo đạo trước , rồi nhà vua sẽ áp đặt tín ngưỡng mới của mình cho các sĩ phu, và qua các sĩ phu, đến tận nhân dân.

“Giám mục Gúebriant, bề trên tổng quản của các “Hội truyền giáo nước ngoài”, năm 1931, có tuyên bố rằng: “tác dụng tinh thần do cuộc chinh phục của Pháp đã tạo nên, cách đây 50 năm, đối với nhân dân Đông Dương, thật là vĩ đại... Vì những người Pháp đã trở thành những ông chủ của đất nước ấy, người ta quả quyết vậy, đều cùng một tôn giáo với các giáo sĩ. Vậy thì cái chìa khóa của tương lai đó dường như là nằm trong tay các giáo sĩ.”

“Nhưng, vị giám mục nói thêm “có hội kín “Franc-masonnerie”, dưới dạng của viên toàn quyền De Lanessan.”

“Chính De Lanessan có kể, trong cuốn sách “Các Hội truyền giáo và chế độ bảo hộ của họ”, ông ta đã làm như thế nào năm 1891, để chấm dứt một âm mưu của Hội truyền giáo nhằm đưa lên ngôi vua một đứa con lạc loài của dòng họ đang trị vì, một hoàng thân bị phế truất đã theo đạo Gia tô. Cái âm mưu toan đặt lên ngôi một “Constantin”, một “Clovis” của thế kỷ 20 ấy, chúng ta sẽ còn gặp lại nhiều lần trong quá trình hoạt động của Hội truyền giáo và Nhà thờ Vatican tại Việt Nam.

“Chúng ta gặp lại nó năm 1932, khi người ta tìm cho Bảo Đại một người vợ công giáo (Nam Phương hoàng hậu, Lời người dịch) và biến con cái của nhà vua, trong đó có “Thái tử đông cung” (Bảo Long, LND) những đầy tớ trung thành của đức tin La Mã.

“Các toàn quyền kế tiếp nhau ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã chỉ trích các hội truyền giáo coi trọng lợi ích của Nhà thờ La Mã, mà coi nhẹ lợi ích của nước Pháp ở thuộc địa. Họ chỉ trích chủ yếu việc các hội đồng ấy đã chống đối một cách có hệ thống chính sách hợp tác mà các ông De Lanessan, Paul Bert, Lyautey, Doumer theo đuổi, gọi là “chính sách chòm râu dê” (la politique dite “des barbichettes”): Nội dung của nó là đảm bảo yên tĩnh để khai thác các tài nguyên phong phú của đất nước bằng cách hợp tác với các tầng lớp tư sản và tiểu tư sản dân tộc, các quan lạo và các sĩ phu rất dễ nhận ra ở chỗ họ thường để râu cằm, bộ râu cằm không lấy gì làm dày cho lắm dưới khí hậu nước này. Những tầng lớp ấy lâu nay, nói chung, đều thù địch với những cuộc chinh phục của ngoại bang; một chính sách hợp tác sẽ đặc biệt làm cho họ mềm dẽo hơn. Nói thực ra, là nhữn gnười yêu nước sẽ bị loại trừ dần dần.

“Các Hội truyền giáo thì coi họ như vật chuớng ngại lớn nhứt cho công cuộc giảng đạo của mình. Để dẫn chứng , ta hãy nghe cuộc đối thoại đáng ngạc nhiên mà toàn quyền De Lanessan kể lại sau đây. Năm 1887, ông đến thăm chính thức người chỉ huy các Hội truyền giáo tại Đông Bắc Việt Nam, giám mục Puginier.

“Vì ông ta (giám mục Puginier) luôn luôn trở lại vấn đề các sĩ phu, De Lanessan viết, tôi nghĩ mình được phép hỏi: “theo ý ông thì nước Pháp phải đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào?” Câu trả lời của ông ta rất rõ ràng và ngắn gọn: “Phải thủ tiêu họ đi !”, ông ta đáp, kèm theo với một điệu bộ làm cho câu trả lời ấy càng thêm cụ thể hơn.

“-Vì sao ?”, viên  toàn quyền hỏi. “Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn.”. Vị giám mục đáp, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn điều nữa là chẳng một ai trong họ chịu theo đạo Kitô cả”.

“Chữ quốc ngữ, cách ly người công giáo: “Một chiến thuật khác hiệu nghiệm hơn, bởi vì nó được chế độ thuộc địa chấp nhận ngay tức khắc, để chia rẽ dân tộc Việt Nam xuất hiện với việc bắt buộc dùng chữ “quốc ngữ” làm chữ viết chính thức của Việt Nam. “Chữ quốc ngữ” là một dùng chữ cái Latinh để phiên âm tiếng Việt. Nó được phát minh ra do một linh mục dòng Tên, Alexandre de Rhodes, không phải vì mục đích để dạy cho người Việt Nam và người Trung quốc, mà để giúp cho các giáo sĩ làm quen một cách nhanh chóng hơn các thứ ngôn ngữ Trung quốc mà phải học tập nghiên cứu lâu dài mới có thể ghi lại bằng những chữ tượng hình.

“Các Hội truyền giáo đã khéo léo lôi cuốn được các vị đô đốc ủng hộ chữ quốc ngữ ngay từ những ngày đầu  của cuộc chinh phục: những tờ công báo đầu tiên xuất bản bằng tiếng Việt ở Nam Kỳ đều được viết bằng “chữ quốc ngữ”, chứ không phải bằng chữ Hán. Trong ba mươi năm, một khi chế độ thuộc địa đã có nền móng vững chắc rồi, thì các tầng lớp quan lại và sĩ phu, dù chỉ là để sống còn, đã bắt đầu học “chữ quốc ngữ” trong khi tại các trường làng (nền giáo dục tiểu học truyền thống hầu như đã phổ biến hoàn toàn ở Việt Nam vào năm 1880), người ta bỏ mặc việc học tiếng Việt bằng chữ tượng hình của nó. Các trường này, người ta không nghĩ đến thay thế bằng những trường dạy “quốc ngữ”.

“Tuy nhiên, mục đích của các Hội truyền giáo, khi đã được các ông đô đốc áp đặt việc học chữ quốc ngữ, không phải là để cho các giai cấp lãnh đạo xử dụng nó. Mục tiêu của họ là ở chỗ khác: trước hết là để đảm bảo cho người công giáo có những chức vụ nhà nước; nhưng cũng là để “cách ly” người công giáo khỏi người không công giáo, nhất là khỏi các sĩ phu “nguy hiểm” ấy. “Cách ly”: chính là lời của giám mục Puginier đã dùng.

“Để tồn tại, các tầng lớp sĩ phu, rồi quan lại, sẽ đến với chữ “quốc ngữ”. Hậu quả của việc “thoái vị” này rất to lớn, và chưa được tìm hiểu kỹ càng. Vơi sự thiết lập chính thức chữ “quốc ngữ”, thì cái công cụ truyền thống của nền văn hóa dân tộc Việt Nam, tức chữ Hán, lập tức bị tiêu tan. Người ta dùng phương pháp nhân tạo để cắt đứt nước Vịêt Nam khỏi nền văn minh Trung quốc, mà nền văn hóa Việt Nam phần lớn đã bắt nguồn từ đó. Hơn nữa, so với lối viết tượng hình, thì cách thức diễn đạt của chữ “quốc ngữ” quả tình là nghèo nàn trông thấy. Sau cùng, là chữ “quốc ngữ” có xu huớng cách ly Việt Nam với cả khối cộng đồng văn hóa và chính trị phức hợp của châu Á, do Trung quốc, Triều Tiên và Nhựt Bổn tạo hình. ( ... )

“Nhưng có lẽ nào tiếng nói cứ luôn luôn phải là cái điều vừa xấu nhất vừa là tốt nhất trên đời ? Nếu chữ “quốc ngữ” và sự triệt tiêu của chữ Hán ngày nay vẫn đặt ra những vấn đề lớn cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, thì cái bảng chữ “Latinh” hóa đã góp phần rất đắc lực trong cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ tiến hành : chỉ cần học 6 tháng là đọc được chữ “quốc ngữ” và chính nhờ bảng chữ cái Latinh mà Hồ Chí Minh đã có thể chỉ trong 5 năm thanh toán được nạn mù chữ trong 95% dân số Việt Nam. Người Việt Nam cũng có vặn lại rằng: nếu như chữ “quốc ngữ” không vị người Pháp áp đặt cho họ, nếu các trường làng truyền thống không bị phá đi, thì có lẽ không có có vấn đề mù chữ phải thanh toán năm 1945.

“Tương tự. Sự nhập khấu qua Việt Nam mối xung đột của Cộng hòa Pháp với các tổ chức Gia-tô giáo ở chính quốc, hòa nhập làm một với mối xung đột rất khu biệt của các Hội truyền giáo với các nhà chức trách thuộc địa: các nhà chức trách thuộc địa thì chủ trương liên kết các nhà lãnh đạo Việt Nam, khi cần thì bằng cách, vừa đồi truỵ hóa, vừa chém đầu họ, để khai thác đất nước; các hội truyền giáo thì một hai muốn triệt tiêu các tầng lớp quan  lại và sĩ phu đi, vì ảnh hưởng của họ tác động đến quần chúng thấp kém, là đối tượng chăm sóc của các giáo sĩ, trong khi chờ đợi một ngày kia cả nước trở lại đạo Gia-tô, khi người ta đặt được lên ngôi một ông vua tận tuỵ với đức tin.

“Một cuộc xung đột kể ra khá thanh thản.Các bên đối thủ không đấu tranh với nhau công khai; lợi ích về sự có mặt thuộc địa vuợt lên trên tất cả. Chế độ (bảo hộ) chỉ đặt ra cho các hội truyền giáo một số giới hạn rất hợp lý hợp tình; đạo luật về sự tách biệt Nhà nước với Nhà thờ sẽ không công bố tại Đông Dương. Các Hội truyền giáo sẽ tận dụng được một cách tối đa sự che chở của Nhà nước đã cho họ trên thực tế. Không những trên phuơng tiện của cải vật chất - số của cải này ngay từ 1920 sẽ hết sức quan trọng – mà còn trên phương diện thật sự tôn giáo nữa. Theo giám mục Gúebriand: “Cho đến 1860, số giáo sĩ ở Đông Dương chưa bao giờ đạt tới 50.” Từ 1900 về sau, con số đó thường xuyên là 380-400. Sự phát triển của giới tu sĩ bản xứ lại càng đáng ngạc nhiên hơn nữa: năm 1862, 55 linh mục Việt Nam; 1892: 101; 1930: 1.102.

“Tóm lại là sự hợp tác giữa các Hội truyền giáo Gia-tô tại Đông Dương với chế độ thuộc địa chưa bao giờ là một sự hợp tác tin cậy lẫn nhau, trừ thời gian trước 1900. Nhưng sự hợp tác đó đã có lợi cho các Hội truyền giáo, trên cả hai phương diện vật chất và tôn giáo.”

Trái lại với đạo Tin Lành , việc rao giảng Phúc Âm của các giáo sĩ được dư luận cảm thấy như một ý muốn đế quốc chủ nghĩa của Nhà thờ Gia-tô.

Do dấn bước vào con đường thực dân, đạo Gia-tô đã tự nó làm mất đi uy tín của nó, mất đi cả sức mạnh tỏa sáng và ảnh hưởng tinh thần của nó.

Vốn rất giàu và có thế lực, Hột tuyền giáo Gia-tô đã sử dụng tài sản và những chỗ dựa chính quyền có sẵn ở tầm tay của họ để duy trì đức tin của các họ đạo bản xứ và chinh phục linh hồn.

Còn cái tình thế của họ đạo trong lòng xã hội Việt Nam thì chẳng có gì nên mơ ước. Kết thành một khối riêng biệt người công giáo, trong thời gian quân Pháp đánh chiếm Việt Nam, thực tình đã cấu kết với quân xâm lược; họ không cả ngần ngại, theo lời kêu gọi của các giáo sĩ, cầm vũ khí đứng lên chống lại Tổ quốc.

Những người Gia-tô giáo chân thành, như Francois Mauriac , là những người đầu tiên chịu lỗi và có lẽ cả biện bạch nữa, trước thái độ thù địch đối với Nhà thờ  La Mã của hầu hết các thuộc địa cũ:

“... Cần thiết phải dám thừa nhận – nhà viện sĩ hàn lâm ấy [F. Mauriac] tuyên bố - rằng hiện tượng chinh phục thuộc địa ở Châu Phi hoặc những nơi khác, đồng thời cũng là một hiện tượng phi cơ đốc hóa, do lỗi của những nước gọi là công giáo đã lợi dụng đạo Ki-tô và việc rao giảng Phú Âm phục vụ cho công cuộc thống trị và bóc lột ( ... )

“Có lẽ phải lâu lắm, có thể là hàng thế kỷ nữa, tại các dân tộc ấy, Kitô giáo không bị lẫn lộn với giống người đi áp bức.”

Mong sao tinh thần Vatican II từ đây sẽ chiến thắng, và sự “phi thực dân hoá tôn giáo” sẽ tiếp nối theo sự phi thực dân hóa chính trị.”

Lúc đó nước Việt Nam, trong nền độc lập hoàn toàn được khôi phục trở lại, sẽ lo thực hiện một cách phấn khởi lý tưởng mà hai mươi lăm thế kỷ trước đây, nhà hiền triết lão Tử đã nêu lên:

“Sáng tạo,

“Mà không sở hữu.

“Xây dựng,

“Mà không giữ lấy.

“Phát triển,

“Mà không thống trị.”

Lời bàn tiếp của Giao Điểm: Nhưng trong những năm mở đầu của thế kỷ 21, tập thể giáo dân Ki-tô người Việt lưu lạc trên khắp thế giới , dưới sự chỉ đạo và trung thành với Vatican, vẫn tiếp tục hạ nhục, chửi bới các tôn giáo dân tộc như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo v.v..., xúi dục lòng hận thù chống một kẻ thù 'Cộng Sản tưởng tuợng' , nhằm thực hiện mưu đồ trở lại phá hoại dân tộc Việt Nam như trong quá khứ.

across.gif (195 bytes)    Trở về trang nhận diện Nguyễn Trường Tộ

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: hoa95121@yahoo.com

. ..........