- Thập
Giá và Lưỡi Gươm
- (Trích
phần 5 trong tác phẩm “Thập Giá và Lưỡi Gươm” xb. năm 1988)
-
- Linh mục Trần Tam Tĩnh
Hai
nhân vật quan trọng trong việc cổ vũ việc Pháp xâm lăng Việt Nam là
giám mục Pellerin cai quản địa phận Huế và linh mục Huc, cựu thừa sai
truyền giáo. Giám mục Pellerin đã khẳng định trước mặt triều đình
Napoléon III rằng : “Nếu quân Pháp đánh chiếm nước này, thì giáo dân bản
xứ sẽ tiếp đón họ như những kẻ cứu tinh”. Linh mục Huc cũng viết
thư cho vua rằng: “Chiếm lấy Nam kỳ là việc dễ dàng nhất trần gian,
nó sẽ đem lại những kết quả vô cùng to lớn. Nước Pháp hiện có tại
biển Trung quốc những lực lượng dư sức để tiến hành công việc đó.
Dân bản xứ thì hiền lành, siêng năng, rất dễ đón nhận đức tin Kitô
giáo và đang rên xiết dưới ách tàn bạo ghê tởm. Họ sẽ tiếp đón
chúng ta như những người giải phóng, những vị ân nhân. Chỉ cần ít
lâu thôi là đem họ theo đạo được hết và làm cho họ nhiệt tình yêu mến
nước Pháp”.
Chưa từng có luận điệu tuyên
truyền tài tình tinh vi đến mức ấy ! Bọn tư bản gặp được nơi những
lời khẳng định lặp đi lặp lại đó, những công cụ hầu đánh lừa
nhân dân Pháp. Đám quân sự hoan hỉ lao vào những cuộc viễn chinh dể
dàng như thế.
Năm 1856 thiếu tá M. de Montigny chỉ
huy chiến hạm La Capricieuse tới Đà Nẵng, với mục đích đòi vua Tự Đức
nhường hải khẩu đó cho Pháp, để cho người Pháp được hoàn toàn tự
do buôn bán trên khắp cả nước và tự do giảng đạo công giáo. Viên thuyền
trưởng tiếp giám mục Pellerin cai quản địa phận Huế tại chiến hạm của
ông. Giám mục lên tàu cung cấp cho ông các tin tức tình báo và nhân danh
toàn thể các thừa sai tìm hiểu xem mục đích đích thật chiến hạm tới
đây là gì. Tự Đức không muốn nhượng bộ, còn de Montigny lại không có
đủ số quân để chiếm cả nước, hoặc trừng phạt kẻ thù theo lời thỉnh cầu của các thừa sai.
Chiến hạm Capricieuse rời Việt Nam mang theo giám mục Pellerin, người cổ
vũ chủ chốt việc Pháp xâm chiếm Việt Nam.
Cử chỉ của De Montigny gây phản
đối khắp nơi từ phía các cố thừa sai. Các ông này gởi về Pháp những
bức thư tỏ thái độ tức giận. Giám mục Retord viết trong thư đề ngày
24-6-1857: “Chưa bao giờ gặp phải một vố thất vọng ê chề như thế:
Phần chúng tôi, phải nói rõ thôi, chúng tôi đã se cả tấm lòng mình lại,
khi trông thấy cả toà nhà hy vọng mình ôm ấp trân trọng đã sụp đổ
nhanh chóng như thế, rồi nghe lặp đi lặp lại bên tai người Pháp chúng
tôi những lời hết sức khó chịu, chẳng hạn: Bọn họ kéo tới mà mình
có mời đâu, rồi lại bỏ ra đi sau khi làm hại cho chúng mình...” Hậu
quả của tất cả việc đó là gì? Là đem chúng tôi ném vào răng cọp,
sau khi đã chọc tức nó mà hại chúng tôi.” Và chính giám mục kể trên
lại kêu lên trong một bức thư khác: “Chúng tôi đã hy vọng biết bao khi
mới nghe tin cuộc hành quân sắp tới nơi, để đòi cho chúng tôi cách này
hay cách khác một sự bình an và sự tự do hoàn toàn, để báo thù cho danh
dự nước Pháp đã bị xúc phạm quá lâu nay rồi... Thất vọng biết chừng
nào, thật ê chề khi biết chắc chắn rằng quân lính Pháp đã chẳng chịu
làm gì hết trơn”.
Và linh mục thừa sai Theophane
Vénard, rồi đây được phong Á thánh như một vị thừa sai lừng danh nhất
của Hội thừa sai Pháp và của Việt Nam, đã viết cho thân phụ hồi
tháng 6 năm 1857 như sau: “Dân chúng cả nước, lương cũng như giáo, đều
vỗ tay và tỏ lòng hoan hỉ, khi nghĩ rằng ông vua tàn bạo của họ bị
truất phế. Nhưng thấy quân đội Pháp chúng ta chỉ tạo ra nguyên chuyện
lạ thôi, rốt cùng họ bị dân chúng chế diễu, còn chúng con thì chỉ
lãnh đủ sự ô nhục, những người thừa sai nghèo hèn, những đứa con của
nước Pháp, một vương quốc cao sang.
“Các cuộc viễn chinh hèn nhát kiểu
đó chẳng xứng đáng chút nào với nước Pháp, vốn mang một quả tim quảng
đại đến thế. Nếu nước Pháp chịu làm việc gì trước mặt thế giới,
thì phải làm một cách vĩ đại mới hợp với bản chất vĩ đại của nó”.
Quả đúng, qua cuộc hành quân kể
trên, quân Pháp đã làm cho Tự Đức nổi giận lôi đình. Một sắc chỉ cấm
đạo ngặt hơn, tàn bạo hơn, đã được đưa ra đàn áp, nhằm mục đích
phá huỷ toàn bộ hạ tầng cơ sở của cái tôn giáo cấu kết quá chặt
chẽ như thế với quân Pháp. Vua đã sai lầm khi đánh giá tình hình ngoài
mặt, không nghĩ tới nguy cơ sắp đổ xuống trên đất nước mình. Phần
vua Napoléon III, chịu sự áp lực của giám mục Pellerin từng hứa rằng tất
cả tín hữu người Việt sẽ hợp tác toàn diện với quân Pháp, vua cũng
nghe vị giám mục đó và nhiều vị thừa sai khác giải thích cho hiểu rõ
tình hình lực luợng quân sự và các điểm chiến lược của Việt Nam, nên
đã uỷ nhiệm cho phó đề đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm Việt Nam.
Ông này đã nhận được lời mời giám mục Retord căn dặn như sau: “Nếu
ngài đô đốc muốn thực hiện công việc một cách vững chắc, bền bỉ,
vừa đem lại vinh dự cho nước Pháp, hoặc là đặt một ông vua có đạo
dưới quyền bảo hộ của nước Pháp để ta chiếm giữ hải cảng và
các hòn đảo vịnh Tourane (Đà Nẵng) một cách vĩnh viễn”.
Trên chiến hạm Némésis, Rigault de
Renouilly có giám mục Pellerin bên cạnh, đảm bảo việc giao liên với các
thừa sai và tín đồ Kitô, vốn được chỉ thị cung cấp cho đô đốc các
tin tình báo về vị trí các đội quân Việt Nam và các vụ chuyển quân.
Được vị giám mục đảm bảo rằng hễ trông thấy hạm đội hùng mạnh
của Pháp và Tây Ban Nha tới (bởi vì quân Tây Ban Nha ở Manila đã phái một
trung tá để tham dự cuộc hành quân “trừng phạt” với Pháp) thì tất
cả dân chúng giáo lương sẽ nổi loạn chống nhà vua và việc đánh chiếm
nước này chỉ là việc làm vài ba hôm. Đô đốc Rigault de Genouilly bèn triển
khai đội binh 14 chiến hạm ngay trước vịnh Tourane. Nhưng đã xảy ra bất
đồng về chiến lược giữa giám mục và phó đô đốc. Do thiếu kết hợp
các tin tình báo và chiến thuật, quân Pháp đã bắn phá cảng Tourane ngày
31-8-1858 nhưng rồi do dự không muốn về thủ đô Huế đang được bảo vệ
bời những tướng lãnh giỏi nhất của Việt Nam.
Bỏ lại Tourane một đơn vị đóng
chốt, De Genouilly xuống đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh Đông Nam kỳ,
Sài Gòn thất thủ, nhưng cuộc kháng chiến được tổ chức tiếp tục
xung quanh các vùng đất bị chiếm đóng, tạo vòng vây phong tỏa tiếp viện.
Binh lính Pháp có thể chết đói tại đây, nếu giám mục Lefèvre đã
không kịp thời vận động giáo dân tiếp viện.
Năm 1860, cuộc hành quân Pháp-Anh đánh
Bắc kinh bắt buộc quân Pháp phải tạm hoãn công việc chinh phục Việt
Nam. Vua Tự Đức lợi dụng thời hạn đó để tổ chức tự vệ. Vua nói:
“Cần phải diệt tận gốc cái đạo tàn ác kia đi,
bởi vì nếu không có bọn tín đồ, thì lũ quân man rợ phương Tây sẽ
không có ai phù giúp không nhận được tiếp tế gì hết. Thiếu tiếp
viện thì chúng phải rời khỏi nước ta thôi.”
Nhưng, sau sự thất bại của Bắc
kinh, quân Pháp quay lại mạnh mẽ thêm và quyết tâm đánh chiếm toàn bộ
nước Việt Nam. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, nhà vua đã phải
ký hòa ước ngày 5 tháng 6 năm 1862, nhượng cho nước Pháp 3 tỉnh, bồi thường
chiến tranh 20 triệu tiền Pháp và ban bố tự do thờ cúng cho người công
giáo.
Trong việc tổ chức cai trị các
vùng đất chiếm được bọn quân Pháp chiêu mộ người hợp tác, nhưng
theo lời đó đốc Rieunier, chúng chỉ gặp được “tín đồ kitô hoặc những
tên vô lại”. Bốn ngàn giáo dân đến quây quần xung quanh bọn xâm lược.
Thật dễ đoán biết sự tức giận phẩn nộ không những của triều đình
Huế mà cả trong dân chúng người “lương” nổi lên cao độ chừng nào.
Các sắc chỉ cấm đạo công bố giữa năm 1859 và 1861 là gay gắt và
nghiêm khắc nhất từ trước đến nay.
Sắc chỉ 17-1-1860 truyền phải phân
tán người công giáo tới sống xen ở giữa các làng người lương, để mỗi
tín đồ phài có 5 đồng bào lương kiểm soát. Tất cả các làng và nơi
thờ tự của công giáo phải triệt hạ; tài sản của người công giáo phải
bị tịch thu và sau hết phải khắc chữ Tả Đạo
lên các tín đồ.
Sau hoà ước 1862, Tự Đức công bố
ân xá khắp cả nước. Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của vua, vua ra lệnh
tha cho tất cả tín hữu kitô đang bị tù, cho những người bị phân sáp
trước đó được trở về làng cũ, được nhận lại tài sản của họ,
nhà cửa, ruộng đất, và còn được miễn thuế và được sống yên
thân.
Tại Nam kỳ, trừ tín hữu kitô và
những tên xu thời, nhân dân các vùng bị chiếm đóng đều tổ chức kháng
chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của những nhà chí sĩ yêu nước
xuất thân từ quần chúng. Đây là loại chiến tranh du kích, được tiến
hành vừa táo bạo, vừa rất tài tình. Trong cuốn sử viễn chinh Nam kỳ,
Pallu de la Barriere mô tả theo điều tai nghe mắt thấy như sau: “Thục tế
là đâu đâu cũng có các ổ kháng chiến nó chia nhỏ li ti ra, có thể hầu
như nói được rằng mỗi người An Nam là một ổ kháng chiến. Đúng hơn,
phải kể mỗi người nông dân đang bó lúa là một điểm du kích! Và chiến
thuật này khiến quân lính Pháp chẳng còn biết đâu mà mò: “Thật không có màn kịch nào buồn tẻ hơn,
đơn điệu hơn mệt mỏi hơn cái thảm cảnh quân lính Pháp ở trên đất
cũng như dưới mặt biển. Một tên địch mình trông thấy hoài, nhưng một
tên khác lại nguỵ trang dấu mặt. Cứ thấy kẻ thù luôn luôn thoát khỏi
tầm tay, khiến có cảm tưởng như chúng ta chỉ bắn vào không khí”.
Trước cuộc nổi dậy khắp nơi
như thế, quân Pháp bèn tổ chức tiến công và chiếm đóng toàn bộ Nam kỳ
vào năm 1867. Song dầu thấy quân địch thu được những chiến thắng cách
chớp nhoáng và quan trọng như thế, du kích quân người Việt vẫn không bỏ
cuộc kháng chiến. Và bởi xác tín rằng người công
giáo đồng lõa với bọn xâm lược, họ cũng coi luôn tín đồ là kẻ thù
của mình. Theo ông Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ Việt Nam yêu
nước, thì “dân chúng bị tiêm nhiễm phải cái đạo tà, nên kẻ thù
xâm chiếm nước nhà mà chẳng ai chống cự lại.”. Và nhà thơ này cũng
liên tưởng đến các chiến công của kháng chiến vốn chỉ được trang bị
thô sơ, đã viết trong bài thơ phúng điếu các chiến sĩ Cần Giuộc như
sau : “Hỏa pháo chỉ dùng ngọn đuốc rơm, đã đủ thiêu rụi một chủng
viện. Dùng cây dao làm kiếm, cũng chặt được đầu tên thiếu uý”.
Ở đây, nên ghi nhận cái ý nhị
tinh vi của vần thơ Việt Nam, đặt chủng viện thừa sai song song với thiếu
uý thực dân. Thời gian này, tại Sài Gòn đã bị chiếm, các hội thừa
sai tổ chức xây dựng trường học, tu viện, nhà thương theo kiểu phương
Tây.
....
Linh mục
Trần Tam Tĩnh
Về trang nhận diện Nguyễn Trường
Tộ
Home | Top Page | Về trang mục
lục