>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

Hiệp ước 1862 và Khởi Điểm Công Cuộc Giải Phóng Dân Tộc
 
Tinh Đẩu
 
(Giới thiệu một đoạn trong cuốn “Các Vua Cuối Nhà nguyễn 1883-1945, Tập I” của Vũ Ngự Chiêu)

  Năm 1862, tham vọng đế quốc của thực dân Pháp và âm mưu của thế lực Thiên chúa giáo La mã trên đất nước ta đã chín muồi. Bàn chân xâm lăng của kẻ thù đã thật sự dày xéo quê hương Việt Nam và trái tim của bọn tay sai đang nở rộ; trong khi đó ở các nơi khác trên thế giới, chúng quyết tâm mở rộng  thêm thuộc địa. Trong năm 1862, viện cớ đi đòi nợ nước Mê-hi-cô, Napoléon gởi 6,500 binh sĩ đến Vịnh Mê-hi-cô (Gulf Coast of Mexico) để tiến chiếm Mexico City. Tên tướng chỉ huy Pháp Lorencz ngạo nghễ tuyên bố: “Chúng ta quá vượt trội người Mễ về chủng tộc, về tổ chức, về kỷ luật, về tinh thần và  khả năng tinh nhuệ; trong giây phút này đây, với cương vị chỉ huy 6,500 binh sĩ dũng cảm, ta là chủ nhân của nước Mê-hi-cô” (The French General Lorencz proclaimed, “We are so superior to the Mexicans in race, in organization, in morality and in refinement of sensibilities, that as of this moment, at the head of our 6,500 valiant soldiers, I am the master of Mexico). [Website:www.vivacincodemayo.org/history]

Nhưng ngày 5 tháng 5 năm 1862, với một lực lượng quân dân chỉ có 4,500 người, với sự giúp đỡ hạn chế của quân đội Mỹ đang ở vào tình huống nội chiến, quân dân Mễ đã đánh tan đoàn quân xâm lược Pháp, đẩy chúng vào thế phải triệt thoái toàn bộ ra khỏi đất nước Mê-hi-cô vào năm 1867.

Sự thất trận nhục nhã của thực dân Pháp có thể là lý do gián tiếp đưa tới ‘kế hoãn binh’ để ký Hiệp ước “xâm lược” với triều đình Huế một tháng sau đó (ngày 5/6/1862). Trong bối cảnh đó, triều đình nhà Nguyễn và nhân dân ta phải đối đầu với cảnh “ngoài bị xâm lăng, trong bọn giáo dân nổi dậy” tiếp ứng. Chúng tôi chọn lựa trích dẫn một đoạn tiêu biểu mô tả rõ nét nhất giai đoạn này của tiến sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu trong tác phẩm “Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945, Tập I” do nhà Văn Hóa xuất bản 1999 (từ trang 146 đến 157) để giới thiệu với quý độc giả Giao Điểm. Phần tiểu đề do chúng tôi tự đặt.

Liên minh giữa bọn “áo chùng đen” truyền giáo và bọn “Mafia-nội-địa":

Cuối năm 1861, tên Tạ Văn Phụng nổi lên ở vùng Quảng Yên, dưới “danh nghĩa dòng dõi nhà Lê” với sự cố vấn của tên trung sĩ Charles Duval (dưới quyền tên Bonard).

Về gốc tích của tên giặc Tạ Văn Phụng, ông Vũ Ngự Chiêu viết:

“Theo tài liệu Pháp, Pedro Phụng nguyên là một trẻ mồ côi, được các giáo sĩ mang sang nuôi ở Penang. Năm 1854, Phụng nổi lên ở Quảng Yên, đầu bị treo giá. Năm 1855, linh mục Tritaud thương tình xin giám mục Retord dàn xếp cho qua Hong Kong tị nạm. Năm 1858, Phụng theo Rigault de Genouilly tới Đà Nẵng, nhưng rồi bị Rigault đuổi qua Hong Kong. Từ cuối năm 1861, Phụng rời Hong Kong, lọt vào giáo khu Đông Đàng Ngoài của Retord, và được các thủ lãnh tôn làm vua, dưới tên giả “Le Duy Minh”. Nhờ Retord yểm trợ, “Cố” Trường (Le Grand de Liraye) làm “Mưu chủ”, Phụng quy tụ được khoảng 20,000 giáo dân, hy vọng lập nên một vương quốc Ki-tô ở miền Bắc. Lực lượng nòng cốt của Phụng là chiến thuyền. Hạm đội của Phụng ước lượng từ 200 đến 300 chiếc, trang bị đại bác khá hùng hậu, đặt căn cứ ở đảo Cát Bà trong vịnh Bắc Kỳ. Phụng còn liên minh với các nhóm hải tặc Thanh ở vùng Quảng Yên nên thanh thế rất mạnh. Trong hai năm 1861-1862, Phụng tung hoành khắp 9 tỉnh miền Bắc (2/3 diện tích), và số dân theo y lên tới 200,000 hay 300,000 người. Giặc Phụng đánh thắng quân triều đình hơn 60 trận, bắt sống hay giết chết 4 Tư lệnh. Năm 1862, thay vì giết tù binh, Phụng cắt ngón tay cái (poignet) hay 3 ngón, rồi trả tự do. Nhận xét về Phụng, linh mục Theurel, phụ tá của giám mục Jeantet, viết:

‘Nếu các nhóm phản loạn đoàn kết, chúng có hy vọng thành công. Với ông vua mới này, con cái cũ của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ có được sự hòa bình tôn giáo, và dân chúng sẽ theo vua chúng mà theo đạo. Nhưng y chỉ là một tên giả mạo’.

Lần đầu tiên tài liệu nhà Nguyễn ghi nhận về Phụng vào tháng 1/1862: Quan địa phương khám phá ra một thuyền hải tặc khoảng 100 chiếc đậu tại xã Xuân Áng, huyện Nghiêu Phong, Quảng Yên. Đầu tháng 2/1862, “giặc bể” khoảng 100 thuyền đánh phá thành Kiến Thuỵ, Quảng Yên. Ngày 4/2, triều đình được báo cáo thua trận và giặc biển đánh phá mạnh ở Đồ Sơn của tổng đốc Nam Định/ Hưng Yên Nguyễn Đình Tân. Ngày 8/2, Hồ Viêm và Nguyễn Văn Vi báo cáo khoảng 300 thuyền giặc kéo lên đánh phá Hải Dương, quan quân bị thua. Ngày 29/3, Viện Cơ Mật báo cáo hải tặc Tạ Văn Phụng làm chủ miền Quảng Yên, lấy Đồ Sơn làm sào huyệt. Cầm đầu là hai cố đạo Bộ và Ước . Có chừng 50-60 thuyền, 300 quân, suy tôn “Lê Duy Minh” làm chủ soái. Quan địa phương đề nghị ngăn chận đường tiếp tế lúa gạo và mộ quân giỏi thuỷ chiến đánh dẹp. Ngày 2/4, tổng đốc Tân báo cáo mất nhiều đồn, trấn, tình thế rất cấp bách. Sau này, sử nhà Nguyễn mới ghi thêm chi tiết Phụng gốc huyện Thọ Xương, Hà Nội; và được sự yểm trợ của cố Trường và Nguyễn Văn Niên. Phụ tá có Nguyễn Đình Ước (người Nghiêu Phong, Quảng yên), Độ, Lê Bá Đức (châu Tiên Yên), Vy Xuân (Hải Ninh), Nguyễn Văn Khương (Kinh Môn, Hải Dương) .

Trong tháng 4/1862, Nguyễn Văn Thịnh tức Cai tổng Vàng, một giáo dân Ki-tô khác, cũng xưng làm nguyên suý, suy tôn Le Duy Hân (Uẩn) “khởi nghĩa” ở Bắc Ninh. Thịnh liên kết với Pedro Phụng, thanh thế ngày một mạnh.”...

Trong mưu đồ của bọn truyền giáo “áo chùng đen”, với hổ trợ của súng đạn thực dân và một đoàn quân cướp tay sai Mafia-bản-xứ Ki-tô giáo, bọn chúng đã từng bước chiếm đoạt chủ quyền của đất nước Việt Nam, mở đầu bằng hòa-ước-thực-dân-xâm-lược có những điều khỏan theo Vũ Ngự Chiêu, như:

“-nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, cùng đảo Côn Sơn.

-cho Pháp và Espania tự do giảng đạo Ki-tô ở Đại Nam.

-mở 3 cảng Tourane, Nam Định và Quảng Yên cho việc giao thương.

-Đại Nam phải trả chiến phí 4 triệu Mỹ kim, trong vòng 10 năm (Vì triều Nguyễn không có Mỹ kim, một Mỹ kim tính bằng 72% lạng bạc)”.

Ông Vũ Ngự Chiêu viết tiếp:

“Tổng số thiệt hại về nhân mạng của Pháp đã lên tới 2,000 người (vào lúc đó do chiến thuật du kích của nhân dân và thời khí). Bởi thế, Bonard muốn cho đạo quân viễn chinh của mình được nghỉ ngơi, vì Hiệp ước 1862 đã đạt được cả hai mục tiêu chiếm đất cũng như quyền tự do giảng đạo – ít nhất trên nguyên tắc và công pháp quốc tế. Ngày 30/7, sau khi ký với Phan Thanh Giản qui ước thi hành hiệp định, Bonard ra tuyên cáo với dân ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Mỹ Tho rằng từ nay họ sẽ là con dân của Đại hoàng đế Pháp quốc, và một sứ thần Pháp sẽ ra Huế để xác định hòa ước.

Đẻ ổn định tình hình, Bonard dùng chính người Việt cai trị người Việt, dưới sự giám thị và kiểm soát của các quan chức Pháp. Kế hoạch được biết như “hợp tác” (association) này dựa theo bản điều trần của Gabriel Aubaret, tuỳ viên của Bonard và cũng là một chuyên viên Hán tự. Từng nghiên cứu bộ Hoàng Triều luật lệ (Bộ Luật Gia Long) và bộ Gia Định thống chí, Aubaret kết luận rằng chẳng phải ngẫu nhiên mà vua Nguyễn đã đặt luật thờ cúng tổ tiên vào chương đầu của bộ Luật Gia Long. Aubaret cũng ghi nhận rằng : mặc dù Pháp đã tăng cường 1,400 quân nhân vào ngạch quân quản, bất cứ hương chức hợp tác với Pháp nào cũng có thể bị hạ sát ngay tại cửa ngõ Sài Gòn. Một trong những lý do là thành phần hợp tác cốt cán của Pháp, tức tín đồ Ki-tô giáo bản xứ, có thói quen tự coi họ là người Pháp, và tách biệt khỏi đám đông. Bởi thế, dù việc quảng bá Ki-tô giáo là phương tiện bảo đảm nhất để lôi kéo cả một dân tộc Việt đứng về phía Pháp, nhưng không nên khuyến khích quá mức ... Bởi thế, Bonard huỷ bỏ các chức Giám đốc Bản xứ vụ (Directeurs des affairs indigènes) thành lập dưới thời Charner, thay bằng các quan huyện người Việt, dưới sự giám sát của các thanh tra (Inspecteurs des affairs indigènes) người Pháp. Chính sách hợp tác này lôi kéo được một số cá nhân tham vọng trong giới giáo dân. Nhiều người theo quân Pháp làm tri phủ, tri huyện. Tuy nhiên, đại đa số nho sĩ vẫn không chịu hợp tác với những kẻ Tây dương “hóa ngoại”...”.

Vời chính sách chính trị và hành chánh quỷ quyệt đó (bào thai tư tưởng của bọn “áo chùng đen” và thực dân), thái độ và tham vọng quyền lực của bọn Ki-tô tay sai ra sao?

Não trạng và mưu đồ của “Giới Ki-tô”:

“Các giáo sĩ và một số giáo dân cực đoan chưa thỏa mãn. Các nhà truyền giáo cảm thấy bị bẽ bàng vì có nỗ lực của các quan tướng Pháp giữ họ đứng ngoài những cuộc thương thuyết cũng như ký hiệp ước. Ngay các giáo sĩ và giáo dân giữ chức thông ngôn cũng chẳng biết gì nội dung Hiệp ước “Gabriel Aubaret” này. Bởi thế, ngày 23/7/1862, các giám mục Gauthier, Pellerin, và Herrengt cử ba linh mục Croc (Nam Đàng Ngoài), Roy (Đông Đàng Trong), và Devaux (Bắc Đàng Trong) rời Sài Gòn ra Huế để thăm dò tình hình về Hiệp ước 5/6/1862. Ngày 5/8, ba người tới cửa sông Huế. Quan Trấn thủ Thuận An đánh 50 roi hai thuyền trưởng đưa họ từ Nam ra. Vì chỉ có giấy giới thiệu của Palanca, mà không có sự chấp thuận của Bonard, ba linh mục này phải nói dối là tới giảng đạo. Croc va Devaux được đưa ra Quảng Bình, và giam lỏng ở Đồng Hới. Roy thì bị đưa vào Bình Định. Vụ này tạo nên một đợt rắc rối ngoại giao. Ngày 22/8/1862, Ty Thương bạc Huế báo cho Bonard về chuyến đi của nhóm Croc, Roy và Devaux. Sau khi truy biết chính Palanca đã cấp giấy phép cho ba giáo sĩ trên ngày 6/10/1862, Bonard chính thức than phiền với Bộ Ngoại giao Pháp.

Thêm nữa, mặc dù được quyền tự do giảng đạo và đón nhận một số giáo sĩ cùng giáo dân mới được thả tự do khỏi các ngục tù và các trại giáo hóa, mục tiêu lật đổ Tự Đức vẫn chưa đạt. Các nhà truyền giáo mới mở một chiến dịch tố cáo vua quan triều Nguyễn thiếu thành thực, chỉ vờ hòa hoãn để rảnh tay đánh dẹp “con cháu nhà Lê”, mà vẫn chưa thành tâm phóng thích tất cả những giáo dân bị bắt giữ.

Nhưng Bonard nhiệt tình “bênh vực” triều đình Huế, nhất là Phan Thanh Giản. Trong bản báo cáo ngày 24/7/1862 về hiện tình chính trị tại Sài Gòn, Bonard viết:

‘Tất cả các nhà truyền giáo đều ấp ủ giấc mơ trở lại giai đoạn mà giám mục d’Adran (Pigneau de Behaine) thật tế muốn làm vua đất Cochinchine, thời kỳ mà bất cứ việc gì cũng cần lời cố vấn hay sự thỏa thuận của ông ta.

... Tôi nghĩ rằng các nhà truyền giáo dòng Dominican Espania còn hăng hái và cực đoan hơn cả các giáo sĩ Pháp...

Một người con cháu nhà Lê, dù thật hay giả, đã được đón nhận tại các tu viện ở Trung Hoa, và sau khi đã ngược đãi y đủ đường, kể cả việc bắt giữ y giữ chân gác cổng, các giáo sĩ bề trên lại có ý dựng y làm vua, vì họ tin rằng sẽ có ảnh hưởng sâu đậm trên y một khi mưu toan hoàn tất. Hiện nay, qua lời nói và hành động của các tầng lớp truyền giáo Cochinchine, họ đang từ bỏ tham vọng trên vì nghĩ rằng mặc dù sự chiếm đóng và đô hộ của chúng ta chưa mang lại cho họ uy quyền của giám mục d’Adran, họ sẽ có những ảnh hưởng đáng kể. Vậy có thể, bằng một chính sách linh hoạt, bắt họ ngoan ngoãn trong phạm trù uy tín mà họ mong mỏi.

Các nhà truyền giáo ở địa phận Huế thì vẫn còn cực đoan. Một số đã hậm hực kéo theo những kẻ cướp ra đi. Nhưng tôi đã khuyên giám mục Pellerin cùng những cộng sự viên thân tín hãy tạm ở lại Nam kỳ.

Còn những tu sĩ Dominicans người Espania thường hay ở vùng mạn ngược Bắc kỳ; họ còn khó cai quản gấp bội: hăng hái và cuồng nhiệt tận cùng, một số lớn lại xuất thân từ các nhóm du kích và Carlistes (quân chủ chuyên chế theo Don Carlos), đã rời bỏ Espania ra đi, tự nguyện với thanh kiếm, khẩu súng và cây thánh giá trên tay, tham gia bằng tất cả tâm hồn và thể xác vào những cuộc nổi loạn làm điêu đứng Bắc kỳ.’

Bộ trưởng Chasseloup-Laubat, tân ngoại trưởng Drouyn de Lhyus cùng vua Napoléon II đều chấp thuận quan điểm của Bonard. Bởi thế, tháng 2/1863, Napoléon III phê chuẩn hòa ước Nhâm Tuất (5/6/1862).

Để làm dịu sự chống đối của các nhà truyền giáo, Bonard uỷ cho họ nghiên cứu và thiết lập trường học để “giáo hóa” dân bản xứ, thực hiện kế hoạch “trồng người”, hầu cung cấp nhân lực cho việc xây đắp và duy trì nền tảng của đế quốc Pháp ở Đông Dương. Một tiểu chủng viện bắt đầu hoạt động ở Sài Gòn để đào tạo giai tầng trí thức “tân trào” hầu thay thế giai tầng văn thân / nho sĩ. Ngoài ra, còn nâng đỡ các giáo sĩ trong việc mở mang họ đạo, xây dựng nhà thờ, thu mua hoặc chiếm đóng các đền miếu, chùa chiền và ruộng đất bỏ hoang của dân tị nạn chiến tranh.

Trước mưu đồ thâm độc của thực dân và “chủ tớ áo chùng đen” trên đất nước ta, lòng yêu nước của tầng lớp đại biểu cho ý thức dân tộc đương thời (giới Văn thân / Nho sĩ) bùng vỡ:

“...Chủ trương phải chống Pháp, bảo vệ chủ quyền bằng mọi giá, phần đông cho rằng không những cá nhân Phan Thanh giản và Lâm Duy Thiệp đã “bán nước” (mãi quốc), mà chính triều đình Huế còn “khinh thường dân chúng” (khi dân). Phần vì lòng ái quốc, không chịu cam tâm để Pháp chiếm đóng giang sơn, phần vì tinh thần bài đạo Ki-tô đã trở thành một biểu tượng của căn bản ý thức hệ nhiều thế kỷ, giới sĩ dân bắt đầu phát động chiến dịch “Bình Tây, Sát Tả” (đánh Tây, giết giáo dân Ki-tô).

Tại miền Nam, tháng 12/1862, Võ Duy Dương - tức Thiên hộ hay Lãnh binh Dương – công khai chống lại lệnh đầu hàng của triều đình, lập chiến khu tại Đồng Tháp Mười, bị Quản cơ Trần Văn Thành truy lùng gắt gao. Tại Mỹ Tho, Nguyễn Hữu Huân, tức Thủ khoa Huân, cũng nổi dậy vào đầu năm 1863. Tại Vĩnh long, Trương Định chống lệnh triều đình, chỉ huy dân ứng nghĩa sáu tỉnh quyết tử chiến với Pháp, chiếm giữ đồn Gò Công cho tới ngày 25/2/1863. Khi Phan Thanh Giản xin Tự Đức xuống Dụ để khuyên Trương Định, vua tâm sự với các thị thần rằng, “Lòng người như thế, cũng là một sự giúp cho cuộc mưu tính lấy lại, há lẽ nào cứ răn dụ lặt vặt mãi”.

Tại miền Bắc, nhiều “sĩ dân” cũng ứng mộ hương dõng giúp triều đình. Nhóm Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê ở Nam Định gây nhiều tiếng vang hơn cả.”.

Ngày 5 tháng 5 năm 1862 (Cinco de Mayo), ở vùng phía Đông Nam Mỹ châu nhìn từ đất nước ta, quân dân Mê-hi-cô đã bằng số quân ít hơn, vũ khí thô sơ hơn đã đánh tan đội quân xâm lược Pháp của Napoléon, thì một tháng sau đó đất nước chúng ta phải đầu hàng bọn thực dân và tập hợp bán nước Ki-tô giáo bằng “Hiệp ước” Nhâm tuất 5/6/1862. Nhưng đàng sau sự “đầu hàng” tạm thời đó, là một bước ngoặt lịch sử mở đầu cho tinh thần yêu nước của Văn thân, Cần vương chuyển động dòng lịch sử giải phóng dân tộc trọn vẹn và triệt để cho hơn một trăm năm sau đó.

across.gif (195 bytes)    Về trang nhận diện Nguyễn Trường Tộ

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: hoa95121@yahoo.com

. ..........