>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
THỬ TÌM HIỂU TẠI SAO
PHẬT GIÁO NỞ RỘ KHẮP NƠI
 
TRẦN CHUNG NGỌC

Cảm đề:

Đạo Phật không phải là tôn giáo anh tìm đến để mong được cứu rỗi, xưng thú tội để được an tâm tội lỗi sẽ được xóa bỏ, nhưng đạo Phật là một đáp án, một giải pháp, một phương tiện, một cách sống mang lại hạnh phúc và an vui tâm hồn cho mỗi cá nhân, một tập thể, một quốc gia, và tất nhiên là của cộng đồng nhân loại. Đó không phải là một lý thuyết trừu tượng, nhưng là một thực chứng qua đời sống. Đạo Phật đã thực chứng khả năng biến cải tâm hồn của tội nhân, cứu thoát những người nghiện ma tuý - những kẻ sa đọa, an ủi những tâm hồn khổ đau, chuyển hóa những đầu óc thù hận ..., kể cả thay đổi bản chất những nhà lãnh đạo, những chính trị gia cuồng tín, mê muội. Nhưng những yếu tố thực chứng đó đủ để thức tỉnh người Tây phương tìm đến đạo Phật ? Giáo sư Trần Chung Ngọc trả lời cách khác - phanh phui đầu mối đứa tới sự thức tỉnh: “Sự thức tỉnh của Tây phương không chỉ thuần tuý là vì những giá trị tín ngưỡng Tây phương nay đã sụp đổ mà còn vì một khía cạnh khác không kém phần quan trọng. Đó là cái lịch sử tàn bạo của Kitô giáo và vấn đề  đạo đức trong giới lãnh đạo Kitô giáo. Ngày nay, các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Kitô đã khám phá ra rằng lịch sử và đạo đức Kitô giáo còn cái mặt đen tối, và nếu đặt lên cán cân thì mặt này sẽ nặng trĩu trên cán cân.”. Như thế từ sự hoàn toàn hụt hẫng niềm tin cộng thêm tri thức soi sáng “cái mặt đen tối” này đã làm người Tây phương thức tỉnh và  quyết nắm bắt chiếc phao Phật giáo. Tác giả Trần Chung Ngọc viết tiếp: “Do đó, Tây phương đã phải đi tìm sự uyên thâm về tư tưởng ở Đông phương. Đông phương có Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, và Ấn Độ Giáo. Ấn Độ Giáo thờ nhiều thần, không thích hợp với người Tây phương. Khổng Giáo là những triết lý về xã hội và có những điều nay không còn hợp thời. Lão Giáo thì thoát tục, xa lìa trần thế. Chỉ còn có Phật Giáo vừa là một tôn giáo nhân chủ và nhân bản, vừa là một triết lý thực dụng chẳng bao giờ lỗi thời, vừa có tinh thần khoa học, cho nên có thể nói là thích hợp với con người Tây phương nhất.”. Bạn đọc hẳn nhiên sẽ không thỏa mãn hoàn toàn với lời giải căn bản và sơ lược của tác giả, bởi có những tra hỏi nặng tính triết học lịch sử hơn nữa sẽ nảy sinh, chẳng hạn như theo quan điểm của hai sử gia Oswald Spengler chừng ba phần tư thế kỷ về trước và Arnold Toynbee vài chục năm trở lại tiên đoán về sự sụp đổ của văn minh phương Tây có phù hợp với suy luận “mất niềm tin Kitô giáo” của giáo sư Ngọc? Hay với những vấn đề thực dụng trước mắt như : Tại sao đạo Phật sẽ bành trướng mạnh mẽ với tốc độ và chiều rộng ở những xã hội hiện đại so với các xã hội truyền thống Á châu ? Độ hở lớn (‘vast gap’) hiện hữu giữa ý thức lịch sử của người phương Tây và quan điểm lịch sử truyền thống được duy trì bởi người Đông phương là những gì ? Giáo sư Stephen Batchelor (tác giả TCN có đề cập trong bài viết) có nhắc lại lời nhận xét của triết gia danh tiếng Mỹ George Santayana : “Những ai không thể nhớ quá khứ đều bị lên án lập lại nó” (‘Those who cannot remember the past are condemned to repeat it’) và cho rằng lịch sử đạo Phật có những bài học riêng để dạy người Tây phương đã quên đi những hiểm họa của chính mình ! (mời đọc: “Lessons of History”, Stephen Batchelor, tạp chí Tricycle số mùa Đông 2000, các trang 41, 110 – 113) . Quả vậy, đề tài mà giáo sư Trần Chung Ngọc đưa ra sẽ dẫn dắt chúng ta đến những tra vấn mang tính hiện thực, thời đại ... khác nữa.    Nguyễn Văn Hóa

pg-blossom2.JPG (12875 bytes)
 
1. Vài Lời Nói Đầu.

Hiện tượng  Phật Giáo nở rộ khắp nơi trên thế giới, nhất là trong phương trời Âu Mỹ, ngày nay không còn xa lạ gì với chúng ta.  Và đây là một sự kiện (fact) không ai có thể phủ nhận.  Cách đây mới khoảng 30 năm, vào một tiệm sách lớn ở Mỹ, số sách viết về Phật Giáo có thể đếm trên đầu ngón tay.  Ngày nay, vào những tiệm sách như Borders hay Barnes & Noble, chúng ta thấy số lượng sách viết về Phật Giáo tăng lên gấp bội, chiếm nhiều ngăn kệ sách, tính ra đến vài trăm cuốn.   Riêng sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng đã đến vài chục cuốn.   Điều đáng lưu ý là sách của hai vị này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, và thuộc loại sách bán chạy nhất (best sellers).  Vào Internet, Amazon.com, đánh chữ Buddhism, chúng ta thấy không dưới 1200 tên các tác phẩm về Phật Giáo.  Ngoài ra, trong trên 50 trang nhà Phật giáo của người Việt,  đặc biệt là trang nhà Đạo Phật Ngày Nay www.buddhismtoday.com do thầy Thích Nhật Từ ở Việt Nam phụ trách, hay trang nhà Quảng Đức www.quangduc.com do thầy Thích Nguyên Tạng ở Úc phụ trách, chúng ta thấy tràn ngập kinh điển Phật Giáo, vô số những bài thuyết Pháp và tác phẩm nghiên cứu về Phật Giáo, chưa kể những trang nhà Phật Giáo của người ngoại quốc ở khắp nơi.  Những bản tường trình về sinh hoạt Phật Giáo khắp nơi trên thế giới của Minh Ngọc trong những số báo Giao Điểm gần đây, cuốn Phật Giáo Khắp Thế Giới của Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc-châu, là những đóng góp vô cùng quý giá để cho Phật tử Việt Nam cập nhật hóa sự phát triển của Phật Giáo trên thế giới.

   Tuy nhiên, hầu hết các tác giả, Việt Nam cũng như ngoại quốc, khi trình bày về sự phát triển rộng lớn của Phật Giáo trên thế giới ngày nay, thường không đào sâu vào vấn đề nguyên nhân: tại sao lại có hiện tượng này.  Trong bài này, tôi sẽ cố gắng phân tích, trong giới hạn hiểu biết của tôi, những yếu tố đưa đến sự kiện nở rộ của Phật Giáo trên thế giới.

   Tuy Phật Giáo đang phát triển khắp nơi trên thế giới, nhưng chúng ta phải ghi nhận rằng, hiện tượng này rõ rệt nhất trong thế giới Tây phương, thế giới được coi là văn minh tiến bộ nhất.  Do đó trong bài này, tôi đặc biệt chú ý đến sự phát triển Phật giáo trong những xã hội Tây phương.

   Chúng ta biết rằng, trong các xã hội Tây phương, Ki Tô Giáo đã là tôn giáo chủ lực tinh thần của người dân qua gần 20 thế kỷ.  Trong những xã hội này, Ki Tô giáo, tôn giáo của "đức tin",  được coi là tôn giáo tiến bộ và văn minh nhất, tuyệt đối không có chút nào mê tín, theo nghĩa chỉ cần tin vào Chúa Giê-su thì sau khi chết, đến ngày Chúa phán xét, xác chết sẽ sống lại và sống cuộc sống đời đời bên Chúa.  Phật Giáo, tôn giáo của "trí tuệ",  bị coi là thấp kém, hầu như không được biết đến trong thế giới Tây phương, cho tới hậu bán thế kỷ 19. Vậy tại sao hiện nay lại có hiện tượng hâm mộ Phật Giáo, nhất là trong giới trí thức, trong các xã hội này.  Muốn hiểu điều này chúng ta không thể nào tránh được việc bàn về những thay đổi của ảnh hưởng Ki Tô Giáo trên con người, và lẽ dĩ nhiên, không thể không bàn về chủ đề: cái gì đã làm cho Phật Giáo hấp dẫn Tây phương?

   Sự phát triển của Phật Giáo trong thế giới Tây phương có nhiều nguyên nhân, nhưng tất cả có thể thu về một mối.  Đó là: nhân loại đã nằm trong một quá trình tiến hóa liên tục, một quá trình thiên nhiên trong vũ trụ, không một thế lực nào có thể ngăn chận được.  Sự tiến hóa về mọi mặt của con người, nhất là về mặt trí tuệ, tất nhiên đưa đến sự thoái hóa của những quan niệm, lý thuyết và cả những niềm tin tôn giáo đã lỗi thời trong xã hội loài người.  Do đó, chúng ta có thể nói rằng, ở Âu Mỹ sự phát triển của Phật Giáo, một tôn giáo Đông phương đã ra đời trước tôn giáo Tây phương hơn 500 năm, thì đi song song với sự suy thoái của tôn giáo Tây phương.   Chúng ta nên hiểu rằng, sự suy thoái của tôn giáo Tây phương tuyệt đối không phải vì sự "xâm lấn" (sic) của Phật Giáo để cướp đi tín đồ của các tôn giáo Tây phương, vì lịch sử Phật Giáo trải dài hơn 2500 năm nay đã chứng tỏ rằng, Phật Giáo chưa bao giờ làm đổ một giọt máu hay cưỡng bách bất cứ ai trong quá trình truyền đạo.  Sự suy thoái của tôn giáo Tây phương là điều tất nhiên phải xảy ra khi mà người Tây phương, trước những bằng chứng bất khả phủ bác trong khoa học về nguồn gốc vũ trụ và loài người (thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa), đã thức tỉnh, ít ra là trong giới trí thức hiểu biết, để nhận ra sự thực về tôn giáo truyền thống của mình, và cùng lúc nhận ra được chân giá trị của Phật Giáo.  Đây là một điểm rất đặc biệt mà chúng ta cần ghi nhận, vì nếu Phật Giáo không có chân giá trị thì không thể nào đi vào thế giới Tây phương, nơi đây sự tiến bộ trí thức đã tạo nên truyền thống đặt nặng tinh thần khoa học, thực dụng, lôgic, và quyền được thắc mắc, nghi ngờ và chất vấn, một truyền thống không xa lạ gì với Phật Giáo. 

   Do đó, bài khảo luận này sẽ gồm có hai phần: phần thứ nhất nói về sự thức tỉnh của Tây phương, và phần thứ hai, về sự hấp dẫn của Phật Giáo trong những xã hội Tây phương.  Đây là hai chủ đề quá rộng lớn, không có cách nào tôi có thể trình bày đầy đủ về mỗi chủ đề.  Cho nên sau đây tôi chỉ đưa ra những nét chính và xin quý độc giả tha thứ cho sự thiếu sót không thể nào tránh được.

2.  Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương.

   Năm 1969, John H. Garabedian & Orde Coombs xuất bản cuốn Những Tôn Giáo Đông Phương Trong Thời Đại Điện Tử (Eastern Religions In The Electric Age), hình bìa ngoài là hàng chữ lớn viết lên tường: Chúa Ki-Tô Đã Chết - Phật Đang Sống (Christ Is Dead - Buddha Lives), nội dung nói về cuộc nổi giậy đạo đức ở Mỹ (moral revolt in America), phân tích tại sao hàng triệu giới trẻ đang vứt bỏ những truyền thống của họ và tìm kiếm những giải đáp mới trong những tư tưởng và tôn giáo Đông phương (Why millions of young people are rejecting their own traditions and seeking new answers in the ideas and religions of the East).

   Năm 1994, Stephen Batchelor xuất bản cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), nội dung viết về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương.  Cuốn sách được giới thiệu như sau:

   "Cuốn "Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương" là một cuốn viết rất hay về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương trong 2000 năm qua - một cuốn sử biên về những cơ hội bỏ lỡ, sự kiêu căng văn hóa, thảm kịch chính trị, và những giấc mộng không thành.  Từ thời đại đế Alexandre, các vua chúa và giáo hoàng Tây phương đã mong mỏi kiếm được quyền lực bằng cách chinh phục Á Châu.  Qua nhiều thời kỳ họ đã phái từng đợt sứ giả và các nhà truyền giáo tới Á Châu để tiếp xúc với những người "ngoại đạo", nhưng tâm thức hẹp hòi của người Tây phương đã làm cho những người này chẳng biết được bao nhiêu về Phật Giáo.

   Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tinh thần có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây phương."

   (The "Awakening of the West" is a beautifully written history of the Encounter of Buddhism with the West during the past 2000 years - a chronicle of missed opportunities, cultural arrogance, political tragedy, and unfulfilled dreamd.  Since the time of Alexander the Great, European kings and popes longed for the power to be gained through the conquest of Asia.  They sent periodic streams of envoys and missionaries to establish contact with the "infidels," but the European's narrow-mindedness prevented them from learning much at all about Buddhism.

   Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West.)

   Tên cuốn sách đã gây sự ngỡ ngàng trong thế giới Tây phương không ít.   Tây phương vẫn được coi, hay tự nhận, là văn minh tiến bộ nhất, và tôn giáo Tây phương, Ki Tô Giáo, vẫn được coi, hay tự nhận, là tôn giáo mạc khải, tôn giáo duy nhất có giá trị trên thế gian.  Vậy tại sao Phật giáo đã làm cho Tây phương thức tỉnh, và thức tỉnh khỏi cái gì?  Hi vọng những phần sau của bài khảo luận này có thể giải đáp phần nào cho câu hỏi trên.

   Trước hết là một thí dụ điển hình về sự thức tỉnh của con người Tây phương: sự xuất bản cuốn Tinh Túy Của Phật Giáo (The Essence of Buddhism), tác giả là John Walters.  Cuốn sách nhỏ này, vào khoảng 150 trang, rất đặc biệt, vì đó là tác phẩm của một người trưởng thành trong truyền thống Ki Tô, được nhồi sọ Phật Giáo là một tôn giáo yếm thế, vô vọng, một dạng sơ khai của chủ thuyết hiện sinh v..v.., và tin rằng Ki Tô Giáo là tôn giáo duy nhất có ích cho nhân loại.  Nhưng sau một chuyến du hành Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, ông ta đã thấy tận mắt thực chất của Phật Giáo, hoàn toàn không như những điều ông đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ.   Ông bèn suy nghĩ lại, tìm hiểu lịch sử và so sánh Ki Tô Giáo với Phật Giáo.  Ông nghĩ tới “những sai lầm và tội ác của những Giáo hội Ki Tô và những giới chức lãnh đạo trong quá khứ” (the blunders and crimes of the churches and their leaders in past ages), những lễ tiết (rituals) trong Ki Tô Giáo mà ông cho là có tính cách “mê tín tàn bạo” (sadistic superstition) và so sánh với  “một trong những sự vinh quang nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan nhượng” (one of the greatest glories of Buddhism is its tolerance). 

   Chân giá trị của Phật Giáo đã làm cho John Walters thức tỉnh, thức tỉnh khỏi những điều sai sự thực, mê muội mà tôn giáo truyền thống của ông đã đầu độc đầu óc ông từ khi ông còn nhỏ.  Và đây là sự thức tỉnh về tư duy, một khả năng quý báu nhất của con người.

   Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 6, 1994, có một bài viết về Mỹ Ở Ngưỡng Cửa Phật Pháp (America on the verge of Buddhadharma) ghi nhận định của Tracy Cochran, chủ bút tờ Tricycle, như sau:

   "Mỹ đang ở ngưỡng cửa của một sự khám phá quan trọng về Phật Pháp, một sự nỡ rộ của trí tuệ đã khai sáng tâm thức cho hàng tỷ người ở phía bên kia của thế giới."

   (American, say Tracy Cochran, a consulting editor of Tricycle: The Buddhist Review, is on the verge of a breakthrough in Buddhadharma, a flowering of the wisdom that has enlightened billions of souls on the other side of the world.)

   Tờ Time, số ngày 13 tháng 10,  1997, bìa ngoài có hình tài tử Brad Pitt, tài tử đóng phim Bảy Năm Ở Tây Tạng (Seven Years in Tibet), và hàng tít lớn: Sự Hấp Dẫn Của Phật Giáo Đối Với Mỹ (America's Fascination With Buddhism).  Trong số báo này có một bài dài 11 trang viết về đề tài Phật Giáo ở Mỹ (Buddhism in America). 

   Tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 6, 2000, có một bài của ký giả Karen Mellen tường trình về chủ đề “Người Tây phương đến với tín ngưỡng Á Châu nhiều hơn” (More Westerners are drawn to Asian Faith) trong đó tác giả đã nói lên một sắc thái rất đặc biệt của Phật Giáo như sau:

   “Không cần phải tìm cách thu phục hay tích cực kiếm thêm tín đồ, Phật Giáo đang nở rộ tại tiểu bang Illinois và các tiểu ban lân cận.  Trong 5 năm qua, số tín đồ Phật Giáo tăng lên 25%, và mỗi năm có thêm 4 hay 5 Chùa mới.”

   (Without proselytizing or actively seeking members, Buddhism is flourishing in Illinois and nearby states.  Over the last five years the number of Buddhists has risen 25 percent, and four or five new temples open each year.)

    Trên đây chỉ là vài tài liệu điển hình nói lên sự phát triển Phật Giáo ở Tây phương.  Tuy nhiên, chúng không khỏi gây cho chúng ta một thắc mắc: Nếu nền văn minh tiến bộ Tây phương mà Ki Tô Giáo thường nhận vơ vào làm nền văn minh Ki Tô Giáo thật sự có giá trị về vấn đề đạo đức, tâm linh, thì tại sao thế giới Tây phương, nhất là giới trí thức hiểu biết, lại không hài lòng với tôn giáo truyền thống của mình mà lại thấy Phật Giáo hấp dẫn?  Câu trả lời ngắn gọn là: Tây phương đã thức tỉnh ra khỏi những mê lầm của tôn giáo truyền thống trong những xã hội Tây phương, nghĩa là Ki Tô Giáo.  Chứng minh?

   Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự thức tỉnh của Tây phương không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đã bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ Thời Đại Lý Trí  (The Age of Reason) vào thế kỷ 18, Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20.  Những thời đại này đã kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Ca-Tô Giáo Rô-ma đã đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The age of barbarism and intellectual darkness).

   Những thời đại bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người đã từ từ văn minh hóa Ca-Tô Giáo Rô-ma, hay nói đúng hơn, theo John E. Remsburg, đã tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma những bó củi để thiêu sống người và những thanh gươm để giết người.  Mặt khác, sau khi Martin Luther ly khai với giáo hội Ca-Tô vào đầu thế kỷ 16, không công nhận chế độ giáo hoàng, để lập ra hệ phái Ki-Tô Phản Đối (Protestantism) mà chúng ta thường biết dưới cưỡng từ Tin Lành, thì Thánh Kinh bắt đầu được dịch ra những tiếng địa phương, và cũng bắt đầu từ đó, những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và về nhân vật Giê-su trong Thánh Kinh phát triển.  Kết quả của những công cuộc nghiên cứu này là người ta khám phá ra rằng, Thánh Kinh không phải là những lời mạc khải của Thiên Chúa như giáo hội thường dạy cho các tín đồ, mà chứa rất nhiều sai lầm, mâu thuẫn, về thần học cũng như khoa học.  Ngoài ra, những công cuộc khảo cứu này cũng đưa ra hình ảnh của một Giê-su lịch sử khác hẳn với vai trò thần linh có khả năng cứu rỗi mà giáo hội Ca-Tô đã tạo dựng lên.  Và cũng từ đây, những tín lý, tín điều, cũng như những cái mà giáo hội Ca-Tô gọi là "bí tích" đã không còn chỗ đứng trong những xã hội Tây phương, ít ra là trong giới thức giả hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội.  Sau đây chúng ta sẽ duyệt qua vài tài liệu điển hình, kết quả của những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh cũng như về nhân vật Giê-su.

   Russell Shorto, người đã tổng duyệt những công cuộc nghiên cứu về Giê-su trong 200 năm, đã viết như sau trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm (Gospel Truth):

   Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ   là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng (tự cho mình là Con Thiên Chúa và tin rằng Nước Trời sắp đến. TCN) – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   (Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

   Giáo hội Ca-Tô Rô-ma rất hãnh diện về tôn giáo của mình vì có nhiều tín đồ nhất.  Lẽ dĩ nhiên, đây cũng là tôn giáo trên thế gian có nhiều tín đồ bình thường vẫn còn sống trong bóng tối nhiều nhất.  Sự thành công và sức mạnh của Giáo hội Ca-Tô hoàn vũ là ở điểm này.  Đó là sự thành công của một tổ chức tạo sức mạnh trên lớp người không bao giờ cần đến cái khả năng quý báu nhất của con người là lý trí, kiến thức, và óc suy luận.

   Nhưng đối với giới thức giả Tây phương ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô thì vấn đề có khác.  Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng:

   Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích  Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được.  Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa,  và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

   Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined)  của  D.  F.  Strauss  đã  quy  một số  chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo.  Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và  xác nhận sự khẳng định này.  Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại.

1. Đức mẹ đồng trinh
2. Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế  hiện  thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê- su.)
3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa
4. Sự sống lại của Chúa.
5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)
6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người   chết  cho ngày phán xét cuối cùng)
7. Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

   (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.  In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those  unhistorical   elements   as expressing a series of religious ideas.   Today,  analytical studies continue to support and confirm this assertion.  The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

   1.  The virgin birth

   2.  The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

   3.  The work of Atonement (plan for salvation)

   4.  The resurrection

   5.  The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

   6.  The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to

          the Last Judgment)

   7.  The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

    Chúng ta nên để ý là trên đây Mục sư Ernie Bringas chỉ trình bày quan điểm của giới trí thức học giả về Ki Tô Giáo.  Điều này không áp dụng cho số tín đồ đông đảo, Ca-Tô cũng như  Tin Lành, còn sống trong bóng tối.  Điều này cũng đã chứng tỏ rằng nền tảng tín ngưỡng của Ki Tô Giáo nói chung đã không còn hấp dẫn trong thế giới Tây phương, thế giới của khoa học, của suy lý.

   Chúng ta cũng nên biết rằng, bảy giáo lý mà Mục sư Ernie Bringas nêu lên ở trên là dựa vào, theo các giáo hội Ki Tô, những lời mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh.  Do đó, chúng ta có thể suy ra rằng, không có cái gì gọi là mạc khải ở trong Thánh Kinh, và những chuyện trong Thánh Kinh hầu hết thuộc loại huyền thoại, bắt nguồn từ lịch sử và ước vọng của dân Do Thái cổ xưa.  Thật vậy,   niềm tin cốt tủy của Ki Tô Giáo về huyền thoại con người sa ngã (ăn trái cấm), bị Thượng đế phạt, cho nên cần đến sự cứu chuộc của Giê-su, người con trai duy nhất của Thiên Chúa (God's only son) được phái xuống trần để hi sinh (sic) chết giả vờ trên cái giá hình chữ thập từ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật, chuộc tội cho nhân loại (Thiên Chúa toàn năng toàn trí không có cách nào khác hay sao?  TCN), nay đã trở thành chuyện khiến cho người có đầu óc bưng miệng cười, thuộc loại mê tín và vô nghĩa như Giám Mục John Shelby Spong đã viết như sau trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hay Chết  (Why Christianity Must Change or Die), trang  99:

    "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

   (We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

   Nếu những huyền thoại về Chúa Con (Giê-su) nay đã không còn chỗ đứng trong giới hiểu biết thì vai trò của Chúa Cha (God) ra sao?  Trong cuốn Những Phê Bình về Thiên Chúa (Critiques of God), biên tập bởi Peter A. Angeles, trong đó có 16 tác giả phê bình về mọi lý luận thần học của Ki Tô Giáo, trang xiii, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:

    Những niềm tin vào những đấng siêu nhiên đã biến khỏi nền văn hóa của chúng ta.  Bất cứ sự sùng tín đại cương nào về Thiên Chúa cũng đang trở thành mờ nhạt trong nền văn hóa của chúng ta.  Thiên Chúa đã mất đi trụ xứ trong không gian như là một nước trên Thiên đàng.  Ông ta cũng mất đi chỗ đứng trong vũ trụ như là đấng đã sáng tạo ra nó từ hư vô.  Không phải là Thiên Chúa bị đẩy ra một vùng xa lắc xa lơ.  Không phải vì ông ta trở thành một trừu tượng vô thân thể (không đực không cái).  Mà vì chúng ta nhận thức ra rằng chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà nói tới.

   (Beliefs in supernatural beings have vanished from our culture.   Any general serious belief in God is fading in our culture.  God has lost his spatial location as a monarch in heaven.  He has lost his temporal precedence to the universe as its Creator ex nihilo.  It is not God is being relegated to a remote region.  It is not that God has become a bodiless abstraction (a sexist It).  It is the realization that there is no God to which to relate.)

   Trên đây chỉ là vài quan niệm điển hình về tín ngưỡng Ki Tô Giáo trong thế giới Tây phương ngày nay.  Chúng ta còn biết, trong Ca-tô giáo Rô Ma, ngoài những niềm tin bắt nguồn từ Thánh Kinh mà giáo hội bắt buộc các tín đồ phải tin, các tín đồ còn bắt buộc phải tin những điều "giáo hội dạy rằng...", những điều được đặt ra mà không hề có trong Thánh Kinh.  Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

   Tín đồ Ca-Tô phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh.

   Vì Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

   (A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not.

   Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

   Tại sao giáo hội lại dạy tín đồ phải tin như vậy mà không được quyền thắc mắc?  Vì theo "lý luận" thần học của giáo hội thì: "Chúa Cha không do tạo sinh, Chúa Con không do tạo sinh, Thánh Ma (còn được gọi là Chúa Thánh Thần. TCN) không do tạo sinh.  Chúa Cha không thể hiểu được, Chúa Con không thể hiểu được, Thánh Ma không thể hiểu được." (The Father is uncreated, The Son uncreated, The Holy Ghost uncreated.  The Father incomprehensible, The Son incomprehensible, The Holy Ghost incomprehensible).   Phê bình lời dạy trên của giáo hội, cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã nhạo: "Và đó là tất cả lý lẽ mà chúng ta biết quá nhiều về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma." (And that is the reason we know so much about The Father, The Son, and The Holy Ghost) hàm ý tất cả những điều giáo hội dạy về Chúa Cha, Chúa Con, và Thánh Ma hoàn toàn mâu thuẫn với chính những khẳng định của giáo hội, và thực chất chỉ là những hoang tưởng của giáo hội.

   Vậy thì ngày nay, giới trí thức Tây phương đánh giá những điều "Giáo hội dạy rằng..."  ra sao?  Giáo hội dạy tín đồ tin nhiều thứ lắm, nhưng điển hình là tin vào sự ứng nghiệm của những lễ tiết giáo hội bày đặt ra nhưng không thể giải thích được mà giáo hội gọi là "bí tích", tín điều "Giáo hoàng bất khả ngộ" nghĩa là giáo hoàng không thể sai lầm khi tuyên bố về đạo đức và giáo lý, và quyền của giáo hoàng và các giới chức cao cấp trong giáo hội "tuyệt thông" hay là "Dứt phép thông công" tín đồ, nghĩa là không cho phép tín đồ hưởng các "bí tích" của giáo hội, một trong những "bí tích" này là được ăn...bánh thánh và  uống... rượu thánh, nghĩa là ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su để hiệp thông với Chúa Giê-su.  Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, chương III, tôi đã luận về 7 "bí tích" của Ca-Tô Giáo Rô-ma.  Phần này cũng đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm www.giaodiem.com .  Chúng ta hãy thử xét quyền "tuyệt thông" của giáo hội.

   Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh".  Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc.  Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của "tuyệt thông" như sau, trang 39-40:

   Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

...Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng  đế .  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

   Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục.  Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận.  Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

   (I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God.   It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience.  But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love.  Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity.  Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat.  They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.)

   Bàn về các "bí tích" trong Ki Tô Giáo, Tin Lành có 2, Ca-Tô có 7, trong cuốn Thoát Ly Khỏi Thiên Chúa: Lấy Lại Khả Năng Tìm Hiểu (Freedom From God: Restoring The Sense of Wonder, Almador Pub., 2001), Mục sư  Harry Willson viết, trang 55:

   "Trong đầu óc của rất nhiều người biết suy tư, lương thiện và có thiện chí, Ki Tô Giáo đã trở thành không còn thích hợp, vì nó đòi hỏi con người dự phần quá nhiều vào những điều vô nghĩa."

   (Christianity has become irrelevant, in the minds of so many thoughtful persons of good will and honesty, because it requires so much participation in nonsense.)

và đưa ra nhận định, trang 59:

   "Bất cứ khi nào, một người nào đó tự nhận mình là đại diện của Thiên Chúa trên trái đất, hay "đại diện của Chúa Ki Tô trên trái đất", hay bất cứ điều nào như vậy,  là hắn ta đòi hỏi thế giới phải tin vào điều vô nghĩa.  Thật là kinh hoàng khi vẫn có nhiều triệu người tin như vậy."

   (Whenever someone claims to be the representative of God on earth, or "the vicar of Christ on earth", or any such thing, he is asking the world to believe in nonsense.   It is alarming how many millions still believe it.)

   Harry Willson viết cuốn sách trên để khuyến khích tín đồ hãy theo gương ông, cất cái gánh nặng Thiên Chúa ra khỏi vai họ (Get God off your back).   Ông coi đó là một sự giải phóng:

   Hãy nghĩ về hình ảnh Thượng đế đi vào một hố đen của thập niên 60 với "Thượng đế đã chết".  Đừng kể đến phái bảo thủ Ki Tô vì trong đó không có sự suy tư.  Đây là một cuốn sách đi vào qua cái hố đen ấy và đi ra ngoài đầu kia - đến sự giải phóng.  Sự thách đố này là để cho những con người biết đọc và thích suy nghĩ, và còn có thể có khả năng thắc mắc, tìm hiểu.  Không khí trong lành đó thật là kỳ diệu.

   Các bạn cũng có thể được tự do.  Các bạn có thể bác bỏ cái quyền năng (của Thượng đế) đó, và dẹp bỏ những ngón tay đang bóp nghẹt yết hầu của các bạn. Để cho các bạn có thể thở!

   (Thinking about God went into a black hole in the sixties with "God is dead".  Fundamentalism doesn't count, because there's no thinking there.  Here's a book that goes all the way to that black hole and comes out the far end - into liberation.  This challenge is for persons who can read and like to think, and can still sense wonder.   The fresh air is wonderful.

   You, too, can be free! You can repudiate that authority, and remove those fingers at your throat.   You can breathe!)

   Sự thức tỉnh của Tây phương không chỉ thuần túy là vì những giá trị tín ngưỡng Tây phương nay đã sụp đổ mà còn vì một khía cạnh khác không kém phần quan trọng.  Đó là cái lịch sử tàn bạo của Ki Tô Giáo và vấn đề đạo đức trong giới lãnh đạo Ki Tô Giáo.  Ngày nay, các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đã khám phá ra rằng lịch sử và đạo đức Ki Tô Giáo còn cái mặt đen tối, và nếu đặt lên cán cân thì mặt này sẽ nặng trĩu trên cán cân.  Đề tài này không thuộc nội dung của bài viết cho nên tôi chỉ ghi ra vài lời thú nhận của chính giáo hoàng John Paul II của Ca Tô Giáo Rô Ma.

   1994: Trong một mật thư gửi cho các hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: "Làm sao mà chúng ta có thể tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân danh đức tin - chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình thức vi phạm nhân quyền khác?" (Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994 confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press, Pope John Paul II asked: "How can one remain silent about the many forms of violence perpetrated in the name of faith - wars of religion, tribunals of the Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?")

   1995:  Giáo hoàng John Paul II thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội "đặc biệt thuận lợi" của một thiên niên kỷ mới để ghi nhận "cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)" (Ibid.,: Pope John Paul II had urged the Roman Catholic Church to seize the "particularly propitious" occasion of the new millennium to recognize "the dark side of its history").

   Chúng ta thấy rằng, từ những công cuộc nghiên cứu mới nhất về Thánh Kinh, về nhân vật Giê-su, về Ki Tô Giáo nói chung, và nhất là từ những sự tiến bộ của khoa học, giới thức giả Tây phương đã thức tỉnh và nhận ra rằng, từ thế hệ này qua thế hệ khác, trải qua 2000 năm lịch sử, từ khi Giê-su sinh ra đời, con người Tây phương đã bị giam chặt trong một đức tin thuộc loại mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Hơn nữa, trước những cảnh chiến tranh triền miên, thiên tai, bệnh tật, cảnh khổ, cảnh chết đói ở những nước kém mở mang ở Phi Châu, bất cứ người nào còn có đầu óc suy tư  đều không còn có thể chấp nhận luận điệu thần học lố bịch về một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những thuộc tính của Thiên Chúa như : "Thiên Chúa quá thương yêu thế gian...", "Giê-su yêu tất cả mọi người", "Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui tình thương, tin vui tự do..." v..v..  Chỉ có những đầu óc trong đó có một khuyết tật hay một điểm mù tôn giáo mới có thể còn tin như vậy.

   Tất nhiên, khi đã mất niềm tin, về nền tảng tín ngưỡng cũng như về thực chất hành trì của các giáo hội Ki Tô, con người Tây phương cần phải đi tìm một cái gì khác để bù đắp vào nhu cầu tâm linh của mình.  Tất cả những tôn giáo độc thần khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, bản chất đều như nhau, không thể thỏa mãn nhu cầu tâm linh thích hợp với thời đại này của người Tây phương.  Do đó, Tây phương đã phải đi tìm sự uyên thâm về tư tưởng ở Đông phương.  Đông phương có Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, và Ấn Độ Giáo.  Ấn Độ Giáo thờ nhiều thần, không thích hợp với người Tây phương.  Khổng giáo là những triết lý về xã hội và có những điều nay không còn hợp thời.  Lão giáo thì thoát tục, xa lìa trần thế.  Chỉ còn có Phật Giáo, vừa là một tôn giáo nhân chủ và nhân bản, vừa là một hệ thống triết lý thực dụng chẳng bao giờ lỗi thời, vừa có tinh thần khoa học, cho nên có thể nói là thích hợp với con người Tây phương nhất.  Một cuốn sách xuất bản mới đây nhất của Vicky MacKenzies đã chứng minh sự kiện này.  Cuốn sách có tên là Tại Sao Lại Là Phật Giáo? Người Tây Phương Đi Tìm Kiếm Sự Uyên Thâm Của Trí Tuệ (Why Buddhism?  Westerners In Search Of Wisdom), nxb Tronsons, Anh quốc, và đề năm xuất bản là 2003.  Sau đây chúng ta sẽ đi vào vài chi tiết để tìm hiểu xem cái gì của Phật Giáo đã hấp dẫn Tây phương.

across2.gif (136 bytes)  Đọc tiếp: Sự hấp dẫn của Phật giáo ở Tây phương & Lời kết

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........