>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Tại sao Phật giáo nở rộ ở khắp nơi? (tiếp)

3. Sự Hấp Dẫn Của Phật Giáo Ở Tây Phương.

   Trong phần trên tôi đã chứng minh rằng nền tảng tín ngưỡng Tây phương đã không còn mấy giá trị trong giới trí thức, hiểu biết Tây phương.  Người Tây phương muốn kiếm một cái gì để bù đắp vào cái lỗ hổng tâm linh của họ.  Phật Giáo đã mở đường cho họ và đáp ứng được nhu cầu tâm linh của họ.  Từ bỏ đức tin trong Ki Tô Giáo để đi vào "nền tảng đức tin" của Phật Giáo, người Tây phương đã bị một cú "sốc" (shock) nặng, vì Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo đã cởi bỏ mớ xiềng xích trí tuệ đã buộc chặt họ qua bao nhiêu đời.  Đã từng sống trong một đức tin thuộc loại "không cần biết, không cần hiểu" (Xin đọc Đỗ Mạnh Tri trong "Ngón Tay Và Mặt Trăng"), người Tây phương nay cảm thấy họ đã được giải thoát, ra khỏi bóng tối của vô minh.   Chúng ta hãy đọc "Kinh Nền Tảng Đức Tin" của Phật Giáo, thường được biết là Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama (Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hằng Ngày, Đạo Phật Ngày Nay, Phật Lịch 2546, trang 98-99):

   ... Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:

-          Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
-          Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
-          Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
-          Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.
-          Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.
-          Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
-          Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
-          Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.
-          Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
-          Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

   Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, vác vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: "Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài" thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.

   Với Kinh Nền Tảng Đức Tin này, người đời bảo rằng Phật Giáo là đạo của trí tuệ quả nhiên không sai. Vì đây mới chính là nền tảng đức tin mà theo tôi, tuyệt vời nhất trong mọi nền tảng đức tin khác, vì nền tảng này đã tôn trọng phẩm giá và trí tuệ của con người đúng nghĩa là một con người.  Nếu con người từ bỏ thân phận làm người của mình để "cúi đầu trong vâng phục", "bảo sao nghe vậy", "chỉ đâu đi dó", "tin mà không cần biết, không cần hiểu", thì thực chất  không khác gì một con cừu, rút cuộc cũng chỉ bị đưa vào lò sát sinh mà thôi.

  Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo đã mở một chân trời mới cho người Tây phương.  Bắt đầu từ đây, người Tây phương đã có thể, theo như Mục sư Harry Willson, tháo gỡ những ngón tay bóp chặt yết hầu họ, cất đi gánh nặng Thượng đế trên vai họ, để được hít thở bầu không khí trong sạch.  Và cũng từ đây, tâm thức Tây phương đã mở để đón nhận một luồng gió tư tưởng mới từ Đông phương thổi tới.  Luồng gió này chính là các tư tưởng từ bi hỉ xả, vị tha, nhân bản, rộng rãi, khoan dung, tiến bộ, và phù hợp với các suy lý khoa học của Phật Giáo.

   Thật vậy, ra khỏi vòng mê lầm của đức tin, người Tây phương cần đến những "ông Thầy" chứ không cần đến "ông cứu rỗi".  Nhận định của Tiến Sĩ George Dennis O'Brien, Giáo sư Triết,  Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn "Thượng đế Và Đường Xe Lửa ở New Haven.  Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành Công" ("God and The New Haven Railway.  And Why Neither One Is Doing Very Well", Beacon Press, Boston, MA., 1986, trg. 108) sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề:

   Để sống đạo hạnh và tiến tới Giác Ngộ, con người cần những bậc Thầy chứ không cần tới các đấng cứu rỗi.  Sự khác biệt thật là quan trọng.  Xét về toàn diện, những tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng của người Mỹ ngày nay hơn.  Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những tôn giáo tin vào Thánh Kinh.  Trước hết là những tôn giáo này có vẻ như là những con đường tâm linh tự lực  Điều này hợp với tinh thần độc lập và tự tin của người Mỹ.   Tuy rằng các bậc Thầy xuất chúng rất là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua một bên, và con người có thể tự học lấy.  Người ta không thể tự cứu rỗi trong tôn giáo tin vào Thánh Kinh.  Lợi thế thứ nhì của các tôn giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp bỏ phần lớn cái mưu toan thần học.  Nếu thực sự có các Thần - và trong Phật Giáo có vẻ như là không hề có - thì vai trò của các Thần là những bậc Thầy hữu ích (nhưng có thể bỏ qua), hoặc là những lý tưởng hay những nhân vật gương mẫu.  Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm trong ÔngThầy - Cứu rỗi."

   (For enlightenment and morality one needs teachers, not saviors.  The distinction is crucial.  On the whole, religions of morality or enlightenment are much more palatable to contemporary American taste.  They have two distinct advantages over the Biblical tradition.  In the first place they appear to be do-it-yourself spiritualities.  This conforms to an American taste for independence and self-reliance.  Although great teachers are valuable in these traditions, they are also dispensable, and one can be self-taught.  One cannot be self-saved in the Biblical story.  The second advantage of religions of enlightenment and morality is that they can dispense of most theological machinery.  If there are Gods at all - and in Buddhism there appear to be none - then their role is either as helpful (but dispensable) teachers or as ideals and examplars.  The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.)

   Tuy Phật Giáo đã được Tây phương biết đến từ hậu bán thế kỷ 19 với Paul Carus và người ông bảo trợ, Daisetz T. Suzuki, rồi sau đó với những bậc trí thức nổi danh trong xã hội Tây phương về những công cuộc nghiên cứu Phật Giáo như Edwin Arnold, Rhys Davids, Edward Conze, Christmas Humphreys, Theodore Stcherbatsky, Sangharakshita v..v.. nhưng  Phật Giáo hầu như chỉ được biết tới trong giới trí thức có thể nói là rất giới hạn.  Phải đến hậu bán thế kỷ 20, khi đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng sang định cư ở Ấn -độ, cộng với cuộc tranh đấu của Phật Giáo ở Nam Việt Nam vào 1963, đặc biệt là cuộc "Tây du phản chiến" (sic) của Thầy Nhất Hạnh vào thập niên 1960, đại chúng trong thế giới Tây phương mới biết nhiều đến Phật Giáo, và từ đó Phật Giáo mới bắt đầu phát triển mạnh ở Tây phương.

   Trong sự phát triển nhanh chóng của Phật Giáo này, Phật Giáo Việt Nam đã góp phần không nhỏ.  Trước đây Tây phương, đặc biệt là giới trí thức, chỉ biết tới Phật Giáo qua những khảo luận trí thức của một số học giả.  Trong cuộc chiến ở Việt Nam, cuộc tranh đấu của Phật Giáo đưa tới cao điểm là cuộc tự thiêu của Bồ Tát Thích Quảng Đức và một số Tăng Ni, Phật tử khác đã làm vang động thế giới.  Hình ảnh ngọn lửa từ bi bốc lên từ nhục thân Bồ Tát Thích Quảng Đức ngồi trong tư thế kiết già, lưng ngay, cổ thẳng, vững như trái núi, đã được truyền đi khắp thế gìới làm chấn động nhân tâm thế giới và làm cho thế giới xúc động.

  Người Tây phương, quen thuộc với phương pháp bành trướng hay bảo vệ Ki-Tô Giáo bằng gươm đao, súng đạn mà họ cho rằng để vinh danh Chúa, cho nên lúc đầu không hiểu nổi hành động tự thiêu của các Phật tử.  Nhưng sau khi hiểu rõ Phật Giáo hơn, họ hiểu rằng hành động tự thiêu là một hành động đại hùng đại lực, từ bi tích cực, để chuyển hóa, thức tỉnh lương tâm con người đang chìm đắm trong màn vô minh dày đặc, chứ không phải là vì hận thù hoặc vì danh lợi trong những mục đích chính trị.  Từ những nhận thức này, người Tây phương đã bị hấp dẫn bởi những sắc thái vị tha, cao cả, xả thân, và nhân bản của Phật Giáo.  Và, với đầu óc tiến bộ của xã hội Tây phương, thiên về suy lý và tin vào khoa học, người Tây phương một khi đã đi vào Phật Giáo đều nhận thấy cái tinh thần khai phóng, chân thực, từ bi, hòa bình, và hữu hiệu của giáo lý và các phương pháp hành trì của Phật Giáo.

   Một điều đáng buồn là tuy Phật Giáo không có ý định cướp đi tín đồ của bất cứ tôn giáo nào khác, luôn luôn truyền đạo một cách hòa bình, không tranh giành, không dùng bả vật chất, không hứa hẹn viển vông v..v.. nhưng sự phát triển của Phật Giáo cũng làm cho những thế lực vô minh lo sợ mất đi những quyền lợi thế tục.  Trường hợp này đã xảy ra ngay trên đất Ý, thủ phủ vững chắc của Ca Tô Giáo Rô Ma.  Hiện nay ở Ý đã có nhiều chục ngàn người theo Phật Giáo, và số người theo Phật Giáo càng ngày càng gia tăng khiến cho Tòa Thánh Vatican phải lo ngại.  Giáo hoàng John Paul II đã viết cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng", trong đó không hiểu là cố ý hay vì kiến thức nông cạn, ngài đã xuyên tạc Phật Giáo.  Tuần báo Newsweek, số ngày 22 tháng 8, 1994 cho biết:  trong số báo bán nguyệt san "Văn Minh Ca Tô" do dòng Tên phát hành, Tòa Thánh đã phải đưa ra những lời đe dọa "tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" giáo dân nào đi theo Phật Giáo. Tuy nhiên, một số giới chức trong giáo hội muốn được uyển chuyển khi xét đến biện pháp "tuyệt thông" những người nổi tiếng như cầu thủ bóng tròn Baggio dù rằng Baggio thường nhắc đến Đức Phật trong cuộc tranh giải túc cầu quốc tế. (The Vatican is apparently worried too many Italians are falling away to the Eastern faith...The current issue of Catholic Civilization, a biweekly published by the Jesuit order, warns that "embracing Buddhism is..apostasy" and thus ground for excommunication.  Still, some church leaders want wiggle room when it comes to excommunicating pop stars like Baggio, even if he did mention Buddha often during the World Cup.) .  Phải dùng đến biện pháp đe dọa một hình phạt mà linh mục James Kavanaugh đã cho rằng thuộc loại huyền thoại, lỗi thời, trẻ con và bất lương, để giữ tín đồ, thì tôi cho là chẳng văn minh tí nào.  Chưa kể là một khi người ta đã quyết định theo Phật Giáo rồi thì đâu có còn cần gì đến cái "phép thông công" nữa. 

   Tôi xin mạn phép nói với đức giáo hoàng một câu: "Xin Ngài: "Đừng sợ! Sự thật sẽ giải thoát chúng ta" (Câu ngài thường khuyên con chiên. TCN).  Con đường chuyển hóa tâm thức con người của Phật Giáo để khiến cho họ được thấy sự thật, do đó giải thoát khỏi những xiềng xích trí tuệ, được sống tự do, hít thở bầu không khí trong lành, không có làm ai chết đâu, và cũng không hề có mục đích cướp đi tín đồ của ngài hay của bất cứ tôn giáo nào khác đâu."

    Như trên đã nói, các xã hội Âu Mỹ thường được coi là thành trì của Ki-Tô Giáo vì ý thức hệ Ki-Tô đã là chủ lực tinh thần của Tây phương trong 2000 năm nay.  Nếu cái chủ lực tinh thần này đáp ứng những khao khát tinh thần của người Tây phương thì không có lý do gì người Tây phương lại đi theo một tôn giáo khác mà từ trước tới nay họ thường được nhồi vào đầu óc là yếm thế, mê tín, dị đoan, bán khai.  Cho nên, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu là tại sao tâm thức người Tây phương ngày nay lại mở ra để tiếp nhận những tư tưởng Phật Giáo, về giáo lý cũng như là các phương pháp hành trì.  Đã có rất nhiều nhân vật có tên tuổi trên thế giới đưa ra những nhận xét trung thực về những tính chất nhân bản, tự do, khai phóng, giải thoát,  và khoa học của Phật Giáo. (Xin đọc cuốn "Great Personalities on Buddhism" của K. Sri Dhammananda)  Sau đây tôi chỉ trích dẫn vài tài liệu mà tôi cho là đã giải thích được cái nguyên nhân mà người Tây phương ngày nay nhận thấy Phật Giáo là tôn giáo có thể đáp ứng những khát vọng tâm linh của họ:

   Trong cuốn "Phật Giáo và Tây Phương:  Sự Hội Nhập của Phật Giáo Vào Xã Hội Tây Phương" (Buddhism and The West: The Integration of Buddhism into Western Society), Sangharakshita  giải thích như sau:

   Trong 2500 năm lịch sử, bất cứ tới đâu thì Phật Giáo cũng nhập vào nền văn hóa địa phương một cách phong phú và sinh động.  Đối với Phật Giáo thì điều này có nghĩa là Phật Giáo có những dạng bày tỏ ý kiến và truyền thông mới cũng như những phương pháp truyền đạo khác biệt nhau một cách đáng kể.  Phật Giáo đã mang tới những xã hội địa phương những lý tưởng mới, ý tưởng mới, lối sống đạo đức mới, và đời sống xã hội, văn hóa, nghệ thuật mới mẻ - thường là một sự biến đổi tận gốc.

   Ngày nay Phật Giáo đang đi tới Tây phương, và căn cứ trên cách chấp hành nghiêm chỉnh những nguyên tắc và thực hành Phật Giáo của những người Tây phương thì chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa là lịch sử sẽ lại tái diễn.  Phật Giáo đang tiến tới sự hội nhập vào các xã hội Tây phương.

  (Wherever Buddhism has traveled during its 2500 year history it has entered into a rich and dynamic relationship with its host cultures.  For Buddhism this has meant new forms of expression and communication as well as considerable differences in emphasis and approach.  To its surrounding societies have come new ideals, new ideas, new ethical standards, fresh social, cultural, artistic life - indeed, rarely anything less than radical transformation.

   Now Buddhism is coming to the West, and judging from the seriousness with which many Westerners are taking to its principles and practices, there can be no doubt that history is going to repeat itself.  Buddhism is about to become integrated into Western society.)

   "Sơ" Mary Margaret Funk, thuộc dòng Benedict, nhận định về Phật Giáo như sau, Time, October 13, 1997:

   "Phật giáo mang ích lợi đến cho mọi người chúng ta.  Phật Giáo sẽ đi vào lịch sử như là một trong những điều tốt nhất mang đến cho nền văn minh"

   (Buddhism is beneficial to all of us.  It will go down in history as one of the best things that happened to civilization)

   Và Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-Tô, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), xuất bản năm 1994, sau khi phân tích và đánh giá cái di sản Do Thái - Ki Tô (A Critical and Evaluation of the Judeo-Christian Legacy), đã đề nghị những Tín Ngưỡng Khác Thay Cho Thần Giáo (Alternatives to Theism).   Về Phật Giáo tác giả viết, trang 424:

   Lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, giống như Khổng giáo, hệ thống tín ngưỡng này đã hiện hữu trong 25 thế kỷ mà không hề có một cuộc Thánh Chiến, một Tòa Án Xử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác. (Những sản phẩm đặc thù của Ki Tô Giáo. TCN)

   (The best recommendation for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for twenty-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people.)

4.  Vài Lời Kết.

    Qua bài khảo luận trên, tôi hi vọng độc giả cũng nắm được phần nào các sự kiện liên quan đến thực chất của Phật Giáo cũng như Ki-Tô Giáo, và sự phát triển hiện nay của Phật Giáo trong các xã hội Tây phương.  Trước sự phát triển của Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Tây phương, và trước sự chấp nhận của Tây phương đối với những giá trị tinh thần, nhân bản của Phật Giáo, người Việt Nam  nên hãnh diện về cái "đạo dân tộc" của mình. Đất nước của chúng ta quả thật đã may mắn vì đã được thấm nhuần tinh thần Phật Giáo, một tinh thần chủ lực xây dựng nước và giữ nước như đã được chứng minh trong nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử.  Và do đó, chúng ta phải có bổn phận gìn giữ, phát huy tinh thần Phật Giáo trong mọi tầng lớp dân chúng, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, không nên vì một vài lợi ích vật chất phù du hay vì những lời hứa hẹn viển vông mà chạy theo những ý thức hệ huyền hoặc, phản khoa học, phản dân tộc, phản nhân loại đã lỗi thời và đang dần dần đi ra khỏi những xã hội Tây phương.  Điều quan trọng không kém là chúng ta cũng phải tận dụng Bi, Trí, Dũng trong Phật Giáo để phá tan những luận điệu xuyên tạc Phật Giáo hay xuyên tạc lịch sử của một số cuồng nô (từ của giáo sư Nguyễn Mạnh Quang chỉ lớp người nô lệ cuồng tín) đã bán rẻ linh hồn cho ngoại nhân.  Chúng ta phải chứng tỏ cho thế giới là người Việt Nam đã văn minh tiến bộ và cái di sản Phật Giáo chúng ta đang hưởng thật là quý báu vì sau bao thế kỷ người Tây phương mới nhận ra được chân giá trị của nó.

   Ngoài ra chúng ta cũng còn có bổn phận phải góp phần truyền bá Phật Giáo vào các xã hội Tây phương để mang ánh sáng chân thực, hòa bình, vị tha, khoan dung v...v... của Phật Giáo đến với  những người Tây phương đang hoang mang về những giá trị tinh thần trong những xã hội của họ. Tôi hi vọng chúng ta đều ý thức được cái nhiệm vụ vị tha cao đẹp này cũng như tầm quan trọng của những hoạt động phục vụ Đạo Pháp cũng như giải hoặc của mọi Phật tử trong cái gọi là Thế Kỷ 21 của một lịch sử nhân loại đã hiện hữu cả triệu năm.

 Trần Chung Ngọc

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........