-
- TIN LÀNH MỞ CHIẾN DỊCH CẢI
ĐẠO PHẬT TỬ TRẦN CHUNG NGỌC
-
- Vài lời của Giao Điểm:
- Trong thời gian hơn bảy tháng phục vụ bạn đọc,
mạng lưới (Website) Giao Điểm đã tạo nên một tiếng vang trên khắp thế
giới. Trong nước, từ thủ đô cho đến các tỉnh phía Nam, dân chúng đủ
mọi thành phần nao nức đọc Giao Điểm. Ở hải ngoại, người Việt khắp
Năm Châu phấn khởi hân hoan đọc Giao Điểm. Chắc hẳn vì tiếng vang
này, đã làm cho những người "húy kỵ" với dân tộc như một vài
nhóm "Tin lành" cũng phải quan tâm. Nhưng phản ứng của những người
này thật bất ngờ. Không tìm cách "trả đủa" bằng những bài
báo với những ngôn từ thấp kém, những lập luận đầy mâu thuẫn và
ấu trĩ như một số tín đồ Catô, họ tìm cách "chiêu dụ" bằng
cách gởi E-mail đến các tác giả của Giao Điểm với một nội dung rất
"phản tác dụng". Những người này, có thể là vì thiện chí chỉ
muốn "nhỏ to đôi lời" với nhau hơn là công khai tranh luận trên
diễn đàn, đã không biết rằng họ vi phạm hai nguyên tắc:
- Vi phạm điều luật riêng tư (Privacy on Internet
Law): Địa chỉ điện thư (E-mail address) của mỗi cá nhân là một sở hữu
riêng tư. Muốn gởi E-mail cho một cá nhân nào phải xin phép trước, hoặc
là nhờ GĐ chuyển dùm [địa chỉ E-mail của GĐ là một địa chỉ công cộng
(Public)] cho tác giả.
- Vi phạm nguyên tắc "thuyết phục": Muốn
thuyết phục người khác, trước hết phải lượng sức mình. Ngang ngữa,
hoặc cao tay mới nên dùng lý luận để chinh phục trí tuệ của người khác,
nhưng nếu tự thấy dưới tầm thì nên dùng nhu ngôn và tình cảm để may
ra đoạt được lý.
Đáng tiếc, những lá thư gởi cho
một số tác giả của Giao Điểm đều thuộc những thành phần thiếu kinh
nghiệm sống và hơn nữa, đã vi phạm hai nguyên tắc nói trên.
Đ
ộc giả cũng
như chúng tôi kính trọng nhân cách của tác giả Trần Chung Ngọc không phải
vì học vị tiến sĩ khoa học (vả lại trong anh em hay thân hữu, độc giả
cũa GĐ cũng không thiếu người có học vị này), nhưng bởi tinh thần phục
vụ cho chân lý và dân tộc của ông. Tuổi của ông TCN, như bao nhiêu người
khác, đã dùng thì giờ còn lại của cuộc sống để đi du lịch đó đây,
tìm những hạnh phúc riêng tây qua các cây Cảnh hiếm quý, lăn xả tìm kiếm
những món đồ cổ với niềm tự mãn... , ngược lại ông đã dùng thì giờ
miệt mài trên những trang giấy chỉ vì mục đích giữ gìn, cảm hóa, bồi
đắp cho một ý thức dân tộc.
Kinh nghiệm của ông Phan Như Ngọc
(người gởi E-mail) trong thời gian sinh ra và lớn lên trong lòng Miền Bắc
XHCN là một điều đáng tiếc khác, nhưng đó là một kinh nghiệm lẻ
loi, hiếm thấy. Sự đáng tiếc ấy càng lộ rõ hơn, khi chỉ vì được đọc
một cuốn Kinh thánh do một ông Mục sư người Đức cho ông, đã hoàn
toàn xô ngã bản lĩnh trí thức, vốn liếng khoa học của ông (như ông tự
nhận). Có thể đây là một mở đầu cho nghiệp dĩ của ông, bởi lẽ với
Kinh thánh, ông chỉ là một kẻ tân tòng (novice), rồi qua chuyển hóa của
thời gian, của động não (nếu quả thật ông có đủ những kiến thức
khoa học để giúp não động), sẽ đưa ông trở lại điểm bắt đầu -
ở nơi chốn ông đã phủ nhận nó để tiếp nối tiến trình tri thức
khai mở mới, hoặc có thể ông chỉ an nhiên tọa hưởng những vật chất
thỏa thuê nhờ phương tiện của cuốn Kinh thánh mang lại, mà bao nhiêu năm
sống "trong lòng Miền Bắc XHCN" ông chẳng bao giờ dám mơ tưởng
tới.
Với chức năng thông tin, chúng tôi
nghĩ đây là vấn đề cần đưa ra trước công luận. Giao Điểm.
TIN LÀNH MỞ CHIẾN
DỊCH CẢI ĐẠO PHẬT TỬ TRẦN CHUNG NGỌC
( Trả Lời Ông Phan Như
Ngọc )
Trần Chung Ngọc
Vài Lời Nói
Đầu: Gần đây tôi nhận được qua điện thư (E-mail) một
loạt những bài tuyên truyền "giảng đạo Tin Lành" mà nội dung
là xuyên tạc giáo lý Phật Giáo với mục đích hạ thấp Phật Giáo cùng
lúc tâng bốc Chúa Giê-su từ một địa chỉ không quen biết của một tổ
chức Tin Lành (vnnguyen@Mucsu.net), rồi lại có ông Tin Lành Phan Như Ngọc gửi
cho tôi một bài tuyên dương quyền năng Thiên Chúa đã khiến cho ông ấy
theo đạo Tin Lành. Thật ra họ muốn quảng cáo cho Chúa của họ như thế
nào tôi cũng bỏ qua vì đó là quyền của họ, tuy rằng họ không có quyền
gửi thẳng đến địa chỉ của tôi khi tôi chưa cho phép. Tuy nhiên, nếu họ
lý luận rằng họ chỉ có ý định quảng cáo bán rẻ một món hàng, Chúa
của họ, như những món hàng khác, thí dụ như một con két hay một cái
loa phóng thanh của các hãng buôn khác quảng cáo những món hàng của họ
qua điện thư, thì họ vẫn có quyền gửi đến địa chỉ của tôi, vì
khi thiết lập địa chỉ E-mail miễn phí, tôi phải chấp nhận điều khoản
này.
Sau khi tôi viết bài phê bình qua
loa bài "Tìm Hiểu Niết Bàn" của ông Lê Anh Huy thì ông Phan
Như Ngọc lại gửi cho tôi bài thứ hai, trong đó ông nhắc lại những điểm
trong bài trước và có vài nhận xét về bài phê bình Lê Anh Huy của tôi.
Thật ra thì tôi cũng chẳng muốn trao đổi ý kiến hoặc đối thoại với
những người như Tin Lành Nguyễn Thanh Vũ ở Mucsu.net hay Tin Lành Phan Như
Ngọc. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng, Tin Lành thấy mình thành công phần
nào truyền đạo trong một số những người Thượng ở miền Thượng du Bắc
Việt nên tưởng rằng người Việt hải ngoại nào cũng ở trong hoàn cảnh
và trình độ hiểu biết của một số người Thượng mà quyền năng Thiên
Chúa (sic) đã khiến họ theo Tin Lành, cho nên đã mở một chiến dịch
tuyên truyền ở hải ngoại và trên Internet. Tuyên truyền ở đâu chẳng
tuyên truyền, lại đi tuyên truyền với Trần Chung Ngọc. Cực chẳng đã,
tôi đành phải bỏ ít thì giờ ra để đáp lễ ông Phan Như Ngọc, và cũng
để quý độc giả thấy rõ bản chất của vài người Tin Lành Việt Nam
trong giới được gọi là trí thức. Điểm đáng để ý nhất là ông Phan
Như Ngọc tự xưng là một "nuclear physicist" nghĩa là một vật lý
gia chuyên ngành hạt nhân. Từ "nuclear physicist" thường chỉ một
người đã có bằng Tiến Sĩ về Vật Lý Hạt Nhân và đang hoạt động khảo
cứu trong ngành này. Trong phần phân tích, chúng ta sẽ thấy rõ kiến thức
của ông "nuclear physicist" này như thế nào. Tôi bỏ đi những đoạn
của ông Phan Như Ngọc lập lại ý của ông Lê Anh Huy mà tôi đã phê bình
rồi, cho nên không cần thiết phải nhắc lại ở đây.
Kính gửi ông Phan Như Ngọc:
Tôi đã đọc bài trước của ông,
nhưng tôi không muốn mất thì giờ để trao đổi ý kiến với ông vì tôi
cho rằng vô ích. Tôi và ông không quen biết, tự nhiên ông gửi bài cho
tôi kể lể dài dòng, ca tụng Thiên Chúa của ông. Để làm gì? Tôi không
thể nghĩ ra điều gì khác hơn là ông muốn truyền đạo và thuyết phục
tôi tin Chúa? Tôi biết đó là nhiệm vụ thiêng liêng cao quý của mọi tín
đồ Tin Lành với niềm tin là sẽ nắm chắc trong tay một cái vé lên
thiên đường sống đời đời cùng Chúa. Nhưng ít ra, trong thời buổi
này, ông cũng nên chọn người mà truyền đạo, thí dụ như một số người
Thượng ở trên miền thượng du Bắc Việt. Nay ông lại gửi thêm một
bài trong đó có vài nhận xét về bài phê bình Lê Anh Huy của tôi nên tôi
đành phải bỏ chút thì giờ đáp lễ ông luôn cả hai bài một lúc. Thật
ra tôi cũng chẳng hẹp hòi gì, muốn tin Chúa lắm, nếu ông và bất cứ ai
có thể thuyết phục tôi là Chúa thực sự đúng như hình ảnh mà các
giáo hội Ki Tô đã cấy vào đầu tín đồ ở dưới.
Trong bài thứ nhất ông viết:
Niềm hạnh phúc tuyệt vời
Tôi sinh ra và lớn lên trong lòng Miền
Bắc XHCN vô thần. Suốt mười năm học trường phổ thông, tôi luôn luôn
được dạy rằng vũ trụ này tự nhiên mà có, không có Ông Trời nào hết.
Như vậy là ông sinh ra trong thời
chiến tranh ở miền Bắc, và miền Bắc có một chương trình giáo dục tiến
bộ nhất thế giới, vì suốt 10 năm phổ thông học sinh phải học đi học
lại là: vũ trụ tự nhiên mà có? Điều này dạy trong môn nào của trình
độ phổ thông? Ngày nay, cả thế giới, kể cả Tòa Thánh Vatican, đều công
nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ là đúng. Nhưng không phải
trình độ nào cũng có thể hiểu được thuyết Big Bang. Vậy những điều
ông học trong trường phổ thông về vũ trụ học, nếu đó là sự thực,
thì những điều đó đúng, không sai.
Như thế, chủ nghĩa duy vật
đương nhiên chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, vì không ai có
thể sờ đụng hoặc cảm nhận được Ngài nhờ các giác quan của mình. Bấy
giờ tôi cảm thấy chủ nghĩa duy vật là đúng. Ai tin có Chúa tôi đều
cho là duy tâm, là mê tín dị đoan cả.
Ở trên ông viết "Không có
Ông Trời " nào hết rồi ở đây ông kết luận "Như thế, chủ
nghĩa duy vật đương nhiên chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời",
phải chăng ông cho rằng ông Trời của người Việt Nam chính là Đức
Chúa Trời của ông? Ông nên đọc lại những câu người Việt Nam thường
nói về ông Trời mà tôi đã nêu trong bài phê bình Lê Anh Huy, đặc biệt
là câu "Con cóc là cậu "Chúa Trời"".
Không phải chỉ có chủ nghĩa duy vật
chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời mà trước những khám phá của
khoa học ngày nay về vũ trụ, về sinh học, về địa chất học, về cổ
sinh vật học v..v.. quan niệm về một Đức Chúa Trời toàn năng sáng tạo
ra muôn loài không còn chỗ đứng trong giới trí thức. Quan niệm này chỉ
còn sót lại trong khoảng từ 15 đến 20 phần trăm trong tổng số hơn 6 tỷ
người trên thế giới, tuyệt đại đa số những người tin Đức Chúa Trời
là những người ít hiểu biết nhất trong xã hội loài người, nhất là về
khoa học. Một thống kê gần đây cho biết trên nước Mỹ, 95% dân chúng
không biết gì về khoa học (illiterate in science). Điều này giải thích tại
sao 70% dân Mỹ vẫn còn tin vào một Đấng Sáng Tạo. Nếu "không ai
có thể sờ đụng hoặc cảm nhận được Ngài nhờ các giác quan của
mình" thì ông lấy gì để mà cảm nhận quyền năng của Ngài? Ông
dùng cái máy nào để cảm nhận Ngài? Ông dùng cái gì để tin vào sự cứu
rỗi của Chúa? Ngay bây giờ, đối với đa số trên thế giới, ai tin Chúa
vẫn được coi là mê tín dị đoan.
Mười ba năm dạy học là mười
ba năm góp phần tuyên truyền cho chủ nghĩa vô thần chống Chúa trong đội
ngũ trí thức Việt Nam. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy xót xa ân hận vô
cùng. Nếu linh hồn của lớp đàn em tôi bị hư mất, thì chính tôi phải
chịu một phần trách nhiệm. Tôi đã vô tình gây nên tội.
Chủ nghĩa vô thần đã hiện hữu
cả vài ngàn năm nay, không chỉ riêng Cộng Sản là vô thần. Chủ nghĩa vô
thần không chống Chúa mà là không chấp nhận có Chúa theo định nghĩa của
Ki Tô Giáo hay theo sự mô tả Chúa ở trong Thánh Kinh. Ông không nên ân hận
vì ông không có tội gì. Hơn nữa khoa học ngày nay đã bác bỏ sự hiện
hữu của một linh hồn trong con người. Thuyết Chúa ban cho mỗi người một
linh hồn đã trở nên vô căn cứ và chứa nhiều mâu thuẫn. Thực tế là
những người chống Chúa tích cực nhất là những người hữu thần có đầu
óc chứ không phải là những người vô thần. Trong số những người này
chúng ta thấy có Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục. Linh Mục, Mục Sư Tin
Lành, nhà Thần học Ki Tô, Giáo sư đại học, chuyên gia tôn giáo v..v.., tất
cả đều lớn lên và trưởng thành trong những truyền thống Ki Tô. Điển
hình là Giám Mục John Shelby Spong đã phát biểu như sau, sau khi nghiên cứu
kỹ Thánh Kinh: "Thánh Kinh mang tới cho tôi một Thiên Chúa mà tôi
không thể nào kính trọng đừng nói đến thờ phượng". Ông thật
sự có tội nếu ông mang những điều mê tín hoang đường không còn phù hợp
với trình độ hiểu biết của nhân loại ngày nay nhét vào đầu những đứa
trẻ chưa phát triển, chưa đủ khả năng suy tư, và những người kém hiểu
biết.
Bây giờ, khi đã tin Chúa, tôi thấy
kế hoạch của Ngài đào tạo tôi thật quá kỳ diệu. Không có bàn tay chăm
sóc của Ngài thì một thường dân như tôi sao có thể được ưu đãi như
thế. Cảm ơn Chúa thật nhiều!
Tôi nhận thấy không có ai ích kỷ
và hẹp hòi như những người tin Chúa. Ông có nghĩ đến những người không
được Chúa ưu đãi như ông không? Những người sinh ra đã bị khuyết tật,
hay sinh ra trong các nước nghèo khó v..v.. Họ có thấy Chúa kỳ diệu hay
không? Họ nên cảm ơn Chúa như thế nào? Bao nhiêu đồng bào Việt Nam của
ông có may mắn như ông không? Nếu họ tin Chúa họ có chắc là sẽ cũng
may mắn và được Chúa ưu đãi như ông không? Nhưng kỳ diệu đến mức nào?
Ông có nghĩ rằng Chúa đã đào tạo ông thành một người mà trí tuệ ít
ai bằng hay ít ra cũng hơn những người không tin Chúa không? Đừng nói đến
các danh nhân thế giới như Thomas Paine, Bertrand Russell và các khoa học gia
như Stephen Hawking, Carl Sagan v..v.., một người thường như tôi, không do
Chúa đào tạo, nhưng dựa vào kiến thức về tôn giáo và khoa học, tôi
có thể chứng minh rằng trình độ Chúa đào tạo nên ông không quá trình
độ 10 năm phổ thông. Điều này sẽ được chứng minh trong những phân
tích sau đây. Sau phần chứng minh ông sẽ thấy kế hoạch của Chúa đào tạo
ông thực chất nó như thế nào.
Vì nhiều lý do, năm 1989, nhân một
chuyến đi công tác nước ngoài, tôi đã xin ở lại Đức. Một hôm ở trại
tỵ nạn Heilbronn, tôi gặp nhà truyền đạo Hà Lan Henk Wolthaus. Ông đến
trại để phát sách Cơ Đốc cho mọi người. Sau khi nói chuyện với ông một
lát, tôi xin ông một cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Anh (vì ông không có Kinh
Thánh tiếng Việt), và một vài cuốn sách nhỏ khác. Tối hôm đó, tôi bắt
đầu đọc thử các sách mới xin xem sao.
Ngay từ dòng đầu Kinh Thánh, tôi
đã thấy vô lý: "Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất".
Lương tri tôi bật lò xo. Đó là phản ứng tự nhiên của một người đã
sống gần năm mươi năm với chủ nghĩa vô thần.
Ông lầm rồi. Không nên đổ tất
cả tội cho chủ nghĩa vô thần. Câu trên vô lý vì nó không phù hợp với
trình độ hiểu biết của con người ngày nay qua những khám phá và kết
quả nghiên cứu của mọi bộ môn khoa học như vũ trụ học, cổ sinh vật
học, khảo cổ học, sinh học, và cả vật lý nguyên tử nữa (ông tự xưng
là 1 nuclear physicist chắc chắn phải biết điều này). Ban đầu là khi
nào? Quan niệm về Trời và Đất trong Thánh Kinh như thế nào, ông đã đọc
kỹ Thánh Kinh chưa? Ông có biết rằng trong Thánh Kinh có hai thuyết sáng tạo
mâu thuẫn nhau không?
Nhưng rồi tôi nhớ lại, chính
Newton cũng cho rằng sở dĩ các thiên thể chuyển động nhịp nhàng được
là nhờ "Cái hích đầu tiên của Thiên Chúa ", mà ngày trước tôi
đã từng phân tích cho sinh viên đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm.
Trong thời Newton có nhiều khoa học
gia tin vào 1 Thiên Chúa và thuyết sáng tạo. Khi đó môn cơ học nguyên lượng
(Quantum mechanics) chưa phát triển và những hiểu biết về nguồn gốc vũ
trụ và con người chưa tới trình độ như ngày nay. Ông chắc cũng biết rằng
cơ học Newton chỉ có thể áp dụng ở cấp thô đại, còn ở vi cấp thì
không áp dụng được. Dù Newton có nói câu trên (Newton nói bao giờ, trong
tài liệu nào đích thực là của Newton?) thì câu đó ngày nay đã trở
thành vô giá trị vì nó đúng thực là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Dựa
vào đâu mà ông cho rằng câu nói trên của Newton, nếu có thực, nhất định
phải đúng?
Tự nhiên tôi nghĩ rằng Newton,
người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ, được coi là phát minh vĩ
đại nhất của lịch sử văn minh nhân loại, lại có thể kém như thế
ư?
Không phải là kém mà là chưa biết
đó thôi. Con người nằm trong một quá trình tiến hóa liên tục do đó sự
hiểu biết của con người về các sự việc trong vũ trụ cũng tăng tiến
cùng với thời gian. Sự hiểu biết của con người trong thời Newton không
như ngày nay. Không phải là cứ phát minh ra một định luật vĩ đại trong
khoa học là bắt buộc phải đúng trong vấn đề tôn giáo thần linh.
Copernicus, Bruno và Galilei, được coi là khởi đầu cho cuộc cách mạng khoa
học (scientific revolution) cũng đưa ra những khám phá về vũ trụ trái ngược
hẳn với thánh kinh (trái đất quay xung quanh mặt trời thay vì trái đất
đứng yên như được viết trong thánh kinh) nhưng họ vẫn là những người
tin có Thiên Chúa sáng tạo ra muôn loài. Nếu họ sống đến ngày nay chắc
chắn họ sẽ vứt bỏ niềm tin đó vì họ là những khoa học gia có lương
tâm không thể phủ nhận những sự thực khoa học dù họ bị mang đi thiêu
sống (Bruno) hay bị giam tại gia cho đến khi chết (Galilei).
Và tôi tự trả lời: không thể
được, chắc là mình dốt, không hiểu được ông ta, có lẽ Đức Chúa Trời
có thật.
Không phải là ông không hiểu được
ông ta mà là ông không hiểu được sự khác biệt giữa nền khoa học
trong thời đại của Newton và nền khoa học ngày nay. Ông dựa vào một niềm
tin của một nhân vật ở đầu thế kỷ 18 và cho rằng niềm tin đó phải
đúng. Ông đã đứng tại chỗ trong 3 thế kỷ trong khi nhân loại đã tiến
xa về mức độ hiểu biết.
Rồi tôi đọc tiếp câu chuyện
Chúa sáng tạo vũ trụ trong sáu ngày chỉ bằng những lời phán. Tất cả
như một truyện thần thoại dành cho trẻ con.
Ông nhận xét không sai. Có thể
nói 99% các khoa học gia ngày nay và tuyệt đại những người trong giới trí
thức, hiểu biết, đều đồng ý với ông ở điểm này.
Khi đọc đến Tân Ước, tôi lại
càng thấy nhiều điều không thể chấp nhận được. Có thể tin chăng một
bà mẹ đồng trinh sinh con, một người mù được sáng, người cùi được
sạch, người què được lành, người chết đã có mùi được sống lại
chỉ nhờ những lời phán? Ai có thể đi bộ trên mặt nước, ra lệnh bắt
bão tố vô tri phải dừng?
Những phép lạ đầy rẫy trong Kinh
Thánh làm cho cái đầu quen suy nghĩ theo kiểu vô thần của tôi không sao hiểu
nổi. Đúng lúc ấy, trong đầu tôi nẩy ra một câu hỏi mà bây giờ tôi
biết là chính Chúa đã đến và gỡ mối cho tôi. Câu hỏi đó là: Sức mạnh
nào khiến cho hàng tỷ người trên thế giới, trong đó có hầu hết các
nhà khoa học vĩ đại mà tôi từng ngưỡng mộ, tin Kinh Thánh? Họ cuồng
tín, hay chính mình ngu dốt?
Ông lại chụp mũ cho vô thần rồi.
Ngày nay, cả những đầu óc suy nghĩ theo kiểu hữu thần cũng đã bác bỏ
những phép lạ viết trong thánh kinh. Điển hình là Linh Mục John P. Meier,
giáo sư Thần học, một khuôn mặt đặc biệt trong ngành nghiên cứu Tân
Ước. Trong tác phẩm Một Người Do Thái Ở Ngoài Lề, Không Đáng
Kể: Nghĩ Lại Về Nhân Vật Giê-su Lịch Sử (A Marginal Jew: Rethinking The
Historical Jesus), tập 1 và 2, nhà xuất bản Doubleday tại New York phát hành năm
1991 và 1994, với sự duyệt và phê chuẩn (imprimatur) của Vatican, tuy còn
dè dặt trong những điểm tế nhị khác thuộc về đức tin Ca-Tô, linh mục
Meier đã thẳng thắn luận về những bằng chứng chứng tỏ Giê-su là đứa
con hoang, đã lấy vợ, và nhiều chủ đề khác có thể gây ngỡ ngàng
trong một giáo xứ (He discusses evidence that the historical Jesus was illegitimate,
that he was married, and various topics that might raise eyebrows in a parish house). Hơn
thế nữa, Meier đồng ý với các đồng nghiệp trong ngành, bác bỏ những
chuyện có tính cách siêu nhiên trong Tân Ước như là sự thực lịch sử
– Giê-su đi trên sóng, biến đổi nước thành rượu, và các phép lạ
khác v..v.. Linh mục Meier cũng bàn đến một vấn đề quan trọng khác liên
hệ đến tín lý then chốt "Maria đồng trinh" của Ca-Tô giáo, và
đưa ra nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ là bà Maria đã sinh nở
ít ra là 7 lần, với Giê-su là đứa con đầu lòng. Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại
đa số tín đồ Ki Tô không hề biết đến những kết quả nghiên cứu
sâu rộng này cũng như đến hàng trăm kết quả nghiên cứu khác về
Giê-su, và tôi nghĩ ông là một người trong số này.
Từ những cuốn sách mỏng xin của
Henk, tôi đã đọc thấy những câu bất hủ sau đây:
Charles Dickens viết: "Kinh Thánh
Tân Ước chính là cuốn sách tốt nhất đã từng hoặc sẽ được biết
đến trên thế giới".
Ngài Isaac Newton, nhà khoa học mà
tôi đầy lòng khâm phục, đã kết luận: "Trong Kinh Thánh có nhiều biểu
hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu chuyện nào
chống lại sách đó".
Victor Hugo viết: "Nước Anh có
hai cuốn sách, Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh
Thánh làm nên Nước Anh.
Tận tín thư bất như vô thư. Tin vào
một cuốn sách chẳng thà không có sách. Ông chỉ biết một mà không biết
hai. Dickens không phải là một tín đồ thuần túy của Ki Tô Giáo. Ông ta
quan tâm đến những thông điệp về từ bi của tôn giáo trong khi đó ông
đả kích những tín điều và những lễ tiết tôn giáo của giáo hội.
Dickens một thời theo phái thống nhất, phái này bác bỏ thần tính của
Giê-su (Dickens cared deeply for religion's message of compassion; yet he attacked church
dogmas and rituals, and temporarily joined the Unitarians, who reject the divinity of
Jesus). Còn Victor Hugo thì phát biểu như sau: "Khi anh bảo tôi rằng
Thiên Chúa của anh đã tạo ra anh theo hình ảnh của ông ấy, tôi trả lời
rằng Thiên Chúa đó phải thật xấu trai" (When you tell me that your
deity made you in his own image, I reply that He must have been very ugly); "Hi
sinh trái đất cho thiên đường là bỏ mồi để bắt bóng"
(Sacrificing the earth for paradise is giving up substance for the shadow).
Albert Einstein, nhà vật lý học
được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã phát biểu: "Khoa học
không có tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt".
Ki Tô Giáo thường trích dẫn câu
trên của Einstein để nhập nhằng đánh đồng hai chữ "tôn giáo"
của Einstein chính là Ki Tô Giáo. Họ đã dấu đi quan niệm về tôn giáo của
Einstein là như thế nào. Einstein đã từng phát biểu:
"Tôn giáo tương lai sẽ là một
tôn giáo chung cho cả vũ trụ. Tôn giáo đó cần phải vượt qua quan niệm
về một Thiên Chúa và tránh bỏ những tín điều và nền thần học. Bao
trùm cả thiên nhiên lẫn tinh thần, tôn giáo đó phải đặt căn bản trên
ý niệm tôn giáo bắt nguồn từ sự thực nghiệm của vạn pháp, thiên
nhiên và tinh thần, như một nhất thể có ý nghĩa. Phật Giáo đáp ứng
được điều này."
(The religion of the future will be a
cosmic religion. It should trancend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering
both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from
the wxperience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism
answers this description)
Như vậy quan niệm về tôn giáo của
Einstein trong câu ông trích dẫn nửa vời tuyệt đối không phải là
Einstein nói về Ki Tô Giáo.
Lúc bấy giờ, tôi chưa hiểu
được nhiều, nhưng Chúa biết tôi là ngưòi từng được học và làm khoa
học nên đã dùng tiếng nói của chính các nhà khoa học thật lớn để mở
mắt cho tôi.
Tiếc rằng ông mới chỉ mở được
có nửa một con mắt và chỉ biết đến một khoa học gia là Newton của đầu
thế kỷ 18. Còn những nhà khoa học lớn khác như Charles Darwin của thế kỷ
19 và Albert Einstein, Stephen Hawking, Carl Sagan, John Wheeler, Steven Weinberg v..v..
trong số hàng trăm khoa học gia nổi tiếng khác của thế kỷ 20 thì ông
không hề biết đến. Chính những người sau này mới là những khoa học
gia lớn mở mắt cho chúng ta về nguồn gốc và cấu trúc của một vũ trụ
đã có tuổi khoảng 15 tỷ năm chứ không phải là 6000 năm như lời Chúa
ở trong Thánh Kinh.
Tôi lại nhớ đến một câu chuyện
về Newton. Sau khi ông phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ kỳ diệu,
nhiều người đã hỏi ông làm cách nào ông lại có thể phát minh ra định
luật vĩ đại như vậy. Newton vừa cười vừa trả lời: "Đó là nhờ
tôi đã đứng trên vai những người khổng lồ". Chúa như đang nhắc
nhở tôi: "Hãy đứng lên vai những người khổng lồ này thì con sẽ
nhận ra Chân Lý của Ta". Quả nhiên tôi đã bị Ngài bắt phục dễ
dàng. Cái tư tưởng vô thần, được tích lũy công phu và sử dụng trong
bao nhiêu năm nay, bị đánh bật khỏi đầu tôi. Xưa nay tôi vẫn nghĩ đơn
giản: không có Đức Chúa Trời vì không ai chứng minh được sư hiện hữu
của Ngài. Nhưng bây giờ tôi lại biết đặt câu hỏi mới: "Ai đã chứng
minh được Đức Chúa Trời không hiện hữu?" Tất cả chỉ dựa vào cảm
giác của con người; mà cảm giác thì không phải là một cách chứng minh
khoa học.
Tại sao tôi phải chứng minh Chúa
Trời không hiện hữu? Chứng minh để làm gì? Tôi không tin rằng Chúa Trời
hiện hữu, vậy đối với tôi việc chứng minh không cần thiết. Những người
tin rằng Chúa hiện hữu, muốn thuyết phục tôi thì họ phải chứng minh
là Chúa hiện hữu. Việc này họ làm không được cho nên khi họ bảo rằng
Chúa hiện hữu là họ tin như vậy chứ họ không có gì để thuyết phục
người khác. Tôi không tin rằng có Chú Cuội ngồi trên cung Hằng vậy tôi
đâu có cần chứng minh là trên mặt trăng không có Chú Cuội. Ai tin rằng
có chú Cuội ngồi trên cung Hằng thì hãy chứng minh cho tôi thấy là thật
sự là có chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa trên cung Hằng. Dùng một niềm
tin không thể chứng minh được để thuyết phục người khác là điều không
tưởng.
Ông có thấy rằng ông đang ngụy
biện hay không? Ở trên ông viết "không ai có thể sờ đụng hoặc
cảm nhận được Ngài nhờ các giác quan của mình", ở đây ông lại
viết "Ai đã chứng minh được Đức Chúa Trời không hiện hữu?"
Tất cả chỉ dựa vào cảm giác của con người." Không có giác
quan thì làm sao có cảm giác? Lúc thì ông nói ngược, lúc thì ông nói
suôi. Có thật là ông nằm trong "kế hoạch đào tạo" của Chúa
hay không?
Người đứng ở Trái đất nói
rằng Mặt Trăng quay quanh Trái Đất; nhưng quan sát viên đứng ở Mặt
Trăng sẽ bảo Trái Đất quay quanh Mặt Trăng. Ai đúng?
Cả hai đều đúng vì sự chuyển
động tương đối của mọi vật đều tùy thuộc hệ thống quy chiếu của
quan sát viên.
Hơn nữa, có nhiều cái hiện hữu
mà không thể nhận biết được bằng cảm giác, chẳng hạn như trí khôn
con người. Không có và không thể có một máy nào đo được trí khôn.
Ai nói vậy? Vậy là mọi người đều
khôn và thông minh như nhau hay sao? Các bài toán đố, những bài thử nghiệm
đặt ra để làm gì?
Vì vậy, quan niệm "Có
Chúa" hay "Không Có Chúa" là vấn đề Đức Tin, nằm ngoài phạm
vi của khoa học, của cảm giác. Nói theo ngôn ngữ khoa học đây là những
tiên đề (axioms).
Ông lại mâu thuẫn với câu ông viết
ở trên rồi: "Tất cả chỉ dựa vào cảm giác của con người".
Nếu vậy thì tôi có thể tin vào bất cứ cái gì, đâu cần gì phải
tin vào Chúa. Nếu tôi tin rằng "con cóc là cậu ông Trời" có thể
cứu rỗi tôi thì ai dám bảo là tôi không đúng? Vì đó là vấn đề Đức
Tin của tôi. Bản chất của "Chúa Trời" của những người tin là
có Chúa Trời với bản chất của "con cóc là cậu ông Trời" mà
tôi tin có khác gì nhau? Ông có thể bảo là tôi đã phỉ báng Chúa của
ông, ngược lại, tôi có thể lên án ông là phỉ báng con cóc của tôi nếu
ông cho rằng Chúa của ông đã tạo ra con cóc. Ai đúng? Ai sai? Tin không là
một cảm giác thì là cái gì? Nằm ngoài phạm vi của cảm giác thì chỉ
có cục đá ngoài đường.
Thật ra tiên đề "Có
Chúa" dễ tin hơn nhiều. Nhà bác học Newton đã làm một mô hình hệ
thống Mặt Trời rất đẹp để ngay trên bàn làm việc. Một hôm có một
người bạn vô thần đến thăm. Ông bạn khen mô hình đẹp quá và hỏi rằng
"Ai đã làm nên vậy?". Newton cười hóm hỉnh trả lời "Tự
nhiên mà có đấy thôi". Ông bạn không tin. Newton trả lời: "Thế
thì tại sao cậu lại tin cả cái vũ trụ vĩ đại chuyển động nhịp nhàng
này tự nhiên mà có, không cần Đấng Sáng Tạo?"
Tương tự như vậy, nếu đi làm về
mà có cơm dẻo canh ngọt trên bàn thì nhất định chúng ta tin rằng phải
có một bàn tay khác chăm sóc. Chân lý đó thật quá đơn giản, vậy mà tại
sao nhiều người (kể cả tôi trước đây) lại theo tiên đề "Không
Có Chúa". Kinh Thánh có câu trả lời: "vì chúa đời này (ma quỷ)
đã làm mù lòng họ".
Dễ tin đối với những người dễ
tin, không cần suy nghĩ. Tại sao Chúa không từ đâu sinh ra mà vũ trụ không
thể cũng không từ đâu sinh ra? Tất cả đều tùy thuộc ở định nghĩa.
Tôi thay Chúa bằng vũ trụ hay Big Bang có được hay không? "Chúa đời
này" (ma quỷ) do ai tạo ra, tạo ra để làm gì? Nếu thật có ma quỷ
thì ai sinh ra chúng? Ông tin rằng quyền năng Thiên Chúa đã đào tạo ra một
con người như ông (chẳng hiểu có gì hay ho ở cái con người ông), vậy
thì ông tin Chúa đời nào? Không ở đời này thì làm sao đào tạo được
ông. Thật ra thì ai đã đào tạo ra ông? Đó là các Thầy dạy, sách vở,
bạn bè cộng với ông có một bộ óc có thể lãnh hội được những điều
ông học ở ngoài đời, chứ chẳng có Chúa nào giúp ông cả.
Tính muôn màu muôn vẻ của
thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu: Hạt giống nào sinh cây trái đó, vẻ
đẹp tuyệt vời của những nàng hoa, sự hài hòa và hoàn thiện của cơ
thể con người, sự hùng vĩ của bầu trời sao; tất cả những cái đó, cộng
với những ý kiến các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục, chính là sự minh
họa tuyệt vời và là cơ sở để tôi tin rằng phải có Đấng Sáng Tạo.
Đó chính là Đức Chúa Trời toàn năng (He possesses all power: omnipotent) toàn
tri (He knows everything), toàn trí (He has all knowledge: omniscient) và toàn tại
(He is present everywhere at one and the same time: omnipresent).
Thế ông có nhìn thấy những
cái bất toàn thiện trong vũ trụ này hay không? Cơ thể con người mới
sinh ra đã có khuyết tật, những quái thai và hàng trăm thứ khác ghê gớm
trên đời có phải là những tạo vật của Chúa Trời hay không. Tại sao
ông chỉ nhìn thấy một mặt của thiên nhiên mà không nhìn thấy mặt kia.
Tôi trả lời thay ông. Vì ông tin rằng Chúa của ông là bậc toàn thiện
nên chỉ có thể tạo ra những cái hay, cái đẹp, cái tốt. Còn những cái
xấu, cái ghê tởm, cái bất công thì ông dấu đi hoặc không muốn bận
tâm suy nghĩ về chúng, hoặc quét xuống gầm giường, che lại cho kín. Lý
luận mãi cũng chán, tôi kể cho ông nghe một chuyện vui:
Có một vị nữ tu Ki Tô luôn luôn
đi tắm với cả quần áo. Có người biết, hỏi tại sao thì vị nữ tu đó
trả lời: "Tôi được dạy là Chúa "toàn tại" (He is present
everywhere at one and the same time: omnipresent) nên không dám cởi quần áo, sợ
mắc tội với Chúa."
Trong nhiều bài tôi viết trước đây,
tôi đã chứng minh rằng hai thuộc tính "toàn năng" và "toàn
tri" có tính cách "loại trừ hỗ tương" (mutual exclusive), nghĩa
là có cái này thì không thể có cái kia, xét trên những thực tế trong vũ
trụ và thế giới loài người. Nhưng tín đồ Ki Tô thường nhắc như con
vẹt hai thuộc tính này mà không hiểu nghĩa của hai từ "toàn năng"
và "toàn tri".
Dần dần tôi cũng tin Kinh Thánh
là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, vì dù đã được viết bởi hơn
bốn mươi tác giả, ở những địa diểm khác nhau, trải ra 1500 năm, nhưng
Kinh Thánh là một thể thống nhất.
Vậy ông có tin rằng trái đất phẳng
và dẹt, ở trên có một vòm trời bằng đồng thau để giữ nước, có những
cánh cửa được các thiên thần mở ra để cho mưa rơi xuống như được
viết trong Thánh Kinh hay không? Ông có tin rằng Moses đã dâng 32 trinh nữ như
là chiến lợi phẩm cho Thiên Chúa hay không? Ông có tin rằng vũ trụ này
có tuổi khoảng 6000 năm như được viết trong Thánh Kinh không? Ông có tin
rằng Chúa Giê-su có 4 người em trai và ít nhất 2 người em gái mà bà
Maria, mẹ Chúa, vẫn còn đồng trinh hay không? Ông có tin lời Chúa Giê-su
phán: "Hãy mang những kẻ thù của ta, những người không muốn ta ngự
trị trên chúng, mà giết ngay trước mặt ta" hay không?
Từ đầu đến cuối đều nói về
kế hoạch cứu rỗi của Chúa đối với nhân loại. Thật ra, đây cũng là
vấn đề của Đức Tin, là tiên đề thứ hai cho mọi người tin Chúa.
Một trong những khái niệm khó nhất
là khái niệm Đức Chúa Trời ba ngôi một thể.
Cảm tạ Chúa đã đào tạo tôi
thành một người nghiên cứu vật lý, nên điều này đối với tôi lại rất
dễ chấp nhận khi so sánh với nước. Nước cũng có ba trạng thái là rắn,
lỏng và hơi. Ba trạng thái vật chất ấy đều có cùng bản chất là H2O.
Có thể nói ba là một, một nhưng là ba. Ở đâu có một là có cả ba trạng
thái. Điều thật khó hiểu đã trở thành quá rõ ràng, mặc dù đây chỉ
là một sự so sánh rất khập khiễng, một sự minh họa rất đại khái
mà thôi.
Ông nghiên cứu Vật Lý ở trình độ
lớp nào vậy? Chúa đã đào tạo ra ông thành một người nghiên cứu vật
lý nhưng ông lại chỉ biết có 3 trạng thái của nước. Thế tuyết thì
ở trạng thái nào? Rắn, lỏng hay hơi? Sương mù ở trạng thái nào? Rắn,
lỏng hay hơi? Chúng đều là H2O cả đấy. Vậy cái chương trình
đào tạo của Chúa cho ông có thiếu sót hay không, cao nhất là ở trình độ
lớp 12. Mặt khác, Chúa có chắc là nhân loại cần tới kế hoạch cứu rỗi
của Chúa hay không mà đưa ra kế hoạch (sic) cứu rỗi? Trên thế giới 6 tỷ
người ngày nay, những người tin vào kế hoạch cứu rỗi của Chúa thuộc
thiểu số hay đa số? Tại sao vậy? Tại sao chính dân Do Thái là dân được
Chúa Cha chọn rồi cho con xuống trần để chỉ cứu dân Do Thái mà thôi
(xin đọc Thánh Kinh: I was sent for the lost sheep of Israel only) nhưng lại không
tin ở Chúa Con (Giê-su)?
Khi đã có những niềm tin cơ bản
ấy (thừa nhận cả hai tiên đề), thì mọi thắc mắc về các phép lạ đều
được giải đáp dễ dàng.
Khốn nỗi, những niềm tin cơ bản
đó lại như những lâu đài xây trên bãi cát, chỉ cần một làn sóng của
sự tiến bộ trí thức là đã sụp đổ.
Đức Chúa Giê-xu chính là Đức
Chúa Trời hiện thân làm người như chúng ta. Như vậy, Ngài là Đấng Sáng
Tạo. Chính Ngài đã làm phép lạ vĩ đại nhất: Tạo dựng nên vũ trụ này,
thì những phép lạ khác trong Tân Ước, như đi bộ trên mặt nước, gọi
người chết sống lại, đối với Ngài có gì là khó thực hiện.
Làm sao ông biết Đức Chúa
Giê-xu chính là Đức Chúa Trời ? Làm sao ông biết Giê-su là Đấng Sáng
Tạo? Ai nói cho ông biết? Chúa nói cho ông biết hay mấy ông mục sư bảo
ông phải tin như vậy để được cứu rỗi? Tôi chẳng muốn phê bình tiếp
vì rõ ràng đây chỉ là những khẳng định vô căn cứ, thuộc về một đức
tin không cần biết không cần hiểu của một số người còn sống trong
bóng tối do chính sách bưng bít của các giáo hội Ki Tô.
Những lời dạy của Chúa Giê-xu
đã gây cho tôi nhiều xúc động, vì thấy tình yêu thương của Ngài thật
vô bờ bến.
Hình như ông chưa bao giờ sờ đến
Thánh Kinh. Ông nghĩ sao về tình yêu thương vô bờ bến của Chúa trong những
câu sau đây:
- Matthew 12:30: "Kẻ nào không theo ta, ở với
ta, là chống đối ta".
- Luke 19:27: "Hãy mang những kẻ thù của ta ra
đây, những người không muốn ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước
mặt ta".
- Luke 8: 24: "Nếu ngươi không tin ta là con
Thiên Chúa, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi (sic)".
- Matthew 23: 33: "Ngươi là loài rắn, ngươi là
thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?".
Ô Hô! Tình yêu thương vô bờ bến
của Chúa???
Phan Như Ngọc pnngoc@gmx.net
Mở đầu bức
thư thứ hai ông Phan Như Ngọc viết (tôi bỏ đi những phần ông lập lại
thư trước):
Kính gửi anh Trần Chung Ngọc,
Nghe tiếng anh từ lâu, nhưng hôm
nay mới có dịp đọc một bài bình luận của anh về Đạo Chúa.
Vậy là kiến thức của ông thiếu
sót hơi nhiều, bởi vì nếu ông đã nghe tiếng tôi từ lâu thì ông phải
biết bài tôi phê bình Lê Anh Huy không phải là bài duy nhất tôi viết để
bình luận đạo Chúa. Tôi nghĩ rằng ông chưa hề đọc 2 cuốn Công
Giáo Chính Sử và Đức Tin Công Giáo cùng nhiều bài viết khác của
tôi cho nên không biết đến quan điểm của tôi đối với Ki Tô Giáo ra
sao. Vì Công Giáo và Tin Lành bản chất như nhau nên hai cuốn trên không chỉ
nói riêng về Công Giáo mà những luận điểm trong đó cũng có thể áp dụng
cho Tin Lành.
Đạo phật hay đạo Chúa đều dạy
về tình yêu thương, tại sao chúng ta cãi cọ nhau, thóa mạ nhau, muốn dạy
dỗ nhau. Tôi cho rằng việc làm đó là không nên.
Ông viết chỉ đúng có một nửa.
Nếu cả hai đạo đều dạy về tình yêu thương như nhau thì ông giải
thích làm sao cái lịch sử ngập máu và nước mắt của Ki Tô Giáo, trong
đó có Tin Lành, trong khi trong quá trình truyền đạo Phật Giáo không làm
đổ một giọt máu? Có ai muốn cãi cọ đâu, chẳng qua là vì các ông cứ
xâm phạm vào đời tư của tôi, dựa trên mớ kiến thức một chiều vô
cùng thiếu sót để đưa ra những điều hoang đường không thể chấp nhận
trong thời đại này, nên tôi cũng phải có quyền bày tỏ ý kiến của
tôi chứ. Tôi chỉ phân tích và đưa ra những sự thực qua những kết quả
nghiên cứu về Ki Tô Giáo, ông muốn cho đó là thóa mạ là ý kiến của
riêng ông, không phải của tôi.
Tôi tin có Thiên Đàng, có Địa
Ngục, có sự sống đời đời thông qua việc tin nhận Chúa Giê-xu đã chết
chuộc tội cho chính mình. Còn anh, anh không tin. Đó là chuyện bình thường.
Đúng là chuyện bình thường,
nhưng các ông không nên mang niềm tin của các ông ra làm phiền tôi trong
khi tôi và các ông không hề quen biết và cũng không có hứng thú muốn biết
về niềm tin của các ông. Đó là chuyện cá nhân của ông, chẳng mắc mớ
gì tới tôi cả. Mặt khác ông tin là ông tin, đơn giản có vậy. Còn tôi,
tôi có đủ lý do để không tin và tôi đã trình bày những lý do đó. Các
ông không đọc Thánh Kinh nên các ông tin. Tôi đọc kỹ Thánh Kinh nên tôi
không thể tin được. Tội của ông là tội gì mà cần phải chuộc. Có tội
thì phải đền tội chứ ai chuộc tội được cho ông. Mấy ông mục sư hiếp
dâm trẻ con đều phải ngồi tù và bồi thường tiền bạc cho nạn nhân
chứ Chúa nào chuộc tội cho các ông ấy, chuộc bằng cái gì? Theo ông thì
Chúa đã chết để chuộc tội cho ông. Chúa đã chết rồi thì tin Chúa
làm gì. Nếu ông tin vào cái thuyết hoang đường là Chúa sống lại thì thật
ra Chúa đâu có chết, không chết thì làm sao chuộc tội cho ông nếu cái
chết của ông ta có thể chuộc được. Chúa chết là hết chuyện, đâu
còn gì để nói nữa? Chuyện sống lại đã đương nhiên phủ nhận sự cứu
rỗi của Chúa.
Tin Chúa chẳng mất gì mà còn
được sự sống đời đời (nếu có), còn tin Đức Phật thì không được
cứu rỗi, vì Phật chẳng cứu ai cả (theo anh nói). Vậy tại sao tôi không
tin Chuá? Các vĩ nhân tôi hằng kính trọng đều tin Chúa cả. Chẳng lẽ họ
là người dốt nát ngu muội sao?
Có mất chứ sao không mất? Mất
cái gì? Mất đi bản chất tự do và lý trí của con người, hai thứ quý
nhất của con người. (Nếu có) của ông chứng tỏ rằng ông cũng không chắc
là có sự sống đời đời. Vậy là ông tin một cách cầu âu. Nhưng vấn
đề đặt ra là ai cần đến sự cứu rỗi, ai tin là có sự cứu rỗi. Mà
cứu rỗi cái gì chứ? Tôi theo Phật là tôi muốn tự cứu, tôi đâu có cần
đến sự cứu rỗi của bất cứ ai. Tôi muốn đi trên đường đời bằng
cặp chân của tôi, tại sao tôi cần phải chống nạng mà đi? Các vĩ nhân
của ông là những vĩ nhân nào. Trong cuốn Đức Tin Công Giáo và
trên vài trang nhà như Giao Điểm, Đạo Phật Ngày Nay v..v.. tôi đã đưa ra
những nhận xét về Thiên Chúa và Ki Tô Giáo của 75 trí thức nổi tiếng
trên hoàn cầu, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ, Triết Gia, Văn Hào, Khoa Học
Gia v..v.. Ông cần đọc để so sánh với vài "vĩ nhân" của ông.
Anh đọc và trích dẫn rất nhiều
tác giả chống Chúa, nhưng anh không đọc các sách tôn kính Chúa. Phải chăng
như thế là bất công. Cách dẫn chứng một chiều luôn luôn chỉ nhằm phục
vụ cho tiên đề của mình thôi.
Có bao giờ ông tự đặt câu hỏi
là tại sao lại có nhiều người chống Chúa hay không? Và những người này
là người nào? Uy tín của họ ra sao trong Ki Tô Giáo, trong giới trí thức,
trong giới khoa học? Nếu ông cho những kết quả nghiên cứu rất nghiêm
túc của họ về Chúa là chống Chúa thì ông đã lầm to rồi. Chẳng qua
là sự lương thiện trí thức của họ không cho phép họ giả dối, nói trắng
thành đen, như đa số các nhà truyền giáo. Đọc sách của những người tôn
kính Chúa cũng như đọc sách của những tác giả Đức Quốc Xã ca tụng
Hitler, của dân bôn-xê-vít ca tụng Stalin, của các tín đồ Ca-Tô ca tụng
Giáo Hoàng v..v.. Chẳng cần đọc cũng biết họ nói gì. Đọc những công
cuộc nghiên cứu mà những tín đồ Ki Tô không được phép đọc thì mới
biết được sự thật.
Dưới đây là một vài thiển ý
của tôi trong bài viết của anh, phê bình Dr. Lê Anh Huy. Nếu có gì không
đúng, mong anh bỏ qua cho!
Phật không cứu vớt ai, Phật
chỉ là người chỉ đường. Phật không huênh hoang như Chúa, tự nhận những
thuộc tính mà ngày nay giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo
hội Ki Tô đều bác bỏ như: Ta là sự sống, Ta là Con Đường, Ta là Ánh
Sáng v..v.. Những điều tự nhận của Chúa Giê-su đã trở nên vô giá trị
trước sự tiến bộ trí thức của con người ngày nay, như sẽ được chứng
minh trong một phần sau.
(Người không làm được mà
nói thì mới là huênh hoang. Chẳng hạn nếu tôi nói rằng anh huênh hoang về
hiểu biết của mình về đạo phật thì anh chỉ cười thôi, vì anh giỏi
thật và tôi dốt thật. Anh nói lên một chân lý mà anh biết rõ, người
khác không biết, sao dám phê bình anh?)
Những điều tự tôn mà không đúng
sự thực thì tôi cho là huênh hoang. Đã có gì chứng tỏ những lời nói
trên của Giê-su là sự thực. Ông tin nó là sự thực chứ thực ra có gì
để mà chứng tỏ nó là sự thực. Chúa đã làm được những gì chứng tỏ
Chúa là Sự Sống, là Con Đường, là Ánh Sáng? Sự sống sau khi chết? Con
Đường tin không cần biết không cần hiểu? Ánh sáng của trí tuệ? Tin
có cần đến trí tuệ không? Trong bài phê bình Lê Anh Huy tôi đã đưa ra vài
sai lầm thuộc loại thường thức của Giê-su. Vậy làm sao tôi có thể tin
được những lời huênh hoang trên?
Đức Phật cũng bác bỏ
thuyết về sự hiện hữu của linh hồn. Những sự hiểu biết của Phật
về vũ trụ và con người đã dần dần được khoa học khám phá ra và kiểm
chứng.
(Khoa học nào chứng minh? và chứng
minh cái gì về vũ trụ học? Làm sao kiểm chứng được các thuyết về
nguồn gốc vũ trụ? Xin anh cho một tài liệu mô tả một thí nghiệm kiểm
chứng về một thuyết vũ trụ học nào đó phù hợp với sự hiểu biết
của phật!)
Ông nên đọc loạt bài của tôi về
Phật Giáo và Khoa Học trên trang nhà Giao Điểm, Đạo Phật Ngày Nay,
Quảng Đức.
Ngày nay, Thuyết Sáng Tạo
chỉ còn trong đầu óc của những người mà nếu ta gõ vào trán họ thì sẽ
nghe được một tiếng vang lớn, vì nó rỗng tuếch.
(Chỉ có hai niềm tin: Có Đấng
Sáng Tạo và không có Đấng Sáng Tạo. Không ai chứng minh được một
trong hai niềm tin này. Anh có tin rằng không cần đi làm tự nhiên tiền cứ
vào account không? Chắc chắn không. Tuy nhiên anh lại tin vũ trụ tự nhiên
mà có. Một xu nhỏ cũng không thể tự nhiên mà có huống chi cả cái vũ
trụ này. Mặc dầu vậy, tôi không nghĩ rằng đầu óc của anh rỗng tuếch
mà chỉ nghĩ rằng anh theo một tiên đề (axiom) khác. Niềm tin là cái
không thể chứng minh được. Vì vậy tôi thấy cần phải tôn trọng anh.)
Không ai chứng minh được là có Đấng
Sáng Tạo. Đúng. Nhưng ngày nay chúng ta có nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng
thuyết Sáng Tạo không phù hợp với sự hiểu biết của con người và
nhân sinh ngày nay. Vì vậy, trong các trường Trung Học và Đại Học người
ta dạy thuyết Tiến Hóa và các thuyết trong Vũ Trụ Học nhưng không được
dạy thuyết Sáng Tạo. Ai muốn tin là có Đấng Sáng Tạo thì cứ việc
tin. Nhưng nền giáo dục Hoa Kỳ và trong nhiều nước trên thế giới không
cho phép dạy thuyết Sáng Tạo. Các ông có thể dạy thuyết này trong các
nhà thờ hay tư gia của các ông chứ không được dạy trong các trường học.
Phật Giáo dạy con người
nhìn vạn Pháp như chúng là như vậy (Như thực tri kiến) chứ không dạy
con người tin vào bất cứ cái gì mà không hiểu rõ.
(Có rất nhiều cái chúng ta
không hiểu rõ mà vẫn tin: Anh có hiểu rõ cái bộ não của mình không? Anh
có biết cấu trúc của viên thuốc anh uống không mà khi bác sĩ cho thuốc
anh vẫn uống? Con người tự mình không thể hiểu hết được mọi sự, nên
nhiều khi phải đặt niềm tin vào những nhà chuyên môn. Nếu Phật Giáo
không dạy con người tin vào bất cứ cái gì mà không hiểu rõ thì tại
sao anh lại viết: "Những điều Phật dạy ở trên là những chân
lý. Những chân lý này không phải những kẻ hạ căn có thể chứng nghiệm
được. Dù vậy nó vẫn là chân lý bất kể con người có chứng nghiệm
được hay không". Phải chăng anh tự mâu thuẫn với chính mình? Anh
muốn nói rằng những điều phật dạy là chân lý. Đây là một loại
tiên đề. Đạo Chúa và Đạo Phật đều dùng phương pháp tiên đề cả
thôi.
Có nhiều cái chúng ta không biết
hay không hiểu rõ mà vẫn tin vì những cái đó thực sự có và đã có nhiều
người biết, nhiều người hiểu. Thí dụ, tôi chưa đến Phi Châu nhưng tôi
tin rằng có Phi Châu vì Phi Châu nằm trên bản đồ thế giới và qua sách
vở, hình ảnh trên TV tôi thấy những người Phi Châu. Viên thuốc tôi uống
tôi tin vì nếu tôi muốn biết cấu trúc của nó tôi vẫn có thể biết
được qua tìm tòi nghiên cứu, và cũng vì viên thuốc đó đã được thử
nghiệm là có kết quả tốt. Những chân lý của Đức Phật không phải
là những điều để mà tin mà là để thực nghiệm vào chính bản thân
xem có đúng hay không. Có nhiều người đã chứng nghiệm được những chân
lý đó qua sự tu tập bản thân. Tiên đề không phải là một phương pháp.
Lấy một thí dụ. Đức Phật đưa ra 4 sự thực trên đời. Sự thực thứ
nhất là Khổ. Đây không phải là tiên đề mà là điều Đức Phật ngộ
được. Và sự thực này chúng ta có thể thấy khắp nơi trên thế giới
và chứng nghiệm ngay vào chính bản thân. Ki Tô Giáo đưa ra một tiên đề:
"Thiên Chúa hiện hữu" rồi dùng những lý luận thần học để chứng
minh là Thiên Chúa hiện hữu nhưng cho tới bây giờ vẫn chưa có một lý
thuyết thần học nào có thể chứng minh được là Thiên Chúa hiện hữu.
Ki Tô Giáo đưa ra một tiền đề là "Có sự cứu rỗi" nhưng vẫn
không thể giải thích một cách có tính cách thuyết phục cho cả thế giới
là sự cứu rỗi đó như thế nào, bao giờ và ở đâu? Đã có bao nhiêu người
được cứu rỗi sau khi chết rồi trở lại để cho thế giới biết sự cứu
rỗi nó như thế nào. Tất cả chỉ là những hứa hẹn thần học cho những
người tin. Sự khác biệt giữa đức tin và chứng nghiệm bản thân thật
là rõ ràng.
Công chính và Toàn Năng ở
chỗ nào khi một em nhỏ vừa sinh ra đã bị khuyết tật, hoặc hai em dính
liền vào nhau nhưng chỉ có một trái tim, hoặc mỗi ngày có 40000 (bốn mươi
ngàn) trẻ con dưới 5 tuổi chết vì đói, vì thiếu dinh dưỡng và thiếu
chăm sóc?
(Anh theo Đạo Phật mà không thừa
nhận con người đầy tội lỗi sao?
Đạo Phật không thừa nhận con người
đầy tội lỗi. Con người không sinh ra trong tội lỗi. Tội lỗi sinh ra từ
vô minh. Đi sâu vào triết lý Phật Giáo thì tội không từ đâu đến, không
đi về đâu. Nhưng đây không phải là chỗ bàn về triết lý Phật Giáo.
Tội lỗi đẻ ra rất nhiều thứ.
Nó sẽ còn là tai họa của nhân loại cho đến chừng Satan bị ném vào hỏa
ngục. Biến cố 911 vừa rồi ở Mỹ chắc cũng vì Chúa bất lực sao? Nếu
Chúa theo dõi mọi hành động của mỗi người và thưởng phạt nghiêm minh
ngay lập tức, thì chắc tôi không còn sống đến bây giờ mà ngồi viết
thư tâm tình với anh như thế này (còn anh thì tôi không biết)
Điều này chứng tỏ
là chẳng làm gì có Chúa. Satan là cái gì? Ai tạo ra Satan? Thánh Kinh đã viết
rất rõ:
Thượng đế đã tước hết uy
quyền thống trị của Satan, công khai phô bày cho mọi người biết Chúa Cứu
thế đã chiến thắng nó tại cây thập tự. (Colossians 2:15)
Đã đến lúc thế gian bị xét
xử, và Sa-tan, kẻ thống trị thế gian bị trục xuất (John:12: 31)
Vậy Satan còn đâu nữa mà là tai họa
cho nhân loại. Ki Tô Giáo bắt buộc phải cho Satan sống lại, nếu không
không thể biện minh cho những sự xấu ác ở trên đời. Bao nhiêu chuyện
xấu ác trên đời cứ đổ lên đầu Satan là xong chuyện tuy rằng Thiên
Chúa là bậc toàn năng, làm gì cũng được, toàn trí, cái gì cũng biết, mà
vẫn không làm sao dứt điểm Satan được. Thật là chuyện khôi hài.
Đây cũng là sách lược kiếm
thêm tín đồ của Ki Tô Giáo nói chung qua những luận điệu xuyên tạc chọn
lọc cưỡng ép, lừa dối đám người ngu dốt. Chứng minh?
(Tôi không biết Newton, Einstein,
Victor Hugo, có ngu dốt không?, xin anh cho dẫn chứng về sự ngu dốt của họ.
Ai cưỡng ép hay dụ dỗ được họ?)
Ông đặt vấn đề sai rồi, vì
ông không đọc kỹ bài tôi viết. Sách lược mà tôi viết ở trên là "đánh
đồng khập khiễng Chúa Trời (Giê-su) của ông ấy với quan niệm về Trời
của người dân Việt."
Lưới Trời lồng lộng bao la,
Thưa mà chẳng lọt, chẳng qua mảy nào.)
Câu này là trong Nho học: "Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu" và
chỉ có nghĩa là nhân và quả như bóng với hình, không sao thoát khỏi, chứ
không phải là sự thưởng phạt của một ông mắt sâu râu dặm ngồi
không biết chỗ nào trên trời trong một vũ trụ rộng 15 tỷ năm ánh
sáng.
(Anh đã thừa nhận có luật
nhân quả trong vũ trụ này, tại sao lại nghĩ rằng vũ trụ không có Đấng
Sáng Tạo? Ngày xưa tôi cũng nghĩ như anh và còn dạy cho sinh viên của tôi
như vậy. Tôi lý luận rằng nếu có Thượng Đế thì ai sinh ra Thượng Đế?
Sinh viên của tôi họ nghe răm rắp. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy buồn cười
cho chính mình. Câu trả lời thật đơn giản mà ngày ấy sao tôi không biết:
Thượng Đế là Đấng sáng tạo ra muôn vật và tất cả các quy luật của
vũ trụ này, nhưng Đấng đó không chịu chi phối bởi những luật do mình
đặt ra.
Đây không phải là câu trả lời
đơn giản mà chỉ là niềm tin của ông. Tất cả chỉ là những khẳng định
tôn giáo và như vậy không có tính cách thuyết phục. Nếu đơn giản như
vậy tại sao điều đó không được dạy trong các trường trung học và đại
học? Thật ra nó chỉ đơn giản đối với ông, còn đối với những người
để tâm tìm hiểu và suy nghĩ thì nó không đơn giản chút nào. Điều khẳng
định của ông về Đấng Sáng Tạo đã bị bác bỏ từ lâu rồi, chỉ là
ông không biết đó mà thôi. Cái lý luận của ông "Ai sinh ra Thượng
Đế?" cho tới nay chưa có ai trả lời được. Nền thần học Ki Tô
Giáo dựa theo thuyết "Nguyên nhân đầu tiên" (First cause) lý luận
rằng mọi vật đều có 1 nguyên nhân sinh ra, nhưng chúng ta không thể quan
niệm được thuyết này đến vô tận nếu ta đi ngược trở lại dòng thời
gian, do đó tất nhiên phải có nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân đầu
tiên đó chính là Thượng đế. Thuyết này ngày nay đã bị bác bỏ, vì
trong toán học chúng ta vẫn có thể quan niệm được một chuỗi số vô tận
theo chiều dương cũng như theo chiều âm. Vậy bảo rằng phải có nguyên
nhân đầu tiên là do một đức tin phi lý, vì Thượng đế từ đâu mà
có, ngồi đâu và trong bao nhiêu thời gian trước khi tạo ra vũ trụ? Thần
học Ki Tô Giáo còn đưa ra nhiều thuyết khác để chứng minh rằng có Thượng
đế, nhưng các thuyết này đã đều bị bác bỏ. Cuối cùng Thần học Ki
Tô Giáo dạy các tín đồ: "Vì không ai chứng minh được là không có
Thượng đế nên tất nhiên Thượng đế hiện hữu". Người không tin
có Thượng đế hỏi ngược lại: "Vì không ai chứng minh được là
có Thượng đế nên tất nhiên Thượng đế không thể hiện hữu." Vậy
những người tin vào một Thượng đế là vì đức tin tôn giáo chứ chẳng
thể thuyết phục ai bằng lý thuyết hay chứng minh. Có nhiều loại tin lắm,
tin đúng cũng có mà tin nhảm tin nhí cũng có. Khoa học với sự tiến bộ
của loài người đã chứng tỏ thế nào là tin nhảm tin nhí.
Một ông chủ nhà máy có thể đặt
ra luật rằng tất cả các công nhân phải đến nhà máy lúc 9 giờ và làm
việc 8 giờ một ngày; nhưng chính ông ta đâu có cần theo luật này. Ông
có thể đến lúc 8 giờ hay 10 giờ, thậm chí không đến. Thượng Đế là
Đấng nằm ngoài luật nhân quả nên câu hỏi trên là vô nghĩa. Tương tự
như vậy, nếu lúc 9 giờ chưa thấy ông chủ đến thì đừng hỏi tại
sao, vì luật này chỉ dành cho công nhân của ông thôi.
Nhưng mà ông chủ nhà máy từ đâu
mà ra? Có phải do mẹ ông ấy sinh ra ông ấy không?
Xin hỏi anh thêm một câu: Con số
15 tỷ năm ánh sáng này lấy ở đâu ra? Phỏng đoán hay chứng minh? Anh đã
tin ở điều mà anh không biết, không hiểu rõ rồi. Sự thật đây chỉ
là những sự phỏng đoán. Khi tôi dậy cho sinh viên về vũ trụ học, tôi
luôn luôn nhấn mạnh điều này. Rất nhiều ông "bác học" phỏng
đoán khác hẳn nhau, vậy biết tin ông nào, vì làm sao mà biết chính xác
được. Vũ trụ học, cũng giống như Thuyết Tiến Hóa, không phải là những
khoa học vì không kiểm chứng được.
Tôi bắt buộc không thể nào tin
ông là một "nuclear physicist" vì một "nuclear physicist" thì
không thể nào có một kiến thức, tôi phải nói là, tệ như vậy về Vũ
Trụ Học và Thuyết Tiến Hóa. Ông cần phải đọc bài "Câu Chuyện
Big Bang" của tôi để biết con số 15 tỷ năm từ đâu mà ra. Tòa
Thánh Vatican và các giới lãnh đạo Ki Tô Giáo, trừ một số nhỏ, đều
đã công nhận Thuyết Tiến Hóa. Giáo Hoàng John Paul II tuyên bố: "Con
người có thể không do Thiên Chúa tạo ra một cách tức thời mà là do một
quá trình tiến hóa lâu dài." Mục sư Ernie Bringas phát biểu: "Thuyết
Tiến Hóa, giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một Thuyết theo nghĩa
thông thường, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên nhiều bằng
chứng không còn phải tranh cãi nữa" (The theory of evolution, like the
theory of relativity, is no longer a "theory" in the popular sense, but a
scientific principle based on considerable, indisputable evidence.) Ông không thể là
một nhà khoa học vì trong khoa học không có sự phỏng đoán, tất cả các
thuyết khoa học đều phải trải qua những thời kỳ thực nghiệm để kiểm
chứng. Khoa học biết cái gì thì nói cái đó cho đến khi cái đó không
phù hợp với những kết quả nghiên cứu mới thì phải thay đổi. Đó là
tinh thần khoa học. Về tôn giáo, những ông linh mục, mục sư chỉ tin chứ
thực sự không biết gì mà lại cứ cho rằng những điều mình tin phải
là chân lý, và dùng mọi thủ đoạn để đầu độc đầu óc con người,
hoặc những biện pháp tàn bạo để cưỡng ép những người khác cũng phải
tin như mình. Đây chính là nguyên nhân mà Ki Tô Giáo nói chung đã gây ra
bao nhiêu tội ác cho nhân loại trong vòng 2000 năm qua.
Phần phân tích sau đây dựa
vào luận lý và tôi thách ông Lê Anh Huy cũng như bất cứ ai có thể phản
bác bằng lý luận chứ không phải bằng đức tin.
Anh lại mâu thuẫn với chính
mình. Chân lý của Đức Phật thì anh thừa nhận bằng đức tin: (
"Những điều Phật dạy ở trên là những chân lý. Những chân lý này
không phải những kẻ hạ căn có thể chứng nghiệm được. Dù vậy nó vẫn
là chân lý bất kể con người có chứng nghiệm được hay không"),
còn chỗ này thì anh cấm người khác công nhận dựa vào đức tin của họ.
Có bất công quá không anh?
Chân lý của Đức Phật, tôi đã
giải thích trong đoạn 4 ở trên.
Nếu những lời Giê-su nói
không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, thì vai trò Thiên Chúa của
Giê-su có thể tạm chấp nhận được, nếu chúng ta không xét đến cái
thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity) về Chúa ba ngôi.
Tôi chưa nghe đến "thuyết"
này bao giờ. Chân lý về Chúa Ba Ngôi Một Thể là một huyền nhiệm không
thể hiểu được chính xác bằng trí tuệ con người. Tuy nhiên tôi có thể
lấy một ví dụ về vật lý để minh họa điều này: Nước cũng có ba trạng
thái: Nước thường, nước đá, hơi nước. Cả ba trạng thái này đều
mang một bản chất là H2O. Chỗ nào có một là đều có cả ba.
Ba là một, một nhưng là ba (Trí óc con người sao chấp nhận được điều
đó? Vì vậy đây cũng là vấn đề của đức tin. Ví dụ khác: Ánh sáng
có ba tính chất: Sóng, hạt, và lượng tử (quantum). Ba tính chất này tạo
thành một thực thể duy nhất là ánh sáng. Chỗ nào có một là có cả ba,
không thể tách rời. Nói thuyết Ba Ngôi là không đúng, phải nói Ba Ngôi Một
Thể. Dù thế nào đi nữa thì mọi sự so sánh đều là khập khiễng, mong
anh thông cảm
Đến đây thì tôi có thể khẳng
định ông tuyệt đối không phải là một "nuclear physicist" như
ông tự nhận. Tại sao? Vì một em nhỏ học lớp 12 cũng phải biết là
ánh sáng chỉ có 2 trạng thái, được biết dưới danh từ khoa học là "hạt
sóng song tính" của ánh sáng, nghĩa là ánh sáng khi là sóng, khi là
hạt. Hạt ánh sáng, quang tử (photon), chính là một lượng tử. Hạt ánh
sáng và quang tử không phải là 2 trạng thái khác biệt như ông viết. Ông
muốn chứng minh thuyết Ba Ngôi Một Thể bằng cách phân biệt hạt ánh
sáng và lượng tử là hai thực thể riêng biệt thì thật quả ông không
hiểu gì về Vật Lý Hạt Nhân (Nuclear Physics) và Cơ Học Nguyên Lượng
(Quan tum Mechanics). Đúng là một sự so sánh khập khiễng vì dựa trên một
sự hiểu biết sai lầm quá sơ đẳng. Cũng như trên, ông đưa ra 3 trạng
thái của nước: rắn, lỏng và hơi mà ông không biết rằng nước còn có
thể ở những trạng thái không thuộc 3 thể này.
Nhân loại đã có trên mặt
đất ít ra là vài triệu năm chứ không phải là 6000 năm như được viết
trong Thánh Kinh. Vậy trong vài triệu năm này, những người sinh trước Giê-su
bằng cách nào mà tin Giê-su để không bị "cơn thạnh nộ" của Đức
Chúa Trời trên họ. Lịch sử Việt có ít ra cũng là 6000 năm rồi. Những
người sinh trước Giê-su trong đó ắt hẳn có tổ tiên ông, vậy ông tính
làm sao với họ.
Con số vài triệu năm là con số
phỏng đoán chứ có ai chứng minh được đâu. Sao anh lại tin con số này
mà không tin con số 6000 năm?
Tôi thật không chịu nổi cái kiến
thức của ông. Ông vứt đi đâu những kết quả nghiên cứu và những
khám phá trong các bộ môn khảo cổ, cổ sinh vật học, sinh học v..v.. và
những kỹ thuật định tuổi của vật chất v..v.. Thời buổi này mà ông
còn tin là Thiên Chúa của ông mới "sáng tạo" (sic) ra vũ trụ và
muôn loài cách đây 6000 năm thì thật là không tưởng. Rất có thể, vì đó
chính là Chúa đã đào tạo nên ông với trình độ hiểu biết như vậy.
Đức Chúa Trời là Đấng Công
Chính. Những người sống trước Chúa Giê-xu, Ngài có cách xét xử khác,
còn sau Chúa Giê-xu là thời kỳ ân điển. Kinh Thánh dạy rằng chỉ những
ai tin Chúa Giê-xu thì mới được cứu. Chúng ta đang sống ở thời đại
ân điển. Anh có quyền tin hoặc không tin. Mặc dầu vậy chúng ta vẫn yêu
thương nhau. Hãy để cho niềm tin không làm tổn thương đến tình nhân loại.
Đó chính là lời dạy của cả hai Đạo mà chúng ta tin.
Ông viết lăng nhăng chẳng ra đâu
vào đâu cả. Chúa dựa vào đâu để mà xét xử những người sinh trước
Chúa, vì Kinh Thánh dạy rằng chỉ những ai tin Chúa Giê-xu (nghĩa là
chỉ có những người sinh sau Chúa) thì mới được cứu. Không phải
là tôi có quyền không tin nhưng căn cứ vào đâu để mà tin một điều cực
kỳ phi lý, phản khoa học, phi lôgic và hoang đường. Sự thật không bao giờ
có thể làm tổn thương đến tình nhân loại. Chỉ có những điều phi lý,
mê tín, hoang đường mới làm tổn thương đến tình nhân loại do sự cuồng
tín mà ra.
Sai lầm thứ nhất:
Tên các vị Vua xứ Edom viết trong
Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đã chết
từ lâu. Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng
lẽ Moses lại tả chuyện chính mình chết? Cho nên Moses không thể là tác
giả của Ngũ Kinh. Vậy, nếu Giê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử
nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại
cho đó là Moses, thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về
những chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su, cho
mình chính là Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời đó chính là của
Thiên Chúa?
Cả anh và tôi đều không phải
là sử gia, mà cho dù chúng ta là hai sử gia đi nữa thì đã chắc gì có những
đánh giá lịch sử giống nhau. Anh đọc sách nói như vậy, nhưng tôi lại
đọc sách của một sử gia khác xác nhận Kinh Thánh không có mâu thuẫn về
lịch sử. Vậy chúng ta tin ai. Chắc chắn hai cuốn sách sử của Miền Nam
và Miền Bắc nước ta viết trong thời kỳ 1945 đến 1975 là khác nhau về
nhiều sự kiện và quan điểm. Một vài trăm năm sau, các nhà nhiên cứu lịch
sử sẽ có những kết luận khác hẳn nhau, vì họ căn cứ trên hai nguồn
sử khác nhau. Anh tin những điều người ta viết thành sách là đúng cả
sao? Anh tin sách của một ông nào đó viết, nên cho rằng Chúa Giê-xu sai.
Còn tôi, tôi tin lời của Chúa Giê-xu, nên cho rằng những tư liệu của sử
gia đó cần phải xét lại. Đây cũng là vấn đề của đức tin.
Ông chỉ đọc sách xác nhận Kinh
Thánh không có mâu thuẫn về lịch sử. Sách của ai viết và chứng minh ra
sao? Tôi đọc ngay Thánh Kinh, những lời mạc khải không thể sai lầm của
Chúa, theo như niềm tin của ông, và tôi chứng minh từ đó là Kinh Thánh
có rất nhiều sai lầm về lịch sử, về thần học, và về khoa học. Tôi
chứng minh Giê-su sai từ ngay trong Thánh Kinh chứ có dùng sách của ai đâu.
Tôi đã trích dẫn những câu Giê-su nói trong Thánh Kinh, phân tích những
câu đó và chứng minh rằng Giê su sai. Chắc ông chưa bao giờ đọc Thánh
Kinh, tôi có cảm tưởng như vậy.
Tôi chưa nghe ai nói rằng Môi se
viết cả chương 34 của Sách Phục Truyền tức là chương kể về cái chết
và sau cái chết của ông. Ai tuyên bố điều này xin anh chỉ giáo cho. Tôi
đã từng cộng tác với thầy giáo của tôi để viết sách, nhưng phần đóng
góp của tôi quá ít nên tôi xin không đưa tên tôi vào.
Thánh Kinh nói vậy chứ còn ai nói
nữa. Chính Giê-su và hai tông đồ nổi danh là Phao Lồ (Paul) và Giăng
(John) đều tin rằng Moses viết 5 cuốn đầu trong Cựu Ước, trong đó có
cuốn Phục Truyền . Lại một bằng chứng khác chứng tỏ ông chưa hề đọc
Thánh Kinh và chỉ nhắc lại những lời nhồi sọ của giới "lãnh đạo
tôn giáo" của ông.
Sai lầm thứ hai:
Chỉ có điều, trong 2000 năm nay,
người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại
diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có ông Lê Anh
Huy và đồng bọn tin Chúa, nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những
chuyện này. Vậy phải chăng những lời của Giê-su trong "dụ
ngôn" về cây sung chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường,
vô trách nhiệm, và chỉ có những người không đội trời chung với lý
trí, với suy luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hão của
Giê-su.
Anh đã dùng một thuật ngữ
không đẹp: Đồng bọn. Nhưng không sao, nhân vô thập toàn mà! có ai hoàn
thiện đâu. Tôi xin nói rằng ai tự xưng là đại diện cho Chúa Giê-xu ở
trần thế là đã làm sai trật so với Lời Chúa rồi. Chỉ có Chúa Giê-xu
mới làm phép lạ được. Khi một người đặt tay chữa bệnh mà người
kia khỏi ngay thì đó không phải do người ấy có khả năng siêu phàm. Anh
ta chỉ là công cụ của Chúa. Chúa là Đấng làm phép lạ, là Đấng Chữa
bệnh... Vả lại khi đã nói là dụ ngôn thì đừng hiểu theo nghĩa đen,
cũng giống như anh giải thích câu "Lưới Trời lồng lộng..." ở
trên. Trong câu này có chữ Trời hẳn hoi nhưng anh yêu cầu không hiểu chữ
Trời theo nghĩa đen mà phải hiểu rằng đây là nói về luật nhân quả. Cũng
vậy, dụ ngôn của Chúa Giê-xu chỉ muốn nói rằng nếu ai tin Chúa thì
Ngài sẽ ban cho những ơn phước làm những chuyện rất lạ lùng. Anh thật
bất công: Dạy người khác đừng làm (hiểu theo nghĩa đen) mà mình lại
làm.
Miễn phê bình những chuyện hoang
đường cách đây 2000 năm.
Sai lầm thứ ba:
Đọc Tân Ước, chúng ta thấy rằng
Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề và chính mình sẽ trở lại để
phán xét nhân loại. Sau đây là vài đoạn trong Tân Ước chứng tỏ điều
trên:
Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ:
"Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống
cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại"
(And He said to them, "Assuredly, I say to you that there are some standing here who
will not taste death till they see the kingdom of God present with power.")
Mark 13:30: "Ta quả quyết,
thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó (các biến cố xung quanh
sự trở lại của Giê-su. TCN) đã xảy ra rồi". (Assuredly, I say to you,
this generation will by no means pass away till all these things take place.)
Luke 21: 27, 32: "Bấy giờ
nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền
tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy
đã xảy ra rồi".
Nhưng đã hai ngàn năm nay rồi, Giê-su
vẫn biệt tăm. Như vậy có phải là Giê-su đã hứa hão với các môn đồ
hay không?
Về việc Chúa chưa trở lại,
trước đây tôi cũng thắc mắc giống hệt anh. Nhưng khi đọc II Phierơ 3,
thì tôi đã tìm được lời giải đáp. Sứ đồ Phierơ là một trong những
người được nghe trực tiếp những câu Chúa phán mà anh trích dẫn ở
trên, nhưng không hề thắc mắc như chúng ta. Ngược lại, ông giải thích:
a/
"Trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày."
Điều này có nghĩa là đối với Chúa không có gì là chậm trễ cả. Cái
hai nghìn năm của chúng ta thì đối với Ngài là bao nhiêu? Chẳng ai biết.
Đây là lối giải thích có tính
cách ngụy biện, vì trong những câu trích dẫn từ Thánh Kinh ở trên, ông
đã lờ đi những câu: "Ta quả quyết thế hệ này chưa qua
đi..", " Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ
còn sống", "Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua.." thì
ta (Giê-su) đã trở lại trần rồi. Vậy cái lối giải thích "Trước
mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày." chỉ để
cho các tín đồ thuộc loại "nuclear physicist" như ông nghe, chứ
còn ai mà nghe được. Một vài người đứng trước mặt Chúa khi đó còn
sống hay đã chết? Thế hệ của Chúa đã qua chưa?
Hơn nữa, trong Chương Sáng Thế,
Chúa của ông tạo ra cây cối trong ngày thứ ba, rồi đến ngày thứ tư mới
tạo ra mặt trời mặt trăng. Không có ánh sáng mặt trời làm sao cây cỏ
sống được cả ngàn năm. Mặt khác, Chúa của ông "làm ra hai thể
sáng lớn. Thể sáng lớn hơn (mặt trời) trị vì ban ngày, thể sáng nhỏ
hơn (mặt trăng) cai quản ban đêm" (Sáng Thế 1: 16). Chúa của ông
không biết rằng chỉ cần tạo ra mặt trời là đủ vì mặt trăng tự nó
đâu có ánh sáng? Còn nữa, trái đất có sau mặt trời chứ đâu có phải
là có trước mặt trời. Chúa của ông không có trình độ của một em học
sinh lớp 12 ngày nay nếu ông vẫn tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải
của Chúa.
Cách giải thích của ông cũng giống
như cách giải thích của ông Mục sư?? Nguyễn Thanh Vũ, cho rằng trong hai cái
gia phả khác nhau về Giê su, một cái gồm 27 thế hệ và một cái gồm 42
thế hệ với những tên ông bà tổ tiên khác nhau, thì một cái là gia phả
của bà Maria. Ông Vũ không biết đến khoa nghiên cứu cổ sử: Nghiên
cứu về cổ sử và truyền thống Do Thái, các học giả đã bác bỏ lý luận
ngụy biện này. Cả Matthew và Luke đều ghi Giê-su thuộc dòng dõi cha là
Joseph chứ không ghi Giê-su thuộc dòng họ mẹ là Maria. Vậy dòng họ mẹ
ở đâu mà ra? Ngoài ra, luận điệu ngụy biện trên không hề để ý đến
sự kiện là gia phả của Maria trong Luke, nếu thực là như vậy, lại nhiều
hơn gia phả của Joseph tới 15 thế hệ, tính trung bình từ 20 đến 30 năm
một thế hệ thì sự khác biệt này, bắt đầu từ vua David, là từ 300 năm
đến 450 năm. Nhưng khi hứa hôn với Joseph thì Joseph đã nhiều tuổi, còn
Maria mới có khoảng 14, 15 tuổi. Kết luận: dòng họ Joseph toàn những người
sống dai, còn dòng họ Maria toàn những người chết non, chết yểu. Đó
là những điều mâu thuẫn phi lý mà giáo hội không sao giải thích nổi.
Tuy vậy mà nhiều tín đồ Ki Tô Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành, vẫn tin
và viết báo ngụy biện là gia phả của Giê-su trong Luke là theo dòng mẹ.
Các ông chỉ giỏi cãi quanh cãi quẩn theo luận điệu giáo hội dạy cho
các ông mà không bao giờ tự mình dùng đầu óc để mà suy nghĩ xem những
lời giải thích đó có hợp lý hay không. Điều này chứng tỏ bản chất
đức tin của các ông thuộc loại nào.
b/
Sở dĩ Chúa chưa đến là vì Ngài còn kiên nhẫn chờ đợi, vì Ngài
không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều
ăn năn. Ngài đã kiên nhẫn chờ tôi, nay có lẽ Ngài đang chờ nhiều
người Việt Nam khác. Anh nghĩ sao?
Rất có thể Ngài phải chờ khoảng
5 tỷ năm nữa, thời gian mà các khoa học gia ước tính sự tồn tại của
trái đất. Ngài không muốn cho một người nào chết mất. nhưng
chắc chắn ông sẽ chết trước khi thấy Ngài. Ông muốn đánh cuộc
không? Ăn năn cái gì, việc gì mà phải ăn năn. Nếu tôi có tội đối với
đồng bào, nhân loại thì luật pháp sẽ xét xử tôi, can dự gì đến Chúa
của ông?
Xin anh bớt giận với Chúa
Giê-xu, vì Ngài yêu thương anh nhiều lắm. Đừng thóa mạ Ngài như vậy,
anh Trần Chung Ngọc ơi! Anh muốn được cứu rỗi thì theo Ngài, Nếu anh
không tin và không muốn, ai bắt được anh?
Cả đời tôi chẳng giận ai bao giờ
vì tôi biết sự giận dữ không mang lại cái gì tốt đẹp. Nếu ông cho rằng
tôi vì giận Chúa mà viết những bài thuộc loại khảo cứu thì ông đã lầm
to rồi. Chỉ là vấn đề lương tâm trí thức không cho phép tôi chấp nhận
những điều phi lý, hoang đường không còn phù hợp với trình độ hiểu
biết của con người ngày nay mà thôi. Các ông dựa vào một niềm tin
không cần biết không cần hiểu cộng với một kiến thức vô cùng thiếu
sót và một chiều viết ra những chuyện hoang đường để truyền đạo. Tôi
dựa vào lý trí, lý luận và những tài liệu khảo cứu mà tuyệt đại
đa số các tác giả là ở trong Ki Tô Giáo nói chung, để giải hoặc và
đưa ra sự thực với đầy đủ bằng chứng. Nếu ông cho đó là thóa mạ
Chúa của ông thì đó là quyền của ông, tôi không can thiệp vào cái quyền
này.
Chúa Giê-xu cũng hiền lành như
Đức Phật.
Nói bậy. Hiền lành như thế nào
mà nguyền rủa một cây sung cho nó chết héo queo chỉ vì nó không ra trái
lúc trái mùa cho ông ta (Giê-su) ăn khi đói. Hiền lành như thế nào mà đuổi
2 con quỷ từ 1 người ra, bắt chúng nhập vào một đàn heo khoảng 2000 con
rồi bắt đàn heo nhảy xuống biển chết đuối hết? Đàn heo có tội gì?
Vậy Chúa hiền hay Chúa ác? Hiền lành mà phán câu: Luke 19:27: "Hãy
mang những kẻ thù của ta ra đây, những người không muốn ta ngự trị
trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta".
Vài lời kết:
Trong bài phân tích một số điểm
trong 2 lá thơ của ông Phan Như Ngọc tôi đã chứng minh rằng ông Phan Như
Ngọc không đưa ra một luận điểm nào có giá trị trí thức nào. Tất cả
chỉ là những niềm tin không cần biết không cần hiểu và coi những niềm
tin này là có giá trị thuyết phục nên mới mang chúng đi quảng cáo với
những người không quen biết. Ông ấy tưởng ai cũng có đầu óc như mình.
Ngoài ra, tự nhận là một "nuclear physicist" nhưng kiến thức về
khoa học của ông Phan Như Ngọc thật là quá thấp, chỉ có vài điều căn
bản sơ đẳng mà cũng còn hiểu sai be bét. Vậy mà ông ấy tin rằng chính
Chúa đã đào tạo ông ấy thành người. Nếu thật như vậy thì tôi bắt
buộc phải nói rằng, chương trình đào tạo của Chúa dở ẹt, chưa qua bậc
Trung Học ở Mỹ. Thật là tội nghiệp. Tôi hi vọng nếu Mucsu.net muốn
truyền đạo thì ít ra cũng phải kiếm được những người có khả năng
vượt trội những người như Tiến sĩ Lê Anh Huy, Mục sư Nguyễn Thanh Vũ
(người tự nhận là một ông thầy) và ông Phan Như Ngọc, người tự nhận
là một "nuclear physicist". Cái nghiệp của tôi mới nặng làm sao, cứ
phải làm những việc không muốn làm. Cây muốn lặng nhưng gió nào có để
yên cho.
Nhưng vấn đề truyền đạo của các
ông sẽ bị kẹt ở điểm sau đây. Các ông muốn nói hay nói giỏi gì về
tôn giáo và Chúa của các ông thì đó là quyền của các ông. Nhưng các
ông không thể phủ nhận là Ki Tô Giáo đã để lại nhiều dấu vết kinh
hoàng trong lịch sử loài người. Nếu không như vậy thì tại sao Giáo
hoàng John Paul II phải xưng thú 7 núi tội lỗi của Ca Tô Giáo, và Tin Lành
phải xin lỗi dân da đỏ ở Tân Thế Giới và vài nơi khác trên thế giới?
Các ông muốn xuyên tạc hạ thấp Phật Giáo qua trình độ hiểu biết thấp
kém của các ông thế nào cũng được. Nhưng các ông không thể phủ nhận
là trong quá trình phát triển Phật Giáo trên thế giới trong suốt hơn 2500
năm nay Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu bất cứ ai trong khi truyền
đạo. Phật Giáo không cưỡng ép bất cứ ai phải theo Phật Giáo. Chỉ bằng
vào điều này các ông phải thấy sự khác biệt căn bản giữa Phật Giáo
và Ki Tô Giáo.
Hiện nay Phật Giáo đang phát triển
mạnh mẽ trong giới trí thức ở khắp năm châu. Tại sao? Vì càng ngày người
ta càng nhận ra những giá trị đích thực của Phật Giáo, những giá trị
thiết thực, không cần phải dựa vào một nền thần học quanh co lắt
léo. Trái lại, hiện nay Ki Tô Giáo nói chung đang suy thoái ở các nước
văn minh tiến bộ Âu Mỹ. Tại sao? Vì không ai có thể xóa bỏ được những
vết đen trong lịch sử Ki Tô Giáo và trình độ hiểu biết của con người
ngày nay không cho phép họ tiếp tục tin vào những điều mê tín, hoang đường,
phản khoa học, phi thực tế, và những hứa hẹn không tưởng. Các ông muốn
quên đi lịch sử tôn giáo của các ông. Tôi sẽ tiếp tục nhắc để các
ông nhớ mỗi khi đọc những bài có tính cách truyền đạo của các ông.
- Trần Chung Ngọc
- Đầu tháng 12, 2001
Home