| .......... |
. |
Giao thoa ý kiến
- trong và ngoài nước:
Mục lục:
+Đôi điều
bàn về văn hóa Nguyễn
T. Thanh Xuân & Trần Khuê
+Nỗi giận vì loạt bài viết về
Kinh thánh tại Anh quốc Bùi đức An
- +Chiếc vòng kim cô Đoàn thanh Tú
-
- +Thư gởi quý đồng hương của
bà g/s Minh Anh Hodge (Tacoma,
Seattles)
-
TRONG NƯỚC
- Diễn dàn liên mạng
"Trí thức VN"
- Đôi điều bàn về Văn
Hóa (*)
Trần Khuê – Ng.T.Thanh
Xuân
(Trung tâm Hán Nôm)
Chúng tôi nhận được bài viết
này từ trong nước trước khi trang nhà GĐ bị lý do kỹ thuật không hoạt
động trong gần hai tuần lễ. Hôm nay mới có dịp đưa lên mạng để giới
thiệu với quý bạn đọc. Chân thành cáo lỗi với hai tác giả Nguyễn Thị
Thanh Xuân và Trần Khuê. Giao Điểm.
***
Người ta đã bàn nhiều về văn hóa. Ai cũng thấy văn hóa
vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Ai cũng thấy cần
phải bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và phải phát huy truyền thống văn
hóa dân tộc. Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc là gì? Phân loại truyền thống
theo tiêu chí nào? Chưa rõ nên chưa có sự nhất trí.
Dân tộc ta từ xưa đến nay kiên quyết không chấp nhận
các lối sống Tàu, lối sống Tây, lối sống Mỹ và dứt khoát sống theo
lối sống Việt Nam. Dù phải hy sinh của cải hay tính mệnh cũng kiên quyết
bảo vệ độc lập, tự do và lối sống riêng của mình. Bàn về văn hóa
thực chất là bàn về những giá trị của cuộc đời: đâu là giá trị
thật, đâu là giá trị giả? Thế nào là tốt, thế nào là xấu? Thế nào
là mới, thế nào là cũ? Lại phải phân biệt cho rõ cái mới tiến bộ với
cái mới lố lăng, lai căng mất gốc; phân biệt cái cũ tốt đẹp với cái
cũ hủ lậu lỗi thời.
Các cụ xưa đã dạy: ở đời thật giả khó phân nên cần
phải tinh tường. Chớ chỉ thấy lốt ếch, lốt chó mà không biết rằng
đó chính là công chúa hay hoàng tử. Chỉ thấy cô gái đáng yêu hay ông
lão đáng thương mà không biết đó thực chất là Bạch Cốt Tinh biến
hình giả dạng. Ngay cả khi đã biết rõ yêu quái thì vẫn cần bình tĩnh
mà nghĩ cách đối phó, chớ nên hoảng hốt la làng, trông gà hóa cuốc, rồi
giặc chẳng bắt lại bắt thày tu.
Bàn về văn hóa cũng là nhằm mục đích sống cho có văn hóa;
làm văn hóa, lý luận về văn hóa càng cần có bản lĩnh văn hóa và có sự
hiểu biết tinh tường về văn hóa. Gần đây, chúng tôi thấy nhiều vị
bàn về văn hóa trong hội thảo cũng như trên báo chí trình bày nhiều ý
kiến thật khó có thể nhấ 鴠trí. Vì thế
xin có đôi lời thưa lại.
Trước hết chúng tôi xin bày tỏ sự ngạc nhiên về cách
hiểu văn hóa của tác giả Trần Trọng Tân:
"Văn hóa là đời sống tinh thần, là động lực tinh
thần của một con người, của một gia đình, của một tập thể, của
toàn xã hội, đi vào các lĩnh vực hoạt động của trí tuệ, vào các ngõ
ngách của tình yêu, của cả đời sống tâm linh".
"Văn hóa là đời sống tinh thần ...", thế chẳng
lẽ đời sống vật chất không phải là văn hóa?
Tác giả Trần Trọng Tân còn khẳng định:
"Nếu hiểu lịch sử nền văn hiến Việt Nam bắt
đầu từ khi có chữ viết và có các nhà trí thức biết sử dụng chữ viết
đó để chuyển từ văn hóa truyền miệng qua văn hóa thành văn thì
việc đổi mới chữ viết theo mẫu tự latinh là khởi điểm cho một
giai đoạn mới của nền văn hiến Việt Nam".
Rõ ràng, ở đây có sự nhầm lẫn giữa văn hóa với
văn chương và văn học. Không hề có cái gọi là văn hóa
truyền miệng hoặc văn hóa thành văn. Và ông Tân cũng hiểu nhầm
cả ý nghĩa của từ văn hiến. Đâu có phải cứ "có chữ viết
và có các nhà trí thức biết sử dụng chữ viết" mới có văn hiến.
Hiến nghĩa là người hiền tài. Tất nhiên, hiền tài có nhiều cấp
độ khác nhau phụ thuộc vào tiêu chí, chuẩn mực của từng thời kỳ lịch
sử. Chẳng lẽ Mãn Giác và Trương Hán Siêu, Lê Quí Đôn và Ngô Thì Nhậm,
Đoàn Thị Điểm và Hồ Xuân Hương, Tản Đà và Hồ Biểu Chánh... được
coi là hiến; còn các tác giả dân gian khuyết danh của nền văn
chương truyền miệng lại không được coi là hiến hay sao? Ở Việt
Nam ta, hai dòng văn chương truyền miệng và văn chương thành văn
cứ sóng đôi cùng chảy suốt từ ngàn xưa đến tận ngày nay, và mãi
mãi. Do đó không nên lấy chữ viết để làm mốc giới hạn. Chữ viết
chỉ là ký hiệu của một ngôn ngữ. Người ta có thể dùng ký hiệu này
hay ký hiệu khác nên có thể thuận lợi nhiều hơn hay ít hơn trong việc mã
hóa ngôn ngữ. Nó có tác động đến tư duy chứ không mang tính chất quyết
định đối với sự phát triển tư duy của một dân tộc. Vả lại, đừng
quên rằng, các giáo sĩ phương Tây latinh hóa chữ viết của Việt Nam là
nhằm mục đích truyền đạo và mở rộng nước Chúa phục vụ cho bước
phát triển mới của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Còn việc nhân dân ta
sử dụng ngay chữ viết này để làm phương tiện cho mình phát triển thì
đó là kết quả của sự nhạy cảm và một tư duy cấp tiến mang tính
truyền thống. Có thể cứ ghi nhận ơn nghĩa chứ tuyệt đối không nên
sùng bái Sĩ Nhiếp hoặc Alexandre de Rhodes. Do đó, cũng nên bàn kỹ xem có
nên dựng tượng các vị này và coi họ ngang hàng với các danh nhân văn hóa
của dân tộc: không nên nhầm mục đích với hệ quả. Việc dựng cho đủ
tượng các danh nhân nước nhà ở tầm cỡ quốc gia cũng như quốc tế sớm
muộn phải làm cho xong. Đó là biểu hiện cao nhất tính văn hóa của mỗi
dân tộc (nhân đây cũng nói thêm về việc đặt tên đường phố: không
được bỏ sót các danh nhân văn hóa và ai chưa phải là danh nhân văn hóa
dân tộc thì không đặt để tránh gây nhiễu về tư tưởng).
Tác giả Trần Trọng Tân còn nhận định: "Văn hóa
Kitô giáo khuyến khích tình người".
Tình người là chuyện khởi nguyên của mọi tôn giáo.
Mọi tôn giáo đều coi trọng tình người. Cũng chính vì có tình người mà
nảy sinh tôn giáo. Nhưng cứ giở lại những trang sử "thập tự
chinh" ở châu Âu thời trung cổ và truyện các nhà khoa học cũng như bất
cứ ai nói khác kinh thánh đều bị đưa lên giàn thiêu, hẳn sẽ thấy
không thể nhận định giản đơn như thế. Chắc chắn ông Tân sẽ không
nhận định như thế nếu ông có dịp nghiên cứu lại kinh thánh và đọc
lại Voltaire, Diderot... Còn tất cả những sản phẩm văn hóa như: nhà thờ,
chùa chiền và các tác phẩ văn học nghệ thuật (dù tác giả là người
đi theo bất cứ tôn giáo nào) thì cũng nên coi đó là sản phẩm văn hóa của
dân tộc Việt Nam chứ không nên coi đó là của văn hóa Kitô giáo, của văn
hóa Phật giáo hay văn hóa Lão giáo. Vả lại, như trên đã nói nên để từ
văn hóa gắn với một vùng đất và một cộng đồng người sống ở đó
(văn hóa Hy Lạp, văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Pháp...)
không nên dung tục hóa thuật ngữ này rồi lạm dụng thành "văn hóa hỏa
táng", "văn hóa ẩm thực", "văn hóa tốc độ"... Cần
tôn trọng khoảng cách giữa khẩu ngữ và văn bản.
Theo chúng tôi hiểu, văn hóa là toàn bộ sản phẩm vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo trong tiến trình lịch sử.
Nghiên cứu bản sắc văn hóa của một dân tộc là nghiên cứu nếp cảm,
nếp nghĩ và nếp sống của dân tộc đó. Công việc nghiên cứu
này thường phải bắt đầu từ việc khảo sát các sản phẩm văn hóa
còn lưu giữ trong kho tàng văn hóa của mỗi dân tộc. Chúng có thể là một
công cụ sản xuất, một công trình kiến trúc, những phong tục tập quán
về ăn, mặc ,ở và cách giao thiệp, ứng xử, và quan trọng nhất vẫn là
những tác phẩm văn chương, nghệ thuật (truyền miệ⮧ hoặc thành văn)
phản ánh tâm hồn và tư tưởng của cả một dân tộc trong từng thời kỳ
lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng có địa chỉ minh bạch nghĩa là nó thuộc
về một vùng đấ 鴠nhất đinh và là sản phẩm
của cộng đồng người đã từng sinh tồn trên vùng đất đó.
Vì vậy, cũng không nên dùng những thuật ngữ như "dòng
văn hóa Kitô giáo", "dòng văn hóa Phật giáo", "dòng văn hóa
Lão giáo".
Chúng tôi cũng thực sự không hiểu khi phó tiến sĩ Lê Hồng
Liêm viết: "Do đó cùng với việc quản lý và điều tiết của chính
quyền bằng hành pháp, văn hóa thành phố phải đóng vai trò "điều tiết
tinh thần" cho sự phát triển nền kinh tế thị trường trên địa bàn
thành phố hiện nay". "Chính quyền" thì rõ rồi. Nhưng còn
"văn hóa thành phố"?, nó là cái gì ? Sao nó lại đóng được vai
trò điều tiết tinh thần" cho "sự phát triển nền kinh tế thị
trường". Xin vui lòng giải thích cho về cái lực lượng lạ lùng này,
mà sao chính quyền trong đó Sở văn hóa-thông tin lại phó thác một nhiệm
vụ cực kỳ quan trọng cho một cái lực lượng trừu tượng như thế được.
Cũng làm cho mọi người không kém ngạc nhiên khi ông Liêm
đưa ra luận điểm: "Giá trị con người, giá trị văn hóa không thể
đo bằng giá trị của sức lao động làm ra nó. Giá trị đích thực
của một sản phẩm văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào tâm hồn và tài năng
của người sáng tạo ra nó".
Xin hỏi ông Liêm: Ông dùng thước đo nào? Mọi sản phẩm
văn hóa do con người tạo ra sau khi thấy sự bất tiện của việc trao đổi
bằng hiện vật, nhân loại đã phải nghĩ ra đủ thứ vật trung gian (vỏ
sò, vàng, bạc, tiền giấy) để định giá. Đây là một quá trình phát
triển biện chứng, biểu hiện sự tiến hóa của nhân loại. Cớ sao ông lại
bài bác sự định giá này? Và ông hiểu thế nào là "giá trị đích
thực" của một sản phẩm văn hóa? Sao lại có thể dùng tâm hồn và
tài năng làm thước đo?
Nói như thế là chưa phân biệt giá trị và giá trị sử dụng
của một sản phẩm lao động. Nghĩa là ông Liêm cũng chẳng quan tâm gì đến
quy luật giá trị và luật cung cầu. Cứ theo cách hiểu của PTS Lê Hồng
Liêm thì các họa sĩ chỉ nên triển lãm tác phẩm chứ chẳng nên định
giá và bán tranh vì đấy "là tâm hồn và taì năng" sao lại nỡ
đem bán như thế. Các nhà văn, nhà thơ và văn nghệ sĩ nói chung chẳng
nên mang tác phẩm của mình đi đổi lấy tiền nhuận bút làm gì. Quả thật
hiểu và định hướng văn hóa theo kiểu ông Liêm thì biết đến bao giờ
thành phố ta hiện đại hóa? (đúng là "Bao giờ cho đến tháng Mười?").
Và liệu cái gọi là "nền kinh tế thị trường với đủ thứ tác
động tiêu cực và rất cứng cổ có ngoan ngoãn chấp nhận những
luận điểm phi kinh tế học chính trị của ông Liêm không ?
Đáng ngạc nhiên hơn nữa, với tư cách người đứng đầu
Sở Văn hóa Thông tin của một thành phố lớn đã qua 12 năm đổi mới,
PTS Lê Hồng Liêm lại đưa ra một luận điểm về "mở cửa" quản
lý văn hóa rất kỳ quặc:
"Để đương đầu có hiệu quả với những nguy cơ và
thách thức trong quá trình giao lưu mở cửa, thành phố không thực hiện
chính sách đóng cửa, tự giam hãm mình trong tính riêng biệt văn hóa, khước
từ giao lưu, đối thoại và đổi mới; đồng thời cũng không thể cứ để
cho mọi người dân tiếp nhận "xô bồ" tất cả không
phân biệt hay dở tốt xấu để đi đến chỗ mất gốc, lai căng và cuối
cùng sẽ bị đồng hóa, hòa tan, chứ không phải là hội nhập với nền văn
hóa thế giới".
Chẳng lẽ Pts-Giám đốc Lê Hồng Liêm lại không hiểu rằng
"mở cửa", "giao lưu", "làm bạn với tất cả các nước"
là nhu cầu của dân tộc, của thời đại, đồng thời đó là mệnh lệnh
của Trung ương? Ai dám không tuân theo mà nói tới chuyện "không thực
hiện", "tự giam hãm", "khước từ"? Tại sao lại còn
bỏ công đẩy một cánh cửa đã có lệnh mở từ lâu rồi kêu to lên rằng
dứt khoát chúng tôi không đóng cửa đâu?
Lại xin hỏi thêm: theo Pts Lê Hồng Liêm thì mọi người
dân ở đây là những ai? Chẳng lẽ ông lại không hiểu nhân dân
Sài Gòn là như thế nào hay sao?
Bao nhiêu năm dưới ảnh hưởng của ngoại bang, sức đề
kháng văn hóa của "mọi người dân" ở TP Hồ Chí Minh nói riêng
và cả miền Nam nói chung như thế nào thì cả thế giới đều biết và
chính cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Macnamara cũng phải xác nhận rằng họ
thua là thua sức mạnh văn hóa Việt Nam. Đó là một sự thật. Lịch sử
đã xác nhận: mọi kẻ thù xâm lược từ xưa tới nay đến đất nước này
đều thất bại trước sức mạnh văn hóa Việt Nam. Không nên hãnh diện một
cách vô lối nhưng cũng không thể mặc cảm tự ti một cách đáng thương
để rồi suy nghĩ, nói năng theo kiểu vơ đũa cả nắm và lo bò
trắng răng. Nên nhớ: ở đâu và thời nào cũng đều có một bộ phận
quần chúng lạc hậu, nhưng đó là bộ phận chứ không phải toàn
thể.
Thực ra, cái đáng lo lại chính là những sự hiểu biết
và những luận điểm "xô bồ" của ông Liêm và những người như
ông. Tất nhiên, đối vơí các loại "gió độc", "cỏ dại"
thì luôn luôn phải cảnh giác, nhưng không được phép quên rằng: một đất
nước đã có bốn ngàn năm văn hiến, một dân tộc đã trải qua biết bao
thăng trầm trong lịch sử mà vẫn tồn tại một cách vẻ vang như hiện
nay, thì "mọi người dân" Việt ta đã có bản lĩnh văn hóa như thế
nào và nội lực đề kháng ra sao. Mọi người dân 馣273;ều phải được hưởng quyền tự hào, tự tôn một
cách chính đáng trên đường phát triển tới tương lai, chứ đó khôngphải
là đặc quyền, đặc lợi của riêng nhóm người nào. (Nhắc nhỏ ông
Liêm: chính một số nhân viên trong Sở Văn hóa Thông tin sau khi tịch thu những
văn hóa phẩm độc hại lại lén lút đem bán ra thị trường để mưu lợi
riêng, chưa kể đến hợp đồng làm phim liên doanh liên kết với nước
ngoài, điển hình là phim Yêu tiếng hát ở VN , và mấy cuộc triển lãm,
ca nhạc thiếu lành mạnh... chính là kết quả của cái lối suy nghĩ
"xô bồ" của những người như ông đó).
Ông Phan Ngọc cũng gây ra một sự ngạc nhiên khi ông, cũng
giống nhiều người khác, quan niệm rằng tất cả những gì tốt đẹp mới
đáng được gọi là văn hóa, do đó ông viết :
"Chủ nghĩa thực dân Pháp là một sự xuyên tạc văn
hóa Pháp, cũng như chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc là một sự xuyên tạc
học thuyết Khổng Tử. Chính trị thay đổi nhưng văn hóa còn lại. Việt
Nam chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, nhưng lại rất tôn
trọng văn hóa Trung Quốc. Các nhà cách mạng Việt Nam chống lại thực
dân Pháp nhưng lại tôn trọng văn hóa Pháp, truyền thống cách mạng
và những xu hướng xã hội chủ nghĩa của nền văn hóa này".
Quả thật, chúng tôi không hiểu ông Phan Ngọc dùng thứ
lôgíc nào - hình thức hay biện chứng - cho những lập luận kiểu trên.
Ngay đối chiếu với lôgíc hình thức đã không đúng. Chẳng lẽ chủ nghĩa
thực dân Pháp cũng như chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc và bao nhiêu thứ
chủ nghĩa tệ hại khác (chẳng hạn như chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa
Apacthai...) lại đều là những thứ lơ lửng chân không tới đất, cật
không tới giời? Chẳng lẽ đó là những sản phẩm ngoại nhập của nền
văn hóa Pháp và nền văn hóa Trung Quốc hay sao? Không, đó chính là những
sản phẩm nội địa của các nền văn hóa ấy trong những giai đoạn phát
triển nhất định. Và các dân tộc đó gặp rất nhiều khó khăn trong quá
trình đào thải những "khối u di căn" này.
Có lẽ nhà nho Phan Ngọc đã vội quên rằng chính học thuyết
Khổng Tử, chính những lời dạy của đức Thánh còn rành rành trong Luận
ngữ và trong các sách vở của các thế hệ đệ tử của ngài là cha đẻ
của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Những chủ trương "tôn vương
nhương di, chư hầu phải chầu thiên tử, chinh phạt cảm hóa tứ di, tu tề
trị bình" lại chẳng phải là của học thuyết Khổng Tử? Chẳng
lẽ chúng ta chỉ quan tâm đến chuyện "tu thân tề gia", "hiếu
đễ", "nhân nghĩa", "tứ hải giai huynh đệ"... rồi quên
đi những chuyện kia chăng? (Tiện đây chúng tôi cũng nhắc qua đến sự hiểu
sai của ông Hoàng Tăng Cường về khái niệm bình thiên hạ, ông Cường hiểu
"bình thiên hạ" là mở rộng sự bình trị ra khắp bốn phương"
chứ không coi đó là sự bành trướng xâm lược. Nhiều khái niệm khác như
"cách vật trí tri", "lý khí", "nội thánh ngoại vương"...
ông cũng hiểu nhầm và giải thích sai. Đặc biệt, ông còn gán cả khái
niệm "Đạo" của Lão Tử cho Nho giáo. Chuyện này quá dài xin trao
đổi vào dịp khác).
Và cũng cần nhớ thêm rằng tình hình khó khăn đặc biệt
của giai cấp công nhân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước
ta: vừa phải chống giai cấp tư sản vừa phải chống giai cấp phong kiến.
Hai lực lượng thù địch này vừa đối lập với ta vừa đối lập với
nhau, lại vừa sẵn sàng liên minh với nhau. Khi ta chống ý thức hệ phong
kiến thì lập tức ý thức hệ tư sản trỗi dậy. Ngược lại, khi ta chống
ý thức hệ tư sản thì ý thức hệ phong kiến lại trỗi dậy ngay. Theo ý
chúng tôi, vừa qua, sự cổ vũ một cách vô nguyên tắc cho Khổng giáo, Phật
giáo, Ki-tô giáo... đều là sự trỗi dậy của ý thức hệ phi dân tộc
và phi văn hóa. Trong thực tế lịch sử, những tinh hoa của triết lý Khổng
giáo cũng như nhưng tinh hoa của các tôn giáo có mặt ở nước ta thì dân
tộc ta đều đã tiếp nhận, đã dung hóa, Việt Nam hóa.
Sự cổ vũ vô nguyên tắc cho cơ chế thị trường hoặc kết
tội cơ chế thị trường, kết tội đồng tiền một cách vô nguyên tắc
cũng đều là phi dân tộc, phi văn hóa. Để chống lại các nguy cơ tụt hậu,
đảm bảo cho dân tộc phát triển một cách bình thường, tránh được sự
lai căng mất gốc cũng như sự cổ hủ lỗi thời, chúng ta nên bớt lời
phỉ báng kinh tê thị trường. Nên bình tĩnh xem xét, tìm cách hạn chế mặt
tiêu cực, nhưng chủ yếu phải tận dụng mặt tich cực của nó. Phải tập
một thói quen mới: biết tôn trọng đồng tiền và tầng lớp thương nhân
một cách đúng mức. Nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh hiện nay còn
miệt thị đồng tiền và đả kích thương nhân một cách thái quá, vô
nguyên tắc. Hiện tượng đó chứng tỏ nhiều nhà văn của chúng ta còn viết
theo định kiến, chứ chưa đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đời sống của dân
tộc và sự phát triển của đất nước một cách nghiêm chỉnh. Miệt thị
đông tiền và đả kích thương nhân thì Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,
Nguyễn Hành, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Nguyễn
Bính, v.v... - nghĩa là nhiều thế hệ nhà văn trong quá khứ - đã làm một
cách xuất sắc rồi. Nhưng chẳng vì thế mà đạo đức xã hội lành mạnh
hơn, đất nước phát triển nhanh hơn đời sống nhân dân sung sướng hơn.
Giàu có mà vô đạo đức thì không màng, nhưng cứ nghèo đói thì cũng khó
mà nói đến chuyện đạo đức. Đành rằng cứ phải nhắc nhau cái đạo
lý đói cho sạch, rách cho thơm, nhưng cũng không được quên cái cảnh
đói ăn vụng, túng làm càn. Những người làm văn, làm thơ, làm điện
ảnh, làm nghiên cứu không được phép quên. Những người cầm cân nảy mực
lại càng không được phép quên.
Bày chuyện độc quyền quota xuất khẩu, bày chuyện đồng
phục áo dài trong nhà trương.... người ta cứ tương đó chỉ là chuyện
kinh tế, chuyện giáo dục... Không, chính là chuyện văn hóa đấy! Cũng là
chuyện tồn vong của cả một chế độ! Chuyện độc quyền quota đẻ ra
chuyện ép giá lùa và đủ thứ nông sản. Nông dân không bán đươc lúa hoặc
phải bán lỗ, lại phải nộp hàng ba chục khoản đóng góp, thử hỏi làm
sao lại không sinh nhiều chuyện đau đầu? Con nhà nghèo phải lo đóng góp
đủ thứ tiền, lại còn phải lo may vài bộ đồng phục quần trắng áo
dài, xoay xỏa sao nổi mà không thất học? Bé thì đi bán vé số, đánh
giày, lớn lên thì lao động giản đơn, ốm đau thì không đủ tiền mua
thuốc, nộp viện phí, quanh năm lại nợ nần, giật gấu vá vai, vắt mũi
không đủ đút miệng, liệu tâm trí nào để⠮ghe rao giảng và thực thi
cái chuyện bảo tồn bản sắc văn hóa?
Phải nói không quá đáng rằng chủ trương và kế hoạch
xóa đói giảm nghèo của ta hiện nay là chuyện cực kỳ quan trọng và vĩ
đại chưa từng thấy trong lịch sử. Nhưng chớ có phó thác công chuyện
quan trọng vĩ đại này cho những vị cán bộ lòng lạnh tanh máu cá. Cho
dân nghèo vay mà đòi thế chấp, chưa cho vay đã chỉ lo mất nợ. Hãy cứ
giả thiết rằng 100 hộ nghèo vay để nuôi bò sữa hay trồng miệt vưòn
mà chỉ có 8 chục hộ trả được sòng phẳng, còn 2 chục hộ trở thành
khó đòi hoặc mất trắng. Thành tích đã đủ vĩ đại chưa? Thiêt đi vài
ba trăm tỉ mà giảm đưọc đủ các loại tội phạm và tệ nạn xã hội,
hỏi có nên mạnh tay hành động hay không?
Nói chuyện văn hóa thì phải lý luận cao xa và bàn cho ra
lý ra lẽ nhưng không thể quên những chuyện thiết thực đời thường. Thật
đáng tiếc khi phải nói ra một điều trái tai: nhiều bài viết trong hội
thảo cũng như trên báo chí hiện nay sa vào lối tư biện, nói chuyện trời
trăng mây nước không giải quyết được vấn đề, không bổ ích gì cho
đời sống văn hóa hiện nay, thậm chí còn sai trái, gây nhiễu tư tưởng
và rất có hại. Phần thì do quan niệm sai, phần thì do dụt dè e sợ.
Đơn cử cái chuyện học trò hành hung thày giáo. Đó là chuyện có thật.
Nhưng thử hỏi bọn naỳ là ai? Thử hỏi những học trò con cái hàng chục
triệu gia đình nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị và gia đình các
cán bộ tử tế có ai dám không tôn sư trọng đạo, có ai dám xúc phạm
các thày, các cô? Có phải hầu hết mấy kẻ láo lếu kia là con nhà có tiền
hoặc có chức có quyền thoái hóa biến chất không? Không chịu điều tra
cho kỹ, không dám vạch mặt lên án, chỉ làm ầm ĩ như sắp sập trời sập
đất. Ăꮠtrộm 5 con vịt thì xử ngay lập tức 5 năm tù; 51 tấn bột ngọt
thì lờ đi; tham nhũng hàng dăm trăm tỉ, hàng nghìn tỉ thì kéo dài hết năm
này sang năm khác cơ hồ như không thể nào xét xử nổi.
Tóm lại, đã mang cái nghiệp cầm bút thì dù viết văn, viết
báo hay viết nghiên cứu cũng cứ là không được phép hèn nhát. Ai cầm
tinh con cáy thì cần sớm chuyển ngành, chuyển nghề. Như thế người xưa
gọi là biết liêm sỉ.
Cho đến nay, dân tộc chúng ta vẫn là một dân tộc sống
có đạo lý chính là vì chúng ta đã hình thành được đạo lý Việt Nam.
Đạo lý Việt nam sở dĩ tốt đẹp là vì trên cơ sở đạo Mẫu, dân tộc
ta biết thu hút tất cả những tinh hoa của Phật giáo, Khổng giáo, Lão
giáo, (GĐ bỏ 3 chữ)v.v...
Thật ra, trong khi thu hút tinh hoa thì không tránh khỏi thâu
nhận cả phần thô tạp, cả những phần tinh hoa không thích hợp cũng sẽ
bị luật đào thải xử lý. Rất tiếc, có những nhóm xã hội, thậm chí
có khi cả một tầng lớp xã hội không nhận thức được điều này nên
cứ khư khư tìm cách giữ lại những gì không thích hợp cho sự phát triển
của cơ thể văn hóa Việt Nam. Thử tưởng tượng xem một cơ thể mà cứ
lưu giữ những chất không thích hợp, thậm chí còn giữ cả những tạp
chất cần đào thải thường xuyên thì cơ thể đó sẽ ở trong tình trạng
như thế nào? Chỉ có sự tự hủy diệt chứ làm gì có sự phát triển.
May mắn thay, qui luật tự nhiên không dung nạp những hiện tượng phi lý
này. Qui luật xã hội cũng thế thôi. Nhưng lợi dụng sự diễn biến chậm
chạp hơn của nó nên nhiều kẻ cứ muốn chống lại một cách vô vọng.
Cần phải có sự đấu tranh gạt bỏ những lực lượng cản trở này để
cho qui luật xã hội có thể diễn ra một cách bình thường, tránh tổn hại
cho văn hóa, cho con người.
Một tình trạng đáng buồn là nhiều người có thiện ý
bàn về văn hóa với mong muốn cho đất nước phát triển nhưng lúc thì rơi
vào tư biẹ⮬ lúc lại rơi vào bất cập. Ai cũng thấy cần phải bảo vệ
bản sắc văn hóa dân tộc nhưng lại không thảo luận cho rõ bản sắc văn
hóa là cái gì ; ai cũng thấy cần phải phát huy truyền thống văn hóa dân
tộc, nhưng phát huy truyền thống nào và không phát huy truyền thống nào
thì lại thiếu sự bàn bạc thẳng thắn để đi đến nhất trí. Về mặt
lý luận thì phần đông nói theo sách vở hoặc nói theo nhau một cách giáo
điều, khuôn sáo.
Còn thực tiễn thì cũng nghiên cứu một cách đại khái. Hội
thảo thì nhiều nhưng kết quả thì rất hạn chế. Rất tiếc còn một số
ít người nghiên cứu nghiêm túc như ông Phan Ngọc thì lại bị những
thiên kiến chi phối, vô tình trở thành người bào chữa không công cho những
gì không đúng.
Ông viết : "Người Việt Nam không phải người Hy Lạp,
người Đức hay người Pháp để tư biện về Thượng đế, linh hồn, tồn
tại, vật chất, ý niệm, cái tuyệt đối. Anh ta đánh giá một học thuyết
theo một tiêu chí duy nhất: nó có giúp Việt Nam bảo vệ được độc lập
và thống nhất không. Điều này giải thích thái độ cực đoan của anh ta
trong tiếp xúc. Anh ta chuyển từ văn hóa Đông Nam Á sang văn hóa Trung Quốc,
văn hóa Pháp, văn hóa Xã hội chủ nghĩa dưới một hình thức gần như
triệt để". Trong lập luận trên, ông Phan Ngọc có một điểm đúng
nhưng tiếc rằng cũng không hoàn toàn đúng. Chẳng lẽ cái tiêu chí duy nhất
mà ông nói chỉ là nhu cầu bảo vệ được độc lập và thống nhất
thôi ư ?
Không! Ngoài nhu cầu độc lập thống nhất, còn khát vọng
dân chủ và tự do thì sao? Mà khát vọng này đâu chỉ đến thời đại Hồ
Chí Minh mới đặt ra. Cứ đọc lại văn thơ thời Lý Trần, đọc lại Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, (GĐ
bỏ 3 chữ) là đủ rõ ngay. (. . .)
Ngày nay, giới nghiên cứu lý luận ở Việt Nam không bàn bạc
vấn đề dân chủ cho thấu tình đạt lý là chưa làm tròn trách nhiệm của
mình.
Thử hỏi bàn về sự phát triển văn hóa Việt Nam mà lại
né tránh khát vọng dân chủ thì ta định bàn chuyện gì ? Hay là chỉ dừng
lại bàn chuyện khăn mũ, áo ngắn áo dài, sì sụp lễ lạy, hội hè đình
đám... Còn chuyện ông Phan Ngọc gọi "người Việt Nam", "anh
ta" cũng là một lối suy nghĩ không đúng. Chẳng lẽ ông lại không hiểu
có mấy thứ người Việt Nam hay sao? Phải phân biệt người Việt Nam thống
trị và người Việt Nam bị trị mới bàn cho hết lẽ được. Cái mà ông
Phan Ngọc gọi là "thái độ cực đoan của anh ta" chuyển hết từ
văn hóa nọ sang văn hóa kia là thái độ của ai? Của bộ phận cầm quyền
hay của bà con nông dân ở làng xã? Trên thực tế, trừ tầng lớp thống
trị, còn tầng lớp bị trị chẳng hề chuyển một cách dễ dàng từ văn
hóa nọ sang văn hóa kia như ông Phan Ngọc tưởng. Tất nhiên, văn hóa
làng cũng có nhiều nhược điểm cần phải khắc phục càng nhanh
càng tốt nhưng cũng phải thấy hết cái ưu việt của văn hóa làng của
Việt Nam ta. Nếu không nhờ có hàng ngàn hàng vạn pháo đài này thì Văn
Lang, Đại Việt xưa, Việt Nam ngày nay lấy gì để trụ vững trước mọi
cuộc xâm lăng đất nước và xâm lăng văn hóa? Nếu thiếu những pháo đài
này và, theo cách nhìn của ông Phan Ngọc là "anh ta chuyển từ văn hóa
nọ sang văn hóa kia một cách triệt để" thì liệu anh ta tồn tại hay
đã 蠴oi lâu rồi ? Tất nhiên, ba vị nho sĩ tùy
thời hay ba kẻ sĩ tân thời mất gốc sức mấy mà biến đổi được nền
văn hóa này.
Theo chúng tôi hiểu, văn hóa Việt Nam có khả năng dung
hóa rất lớn, đề kháng rất mạnh nên dù tiếp nhận
bao thức ăn văn hóa của tứ phương thì dạ dày văn hóa Việt Nam vẫn đồng
hóa chất để biến thành máu thịt văn hóa của riêng mình. Phải cùng
nhau nghiên cứu sức dung hóa này, máu thịt này và cả những tạp
chất văn hóa chưa kịp đào thải mới hy vọng tạo ra một thế phát triển
mới cho văn hóa Việt Nam. Nói khác đi, phải nhận diện một cách chính
xác đâu là bản sắc cốt cách Việt Nam để giữ cho thật vững, đâu là
những lỗi thời cặn bã cần phải đào thải. Và điều quan trọng hơn cả
là phải biết và có gan tiêm cho văn hóa dân tộc những gì đang còn thiếu.
Đây là trách nhiệm của giới nghiên cứu, của giới quản
lý và của tất cả những ai có tâm huyết đối với sự phát triển của
nền văn hóa Việt Nam trong thiên niên kỷ mới.
TP Hồ Chí Minh, 7-7-1998
Trần Khuê – Ng.T.Thanh Xuân
(*) Có thay đổi so với bản viết năm 1998 để tham luận
ở Diễn đàn Liên mạng "Trí thức VN"
***
NGOÀI NƯỚC
GIẬN DỮ VỀ LOẠT BÀI
VIẾT VỀ KINH THÁNH TẠI ANH QUỐC
ROBERT
BARR
Bản dịch : Bùi-đức-An, M.D.
Tờ SAN FRANCISCO EXAMINER số ra ngày 21 tháng 10 năm 1998 vừa
đăng một bài như sau dựa vào bản tin của hãng ASSOCIATED PRESS :
LUÂN-ĐÔN. Những tập sách cá nhân viết về Kinh-Thánh thỉnh
thoảng được kèm theo những lời giới-thiệu bởi những tác giả nổi tiếng,
nhưng nghi-ngờ về những giáo điều trong Kinh-Thánh, đã trở thành đề tài
được bàn cãi nhiều nhất tại Anh quốc , và có người đã đe dọa sẽ
kết tội những sách này là phỉ-báng Thượng-Đế.
Nhà xuất bản Pocket Canons vừa cho ra trong tháng này 12 tập
sách dịch kinh-thánh của vua JAMES ( trị vì nước Anh và Tô-Cách-Lan từ
1603 tới 1625 LND ), bán mỗi tập có $ 1.7 và đang gây ra những tranh cãi
trái ngược nhau .
Có thể đoán rằng dư luận báo chí đặt trọng tâm vào
những lời giới thiệu mang đầy tánh chất khiêu-khích . Tiểu thuyết gia
Will Self tố cáo rằng sách Khải-Huyền là một cuốn sách bệnh hoạn chỉ
quyến-rũ được những kẻ bị bệnh thần kinh. Mục đích đen tối hóa mọi
suy luận tri-thức, sách Khải-Huyền đã gây ra những hậu quả tàn-khốc.
Ngôn-ngữ nguyên thủy đã gắn liền những lời bóng gió với những sự
thật, gắn liền thượng đế với xác thịt, nhưng trong bản dịch của
vua JAMES, cuốn sách trở thành những trò múa rối nhạt phèo, hoặc những
phim kinh-dị để dọa-dẫm. Tiểu thuyếtá gia Will Self , tác giả cuốn
" Con Khỉ Cao Cả " đã viết như vậy.
Trong lời giới thiệu những bức thư của thánh Paul gởi
những người dân thành Corrintho ,tác giả Fay Weldon phàn-nàn rằng thánh
Paul đã đồng hóa một cách đáng giận một đoạn lớn trong Kinh- Thánh với
những lời viết của chính ông ta. Còn tác giả Blake Morrison thì mô tả
JESUS như là một kẻ khó chịu đáng ghét trong lời giới thiệu sách
Phúc-Aâm của thánh John.
Được chú ý nhiều nhất và là cuốn bán chạy nhất là
sách của Job , được trình-bày bởi Louis de Bernieres, tác giả cuốn "
Cây Đàn Của Corelli" . Sau khi gọi Thượng-Đế là một kẻ mánh mung
ngu-xuẩn trong việc trị bịnh cho ông Job đau yếu từ lâu , De Bernieres nói
rằng :" Rất nhiều đoạn trong kinh-thánh chỉ rõ rằng Thượng-Đế có
một bộ mặt rất xấu xa . Và ta chỉ có thể kết-luận rằng hoặc Thượng-Đế
là một kẻ điên-khùng, khát máu, một nhà độc tài không lường trước
được hoặc là trong suốt một thời gian dài, chúng ta đã ngu-xuẩn thờ
phượng một con quỷ.
Những điều này đã chọc tức ông Paul Slennet thuộc nhà
phát hành sách tôn giáo SCB. Ông hủy bỏ hợp-đồng phát hành cho 650 tiệm
bán sách tôn-giáo ở Anh quốc sau khi đã khuyến cáo nhà phát hành Canongate
Books Ltd ở Edinburgh bãi bỏ phát hành một số sách.
Ông viết cho 18500 nhà thờ ở Anh , xúi giáo dân viết thư
cho nhà phát hành Canongate đòi phải bỏ 1 số sách. Ông cũng tìm cách vận
động Ban Điều Hành Kinh Thánh ở Scotland lấy lại môn-bài của nhà
Canongate trong việc phát hành kinh thánh của vua JAMES và còn tìm cả cách
đưa ra tòa kiện về tội phỉ-báng Chúa.
Nhưng một vài lời giới-thiệu sách đã được in lại trên
các báo-chí toàn quốc và các đề-tài đã được bàn cãi công khai trên
các đài truyền thanh và truyền hình.
Claire Paterson, điều hợp viên việc phát hành những bản dịch
kinh thánh của vua James ( từ tiếng Do-Thái ) và những bài giới-thiệu nói
rằng cô không tính chuyện tranh-luận làm chi.
+ Tôi chỉ cần đưa ra một khía cạnh mới của kinh thánh,
cô ta giải-thích. Bản dịch kinh thánh mới là quan-trọng. Những lời giới
thiệu không quan-trọng gì.
Nhà xuất bản Canongate định đưa ra 12 tác phẩm trong loạt
nói về kinh thánh nữa trong năm tới. Họ đã bán bản quyền cho 1 số quốc
gia, kể cả nhà xuất bản Grove Atlantic ở Mỹ. Trong loạt sách mới, phúc
âm sẽ được giới-thiệu bởi BONO, một ca sĩ nổi tiếng nhất về nhạc
Rock, người Aùi-nhĩ- Lan .
Paterson nói rằng những lời phê-bình đã làm người ta quá
chú tâm, quên mất rằng những tác giả giới-thiệu có một điểm chung là
: Họ đều yêu thích kinh thánh của vua James.
Cô ta ghi nhận rằng tiểu thuyết gia Doris Lessing đã nói
trong lời giới-thiệu đến những tu sĩ Gia-Tô rằng : " chúng ta đáng
thương hơn trước rất nhiều. Bởi vì kinh thánh không còn là cuốn sách của
mỗi nhà nũa, và không còn được nghe thấy hàng tuần nữa !"
Chiếc vòng kim cô
Đào Thanh Tú
Đòi hỏi tín đồ Thiên Chúa Giáo yêu nước Việt Nam là một
điều hoàn toàn phi lý và không tưởng. Phi lý vì Vatican là quê hương đích
thực của họ, và vì từ đó họ được hứa hẹn lên Thiên đàng - quê hương
vĩnh cửu đời đời mà Vatican đã vẻ ra cho họ. Đối với Thiên Chúa
giáo, yêu nước là yêu Vatican, là tuyệt đối trung thành với Giáo hội,
là vâng lới người cầm đầu Giáo hội cùng hàng ngũ giáo phẩm tương tự,
như hệ thống cấp bậc trong quân đội - nghĩa là kẻ dưới phải phục tùng
cấp trên, không được thắc mắc. giáo dân được dạy dỗ là phải làm
bất cứ điều gì để mở rộng nước Chúa, dù có phải làm Việt gian cũng
không sao vì đối với họ chỉ có một quê hương là Vatican . Bởi vậy ta
đừng ngạc nhiên khi một chức sắc cao cấp Thiên Chúa giáo VN đã nói thẳng
"Thà phản quốc chứ không bỏ đạo". Tinh thần Việt gian đó đã
được các Linh mục hun đúc giáo dân từ lúc chưa có trí khôn, ăn sâu
vào trong óc qua các nghĩa vụ bắt buộc. Linh mục chỉ được tin vào
Thánh kinh. Giáo dân thì chỉ được nghe theo những gì linh mục rao giảng
có chọn lọc, c8át nghĩa Thánh kinh một cách tuỳ tiện và tuỳ hứng,
trích dẫn lừa lọc những đoạn Thánh kinh nhắm vào chủ đích trong các
buổi lễ ở Nhà thờ. Người Thiên Chúa giáo bị nhồi sọ nên mất hết
khả năng suy nghĩ độc lập. Họ chỉ là những con két lập lại những
gì người khác dạy cho; chỉ việc nhắm mắt nghe theo một cách mù quáng
không cần suy nghĩ, thắc mắc. Tín đồ nào mà vượt ra khỏi khuôn phép
đó thì sẽ bị trừng trị từ nhẹ tới nặng, như bị áp lực tinh thần
của người đồng đạo, răn đe của các linh mục, bị mất phép thông
công, bị khai trừ khỏi Giáo hội, mất chỗ ngồi trên Thiên đàng... Quyền
lực của các giáo phẩm lớn đến mức như ở Việt Nam trước đây là
Linh mục thường đè các giáo dân đánh đòn ở sân Nhà thờ; những nữ
tín đồ bị Linh mục 'làm' cho mang bầu thì cha mẹ cô gái chỉ biết ngậm
ngùi, tự an ủi là được ân sủng của Chúa (tội nghiệp cho ông Giê-su!)
chứ bố bảo cũng chẳng dám đi thưa kiện.
Ngoài bổn phận tuyệt đối vâng lời, tín đồ Thiên Chúa
giáo còn có nghĩa vụ chiêu dụ thêm kẻ tân tòng qua các hình thức gián
tiếp như trong sự ràng buộc tình cảm của hôn hân, công khai như nâng đỡ,
thăng thưởng , bổ nhiệm kẻ có 'đạo' vào các chức vụ chỉ huy, hoặc
trắng trợn hơn là sai gia nô đi ép buộc những người dân quê thấp cổ
bé họng phải bỏ đạo ông bà để đi thờ lạy kẻ khác như ở dưới
thời Ngô đình Diệm-Ngô đình Thục trước đây.
Còn nói về đồng bào, đối với họ chỉ là tập thể nhỏ
các tín đồ TCG, chú không phải toàn thể người Việt Nam; nhưng các linh
mục thường nói một cách hết sức 'ngu xuẩn' như 'thằng ấy ngoại đạo'
để chỉ tín đồ của một ôn giáo khác. "Ngu xuẩn' vì đã xúc phạm
đến ông bà tổ tiên họ - vốn cũng là 'thằng ngoại đạo', trước khi
ngoại nhân áp đặt nền thống trị trê quê hương Việt Nam.
Không tưởng vì Thiên Chúa giáo đã được kẻ ngoại xâm
dùng sức mạnh áp đặt, dụ dỗ, ban đặc ân cho một thiểu số để cai
trị đại đa số người Việt Nam. kẻ phản quốc được vatican tôn phong
là Thánh tử đạo, như mới đây Nguyễn văn Thuận được Vatican ban thưởng
cho chức Hồng y chỉ vì ông ta là cháu của Giám mục Ngô đình Thục, một
kẻ chỉ vì mong được Vatican ban cho chức này mà đã gây nên biết bao tội
ác làm sụp đổ nền Đệ nhất Cộng hòa, gây thảm họa cho cả gia tộc
họ Ngô.
Mặc dù người bác không được ban chức, nhưng Vatican vẫn
ghi công mở rộng nước Chúa để ban cho người cháu - một hình thức
gián tiếp khuyến khích cho các tín đồ trở thành các người Việt chỉ
biết yêu nước Vatican.
Vậy, đòi hỏi người Thiên Chúa giáo yêu thưong nước Việt
là điều hoàn toàn phi lý và không tưởng, vì đối với họ chỉ được
thờ lạy một Chúa, phục vụ một nước, đó là nước Vatican để được
hứa hẹn một chỗ ngồi trên Thiên đàng!
Các lá thư yêu cầu
được công bố của bà giáo sư Minh Anh Hodge
Ngày 26/6/2001
Kính thưa quý vị Đồng Hương,
Kính thưa quý vị Phụ Huynh Học Sinh và Thân Hữu
Tôi, Minh Anh Hodge, viết thư này với lòng biết ơn sâu xa của
tôi đối với toàn thể quý vị phụ huynh học sinh và thân hữu xa gần
trong nhiều tuần qua đã viết thư ủng hộ, gọi điện thoại hỏi thăm, và
bày tỏ sự bất bình khi được tin một nhóm khoảng 40 người biểu tình
trước Nha Học Chánh Tacoma để phản đối tôi dựa vào bài tường thuật
rất phiến diện của ông Ngô Quốc Dân về buổi nói chuyện của tôi tại
Tacoma Community College (TCC) hơn một năm về trước. Được biết cuộc biểu
tình này được ông Lê Văn Thủy và ông Bùi Quốc Hùng phối hợp với BS
Nguyễn Xuân Thìn, chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Tacoma Pierce County và B.S.
Nguyễn Xuân Dũng kêu gọi và tổ chức vào ngày thứ ba, 12 tháng 6, 2001.
Để làm sáng tỏ vấn đề trước công luận, cũng như đáp
ứng lời yêu cầu của những đồng hương, phụ huynh và thân hữu đã hết
lòng lo lắng, và lên tiếng ủng hộ cũng như đã tin tưởng tôi nhiều năm
qua trong sứ mạng giáo dục và phục vụ xã hội cho cộng đồng Việt Nam
tại Tacoma, tôi xin có một vài lời đến quý vị và trình bày rõ bối cảnh
của buổi nói chuyện trên để quý vị có thể nhận định một cách
công bình hơn:
Như quý vị đã biết, trong gần hai tháng qua, vài tuần
báo Việt Nam tại T.B. Washington (Chính Luận, Góp Gió, Việt Báo Miền nam)
và California (Gọi Đàn và Lập Trường) có đăng tải bài tường thuật buổi
nói chuyện của tôi tại trường TCC vào năm ngoái do ông Ngô Quốc Dân
(NQD) ký tên. Tôi thật ngạc nhiên, vì không biết bởi động cơ nào và
không ngờ buổi nói chuyện từ tháng 4 năm 2000 mà mãi đến năm nay (tháng
5, 2001) mới được ông Ngô Quốc Dân gợi lại và tường thuật một cách
hoàn toàn sai lạc sự thật trên các báo chí.
Trong dịp tưởng niệm 25 năm sau ngày miền Nam bị Cộng Sản
cưỡng chiếm, trường Tacoma Community College đã mời tôi nói chuyện về những
thành quả của người Việt Nam sau 25 năm tị nạn. Thay vì tự mình thuyết
trình, tôi đã mời Bác sĩ Nha khoa Rochelle Nguyễn làm diễn giả chính. Mục
đích buổi nói chuyện là nhằm giới thiệu đến thính giả câu chuyện của
một gia đình Việt Nam tị nạn, đã vượt qua những trở ngại về văn hóa,
ngôn ngữ, đời sống và gặt hái được sự thành công rực rỡ nơi quê
hương thứ hai này. Mặc dù sống trên một đất nước triền miên chiến
tranh và giờ đây phải tha hương viễn xứ, người Việt chúng ta luôn
luôn có nghị lực vượt qua được mọi khó khăn để đạt được nhiềụ
thành quả trên mọi mặt. Tôi nghĩ rằng B.S. Nha khoa Rochelle Nguyễn đã là
một tấm gương sáng cho tất cả giới trẻ Việt Nam. Thính giả có thể
rút được những bài học quý giá qua những kinh nghiệm đáng ghi nhớ mà
B.S. Rochelle Nguyễn đã trải qua... Gia đình B.S. Rochelle Nguyễn là tiêu biểu
cho sự thành công của nhiều gia đình người Việt Nam sống trên khắp hải
ngoại nói chung, trên toàn nước Mỹ nói riêng. Và đó là tụ điểm của
đề tài.
Vào phần đầu chương trình, tôi đã giới thiệu ngắn gọn
phần nhập đề của buổi nói chuyện rồi chiếu 12 phóng ảnh gồm những
hình ảnh về biến cố lịch sử đưa đến việc định cư của người tị
nạn Việt Nam trên nước Mỹ nói chung và T.B. Washington nói riêng. Buổi
nói chuyện này hoàn toàn chỉ bằng Anh ngữ, trình bày vấn đề trên phương
diện hoàn toàn khách quan, không phê phán cũng không đề cập đến nguyên
nhân của sự việc. Thời gian tôi trình bày dưới mười lăm (15) phút.
Ông Ngô Quốc Dân, người tường thuật về buổi nói chuyện của chúng
tôi, chỉ đề cập 5 phóng ảnh và đã bỏ quên không nói đến những
hình ảnh khác, ví dụ như : Cảnh thuyền nhân liều chết vượt biên để
chạy nạn Cộng sản cũng như mục đích chính của vấn đề (sự thành
công vượt bực của người tị nạn). Vả lại, không hề có chuyện tôi
đã phụ đề bằng những lời hàm ý phê phán tôn giáo bị đàn áp, vô
pháp luật, thảm sát thường dân và trẻ thơ vô tội. Hơn nữa, các tấm
phóng ảnh mà ông NQD dùng để lên án tôi, hầu hết các em đã từng nhìn
thấy từ những phương tiện truyền thông như TV, Internet và các sách báo
trên khắp các nước tựo. Nó cũng là hình ảnh tài liệu giáo khoa môn
Sử học trong toàn hệ thống học đường Hoa Kỳ.
Như quý vị đã biết, không kể một vài trường hợp đặc
biệt, việc trưng bày một tấm hình hay chiếu một phóng ảnh, tự nó
không có ý nghĩa bao nhiêu. Điều quan trọng là cách giải thích tấm hình
hay phóng ảnh đó. Xin đơn cử một thí dụ về phóng ảnh em bé Kim Phúc bị
thương vì bom Napalm, đang chạy trần truồng trong một cuộc giao chiến ác
liệt tại Trảng Bàng năm 1972. Một người Cộng sản sẽ nắm lấy cơ hội
để lên án đế quốc mỹ và tay sai đã ném bom cháy vào thường dân và
trẻ em vô tội. Một người quốc gia sẽ vạch trần âm mưu thâm độc của
cộng sản luôn ẩn núp phía sau dân chúng, dùng đàn bà, trẻ em làm bia đỡ
đạn. Một người vơi 頴ấm lòng đầy nhân
bản sẽ nói rằng chiến tranh luôn luôn là một thảm họa của nhân loại
và không ai có thể khẳng định là bên nào đúng và bên nào sai. Riêng cô
Kim Phúc, sau hơn hai mươi lăm năm, nhìn lại tấm hình quá khứ đã phát biểu
trong ngày Veteran Day tại Vietnam Memmorial in Washington D.C. khoảng gần hai năm
về trước: "Ngay cả bây giờ, nếu tôi có thể đối diện với
người phi công đã thả bom, tôi sẽ nói với ông rằng chúng ta không thể
thay đổi được lịch sử. Chúng ta chỉ có thể cố gắng làm những việc
tốt đẹp hơn cho hiện tại và tương lai để khuyến khích hòa bình."
Kính thưa quý vị,
Xin quý vị cứ hỏi các con em đã tham dự buổi nói chuyện
ngày 18/4/2000 tại TCC thì rõ thực hư ra sao. Tôi tin chắc đầu óc trong
sáng của các em còn nhớ rõ mọi việc và các em sẽ thẳng thắn xác nhận
việc làm và lời nói của tôi không hề có ý định bôi nhọ cuộc chiến
đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cha, anh của
chính tôi, chống lại Cộng sản độc tài để bảo vệ độc lập tự do
và dân chủ cho Việt Nam. Trái lại tôi đã giữ một thái độ hoàn toàn
khách quan và vô tư, không đưa ra một phán đoán nào. Điều này rất cần
thiết, vì cử tọa hôm đó phần lớn là thành phần trí thức trẻ, đã hấp
thụ một nền giáo dục mới, trên nền tảng tự do tư tưởng. Cần phải
dành cho họ cơ hội để tự do suy xét và rút ra những kết luận thích hợp.
Tôi quan niệm rằng áp đăﴠlên họ những quan điểm này, quan điểm kia
chỉ đem lại kết quả trái ngược, không ích lợi gì. Hơn nữa, như tôi
đã trình bày ở đoạn trên, mục đích của buổi nói chuyện hôm đó là
lời trình bày của Bác Sĩ Rochell Nguyễn về sự thành công của cô cũng
như khuyến khích các em học sinh, sinh viên nên cố gắng học tập chứ
không phải bình luận về chiến tranh Việt Nam.
Buổi nói chuyện của tôi tại TCC đã trôi qua êm đềm
hơn một năm, chìm theo những âu lo của cuộc sống, và được thay thế bằng
biết bao sự việc theo nhịp tiến của văn minh nhân loại. Thật đáng tiếc,
bỗng dưng giơ 覣273;ây ông NQD đem nó ra
phân tích và bóp méo. Có phải ông nghĩ rằng những người tham dự đã
không còn nhớ chính xác những lời tôi nói, để ông có cơ hội phóng đại
hoặc thêm bớt chăng?
Như vậy, có phải chăng ông NQD đã thiếu sót nhiều khi
lên án tôi một cách mập mờ! Ông NQD không có lương tâm để thuật lại
buổi nói chuyện một cách trung thực, hay thực ra ông không hiểu hết nội
dung buổi nói chuyện hoàn toàn bằng Anh ngữ? Xin nhắc lại nguyên văn lời
ông ta viết sau đây: "Vào phần chính của chương trình, bà Minh Anh
Hodge đã trình chiếu năm tấm dương bản (phóng ảnh) về hình ảnh cuộc
chiến tranh Việt Nam với lời phụ đề hàm ý như tôn giáo bị đàn áp,
vô pháp luật, thảm sát thường dân và trẻ thơ vô tội." Thật ra
đây mới chính là những nhận xét riêng của ông Ngô Quốc Dân phóng đại
lời của ông Bùi Quốc Hùng để cố ý khích động mọi người tố cáo
tôi là cộng sản hay thân cộng. Một lời tố cáo nghiêm trọng, nhưng chỉ
dựa trên những luận cứ vu vơ! Ông NQD dùng chữ "hàm ý" để
ông ta có thể gán ghép, chụp mũ bất cứ ai về bất cứ điều gì mà
ông muốn. Ông ta đã cố ý xuyên tạc một cách thâm độc việc làm của
tôi, một việc làm bình thường của một nhà giáo, đã bị ông gán cho tội
tuyên truyền cho cộng sản, bôi nhọ danh dự QLVNCH, thực hiện một chiến
dịch rộng lớn đầu độc tuổi trẻ hải ngoại. Chưa hết, ông khích động
lòng nhiệt tình chống cộng của một số người bằng cách liên kết và
gán ghép việc triển lãm tranh Hồ Chí Minh tại Cali, việc băng video Paris
By Night B 40 (mà tôi chưa hề biết) và những việc không liên quan gì đến
chủ đề của buổi nói chuyện để tạo sự hiểu lầm cho mọi người.
Ông có nhớ chính tôi là người đã đề nghị với ông Hùng nếu muốn kể
tội cộng sản, chúng ta có thể tổ chức riêng một buổi đặc biệt về
vấn đề này? Cũng theo bài viết của ông Dân, ông Bùi Quốc Hùng đã đứng
lên giải thích dài dòng từng bức hình và xuất xứ của nó. Nếu cho rằng
tôi thiếu sót trong việc giải thích, thì ông Hùng đã có cơ hội bổ túc
và thính giả đã được lắng nghe quan điểm của ông trong buổi nói chuyện
kia rồi. Trong một buổi hội thảo, việc bổ túc những ý kiến là thường,
tại sao quý ông phải đợi một năm sau mới đặt điều xuyên tạc chụp
mũ!
Cùng một nỗ lực xuyên tạc đả kích bằng những bài viết
đăng rải rác trên các báo nói trên, BS Nguyễn Xuân Thìn dưới danh nghĩa
chủ tịch ban chấp hành CĐ Tacoma đã công bố bản quyết nghị vào ngày
10/6/2001 để chụp mũ tôi. Trong bản quyết nghị có câu: "Buổi
trình chiếu ngày 18 tháng 4, 2000 được so sánh như buổi "Trưng bày 40
bức tranh Hồ Chí Minh tại Oakland, California, vụ Trần Trường cắm cờ tai
Westminter, California và hiện nay vụ William Joiner Center của trường Đại Học
Boston Massachusetts.", và "..gây nên tình trạng bất ổn trong gia đình
đưa đến xung đột giữa cha mẹ và con cái"!
Tôi thật sựgỡ ngàng và thất vọng khi thấy B.S. Chủ
Tịch Nguyễn Xuân Thìn đã hành sử một cách vội vã và nông cạn. Tôi
thiển nghĩ, là người lãnh đạo , ông cũng nên tìm hiểu sự thật của vấn
đề cả hai phía trước khi vội kết luận sự việc đúng hay sai!. Ông
không hề tiếp xúc với tôi để tôi có cơ hội trình bày vấn đề một
cách trung thực. Hơn nữa, ông không tham dự buổi nói chuyện mà chỉ nghe
theo bài tường thuật một chiều của ông Ngô Quốc Dân mà vội vã đích
thân viết thư lên án, tuyên cáo, sách động biểu tình với mục đích
bôi nhọ cá nhân và triệt hạ uy tín của tôi. Những biểu ngữ trong ngày
biểu tình như " Knock down Minh Anh Hodge" hoặc " Minh Anh
hurt American soldiers who died in Vietnam" đã làm cho một số những người
lãnh đạo các cộng đồng khác (ngay cả những cựu chiến binh Mỹ) phải
khó chịu vì mức độ vô lý của nó và viết thư phê bình công việc làm
trên. Tôi tự hỏi, sự chín chắn của một người lãnh đạo ở đâu và
sự công bằng của người phê phán ở chỗ nào! Tôi thật tình không
trách những người ở ngoài địa phương đã hiểu lầm tôi qua những lời
xuyên tạc thiếu lương tâm của các ông này để rồi cũng viết kiến nghị
biểu đồng tình hoặc viết bài đăng báo qua lời kể không trung thực.
Tuy nhiên, tôi thấy nản lòng vì các cộng đồng bạn lại có dịp chê cười
CĐVN của chúng ta bởi người chủ tịch cộng đồng đã giải quyết vấn
đề không đúng cách. Tôi cũng mong rằng các ông BS Nguyễn Xuân Thìn, BS
Nguyễn Xuân Dũng, Lê Văn Thủy, Bùi Quốc Hùng, Trần Minh và Ngô Quốc Dân
vv.v nên tổ chức chống cộng bằng những hình thức sáng suốt, dân chủ
và chân thành hơn. Hãy chống cộng chứ đừng chống cộng đồng và nhất
là chống những người chân chính hết lòng vì đồng hương cũng như hãy
tôn trọng tự do tư tưởng của những đồng bào hải ngoại.
Kính thưa Quý Vị,
Chúng ta đã phải rời bỏ quê hương vì hai chữ tự do.
Chúng ta còn có quá nhiều việc để làm trong sự xây dựng tương lai cho
những thế hệ kế tiếp. Cũng như quý vị, thảm cảnh chiến tranh đã trực
tiếp ảnh hưởng nhiều đến gia đình tôi. Cha, anh tôi cũng đã tù đày
nhiều năm trong những trại học tập cải tạo, và cộng sản đã tịch
biên hầu hết gia sản của gia đình và bà con của tôi. Tôi nghĩ là,
không ai muốn những thảm cảnh này xảy đến cho con, em chúng ta. Vì vậy,
tận tâm tranh đấu cho nhân quyền, kiếm cách giảm thiểu những bất công
của xã hội và dạy cho các con em chúng ta thế nào là tự do, thế nào là
công lý đúng nghĩa, ấy là việc chung của tất cả mọi người. Tôi
luôn tin tưởng một ngày không xa, nước Việt Nam chúng ta sẽ có một nền
dân chủ thật sự và giới trẻ sẽ là những người lãnh đạo sáng suốt
tài ba. Tôi cũng mong rằng, đừng vì những ganh ghét, tị hiềm cá nhân mà
chụp mũ cộng sản cho những người lương thiện, thủy chung cũng chỉ
làm lợi cho đối phương.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm tạ đến toàn thể
đồng hương, phụ huynh học sinh và thân hữu, đã không sợ áp lực, hết
lòng ủng hộ và thẳng thắn giữ vững lập trường, tin vào sự làm việc
đứng đắn của tôi. Với tất cả lòng kính trọng, tôi cũng xin gởi đến
các em sinh viên, học sinh tham dự buổi nói chuyện nói trên, lời cám ơn nồng
nhiệt khi các em phản ảnh và tán thưởng buổi nói chuyện tại TCC đã
giúp các em hiểu rõ về những khổ đau, thử thách và hy sinh mà cha mẹ
các em dã trải qua trong cuộc chiến Việt Nam cũng như trên bước đường
tị nạn cộng sản. Tôi cũng xin kèm theo đây lá thư của ông
Superintendent, Nha Học Chánh Tacoma gởi đến cho ông Ngô Quốc Dân và BS Nguyễn
Xuân Thìn trả lời những vấn đề liên quan đến buổi hội thảo tại
TCC đã được dịch qua Việt ngữ theo lời yêu cầu của quý vị.
Trân trọng,
Minh Anh Hodge
***
Ngày 8 tháng 6, 2001
Ngô Quốc Dân [906 South Winifred Tacoma, WA 98465]
Kính gửi Ông Ngô:
Tôi đã nhận được hai lá thư của ông. Lá thư đầu tiên
đề ngày 7/5/2001 kèm theo bài báo nói về Tiến Sĩ Minh Anh Hodge, một giám
đốc của Nha Học Chánh Tacoma. Trong lá thư thứ hai đề ngày 25/5/2001 kèm
theo hai lá thư tiếng Việt khác, ông đã khiếu nại về TS Hodge. Cộng
thêm vào đó, ông David Phạm cũng đã mang đến văn phòng của tôi tám lá
thư viết bởi một số thành viên của cộng đồng Việt Nam về ý kiến của
họ dựa theo bài báo. Một trong những lá thư này dường như của một phụ
huynh có con theo học tại trường học thuộc Nha Học Chánh Tacoma.
Chúng tôi được biết ông đã viết một bài báo đăng trên
tờ Lập Trường, xuất bản ở San Jose, California. Trong bài báo này, ông đã
phản đối TS Hodge trong việc xử dụng 5 phóng ảnh trong một buổi nói
chuyện tại Tacoma Community College (TCC) vào ngày 18/4/2000. Theo quan điểm của
ông, năm phóng ảnh trình chiếu phản ảnh sự ủng hộ của TS Hodge đối
với chính phủ cộng sản hiện thời của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam và nhằm ý định xúi giục sinh viên Việt Nam phản đối lại phụ
huynh của họ bằng cách đặt vấn đề về quan điểm chính trị của phụ
huynh mình.
Tôi đã nói chuyện với TS Hodge về những sự khiếu nại
của ông cũng như những người viết thư trên. Sau đây là phần nhận định
của tôi:
1. Tiến Sĩ Hodge được mời thuyết trình vào ngày tưởng
niệm 25 năm ngày sụp đổ của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa. Thay vì tự
mình thuyết trình, bà có mời Bác Sĩ Nha Khoa Rochelle Nguyễn, một nha sĩ vùng
Renton làm diễn giả chính. Mục tiêu của buổi nói chuyện là giới thiệu
đến thính giả câu chuyện của một gia đình Việt Nam đã vượt qua những
trở ngại về văn hóa, ngôn ngữ, đời sống và đã thành công ở đất
nước mới của họ. TS Hodge nghĩ rằng BS Nguyễn đã là một tấm gương sáng
cho tất cả giới trẻ Việt Nam và thính giả có thể rút được những bài
học quý giá qua những kinh nghiệm đáng ghi nhớ mà Dr. Nguyễn đã trải
qua không kể quá trình của họ. Buổi nói chuyện này có tính cách công cộng
và phần trình bày của TS Hodge ngắn gọn không quá 15 phút.
2. Tiến Sĩ Hodge đã dùng một số hình ảnh để thảo luận
về biến cố lịch sử đưa đến việc định cư của người Việt tị nạn
tại TB Washington. Sự trình bày của TS Hodge hoàn toàn khách quan không phê
phán. Bà ta nói rằng bà không chỉ trích một tập thể nào cũng như không
đề cập đến nguyên nhân của cuộc chiến. Ngoài 5 phóng ảnh mà ông phản
đối. TS Hodge còn chiếu những hình ảnh khác về những thảm cảnh của
chiến tranh mà người Việt cũng như người Mỹ đã phải gánh chịu những
hậu quả. Tôi được biết những hình ảnh này đã xuất hiện nhiều lần
trên báo chí và cũng là một phần trong tài liệu giáo khoa môn Sử học
trong hệ thống học đường Mỹ.
3. Tiến Sĩ Hodge là một nhà giáo; phi chính trị nơi làm việc.
Bà ta cho tôi biết bà không hề có liên hệ với Đảng Cộng Sản. Tuy nhiên,
nếu có đi chăng nữa, thì đó cũng không phải là vấn đề cho tôi hoặc
cho Nha Học Chánh. Như ông biết, ở nước Mỹ mọi chính kiến đều được
tôn trọng và quyền tự do ngôn luận được hiến pháp Mỹ bảo vệ. Nha Học
Chánh hoàn toàn tuân theo chính sách đối ngoại của chính phủ Mỹ. Ông cũng
cần biết rằng một số sinh viên tham dự buổi nói chuyện nói trên đã
phản ảnh với TS Hodge rằng họ rất tán thưởng những tài liệu trình
bày đã giúp họ tri ân và hiểu rõ về những khổ đau mà cha mẹ họ đã
từng trải trong cuộc chiến vừa qua.
4. Trong lá thư đề ngày 25/5/2001 ông đã buộc tội TS Hodge
lợi dụng một số người trong cộng đồng Việt Nam viết thư phỉ báng
ông và gia đình cũng như những cá nhân khác. Đây là lời tố cáo rất
nghiêm trọng. Tôi đoán rằng ông phải có những chứng cớ cụ thể để
biện minh nếu ông muốn khiếu nại với những giới chức hữu quyền. Đây
là việc cá nhân giữa ông và TS Hodge. Tôi không có thẩm quyền giải quyết
cũng như sẽ không thảo luận vấn đề này với TS Hodge.
Cám ơn ông Ngô về những tin tức ông gởi đến và tôi
tin tưởng rằng những điều tôi trả lời những lá thư của ông đã rất
đầy đủ.
Trân trọng,
James F. Shoemake
Sao gởi: David Pham
Dr. Thin Xuan Nguyen & Dr. Minh Anh Hodge
***
Ngày 4/7/2001
Kính gửi: Quý Chủ Nhiệm Báo: Chính Luận (Ông Lê Điền),
Phương Đông (Ông Võ Thành Đông), Người Việt Tây Bắc (Ông Phạm Kim)
Kính thưa Quý Chủ Nhiệm,
Theo như buổi điện đàm với Quý Báo chiều hôm qua, tôi
xin gởi kèm theo đây lá thư của tôi và lá thư của ông tổng giám đốc
Nha Học Chánh Tacoma (bản Việt và Anh ngữ) nhờ Quý Báo đăng tải vào tuần
này. Tôi rất cám ơn Quý Chủ Nhiệm đã bằng lòng cho tôi cơ hội dùng
quyền trả lời để làm sáng tỏ vấn đề trước công luận. Nếu có
the, 堸in quý báo cho đăng vào vị trí mà quý
báo đã cho đăng bài đả kích tôi.
Lệ phí đăng báo nếu có xin vui lòng cho tôi biết để tôi
gởi đến Quý Báo. Một lần nữa, xin quý vị nhận nơi đây sự cảm
kích của tôi.
Trân trọng,
Minh Anh Hodge

|
©Thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài viết cho mục này, xin gởi attachment về
email: tochucgiaodiem@yahoo.com |
|
|
. |
.......... |