-
"Công Giáo Trên Bờ Vực
Thẳm"
Charlie Nguyễn
PHẦN HAI: SÁCH KINH
CÔNG GIÁO VÀ TÁC HẠI CỦA NÓ
- Vài lời tâm huyết của tác giả :
- Đây là bản thảo trên computer do tôi in ra để gửi
đến một số giới chức cao cấp hữu trách của Giáo hội Công Giáo có
liên quan trực tiếp đến những vấn đề đã được nêu ra trong bản thảo
này. Mặc dầu Giới Tu Sĩ Công Giáo Việt Nam nói chung là đối tượng phê
bình chính yếu tôi nhắm tới, nhưng tôi không coi họ là thù địch. Nhiều
người trong họ vẫn luôn luôn là những người bạn thân thiết và là anh
em ruột thịt của tôi. Tôi chỉ ước mong các anh em bạn hữu Công Giáo
và xin quý vị hãy coi đây như một bản tường trình giải bày tâm sự của
tôi đến quý vị. Đứng trên cương vị quốc gia dân tộc thì đây là một
việc "đóng cửa bảo nhau". Nếu chỉ đứng trên lập trường thuần
túy tôn giáo thì đây là một hành vi "mở cửa bảo nhau", nhưng dầu
sao chăng nữa tôi với quý vị Tu Sĩ Công Giáo vẫn là "người nhà"
với nhau mà thôi. Chẳng qua nói thật mất lòng chứ tôi không hề có một
thù oán riêng tư nào với quí vị. Tôi chỉ chống lại những điều sai trái
của Giáo Hội Công Giáo chứ tôi không chống đồng bào Công Giáo, trong đó
có tổ tiên, ông bà cha mẹ, vợ con, anh chị em ruột thịt, bà con dòng họ
thân thích nội ngoại và 95% bạn bè thân thiết của tôi đều là Ki Tô Hữu!
Tôi cũng xin thú thật là tuy tôi
sinh ra và lớn lên trong gia đình Công Giáo nhưng Giáo Hội Công Giáo lại
là thứ tôi vô cùng khinh bỉ, tôi căm ghét nó hơn hết mọi thứ trên đời
này. Trong thời đại hiện nay, thiết tưởng tôi chẳng cần nói ra, quý vị
cũng hiểu tại sao tôi lại khinh bỉ ghê tởm đạo Công Giáo đến như vậy.
Người Cộng Sản bỏ tù và hành hạ thân xác tôi gần mười năm, tuy tôi
không ưa chủ nghĩa độc tài Cộng Sản nhưng tôi không cảm thấy căm thù
họ. Trái lại, đạo Công Giáo chẳng làm gì tôi nhưng tôi ước mong
lương tri và lương tâm nhân loại hãy vì sự an lạc và hạnh phúc của
con người mà trừ tiệt nó trên toàn thể thế giới sớm ngày nào hay
ngày ấy. Đó là nguyện vọng tha thiết nhất suốt cả đời tôi. Tôi
luôn luôn sẵn sàng hy sinh để chống lại tà đạo Công Giáo La Mã. Tôi
coi đây như một sứ mạng thiêng liêng mà "Thượng Đế" muốn tôi
góp phần dự vào. "CHIRISTIAN BY BIRTH, ANTI-CHRIST BY CHOICE". Nói như vậy
không có nghĩa là tôi thù ghét hết những người theo đạo Công Giáo. Tôi
chẳng bao giờ mong tất cả những người thân của tôi kể trên trở
thành các "Thánh Tử Đạo" Việt Nam. Hơn nữa, gia tộc nội ngoại
của tôi đã có quá nhiều các Ông "Thánh" , Bà "Thánh Tử Đạo"
rồi, tôi không muốn có thêm một ông thánh hay bà thánh tử đạo nào nữa.
Tôi chỉ có một tâm nguyện thiết
tha là phục vụ lợi ích chung của dân tộc, không phân biệt lương giáo.
Bởi lẽ dù lương hay giáo, chúng ta đều là người Việt Nam. Dù lương
hay giáo, chúng ta đều có chung một di sản văn hóa vô cùng quý giá của tổ
tiên để lại nên chúng ta phải cùng nhau ra sức bảo tồn và phát huy. Nền
văn hóa nhân bản truyền thống của dân tộc là Quốc Đạo của chúng ta.
Tam giáo Phật-Khổng-Lão và Công Giáo đều là những sản phẩm văn hóa
ngoại nhập. Các tôn giáo ngoại nhập sẽ hữu ích nếu chúng ta chỉ coi
chúng như những món trang sức phụ thuộc bổ khuyết cho Quốc đạo của
chúng ta mà thôi. Nếu chúng ta coi một trong những tôn giáo ngoại nhập là
chân lý tuyệt đối là chúng ta sẽ trở thành những kẻ cuồng tín vọng
bản, đắc tội phản quốc và nhất định sẽ bị toàn dân Việt Nam anh
hùng bất khuất trừng trị đích đáng. Mọi tên Việt gian phản quốc đội
lốt tôn giáo nhất định sẽ không còn đất sống trên quê hương Tổ quốc
mình.
Xin đừng để những món hàng tôn
giáo ngoại nhập chia rẻ chúng ta và gây họa cho đồng bào ruột thịt của
mình, nhất là trong thời kỳ đất nước bước vào giai đoạn phát triển.
Mọi ý kiến trình bày ở đây đều chưa thật sự phản ảnh lập trường
của tôi vì chính tôi cũng chưa hài lòng với những điều mình đã viết
ra đây. Tôi rất mong sự hợp tác đóng góp ý kiến của toàn thể các vị
nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước để chúng ta cùng chung sức trong nghĩa
vụ thiêng liêng đối với Dân Tộc và Tổ Quốc Việt Nam. Sau hết, tôi
xin minh xác một điều quan trọng: việc viết tài liệu này đơn thuần là
một hành hành vi tự phát của tôi. Tôi không hề nghe một ai xúi biểu và
cũng chẳng đại diện cho một phe phái chính trị hay tôn giáo nào. Tôi
hoàn toàn độc lập từ đầu đến chân và chỉ riêng một mình tôi chịu
trách nhiệm về những điều tôi phát biểu ở đây, tuyệt đối không
liên hệ tới bất cứ một người thứ hai nào khác.
- Trân trọng kính chào
- Hoa Kỳ, tháng 3 năm 2001.
Tôn trọng ý kiến của tác giả,
chúng tôi kèm theo đây địa chỉ của ông để độc giả có thể gởi thư
nếu cần. Lúc gởi thư cho tác giả, nếu được, xin quí vị cho Giao Điểm
một bản copy.
- Charlie Nguyễn
- (PO Box 0473, ALIEF, TX 77411-0473)
1. VẤN ĐỀ TRÁCH
NHIỆM của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
Mỗi giáo phận Công Giáo thường có
một cuốn sách sưu tập các bài kinh do giáo hội soạn sẵn để giáo dân
đọc mỗi khi cầu nguyện tại nhà hoặc đọc chung tại nhà thờ. Sách sưu
tập các bài kinh này được gọi là Sách Kinh Nguyện (prayer-book). Các sách
kinh nguyện gồm có phần lớn là các bài kinh đọc quanh năm gọi là Toàn
Niên Kinh Nguyện. Một số bài kinh đặc biệt khác để đọc theo mùa (mùa
chay, mùa Giáng Sinh, tháng Đức Mẹ, tháng Trái Tim Chúa v.v...). Các sách
kinh nguyện được xuất bản và lưu hành trong mỗi giáo phận luôn luôn phải
có phép chuẩn y của giám mục hay tổng giám mục quản nhiệm. Sự chuẩn
y này thường được ghi bằng tiếng La tinh (Imprimatur; Imprimi potest; Nihil
Obstat) chẳng hạn như ở trang đầu sách kinh Nhựt Khóa của Tổng giáo phận
Saigon có ghi:
- Imprimatur
- Saigon, die 19 mensis martu 1971
- Paulus NGUYỄN VĂN BÌNH
- Archiepiscopus de Saigon
Sách Kinh Nguyện của các địa phận
có thể khác nhau về ngôn ngữ địa phương hoặc có một số bài kinh được
in trong sách của địa phương này mà không được in trong sách của địa
phận khác, nhưng về mặt nội dung thì tất cả các sách kinh nguyện đều
đồng nhất. Theo thư của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn in trong phần đầu sách
toàn niên Kinh nguyện Bùi Chu thì nội dung của các sách kinh nguyện đã
được minh định là đồng nhất trong cuộc họp của toàn thể các Giám mục
Huế năm 1924.
Để dẫn chứng về trách nhiệm
của hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú ý đến sách
"Linh Địa La Vang" của Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc, được
xuất bản lần đầu tại Việt Nam với sự chuẩn y của Tổng Đại Diện
Tòa Giám Mục Huế ngày 13.4.1970 và được tái bản năm 1978 tại Hoa Kỳ do
Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ, thuộc Dòng Đồng Công ở Missouri (P.O. Box 836
– Carthage MO. 64838). Sách LĐLV đã được viết ra một cách rất tự
nhiên, bộc lộ nguyên vẹn tim gan sâu kín của giới tu sĩ Công Giáo Việt
Nam. Cuốn sách này đã được giới chức có thẩm quyền theo giáo luật
cho phép và đã được Dòng Đồng Công hải ngoại cho tái bản. Ngoài việc
sách này cho biết thêm chi tiết về hội đồng san định các kinh nguyện,
nó còn cho chúng ta biết rất nhiều điều đáng ghi nhận về trách nhiệm
của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Theo sách Linh Địa La Vang (LĐLV), Hội
Đồng sửa kinh đã cùng nhau làm việc trong ba tuần lễ, từ 28 tháng 4 đến
17 tháng 5 1924. Ngày 19 tháng 5.1924, Hội Đồng Sửa Kinh đã đến viếng
"thánh địa" La Vang bằng xe hơi của Nguyễn Hữu Bài (Lại-Bộ
Tham-Biện Cơ-Mật tức Bộ trưởng Nội vụ của chính phủ Nam triều thời
Pháp thuộc) cùng với Giám mục Lemasle cai quản địa phận Huế thời đó
(trang 147).
Năm 1885, triều đình Huế thất thủ.
Năm 1886, Giám mục Sohier ỷ vào thế lực thực dân Pháp trưng đất của dân
làng Thanh Tấn và Ba Trục thuộc tỉnh Quảng Trị để mở mang linh địa
La Vang (LĐLV trang 48). Tại đây có một ngôi chùa dưới gốc cây đa trong rừng
Lá Vằng đã được dân làng xây dựng từ đầu đời vua Minh Mạng. Dân
Công Giáo đến phá chùa để cướp đất và họ đã làm những bài vè
khá dài kể về việc này. Có điều là họ cho rằng người phá chùa
là Đức Mẹ linh thiêng chứ không phải người thường. Bài vè này đến
nay vẫn được giáo dân La Vang truyền tụng, Linh Mục Xitanio Nguyễn Văn Ngọc
ghi lại vài vè khá dài (Tr. 39-46), trong đó nhưng đoạn như sau:
- "Rằng Phật rằng Thần lao đao
- Có Bà bên đạo phép cao lạ lùng
- Bà vào Bà đánh tứ tung
- Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài
- Tiếng Bà thật đã linh oai
- Lư hương bát đất đền đài đều hư... (LĐLV
tr. 40-41)
- Chốn này là chốn Chúa bà
- Cho nên thần Phật Quỉ Ma kiêng dè... (LĐLV,
tr. 45).
Ngôi chùa đã được biến thành
nhà thờ Công Giáo từ đó. Đây là thánh đường đầu tiên tại La Vang nơi
chính Đức Mẹ đã hiện ra . [ Người ta phao tin như thế.]
(Tên cũ Lá Vằng được đổi
thành La Vang có lẽ do các giáo sĩ người pháp viết như vậy trong các văn
kiện nói về Lá Vằng – Ghi chú của Charlie Nguyễn). Từ khi ở linh địa
La Vang có nhà thờ đầu tiên thì sự tích Đức Mẹ hiện ra được thông
báo đi khắp nơi bằng giấy mực của giáo quyền và chính quyền thực
dân. Bài vè có ghi chép:
- Các người đều lãnh thơ đi
- Kẻ thời ra Nghệ, người đi Kinh thành
- Nghe thơ kể việc rành rành
- Thảy đểu khen ngợi thanh danh Đức Bà
- Tiếng đồn chóng thổi gần xa
- Thông qua biển cả huống là non sông...(LĐLV, tr.
43-44)
Năm 1939, Đức Khâm Mạng Tòa Thánh
Drapier gửi thông báo cho toàn thể Đông Dương chọn ngày 30 tháng 6 Dương
lịch là ngày lễ hai thánh Phê-rô và Phao-lô làm lễ cầu an khắp nơi và
sẽ tổ chức một cuộc rước kiệu thật lớn tại đền thờ Đức Mẹ
La Vang. Phủ Toàn Quyền cũng thông sức khắp nơi cho các công nhân (viên
chức nhà nước) phải đi lễ vào ngày nói trên (LĐLV, tr. 81). Mọi
cuộc lễ tại La Vang bị tạm ngưng do Thế chiến 1939-1945. Sau khi Pháp trở
lại Việt Nam, ngày 12.9.1946, lễ kính Đức Mẹ La Vang lại được cử hành.
Hôm đó có bà Vĩnh Thụy tức Nam Phương Hoàng Hậu đi xe hơi từ Huế ra tận
La Vang để dự lễ cầu an (LĐLV, tr. 82)
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN)
được chính thức thành lập do Sắc chỉ ngày 24.11.1960 của Giáo Hoàng
Gioan XXII. Ngày 18.12.1960, HĐGMVN tổ chức đại lễ tạ ơn Tòa Thánh tại
nhà thờ lớn Saigon với sự tham dự của toàn bộ các giới chức cao cấp
của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Chính hôm
ấy, HĐGMVN và chính phủ Diệm đã quyết định việc dâng hiến tổ
quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ (mà đại
diện độc quyền chính thức của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ
trên trái đất này là Vatican – chú thích của Charlie Nguyễn) đồng thời
khấn hứa sẽ xây dựng một đền thờ dâng kính Trái Tim Đức Mẹ tại
La Vang. Nhà thờ La Vang sẽ được gọi là "Đền Thờ Toàn Quốc dâng
kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ" và "Linh Địa" La Vang sẽ
được gọi là "Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc". Ngày 8.8.1961, HĐGMVN
họp tại Đà Lạt đã quyết định như sau:
- Bàn thờ chính tại nhà thờ
Lavang sẽ được gọi là "Bàn thờ dâng hiến giáo hội và Tổ
Quốc Việt Nam, cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ" và 3 bàn thờ phụ
để dâng kính Các Thành Tử Đạo của 3 miền Việt Nam. Các bàn thờ đều
được làm bằng đá cẩm thạch lấy từ vùng núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn)
để tượng trưng cho Non Nước Việt nam.
- Một công trường rộng lớn, ở
giữa lễ đài được xây dựng kiểu Đài Nam Giao của triều đình Huế để
dùng vào những ngày lễ hội (tương tự như lễ hội tế Nam Giao của các
vua nhà Nguyễn).
Ngày 20.7.1961, TGM Ngô Đình Thục viết
lời phi lộ trên tờ Nguyệt San Đức Mẹ La Vang số 1 nhấn mạnh: "La
Vang là của chung toàn thể quốc dân Việt Nam, cả lương lẫn giáo".
Ngày 1.6.1961, TGM Ngô Đình Thục thay mặt HĐGMVN gửi hiệu triệu đi toàn
quốc như sau: "Ta vui mừng ban phép và dạy tổ chức Đại Hội kính
Đức Mẹ La Vang năm 1961". Nha Chiến Tranh Tâm Lý của chính phủ VNCH được
lệnh quyên tiền của đồng bào từ Nam chí Bắc không phân biệt lương
giáo. Linh Địa La Vang, tr. 103-109).
Danh tiếng Linh Địa La Vang còn được
tung ra khắp năm châu nhờ cuộc phát hành Bưu Hoa Đức Mẹ La Vang. Lần đầu
tiên trong lịch sử Bưu Chính Việt Nam, một con tem với đề tài tôn giáo
Đức Mẹ La Vang được Phát hành ngày song thất 7.7.1962. Trước đây, giới
sưu tập đã có dịp thưởng thức những loại tem thắng cảnh như nhà thờ
chính tòa Phủ Cam Huế (1958), tháp Thiên Mụ (1959), qua năm 1964, tem Giáo Sĩ
Đắc Lộ. Hôm nay họ lại có dịp sưu tập những cánh tem Bưu Chính mang
chân dung Mẹ từ ái của Việt Nam: Đức Mẹ La Vang.
Phóng viên Nhật Báo Viễn Đông
Journal d’Extrême Orient mô tả sự tấp nập tại công thự Bưu điện
Saigon trong buổi phát hành tem thơ Đức Mẹ La Vang: Sáng nay, 7.7.1962, ngay từ
khi mới mở các ghi-sê, hàng ngàn người thuộc đủ quốc tịch đã tràn
ngập bưu sảnh Saigon, những linh mục, chủng sinh, sinh viên, học sinh, để
mua những con tem mới dâng kính đức Mẹ La Vang do sở Bưu điện phát
hành. Tổng Hội Những Người Công Giáo Ái Mộ Tem Thơ (Association Catholique
des Amis du Timbre) đã cho biết rằng họ rất yêu mến loại tem Đức Mẹ La
Vang của Việt Nam vì tính các lịch sử cũng như công trình ấn loát của
loại tem ấy...Tem thơ Đức Mẹ La Vang mang chân dung Đức Mẹ đặt Chúa
Hài Đồng trên địa cầu, phía sau là mấy bụi trúc tốt tươi nằm bên cạnh
Mẹ, đó là quốc huy của nước Việt Nam Công Hòa" (Linh Địa
La Vang 133-134 - Điều này ngụ ý thế quyền Việt Nam Cộng Hòa phải phục
tòng thần quyền là HĐGMVN – chú thích của Charlie Nguyễn).
Đức Hồng y giáo chủ Hoa kỳ
Francis Spellman đã đến thăm Linh địa La Vang ngày 7.1.1955 và làm lễ nơi bàn
thờ Đức Mẹ. Ngài tuyên bố "Tôi cầu nguyện và tôi tin chắc Đức
Mẹ La Vang sẽ thắng" không nói rõ "ai thắng ai" – LĐLV,
tr. 138). Hồng y Agagianian, Đặc sứ Toàn quyền Tòa Thánh đến thăm La
Vang ngày 21.2.1959, Ngài tuyên bố: "Tôi khẩn khoản nài xin lòng nhân
lành Thiên Chúa sẽ đổ xuống như mưa trên trời cho giáo hội và dân tộc
Việt Nam để vinh danh Chúa Ki-tô Vua, để sáng danh giáo hội Công Giáo là
Mẹ lành, hầu nên một đoàn chiên dưới sự điều khiển của một chủ
chiên" (LĐLV, 139-140: Từ ngữ Công Giáo "nên một đoàn
chiên" có nghĩa là cả nước VN sẽ trở thành toàn tòng Công Giáo –
Ch. N).
Hơn một thế kỷ qua kể từ khi
Đức Mẹ "hiện ra" tại La Vang, linh địa La Vang vẫn khiêm tốn nằm
giữa cảnh rừng hoang núi vắng không mấy ai được biết. Trong thời gian
lâu dài trên, đoàn con của Đức Mẹ sống quằn quại giữa những kỳ cấm
đạo liên tiếp và bao biến cố chính trị xáo trộn. Vì thế, các Đức
Giám mục Bề trên của địa phận Huế lúc bấy giờ như Đức Cha
Labarielle, Đức Cha Tabert, Đức Cha Á Thánh Cuénot, Đức Cha Pellerin, Đức
Cha Sohier và Đức Cha Ponviane phải im hơi lặng tiếng đối với Linh Địa
La Vang.
Trái lại, trong thời gian việc
đạo được bằng an phồn thịnh từ 1886 đến 1963, La Vang được lớn
hơn, được đẹp hơn và được sùng mộ hơn. Trước tiên là do sự lo lắng
của các Đức Cha Địa phận như Đức Cha Gaspar, Đức Cha Allys, Đức Cha
Chobanon, Đức Cha Lemasle, Đức Cha Urritia và Đức Tổng Giám mục Ngô Đình
Thục... Các đấng vì lòng thành kính Đức Mẹ La Vang đã nỗ lực tô điểm
La Vang bằng tinh thần và bằng vật chất để Linh địa La Vang trở thành
giáo đô của một dân tộc. Các Đức Giám Mục gốc Bình Trị Thiên rất
sùng kính Đức Mẹ La Vang như Đức Cha Đominico Hồ Ngọc Cẩn, Đức Cha Phêrô
Ngô Đình Thục, Đức Cha Anselmo Lê Hữu Từ, Đức Cha Simon Hòa Hiền và Đức
Cha Phancixô Xavie Nguyễn Văn Thuận... (LĐLV 143-144 – xin lưu ý danh từ
"Giáo Đô" Ch. N.)
Cụ Ngô Đình Diệm sinh ngày
3.01.1901 tại Huế, trong gia dình Công Giáo kỳ cựu. Nguyên quán làng Đại
Phong (Quảng Bình). Trú quán tại làng Phương Quả (Thừa Thiên). Đến 20 tuổi
đã vào trường Hành chánh làm tri phủ Hải Lăng nơi có thánh địa La
Vang, ở gần nhà thờ La Vang một thời gian thì ông phải xa nhà Đức Mẹ
mà đi làm Tổng đốc Bình Thuận, rồi ông lại trở về Huế giữ chức
Thượng thư Bộ Lại... Đến ngày 27.1.1955, cụ Ngô trở về nước với chức
thủ tướng chính phủ... Từ khi lên làm Tổng thống (10.1955), cụ Ngô mỗi
năm đều ra Quảng Trị, việc đầu tiên là cụ tới La Vang để cầu khẩn
Đức Mẹ. Chẳng hạn như ngày 18.6.1961, sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời,
cụ đến viếng đền Mẹ La Vang với một cử chỉ đạo đức tỏ lòng
thành kính Đức Mẹ đặc biệt. Đoàn xe dừng lại ở đầu đường trải
nhựa, cụ xuống xe, cởi giầy từ đó đi chân không đến cửa để thờ...
(LĐLV, 134-135).
Ngày 8.8.1961, HĐGMVN quyết định
tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc kéo dài ba năm. Lễ Bế Mạc trọng
thể dự tính sẽ được tổ chức vào tháng 8.1964 dưới sự chủ tọa của
một Đức Hồng Y đại diện Tòa Thánh. Đức Cha Ngô Đình Thục được
HĐGM đề cử đứng ra khẩn xin Tòa Thánh chấp thuận đề nghị cử Đức
Hồng Y Agaginian, bộ trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo sang Việt Nam chủ tọa
đại lễ này. Nhưng Công Đồng Vatican II họp tại La Mã tháng 10.1963 đã
bác bỏ đề nghị của TGM Ngô Đình Thục và ra lệnh hoãn Đại Hội Thánh
Mẫu Toàn Quốc tại La Vang vô thời hạn (LĐLV, tr. 124-125)"
Mấy trang sách nói trên cũng cho chúng
ta nhận thức được vai trò hết sức quan trọng của HĐGMVN đối với vận
mệnh đất nước như thế nào. Vai trò của HĐGM lại càng trở nên quan yếu
hơn nữa trong một quốc gia có chính quyền nằm trong tay người Công Giáo.
Những trang sách này cũng là những bằng cớ lịch sử không thể chối
cãi chứng tỏ HĐGMVN và chế độ Diệm đã có quyết tâm biến Công Giáo
thành quốc giáo. Đó là ước mơ sâu kín và mãnh liệt nhất của hàng
giáo phẩm và giáo dân cuồng tín Việt Nam. Ước mơ thấy được thể hiện
thường xuyên trong các lời kinh cầu nguyện. Xin quý độc giả cứ lật mấy
cuốn sách kinh nguyện Công Giáo Việt ngữ ra đọc sẽ thấy nhan nhản những
bằng cớ cụ thể. Trong suốt thời gian Pháp thuộc, các giáo sĩ Tây Phương
vẫn cố gieo vào đầu óc các tu sĩ và giáo dân Việt Nam một "châm
ngôn nô lệ" nổi tiếng: "Nước Pháp là trưởng nữ Hội Thánh
và là Mẹ Việt Nam" (France, fille ainée de l’Eglise, mère du Việt
Nam). Nhiều tài liệu lịch sử đã chứng minh TGM Ngô Đình Thục rất
trung thành với thực dân Pháp. Tổng giám mục Ngô Đình Thục và HĐGMVN đã
cố gắng hết sức mình để thực hiện "châm ngôn nô lệ" nói
trên trong suốt thời gian Ngô Đình Diệm làm tổng thống Việt Nam Cộng
Hòa.
Sự thật lịch sử là Giáo quyền
Công Giáo do HĐGMVN đứng đầu và Thế quyền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt
Nam, do Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã phối hợp chặt chẽ với nhau trong
âm mưu hiến dâng tổ quốc Việt Nam cho bọn thực dân đế quốc. Nếu
không có chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, nếu không có cuộc đảo
chánh thành công của phe cấp tiến tại Vatican trong Tháng Mười năm 1962 (Công
Đồng Vatican II khai mạc vào tháng Mười năm 1962 là một cuộc đảo chánh
thành công của phe Công Giáo Cấp Tiến Âu Châu loại trừ phe bảo thủ của
giáo hội do Pio XII và Spellman lãnh đạo. Phe bảo thủ Công Giáo này chính
là siêu quyền lực quốc tế cũ đã đưa Kennedy gốc Công Giáo Ái Nhĩ Lan
và thầy tu Diệm lên nắm chính quyền tại Mỹ và Việt Nam). Nhất là nếu
không có cuộc Cách Mạng 1.11.1963 thì Tổ Quốc Việt Nam có thể đã bị
xóa bỏ vĩnh viễn. Lịch sử thế giới đã chứng minh không có một chế
độ độc tài nào khủng khiếp và nham hiểm cho bằng độc tài Công Giáo.
Một khi Công Giáo đã trở thành quốc giáo thì "châm ngôn nô lệ"
nói trên sẽ thành hiện thực. Bọn thực dân đế quốc chỉ mong đợi Việt
Nam trở thành toàn tòng Công Giáo thì nước pháp sẽ chính thức là mẹ của
Việt Nam, tất nhiên Vatican sẽ là bà ngoại của dân tộc ta! Các tôn giáo
khác nhất định sẽ bị tiêu diệt và mọi truyền thống văn hóa tốt đẹp
của dân tộc sẽ không còn. Một khi Văn Hóa truyền thông bị tiêu diệt
thì dân tộc ta chỉ còn là cái xác không hồn. Có nhận thức được điều
này mới thấy rõ Công Giáo là đại họa khủng khiếp nhất của dân tộc
ta từ trước đến nay.
Trong "Vatican Thú Tội và Xin
Lỗi" giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang đã viết: "Giáo hội
La Mã đã liên kết chặt chẽ với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Pháp, Phát xít Ý, Đức Quốc Xã trong việc đánh chiếm các đất
đai tại lục địa Phi, Mỹ và Á Châu để củng cố quyền lực và thực
thi chính sách bất khoan dung "diệt tận gốc rễ" tất cả các tôn
giáo và văn hóa khác mà Giáo Hội đã quyết tâm theo đuổi từ ngàn xưa.
Tất cả những sự kiện trên đều cho chúng ta thấy rằng Vatican là một
đế quốc thực dân xâm lược thâm độc nhất, gian ác nhất, bạo ngược
nhất và dã man nhất trong lịch sử nhân loại từ thời thượng cổ cho đến
ngày nay" (Sdc. tr. 270-271).
"Riêng về tội ác mưu toan hủy
diệt các tôn giáo khác và nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt
Nam, sách sử ghi rõ: Kế hoạch Puginier nhằm xé nhỏ nước Việt Nam ra thành
nhiều mảnh biến thành những tiểu quốc theo biên giới sắc tộc và địa
lý, rồi hủy diệt tất cả ảnh hưởng của nền văn hóa cổ truyền của
dân tộc Việt Nam. Kế hoạch này được Tiến sĩ Cao Huy Thuần trình bày
rõ ràng trong cuốn "Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp tại
Việt Nam" (Sdc, tr. 270-271). Tội ác của những Việt gian đội lốt
tôn giáo là không thể tha thứ.
Càng nghiên cứu về lịch sử bành
trướng của đạo Công Giáo, chúng ta càng ngạc nhiên và không khỏi rùng
mình ghê sợ trước những núi tội ác của nó vì mức độ khủng khiếp
đã vượt quá sức tưởng tượng của mọi người bình thường chúng ta.
Có nhận thức được điều này chúng ta mới cảm thấy hú hồn hú vía
vì dân tộc Việt Nam ta quả đã được cứu thoát khỏi đại họa diệt
vong trong đường tơ kẻ tóc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963! Đây là một vấn
đề thuộc lịch sử mà phần đông chúng ta chưa nhận thức đúng giá trị
của nó. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không dám lạm bàn rộng thêm tại đây
và xin để Lịch sử Việt nam sau này sẽ làm sáng tỏ.
Bài viết này chỉ giới hạn trong
việc đề cập đến các sách Kinh nguyện Công Giáo bằng Việt ngữ mà
thôi. Chúng tôi thiết nghĩ HĐGMVN là cơ quan lãnh đạo cao cấp nhất của
giáo hội Công Giáo Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội
dung của các kinh sách nguyện Công Giáo trên phương diện luật pháp quốc
gia. Ngoài ra, chúng tôi đòi hỏi HĐGMVN phải trả lời trước tòa án lương
tâm và lương tri của dân tộc Việt Nam, về những tác hại tinh thần và
văn hóa mà các sách kinh nguyện Công Giáo đã gây ra cho dân tộc từ trước
đến nay.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hiện
do Hồng Y Phạm Đình Tụng làm chủ tịch, trụ sở đặt tại số 40, Phố
Nhà Chung, Hà nội. Hồng Y Phạm Đình Tụng sinh quán tại Phát Diệm, quê hương
lừng danh của Cha Việt gian Phê-rô Maria Phạm Ngọc Chi và LM Mafia Hoàng Quỳnh.
Nếu Hồng Y Phạm Đình Tụng không phải là hậu duệ xuất sắc bén gót của
các tiền bối khét tiếng bán nước hại dân như Trần Lục, Lê Hữu Từ
thì ông đã long trọng lên tiếng xưng thú các núi tội lỗi của giáo hội
Công Giáo Việt Nam trước quốc dân và đã làm lễ sám hối trước bàn thờ
Tổ Quốc Việt Nam từ lâu rồi.
Trong tác phẩm "The Next Pope
– An A to Z of Holy See", một cuốn sách chính trị bán chạy nhất
trong năm 1995 tại Mỹ (One of the Year’s Political Blockbuster, Harper Collins
Publisher – 1995), ký giả Peter Hebblethwaite viết: "Không có một cuộc
bầu cử nào thu hút sự tập trung chú ý của Giáo hội Công Giáo và toàn
thế giới cho bằng cuộc bầu cử Giáo Hoàng. Bởi vì đằng sau những bức
tường của Vatican, lịch sử thế giới đang được hình thành" (Behind
those walls, history is being made); "Có sáu nước Cộng Sản hoặc cựu Cộng
Sản sẽ lái Hội đồng Hồng y của Vatican về phía bảo thủ cực hữu.
Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám Mục Hà Nội, 75 tuổi, và Jaime
Luca Ortega Alamino, Tổng Giám Mục Havana, Cuba, sinh ngày 18.10.1936, có triển vọng
là những kẻ chủ chốt trong quá trình tan rã chế độ CS của họ" (There
are six from Communist or ex-Communist countries who will swing the college of cardinals
to the right. Paul Joseph Pham Đinh Tung, arbishop of Hanoi, seventy five, and Jaime Luca
Ortege Alamino, arbishop of Havana – Cuba, born October 1936, will expect to preside
over the disintegration of their regimes – page 170).
Trong bối cảnh thế giới hiện nay
đang diễn ra một cuộc cách mạng tâm linh, tên tội phạm lớn nhất của
lịch sử nhân loại là Vatican cũng đã phải long trọng làm lễ xưng thú
hàng núi tội ác chống loài người của nó trong 17 thế kỷ qua. Hầu hết
các giáo hội Công Giáo Tây phương cũng đã có những hành vi thú tội tương
tự từ lâu. Dân tộc Việt nam đã kiên nhẫn chờ đời sự thú tội muộn
màng của HĐGMVN, nhưng đến nay chúng ta đã phải thở dài thất vọng. Sự
im lặng hoàn toàn của Giáo hội Công Giáo Việt Nam trước các vấn đề
lương tâm là một hành vi cực kỳ ngoan cố và không thể chấp nhận được.
Chúng tôi thiết nghĩ nay đã đến lúc các tội ác phản quốc của Công
Giáo Việt Nam cần phải được dân tộc Việt Nam đem ra tra vấn. Do đó,
chúng tôi xin đặt vấn đề trách nhiệm của HĐGMVN trước công tâm phán
xét của toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước, nhất là trách nhiệm
của HĐGMVN về những tác hại của các sách Kinh Nguyện Công Giáo.
2. CÁI THÒNG
LỌNG CÔNG GIÁO
Gia tộc tổ tiên bên nội tôi ở
làng Ninh Cường, tỉnh Nam Định , theo đạo Công Giáo từ đầu thế kỷ
16 nên cha tôi theo truyền thống lâu đời của gia tộc là mỗi khi có con
cháu sinh ra được 3 ngày thì đem đến nhà thờ để cha xứ làm phép bí
tích rửa tội. Giáo dân có thói quen thường hay đưa con đến nhà thờ
vào ngày Chủ nhật sau khi sinh đứa bé nên thời hạn 3 ngày nói trên có
thể du di sớm hơn hoặc trễ hơn nhưng ít khi nào để lâu quá một tuần.
Nay tôi nhận thấy đây là một hành vi độc đoán của người lớn đối
với trẻ thơ vì việc quyết định theo đạo hay không là điều hệ trọng
cần phải đợi đến lúc con người trưởng thành mới đủ trí óc phán
đoán để có thể tự quyết định vận mệnh của mình. Không một ai dù
là cha mẹ có thể tự ý quyết định thay mà không đếm xỉa tới sự
ưng thuận của đương sự được. Các tôn giáo luôn lớn tiếng kêu gọi
tự do tín ngưỡng trong khi hành vi cưỡng bách trẻ thơ chịu phép rửa tội,
thực chất là nghi lễ nhập đạo, là một hành vi tước đoạt tự do tín
ngưỡng thô bạo nhất. Việc cưỡng bức trẻ thơ chịu các phép
bí tích, nhất là bí tích rửa tội nhập đạo, phải được coi là một
hành vi áp đặt cái thòng lọng tôn giáo vào cổ những người ngây thơ vô
tội. Chúng tôi kêu gọi sự can thiệp của Luật Pháp Quốc Gia để ngăn
chận sự vi phạm quyền tự do căn bản (tự do tín ngưỡng) của những
con người chưa có khả năng phán đoán và khả năng tự vệ. Luật pháp phải
đặc biệt chú ý đến Công Giáo La Mã vì đạo này là một chế độ độc
tài ngụy trang tôn giáo (a dictatorship masquering a religion – Joanne Meehl).
Lúc tôi lên 7 tuổi, cha tôi bắt học
thuộc lòng phần lớn cuốn Toàn Niên Kinh Nguyện của địa phận Bùi Chu
cùng mấy tập thơ lục bát như "Thập Điều Tứ Chung" của Giám mục
Hồ Ngọc Cẩn và "Hiếu tự ca" của Cụ Sáu Trần Lục. Tất cả
để chuẩn bị tâm tư cho tôi chịu các phép bí tích xưng tội và rước lễ
lần đầu. Ngày nay bí tích Giải tội được gọi là "Bí tích Hòa giải".
Nhưng vào lúc tôi mới 7 tuổi đầu, tôi với Chúa chưa hề có một xích
mích nào với nhau tại sao lại bắt tôi phải hòa giải với Chúa? Mấy năm
sau tôi được chịu phép bí tích Thêm Sức do Giám mục địa phận ban cho
vì cha tôi muốn tôi được tăng cường thêm đức tin vững vàng để sau này
về già tới chết đức tin của tôi vẫn vững như đồng không gì lay chuyển
nổi! Vào năm 27 tuổi (1964), tôi chẳng may bị bệnh thương hàn trầm trọng
gần chết. Khi thấy bác sĩ Bệnh viện Đô Thành chuẩn bị cho đem tôi xuống
nhà xác, có lẽ cha tôi lo cho tôi sắp bị quỉ Satan đến bắt nên đã khẩn
thiết mời một linh mục đến nhà thương làm phép Xức Dầu Thánh cho
tôi. Cả gia đình khóc thương tôi và chuẩn bị sẵn sàng tiễn tôi về
Thiên đàng để tôi được xem thấy mặt Đức Chúa Trời Jehovah sáng láng
vui vẻ vô cùng, đồng thời linh hồn tôi sẽ được hợp làm một cùng
thánh tổ phụ Abraham và vua thành David. Đối với tôi, tất cả những
nhân vật này đều là những kẻ bất lương và tôi không hề muốn gặp họ.
Nhưng sau đó tôi may mắn thoát chết
và sức khỏe của tôi dần dần hồi phục nhờ bác sĩ tận tình. Chỉ mấy
tháng sau tôi được gọi động viên vào trường Thủ Đức và trở thành
Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1969, cha mẹ tôi thu xếp cho tôi
được đẹp duyên cùng cô Tê-rê-xa thuộc ca đoàn nhà thờ Huyện Sĩ. Thế
là tôi đã có vợ đạo dòng đúng theo ý muốn của cha mẹ tôi. Vợ tôi
nguyên là học sinh Trưng-Vương đã từng đóng vai Trưng Nhị cầm kiếm cưỡi
ngựa tại Nhà Hát Lớn Sài Gòn trong lễ tưởng niệm Hai Bà năm 1967. Đạo
Công Giáo có cả thảy 7 phép bí tích thì tới nay tính ra tôi đã chịu tới
6 phép, chỉ thiếu một phép bí tích duy nhất còn lại là phép Truyền Chức
Thánh mà thôi! Mọi người Công Giáo chỉ có thể chịu 6 phép bí tích là
mức tối đa tuyệt đối. Mấy ông tu sĩ từ cấp chóp bu là giáo hoàng,
qua các cấp đại thần như ông hồng y, giám mục, cấp lưng chừng nửa
ông nửa thằng là "đức ông", cho nên cấp manager (quản lý) là
linh mục cũng chỉ có thể chịu tới 6 phép là cùng. Các vị này một khi
đã lỡ chịu phép Truyền Chức Thánh rồi thì phép bí tích Hôn Phối dù
đã được "thánh hóa" cũng trở thành một phép bí tích tội lỗi
đối với họ!
Sự đời thật lắm chuyện bất ngờ.
Biến cố 30 tháng Tư 1975 đã chấm dứt 10 năm quân ngũ của tôi để mở
đầu cho gần 10 năm tù trong các trại cải tạo ở Bắc và Nam Việt Nam.
Những năm tù đó là cơ hội hoán chuyển tâm hồn tôi từ một tín đồ Công
Giáo thành một kẻ vô thần. Ấn tượng hãi hùng nhất đối với bọn tù
chúng tôi là những cơn đói dở sống dở chết triền miên. Cao điểm của
sự tàn tạ là vào khoảng các năm 1978-1979 tại trại tù Yên Báy. Bọn tù
chúng tôi xếp hàng dọc leo lên núi làm rẫy sáng đi tối về như những bóng
ma. Những người Tày ở vùng này thường gọi chúng tôi là "bọn đầu
lâu chân tay". Một hôm bọn tôi tình cớ gặp mấy cô gái Tày lên
rừng kiếm củi, một người bạn tù chỉ tay vào tôi và nói đùa với mấy
cô gái: "Có cô nào muốn lấy thằng này không để tôi gả cho!".
Một cô gái vui vẻ trả lời: "Lấy về để nấu cao à?". Thiên
Chúa thân thương của tôi bấy lâu đã bỏ tôi và chỉ để lại trong tôi
một sự trống vắng hoang tàn tuyệt vọng. Suốt bao nhiêu những ngày
tháng ấy tôi không hề đọc kinh cầu xin Chúa ngự trong linh hồn mà chỉ
cầu những hạt cơm, hạt ngô, củ khoai hay vài miếng sắn lát ngự trong
bao tử lép xẹp khốn khổ của mình! Những thứ vốn tầm thường ấy đã
trở thành thiên đàng hiện thực và giá trị nhất của tôi.
Nhưng sau khi ra tù về nhà, tôi lại
chìm đắm trong một thế giới tâm linh mới. Người em trai của tôi đã
thu thập từ lâu khoảng trên hai chục cuốn sách của Hội Thông-Thiên-Học
và trao trọn gói cho tôi đọc. Tôi đã say mê đọc những sách này trong
khoảng thời gian từ 1985 đến 1989. Điều làm tôi ngạc nhiên với chính
mình là cuối cùng tôi đã không theo Thông Thiên Học vì tôi không thể chấp
nhận những điều huyền họăc của Tổng giám mục Anh Giáo Leadbeater là một
trong những sáng lập Thông-Thiên-Học. Nhưng chính nhờ Thông-Thiên-học,
tôi đã tìm lại được niềm tin mãnh liệt nơi Thượng Đế và đồng thời
tôi hết lòng tâm phục Đức Thích Ca. Từ đó Thiên-Nhãn Thượng-Đế ngự
trên đầu tôi và Đức Thích Ca ngự trong tim tôi. Trước đó tôi chưa bao
giờ vào chùa lạy Phật, không hề thuộc một kinh Phật nào và không hề
quen biết một tu sĩ nào của đạo Phật nhưng tôi không cảm thấy xa lạ
với Đức Phật. Trái lại, tôi cảm thấy hình như Ngài đã ở sẵn trong
tim tôi từ thuở nào! Cả đời tôi chưa bao giờ đến Tây Ninh, chưa bao giờ
đọc sách và cũng chưa bao giờ bước chân vào một thánh thất Cao Đài.
Nhưng tôi có cảm tưởng niềm tin của tôi rất gần gũi với đạo Cao Đài.
Tôi thật sự không hiểu tại sao và không thể giải thích.
Tôi xin nhấn mạnh là tôi chỉ
thuật lại trung thực những gì đã xảy đến cho tôi, có sao nói vậy,
tôi không hề có ý thuyết phục bất cứ ai về những điều tôi tin. Tôi
tuyệt đối không đặt vấn đề tranh luận có hay không có Thương Đế. Tôi
cũng không đặt vấn đề chúng ta nên hiểu thế nào về Đức Phật
A-Di-Đà. Các vấn đề này hoàn toàn vượt quá sự hiểu biết của tôi
và hoàn toàn tùy thuộc vào sự cảm nhận riêng của mỗi người chúng ta.
Từ năm 1989 đến nay, tôi luôn
luôn thành khẩn niệm Phật "Nam Mô A-Di-Đà Phật" theo ý nghĩa Thông
Thiên Học và tôi đã tìm được niềm an vui trong đời sống tinh thần.
Theo Thông Thiên Học thì Đức Thích-Ca Mâu-Ni chỉ dạy chúng ta niệm
"Nam Mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật". Thông Thiên Học giải thích nguyên ngữ
chữ Phạn: "Nam Mô’ là Vinh Danh, Sáng Danh..., "Phật" là Giác
Giả tức Tâm linh Giác ngộ, Trí tuệ thông minh hiểu biết vô lượng.
"A-Di-Đà" là Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ, thiêng liêng vô
cùng, vô thủy vô chung. Tất cả mọi người chúng ta đều có Phật tính.
Nếu chúng ta ra sức tu tâm thiện hành hướng thượng thì mọi người đều
thành Phật cả. Cho nên Đức Thích Ca đã xác nhận rằng Ngài là "Phật
đã thành" và mọi chúng sinh đều là những vị "Phật sẽ
thành". Mọi chúng sinh đều bình đẳng, chỉ khác nhau ở trình độ tiến
hóa về tâm linh mà thôi.
Theo thiển ý của tôi, chân lý
không ở đâu xa mà ở trong sự đơn sơ mộc mạc và giản dị nhất. Người
ta càng giải thích lời dạy của các giáo chủ một cách phức tạp cao
siêu bao nhiêu thì càng làm cho người nghe thêm rối trí và hiểu sai rồi
đi lạc lung tung chẳng còn biết đâu mà mò. Cứ theo lời dạy hết sức
đơn giản của Đức Phật là hãy khởi đầu với lòng từ bi thật sự,
sau đó ta sẽ có tất cả mọi thứ. Ngắn gọn chỉ có vậy thôi, cãi
nhau dông dài vô ích! TỪ là lòng ao ước làm cho người khác được an
vui, không muốn ai bị ngược đã bất công tàn nhẫn, thấy ai bị đau khổ
thì động lòng trắc ẩn xót xa. Lòng yêu người cũng chính là lòng yêu sự
công bằng vậy. BI là tình thương rải ra khắp chúng sinh. Phật dạy: Từ
Bi là nước tưới cây bồ đề làm cho cây nở ra hoa trái trí huệ. Trí huệ
là sự hiểu biết mà ngôn ngữ loài người không thể diễn tả được. Hãy
theo con đường Phật dạy khởi đi từ BI sẽ có TRÍ. Sau khi đã có đủ
BI và TRÍ rồi thì tự nhiên sẽ có DŨNG, nghĩa là ta sẽ trở thành can đảm
phi thường (vô úy). Sự can đảm phát sinh từ lòng thương người sẽ đến
với ta một cách tự nhiên mà không cần phải tập luyện gì hết.
Những điều trên đây xin hãy coi
như công thức thứ nhất. Công thức thứ hai là Chân Thiện Mỹ. Nghĩa là
hãy thiết tha yêu mến sự thật. Hãy vững tin rằng dù cho sự thật bị
đàn áp chà đạp tới đâu, cuối cùng Sự Thật cũng ngóc đầu dậy và
chiến thắng vinh quang. Đó là luật của Thiên nhiên mà không có một sức
mạnh tội ác nào có thể cưỡng lại được. Sự thật là Chân Lý và
Chân Lý cao hơn mọi tôn giáo. Nói cách khác, không một tôn giáo nào cao hơn
Sự Thật. Lòng thiết tha yêu mến sự thật là cội nguồn của sự Thánh
Thiện. Vì vậy phải có Lòng Chân Thật trước hết rồi sau mới có thể
có cái tâm thiện lành được. Rõ ràng phải có CHÂN mới có THIỆN và cuối
cùng tự nhiên ai cũng thấy đó là sự tốt đẹp vô cùng (MỸ).
Hai công thức đó của Đức Thích
Ca quyện chặt vào nhau thành một. Nói cách khác, ta chỉ cần trau dồi
lòng từ bi và tha thiết yêu sự thật là ta sẽ có nguồn sáng tâm linh và
lòng can đảm để giải quyết tất cả mọi sự trên đời này. Đó
chính là Đạo Làm Người (hoặc Đạo Nhân) đã có sẵn trong tâm thức của
truyền thống văn hóa Việt Nam. Tâm thức của tổ tiên Việt Nam chúng ta từ
ngàn xưa đã đạt tới tuyệt đỉnh của sự thánh thiện là lòng từ bi
vô-vị-lợi, đúng như tự điển Anh Ngữ đã định nghĩa: "SAINT;
ABSOLUTLY UNSELFISH". Loại thánh nhân được hiểu theo nghĩa này không cần
được Vatican tấn phong và cũng không nên để cho Vatican tấn phong họ vì
Vatican không đủ trình độ để vương tới loại thánh này. Vả lại, từ
xưa đến nay, Vatican chỉ phong thánh cho những kẻ đã chết từ lâu nên
Công Giáo La Mã chỉ có "những thánh của sự chết" chứ
không bao giờ có "thánh của sự sống". Công Giáo cũng không có "thánh
sống" nhưng lại có quá nhiều "quỉ sống". Các thánh của
Vatican cần phải được tra xét lại, nhất là loại thánh được gọi là
tử đạo Việt Nam. Đại đa số các "thánh tử đạo" đều
là những tên Việt gian, chỉ vì ngu ngốc nên đã làm tay sai cho giặc
và chết uổng mạng cho tà đạo khốn nạn nhất trong lịch sử loài người.
Tổ tiên từ ngàn năm xưa đã truyền
dạy chúng ta chân lý quý báu về sự thánh thiện bằng những câu tục ngữ
đơn sơ: "Thương người như thể thương thân" và dù cho
khác nhau về chủng tộc hay văn hóa cũng vẫn thương như thường: "Bầu
ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn". Đó
chính là sự thánh thiện không cần tôn giáo của tổ tiên Việt Nam
chúng ta. Cái thói "Bụt chùa nhà không thiêng" đã làm cho chúng ta
coi thường những lời dạy "bình dân" đó của tổ tiên nên chúng
ta đã đánh mất cái kho tàng văn hóa nhân bản mà ngày nay những tim óc vĩ
đại của Tây Phương đã nhận ra nó trong Chủ Nghĩa Nhân đạo Thế Tục
(Secular Humanism) của họ. Hiến Pháp Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi mục tiêu
thực hiện chủ nghĩa nhân bản thế tục này. Một trong những tư tưởng
tiến bộ của chủ nghĩa nhân đạo thế tục có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
đối với Hiến pháp Hoa Kỳ là tác phẩm "Common Sense" của
Thomas Paine, bestselling book năm 1776. Chủ nghĩa Nhân Đạo Thế Tục được
khẳng định lại trong Tu Chính Án I năm 1791 và Tu Chính Án XIV năm 1870. Tối
cao PhápViện Hoa Kỳ cũng đã có mấy dịp khẳng định tinh thần Hiến Pháp
là: Chính phủ tôn trọng các nhân quyền và dân quyền nhưng phải có mục
tiêu thế tục hoặc vô-tôn-giáo. (Government policy must have a secular or
non-religious purpose – American Government, Politics and Political Culture by William
Lyons. West Pub. Co. 1995, p. 110). Đỉnh cao trí tuệ và tâm linh Tây Phương đã
gặp gỡ tinh-thần nhân-bản vô-tôn-giáo của văn hóa bình dân cổ đại
Việt Nam. Nền văn hóa tổng hợp Đông Tây mang trọn nhân tính này sẽ
là ngọn hải đăng dẫn dắt nhân loại đi vào thiên niên kỷ thứ ba. Nền
văn hóa này sẽ sản sinh ra những thánh sống phục vụ cho hạnh phúc của
nhân loại để mở đầu cho kỷ nguyên của những thánh sống thật. Các
thánh đã chết không thể làm những điều ích lợi tích cực cho nhân loại
được nữa ngoài các tác dụng của những tấm gương sáng (nếu có) để
chúng ta chiêm ngưỡng mà thôi. Dưới ánh sáng dịu dàng của Đức Phật từ
bi và với tâm thức thánh thiện của tổ tiên xa xưa còn sót lại, tôi đã
rà xét lại niềm tin tôn giáo lâu đời của gia tộc mình. Nhận thức đầu
tiên của tôi là: Chánh Đạo phải là đạo thương người và cứu người.
Bất cứ một tôn giáo nào bề ngoài tuy có vẻ văn minh hào nhoáng hoặc đội
lốt bác ái giả dối nhưng trong thực tế lại là đạo giết người nhiều
nhất thì cái đạo đó phải là tà đạo chứ không thể khác được!
Núp sau hình ảnh nhân ái của ít
người nổi tiếng như Mother Theresa là cả một dãy núi tội ác sát nhân của
giáo hội Công Giáo trong 17 thế kỷ qua. Từ khi bạo chúa La Mã Constantine lập
đạo Công Giáo năm 325 tại Nicaea đến nay, Công Giáo đã giết hại trên
hai trăm triệu người nên Công Giáo không thể tồn tại như một tôn giáo
trên thế giới. Nó phải được coi là một tổ chức tội phạm vô tiền
khoáng hậu và phải bị đào thải khỏi nền văn minh nhân bản của loài
người. Với lương tâm và lương tri bình thường, chúng ta không thể hình
dung được một tôn giáo mà không có đức từ bi. Tôn giáo chiếm giải
vô địch giết người như Công Giáo La Mã là tôn giáo không có đức BI thì
không thể có TRÍ. Cho nên tín đồ của nó chủ yếu gồm những kẻ thiếu
trí tuệ.
Có hai loại người trong hàng ngũ
những kẻ thiếu trí là "những kẻ thất học" gồm đại đa số
giáo dân và trí xảo quyệt là hàng ngũ tu sĩ lãnh đạo cao cấp. Chính những
kẻ xảo quyệt này mới thực sự là đại họa cho nhân loại vì họ là
những tên chánh phạm của các loại tội ác của Công Giáo La Mã từ xưa
đến nay! Ai có thắc mắc gì về những điều này xin hãy tìm đọc
"VATICAN THÚ TỘI VÀ XIN LỖI" của 6 tác giả, 312 trang, Giao Điểm
xuất bản năm 2000.
Tôi rất đau buồn nhận ra đạo Công
Giáo mà gia tộc tôi đã theo từ năm 1553 tới nay chính là cái tà đạo oan
nghiệt đó. Tôi xin cảm tạ Ơn Trên đã soi sáng và giải cứu tôi thoát
khỏi ngục tù tư tưởng của tà đạo Ngụy Thiên-Chúa này. Tất cả những
gì tôi kể ra đây đều là những gì đã thật sự xảy ra cho tôi, chuyện
ra sao thì tôi xin kể lại như vậy mà thôi. Sở dĩ tôi phải nói là được
Ơn Trên giải cứu vì hầu như mọi người do một cơ duyên nào đó mà bị
vướng vào cái tà đạo ác ôn này thì chẳng khác nào một con thú bị mắc
bẩy, rất khó có thể tự vùng vẫy thoát ra. Đúng như giáo sư Trần Chung
Ngọc đã viết trong tạp chí Giao Điểm số 38 Mùa Thu năm 2000 (trang 12): "Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy, con người một khi cho chân vào cái rọ Gia Tô rồi
thì khó rút ra lắm, vì chính sách nhồi sọ của Gia Tô Giáo rất tinh vi với
đầy đủ phương tiện".
Đó chẳng phải là tình trạng
khó khăn của thân phận giáo dân ở các nước kém mở mang như Việt nam mà
ngay những giáo dân Công Giáo tại nước Mỹ nổi tiếng tự do và văn minh
nhất thế giới này cũng phải công nhận là Đạo Công Giáo có một
"cái tròng tâm lý" đặc biệt mà nữ học giả Joanne H. Meehl gọi
là "cái thòng lọng Công Giáo" (the Catholic Loop). Trong tác phẩm "Người
Công Giáo tỉnh ngộ" (The Recovering Catholic, 300 trang, Promethus Books
USA 1995). Tác giả cho biết hiện nay có rất nhiều tín đồ Công Giáo Mỹ
bị khủng hoảng đức tin trầm trọng nhưng vẫn không thoát ra khỏi
"cái thòng lọng Công Giáo" đó!. Tôi xin trích dẫn một số ý kiến
tiêu biểu trong cuốn sách độc đáo này để chúng ta biết sơ qua về trình
độ thức tỉnh tâm linh của những người trí thức Công Giáo Mỹ hiện
nay ra sao:
- Công Giáo thực chất là một chế
độ độc tài tự xưng là một tôn giáo (Catholicism is a dictatorship claiming
to be a religion). Thiên-Chúa Ki-tô-giáo là một gã đàn ông toàn năng
(Christian God is the Male Almighty). Mỗi khi nói tới Thiên Chúa, người ta luôn
luôn sử dụng các từ ngữ thuộc giống đực (gramatically masculin as He,
His, Father, Son). Đối với phụ nữ Công Giáo Mỹ thì quyền lực của giới
tu sĩ đàn ông chứ không phải quyền lực của Chúa vẫn luôn luôn tồn tại.
Thiên Chúa chỉ là tấm màn che cho sự thống trị của đàn ông (The
power of man, not God, still exists. God is merely a backdrop to man’s ruling). Hồi
Giáo và Công Giáo đã "thánh chiến" với nhau trong nhiều thế kỷ
làm chết mấy chục triệu sinh mạng và ngày nay họ vẫn đang giết nhau
ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng họ lại hết sức đoàn kết với nhau
trong chủ nghĩa thù ghét phụ nữ (They united in their misogyny). Cả hai tôn
giáo này tuyệt đối không cho phụ nữ giữ các chức vụ tư tế (priests).
Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, họ lớn tiếng chống phá thai mà họ gọi
là đấu tranh cho quyền sống, thực chất là họ đấu tranh cho sự sống còn
của tôn giáo họ (Struggle for the right to life is actually a struggle for the
survival of their religions). Thiên-Chúa-Đực-Rựa của họ còn lắm điều
hơn đàn bà (Their Male Almighty is more talkative than women) các lời bậy bạ
của họ đều được gán cho là lời của Chúa (words of God). Tác giả dành
4 trang kêu gọi những người Công Giáo Mỹ bỏ đạo. Theo tác giả, bỏ
đạo là từ chối làm kiếp con bo蠨Refusing
to be a cow – from p.116 to p.119).
- Ngoài những ý kiến của tác giả
còn nhiều ý kiến táo bạo của nhiều tín đồ Công Giáo khác do tác giả
phỏng vấn. Chẳng hạn cô Victoria phát biểu: Cái điều làm cho cô tức giận
nhất là cái ý nghĩ bệnh hoạn cho rằng Jesus chết cho tội lỗi của cô
và của mọi người. Cô nói "Bởi vì tôi và mọi người tôi biết
đều không làm cái điều bệnh hoạn chứng minh cho cái việc tồi tệ của
gã đàn ông bị đóng đinh trên thập ác và chảy máu đến chết đó. Nếu
hắn cảm thấy cần phải chết vì tôi thì, xin lỗi, đó là do tự ý hắn
muốn vác lấy gánh nặng một cách sai lầm kinh khủng. Tôi không thèm
làm một việc tồi tệ đến như vậy". (Victoria says the thing that
makes her the angriest is "the sick idea that Jesus died for my sins or anyone'’sins.
Because neither I nor anyone I know has done anything that bad that justifies this sick
thing of this man being nailed to a cross and bleeding to death. If he feels he has to do
that for me, I’m sorry, that’s a terribly misplace burden. I didn’t do anything that
bad!", p.131).
- Cô Linda ở Texas viết gởi cho
tác giả một bài tựa đề "Công ty Công Giáo La Mã" với nội
dung "Công Giáo La Mã là tôn giáo hay tiệm buôn? Cái thật sự làm
tôi băng khoăn là tài sản kếch sù của giáo hội. Họ có quá nhiều vàng
và liên hệ mật thiết với Mafia. Họ dạy người ta về đức nghèo khó
trong khi họ có trụ sở ở thị trường chứng khoán New York. Họ dạy
lòng yêu thương nhưng lại rất khinh bỉ những người ngoài Công Giáo. Họ
dạy sự bình đẳng nhưng coi phụ nữ như đất cát. Tôi hết chịu đựng
nỗi sự đạo đức giả của họ. Giáo hội đầy dẫy những thứ đó.
Hãy nhìn về nước Tây Ban Nha mà xem, giáo hội giàu có được vây quanh bởi
những kẻ nghèo đói. Tục ngữ xưa có câu "Giàu nứt đố đổ vách
như giáo hoàng". (Hypocrisy – is Roman Catholicism a religion or a business?
Linda of Texas refers to it as "Roman Catholicism, Inc.,"... What really annoys
me is the church’s vast wealth. They own too much gold... its Mafia connections.. They
preach poverty while they have a seat on the New York Stock Exchange. They preach love but
they look down upon anyone that’s not Catholic. They preach equality but treat woman
like dirt. I can’t stand hypocrisy, the church is full of it! Look at Spain, where the
richness of the church is surrounded by the poverty... In the old country people saying
"he’s as rich as the popes", p.132-133).
Còn nhiều điều khác rất hấp dẫn
táo bạo nhưng rất tiếc là khuôn khổ bài viết này không đủ sức chứa.
Mong quý vị độc giả sẽ tìm đọc lấy. Ở đây tôi chỉ xin đề cập
đến Cái Thòng Lọng Công Giáo (The Catholic Loop) mà thôi.
Theo kinh nghiệm bản thân, tôi nhận
thấy "cái thòng lọng Công Giáo" này đã được hình thành chủ yếu
do sự đọc kinh hằng ngày từ nhỏ tới lớn khiến cho những tín điều dù
vô lý đến mấy rồi cũng trở trành chân lý do sự lập đi lập lại nhiều
lần và do sự tự kỷ ám thị. Qua những lời kinh cầu nguyện hằng ngày,
những tín điều nhảm nhí ngớ ngẩn dần dần thấm sâu vào cõi vô thức
khiến con người chấp nhận chúng như hiện tượng "phản xạ có điều
kiện" trong khoa học tâm lý và hậu quả là người ta không còn muốn đem lý trí ra để kiểm chứng nữa!. Ngoài
cái tâm lý đó ra còn có một yếu tố khác rất nặng nề, nó chính là sợi
dây vô hình ràng buộc con người với tôn giáo chặt chẽ không thể tưởng
được! Đó là tình cảm gia đình và gia tộc gắn bó trong niềm tin Công
Giáo. Phải là những người đạo gốc lâu đời mới có thể cảm thông
được điều này. Cụ thể là trường hợp cha mẹ tôi. Tôi biết cha mẹ
tôi hết lòng yêu thương tôi và sẵn sàng hy sinh mọi thứ cho tôi, nhưng nếu
bị đặt vào trường hợp bắt buộc phải chọn lựa một là tôi phải chết
hai là tôi phải bỏ đạo thì dứt khoát cha mẹ tôi muốn tôi chết chứ
không muốn tôi "bỏ đạo". Xin hãy khoan nói tới chuyện "dám
chống đạo", người Công Giáo thường gọi là "dám phản nghịch
cùng Chúa", là điều kinh thiên động địa vượt ngoài sức tưởng
tượng của cha mẹ tôi.
Đến khi lớn lên có gia đình
riêng, vợ con tôi đối xử với tôi cũng y hệt như vậy. Ở nước Mỹ này
ai cũng có quyền tự do tư tưởng là một quyền hiến định đàng hoàng,
vậy mà tôi không hề có cái quyền này ở ngay trong gia đình mình! Thật
là một điều trái khuấy kỳ quặc! Vào tháng tư năm 1996, nhân dịp đọc
bài "Rethinking of the Resurrection of Christ" đăng trên tờ Newsweek, tôi
lén vợ con lược dịch thành bài "Suy nghĩ lại về sự phục sinh của
Chúa Ki-tô" và gửi đăng trên tuần san ĐẸP (số 239 ngày
13.4.1996). Vì không muốn ký tên thật, tôi chẳng cần suy nghĩ và chỉ
trong một giây đồng hồ tôi đã chọn xong cho mình một "bút hiệu"
là Charlie Nguyễn. Sau vụ này, mọi chuyện êm ru!. Đến tháng 8.1996, tôi đến
thư viện mượn mấy cuốn sách về nhà đọc chơi, trong số đó có cuốn "The
Jesus Conspiracy" (âm mưu của Jesus) của hai tác giả Đức nhưng đều
tốt nghiệp Đại học Mỹ là Holger Kersten và Elma R. Gruber. Không ngờ các
tác giả viết sách quá hay khiến tôi cầm lòng không được nên đã táy
máy tóm dịch thành bài "Tấm Vải Liệm Xác Chúa" và gửi
đăng trên tuần san ĐẸP số 251 ngày 6.7.1996. Ông bà chủ báo vốn chẳng
quen biết gì với tôi nhưng thấy bài viết trước đây của tôi đã được
đăng báo không gây chuyện rắc rối gì nên hai vị này đã thản nhiên cho
đăng tiếp.
Không ngờ bài viết lần này đã
gây một sự phẫn nộ lớn trong giới người Việt Công Giáo ở Houston.
"Bản Tin Mục Vụ" phát tại các nhà thờ và mấy tờ báo thân
Công Giáo ở Houston viết bài chửi tôi thậm tệ với nội dung hàm chứa một
sự hăm dọa. Giáo dân cuồng tín ở mấy xứ đạo tại Houston hăm đánh
ông bà chủ nhiệm chủ bút báo Đẹp, hô hào các thương gia Công Giáo rút
lui không đăng quảng cáo trên báo và chúng còn hăm đốt tòa báo Đẹp nữa,
làm cho ông bà chủ báo mất ăn mất ngủ mấy tuần lễ liền khiến cho
hai vị này hốc hác trông rất thảm não. Tôi không thể tưởng tượng nỗi
là một bài viết cỏn con của tôi đã làm cho những kẻ cuồng tín này phẩn
nộ tức tối đến như vậy!. Bài viết chỉ co 魦#7845;y trang báo tóm dịch từ một cuốn sách dầy 337
trang, đã được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Đức ra 9 thứ tiếng
khác từ năm 1994. Riêng bản Anh ngữ được tái bản và phát hành đồng
loạt tại Mỹ, Anh và Úc tổng cộng lên tới cả triệu bản. Tòa thánh La
Mã và toàn thế giới Công Giáo, trong đó có 53 triệu tín đồ Công Giáo Mỹ
là nước chủ nhà, đã đọc nó nguyên con từ lâu mà chẳng có một phản
ứng nào. Vậy mà cái dúm người Việt Công Giáo ở Houston này làm rùm
beng để chống lại cái bài tóm dịch quèn của tôi và đòi đốt tờ báo
Đẹp để làm gì? Phải chăng họ đã quá mù quáng nên đã có những hành
động thật đáng xấu hổ. Sự phẩn nộ điên khùng của họ chỉ làm cho
người Mỹ và các dân tộc khác thấy rõ được cái trình độ thấp kém
cùng cực của họ vì họ chẳng hề hay biết gì về những biến chuyển lớn
lao trong tư duy của nhân loại ngày nay về tôn giáo nói chung và về Công
Giáo nói riêng!. Những kẻ tự xưng là "các chiến sĩ bảo vệ đức
tin" mặc dầu đã may mắn sống trên đất Mỹ hơn hai chục năm qua mà
đến nay họ vẫn cứ tưởng như đang sống ở Hố Nai, Xóm Mới hay Ngã Ba
Ông Tạ thời Ngô tổng thống trước 1963 hoặc thời Hoàng Quỳnh làm loạn
ở Saigon trong các năm 65-66!
Trước đây tôi thực sự chưa hiểu
được hết giá trị của cuộc Cách Mạng 1.11.1963 lật đổ chế độ của
bạo quyền Công Giáo Ngô Đình Diệm. Nhưng nay nhờ chuyện này mà tôi mới
nhận thức ra cái tà đạo ác ôn Công Giáo La Mã là một đại họa ghê gớm
của dân tộc Việt Nam. Xin cám ơn vô cùng cuộc Cách Mạng 1.11.1963!. Đó
là cuộc Cách Mạng đã giải cứu đất nước thoát khỏi nạn nguy hiểm
tôn giáo, trong đó nạn độc tài Công Giáo phải được kể là nguy hiểm
trên hết mọi thứ độc tài! Tôi oán giận tiền nhân của chúng ta
ngày xưa đã đánh mất những cơ hội lịch sử để loại trừ cái tà đạo
này ngay trong thời kỳ trứng nước của nó. Tổ tiên chúng ta đã mắc sai
lầm lớn là để cho nó tồn tại và không ngừng phát triển tới ngày nay
trên đất nước chúng ta. Nó đã nín thở qua sông trong những giai đoạn
Trịnh Nguyễn phân tranh, qua triều Tây Sơn Cảnh Thịnh, qua các triều đại
nhà Nguyễn và thời kỳ Bình Tây Sát Tả của Văn Thân để rồi ngóc đầu
dậy như diều gặp gió dưới thời Pháp thuộc và suýt trở thành quốc
giáo tại Miền Nam Việt Nam dưới thời của mấy anh em Việt gian họ Ngô
gốc gác Công Giáo cuồng tín Quảng Bình!.
Biến cố 30 tháng Tư 1975 là một cơ
hội bằng vàng cho một số rất đông những người Công Giáo ồ ạt chạy
ra nước ngoài làm giàu. Hơn hai chục năm qua họ đã gửi về Việt Nam những
khoản tiền khổng lồ giúp các cha cố trong nước xây dựng nhà thờ và
bành trướng thế lực. Nhiều Việt kiều về thăm quê hương sau 25 năm xa
cách đã phải sửng sốt ngạc nhiên trước những khu nhà thờ và nhà xứ
nguy nga đồ sộ mới được xây cất sau năm 1975. Giáo dân tấp nập lụa
là tha thướt ra vô các thánh đường với các ca đoàn, hội đoàn và đủ
hình thức sinh hoạt giáo xứ tưng bừng hoa lá. Các cha cố mặc com-lê đúng
mốt tay xách Samsonite nườm nượp rủ nhau đi Âu Châu và Bắc Mỹ chủ yếu
nhằm hoạt động kiếm tiền chứ chẳng có ai lo việc đạo đức hay nhân
đạo thực sự. Cố đạo giàu thì cán bộ tham nhũng cũng giàu theo, đúng
là "tốt đạo đẹp trời" chứ có mất mát gì đâu. Chỉ có đám
giáo dân cùng đinh thì trước sau vẫn giữ vững cái khố như tượng Chúa
trên thập giá mà thôi. Tượng Chúa là vật vô tri vô giác thì có cái
khố hay không chẳng sao, nhưng đám giáo dân nghèo không còn cái khố để
mặc, không còn hạt cơm để ăn trong khi cha cố buôn thần bán thánh trở
nên giàu có huênh hoang phè phỡn thì thật là một vấn đề xã hội
nghiêm trọng! Trong khi đó thì chính quyền vẫn bị buộc tội là đàn áp
tôn giáo nhưng sao từ 1975 đến nay chưa thấy xuất hiện một thánh tử đạo
nào? Ngược lại, Công Giáo vẫn phát triển trăm hoa đua nở hơn cả thời
Diệm ở Nam Việt Nam. Sự việc này đã được chính nhà văn Linh Mục Công
Giáo xác nhận.
Trong bài "Nghĩ Về Lễ Hội
La-Vang" đăng trên tuầ讠báo Ngày Nay
ở Miền Đông Hoa Kỳ ngày 12 tháng 8 năm 1999, Linh Mục Trần Quý Thiện đã
viết: "Với nhận định vô tư thẳng thắn, người ta có thể nói
mà không sợ sai lầm rằng: từ ngày chủ thuyết Cộng Sản xuất hiện
trên đất nước Việt Nam năm 1930, một tôn giáo được đảng này đặc
biệt chiếu cố và tìm mọi cách tinh vi khoa học để triệt hạ là đạo
Công Giáo. Nhưng tại sao lãnh tụ của họ đã chết mà Công Giáo vẫn tồn
tại và phát triển hơn trước?! Năm 1969, khi Hồ Chí Minh chết, số giáo
dân chỉ trên hai triệu thì nay đã trên bảy triệu. Trãi qua một quá
trình bị bách hại dã man trong 69 năm (1930-1999) tại sao các thông tín viên
ngoại quốc lại viết: "Lễ hội La-vang là một cuộc biểu dương niềm
tin lớn lao nhất tại Việt Nam kể từ sau ngày Cộng Sản xâm chiếm miền
Nam".
Thực tế hiển nhiên là số
giáo dân đã tăng gấp ba lần sau 30 năm sống dưới chế độ Cộng Sản.
Điều đó không có nghĩa là Cộng Sản vì thương yêu nên lo vỗ béo cho
Công Giáo. Vậy lý do nào đã khiến cho Công Giáo chẳng những không bị diệt
mà còn mau lớn hơn cả Phù Đổng như vậy? Chúng ta có thể giải thích hiện
tuợng này với nhận định sau đây: Trước hết Cộng sản không thể
tiêu diệt Công Giáo bằng bạo lực trong hoàn cảnh thế giới hiện nay. Bản
chất Công Giáo là bóng tối nên nó chỉ có thể bị tiêu diệt bằng ánh
sáng giáo dục và ánh sáng tự do dân chủ thực sự với các quyền tự do
ngôn luận và tự do tư tưởng như ở Hoa Kỳ chẳng hạn. Trong khi đó
sau nhiều chục năm cầm súng, ít cầm bút, nên trình độ của các cán bộ
Cộng Sản "đặc trách tôn giáo vụ" còn thấp nên họ không có đủ
khả năng tiêu diệt Công Giáo bằng giáo dục. Cộng Sản có cùng bản chất
độc tài giống như Công Giáo và cả hai đều là những đặc sản của nền
văn hóa du mục Tây phương, do đó Công sản đã không dám dùng cái thứ vũ
khí hữu hiệu nhưng nguy hiểm là tự do dân chủ thật sự vì điều đó
có nghĩa là "cả hai ta cùng chết"! Đó là lý do chính yếu khiến
Công Giáo vẫn tồn tại dưới chế độ Cộng Sản. Trong thực tế cả hai
đã dựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển!
Nữ học giả Joanne Meehl thật hữu
lý khi bà viết: "Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám
người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bởi sự giáo dục và đời
sống kinh tế khá giả". (Catholicism thrives and grows among the poor and
ignorant. It is overcome by education and economic well-being – Sách đã dẫn, trang
288). Sự phát triển vượt bực của Công Giáo La Mã dưới chính quyền Việt
Nam trong 30 năm qua đã phản chiếu cho ta thấy cái thực trạng của nền
kinh tế và giáo dục ở Việt Nam. Đạo Công Giáo luôn luôn cất bước
song hành với sự nghèo đói ngu dốt và tội ác cùng những tệ đoan xã hội
khác nhau. Vậy con số giáo dân Công Giáo gia tăng trong chế độ Cộng Sản
không phải là một dấu hiệu của sự hãnh diện mà là một hồi còi báo
động về mức suy đồi nghiêm trọng của nền giáo dục, kinh tế và tham
nhũng.
Một chuyện ngược đời nữa là
tên đường Alexandre de Rhodes ở Saigon đã bị chính quyền Việt Nam Đệ Nhị
Cộng Hòa dẹp bỏ sau Cách Mạng 11.11.1963 để thay bằng tên của ông tổ
chữ Nôm là Hàn Thuyên, thì nay chính quyền Việt Nam lại phục hồi tên
Alexandre de Rhodes trở lại để vinh danh tên cố đạo gián điệp cướp nước
này. Đây chẳng những là một quyết định sai lầm nghiêm trọng về văn
hóa và lịch sử mà còn là một hành vi làm nhục quốc thể của chính quyền.
Chúng tôi phản đối về việc làm hoàn toàn sai trái và nhục quốc thể
này!. Trong bài viết ngắn ngủi của tôi mang tựa đề "Thánh Phanxicô
Xaviê, cố đạo Đắc Lộ và chữ quốc ngữ" (đăng trong cuốn
Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ, Giao Điểm xuất bản 1998, trang 160-166)
tôi đã trình bày quan điểm như sau:
"Vấn đề chữ quốc ngữ, tôi
thiết tưởng chúng ta không cần phải biểu lộ lòng biết ơn đối với bọn
cố đạo vì bọn chúng không hề tri tình làm ơn cho dân tộc ta. Bọn
chúng phát minh ra chữ quốc ngữ chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là tạo
ra một phương tiện truyền đạo để gieo rắc biết bao tai ương cho đất
nước ta mà thôi. Bọn cố đạo thừa sai là những kẻ địch của tổ quốc
Việt Nam. Xin hãy coi chữ quốc ngữ là CHIẾN LỢI PHẨM do chúng ta tịch
thu được từ tay địch. Chúng ta không cần phải quay đầu lại phía đồn
địch để cám ơn đã cho chúng ta những chiến lợi phẩm đó! Chúng ta cần
phải dùng vũ khí tịch thu được của địch để trừng trị bọn địch
và bè lũ tay sai của chúng là thành phần Việt gian đã tự biến mình
thành những kẻ lạ trên quê hương mình... Chúng ta phải bắt chúng quì xuống
tạ tội hỗn láo với tổ tiên, với Đức Phật và với hồn thiêng
Tổ quốc. Chúng ta sẵn sàng tha thứ nếu chúng tỏ ra biết ăn năn hối cải.
Nếu chúng vẫn tiếp tục ngoan cố láo xược, nhất định chúng ta không
tha. Tội ác của bọn bán nước và cướp nước hãy còn nguyên đó!"
Tôi xin chú thích thêm ở đây là khi viết những dòng chữ này tôi không
có ý ám chỉ việc sử dụng vũ khí đạn dược để bắn giết đồng bào
mình. Tôi chỉ tha thiết kêu gọi việc sử dụng chữ quốc ngữ như một
chiến-lợi-phẩm văn hóa làm vũ khí tiêu diệt tệ nạn
mê tín mà thôi – Charlie Nguyễn).
Trong tháng 9.1996, do một sự
tình cờ, vợ con tôi phát giác tôi là Charlie Nguyễn, lập tức vợ con tôi
lục soát khắp nhà tịch thu mọi thứ tài liệu sách báo và bản thảo viết
tay của tôi cho vào bao bố đem vứt ở nơi nào đó thật xa để tôi không
thể thu hồi lại được. Bình thường, bà xã tôi rất di﵍ hiền dễ thương
nên tôi thường đùa gọi vợ là "Nữ Thánh hiền thê Tê-rê-xa của
anh"! Nhưng khi thấy tôi dám xăm mình chống lại tôn giáo của nàng
(và cũng là tôn giáo của tôi thời tấm bé) thì nàng bỗng nhiên biến
thành một nữ hiệp của Tòa Thánh!. Nàng chỉ huy đám con giống như một
lực lượng cảnh sát mở cuộc hành quân truy lùng tài liệu Việt cộng
ở Saigon hồi tết Mậu Thân! Để tránh cho gia đình khỏi lâm vào tình trạng
tan vỡ, tôi đành phải nhượng bộ bằng cách tuyên thệ trước bàn thờ
Chúa là từ nay con không dám tái phạm nữa! Sau đó tôi ngoan ngoãn cùng đi
lễ với gia đình vào các ngày Chủ nhật để tỏ ra là đã "thành
tâm ăn năn hối cải" . Nhờ đó gia đình tôi đã tạm thời qua cơn sóng
gió và trở lại tình trạng yên ổn bình thường. Đây đúng là một hình
thức hòa bình theo kiểu La Mã – Pax Romana! Nhưng thứ hòa bình này không
thể bền lâu, vì như Eistein đã nói: "Peace cannot be kept by force. It can
only be achieved by understanding": Hòa bình không thể được duy trì bằng
sự ép buộc. Nó chỉ có thể được thực hiện bằng sự hiểu biết lẫn
nhau.
Đầu năm 1998, tại Houston bỗng nổ
ra một cuộc bút chiến sôi nổi giữa một bên là báo Con Ong Texas do
"một số nhà thần học tân tòng" chủ trương và bên kia là Đông
Dương Thới Báo do "bổn đạo giác ngộ" Giuse Phạm Hữu Tạo chủ
trương. Thoạt đầu tôi chỉ theo dõi cuộc bút chiến như một kẻ bàng
quan vì thật sự tôi cũng chẳng muốn dây dưa vào cái chuyện mệt xác
này. Vả lại cái chuyện cải nhau về tôn giáo xưa nay và có lẽ muôn năm
vẫn luôn luôn là phức tạp nhức đầu vô cùng tận, chẳng những không
ăn cái giải gì mà còn gây thêm liên lụy làm khổ vợ con. Nhưng sau đó
vì thấy những bài viết của những người bênh vực Công Giáo đăng trên
Con Ong Texas quá sai lầm và lố bịch khiến tôi chịu đựng hết nổi. Do
đó, tôi viết bài "Tâm thư của một người Công Giáo tỉnh ngộ
sau nhiều năm khủng hoảng đức tin". Vì lúc đó cái "bút hiệu"
Charlie Nguyễn đã bị lộ nên lần này tôi phải chọn một "bút hiệu"
khác là Nguyễn Chấn rồi gửi bài cho Đông Dương Thời Báo và vài nơi khác
ngày 28.2.1998. Sau đó, đúng ngày 9 tháng 3 năm 98, không biết vợ tôi kiếm
đâu ra tờ Đông Dương Thời Báo có mục nhắn tin: "Ông Nguyễn Chấn,
chúng tôi đã nhận được bài viết của ông...". Vợ tôi mang về
nhà làm toáng lên. Mấy mẹ con xúm vào tra vấn tôi đủ điều khiến cho
gia đình tôi u ám thê thảm như có đám tang. Vợ tôi trở thành một thứ
phán quan Spanish Inquisition, chỉ còn thiếu dàn hỏa mà thôi!
Cuối cùng tôi phải chọn lựa: một
là chấm dứt viết bài chống tà đạo, hai là phải xách khăn gói quả mướp
ra đi. Tôi dứt khoát chọn giải pháp thứ hai để bảo vệ cái quyền tự
do phát biểu tư tưởng của mình đến cùng. Ngay tối hôm đo,鍊 tôi bỏ nhà đi với một cái túi nhỏ đựng ít đồ cần
thiết và ngủ đêm tại gầm cầu Freeway 59 Houston cùng với mấy bác da
đen homeless bởi vì lúc đó tôi không có một xu dính túi. Đây là một kỷ
niệm nhớ đời của tôi! Từ đó, tôi sống một mình như cánh chim tự
do, nay đây mai đó bất định tại mấy thành phố miền Đông Bắc Hoa Kỳ!
Tôi làm việc vừa đủ kiếm sống qua ngày để có nhiều thì giờ rảnh
rang dành cho việc nghiên cứu các vấn đề tâm linh mà tôi luôn luôn cảm
thấy thiếu thốn như một kẻ bộ hành khát nước trong sa mạc. Tôi kể lại
những chuyện riêng tư này để quý độc giả có thể hình dung phần nào
về "cái thòng lọng Công Giáo". Nếu tôi không kể những mẫu chuyện
thật này, tôi tin rằng quí độc giả ngoại giáo khó có thể tưởng tượng
được cái tròng mắc vào cổ người Công Giáo (mà bà Joanne Meehl gọi là
The Catholic Loop) nó ra "nàm thao" và nạn nhân của nó khổ sở như
"xế lào"!.
Trong những lúc bình tâm ôn lại
quá khứ, tôi nhận thấy các sách kinh nguyện mà tôi đã thuộc lòng từ
nhỏ là những kho chứa đầy chất độc tinh thần, rất nguy hiểm cho vận
mệnh dân tộc và tương lai đất nước. Với nhận thức đó, tôi không thể
vì mối tình cảm riêng của mình đối với mọi người trong gia tộc và
các bạn thân thiết của tôi hiện nay đang là những tín đồ Công Giáo
thuần thành, nhất là trong số đó có trên mười bạn là linh mục ở rải
rác khắp nơi. Đối với các bạn, tôi vẫn luôn là một người bạn như
những năm tuổi thơ đầy kỷ niệm thân yêu của chúng ta. Tôi hết lòng
trân trọng tình bạn chân tình mà các bạn đã dành cho tôi bấy lâu và
tôi thật tình không muốn làm những mối tình thiêng liêng này bị sứt mẻ.
Nhưng xin mọi người thân, kể cả vợ con cùng các anh chị em ruột thịt
và các bạn của tôi vui lòng tha thứ cho tôi để giải tỏa những nỗi
ám ảnh không nguôi đã đè nặng trên lương tâm tôi trong suốt 50 năm qua.
Sau cùng và quan trọng hơn hết là tôi xin thành khẩn hướng về linh hồn
cha tôi để tạ ơn sinh thành dưỡng dục và tình yêu thương vô bờ bến
mà cha tôi đã dành cho tôi trong cuộc đời. Tôi van vái linh hồn cha tôi
tha tội cho tôi vì tôi đã viết ra những điều bí mật trong quá khứ của
cha tôi. Cha ơi, con chỉ hành động theo tiếng gọi không thể cưỡng lại
của lương tâm mà thôi! Cha ơi, con xin vập đầu lạy Cha, lúc nầy con yêu
thương Cha hơn bao giờ hết.
Tôi cũng không vì lo sợ cho sự an
toàn cá nhân mà im lặng làm ngơ. Tuổi đời tôi nay đã 64 rồi, tôi xin
dâng hiến tất cả những gì còn lại của riêng tôi cho Đạo Làm Người
với tất cả tấm lòng thành khẩn. Với những tâm tư ấy, tôi xin cố gắng
nêu lên một số vấn đề liên quan đến các sách kinh nguyện Công Giáo với
ước mong sẽ được sự góp ý xây dựng của bậc thức giả ở hải ngoại
cũng như ở trong nước, nhằm mục đích góp phần bảo tồn sinh mệnh dân
tộc, chấn hưng văn hoá nước nhà và hy vọng có thể đóng góp một phần
nhỏ bé nào đó vào cuộc cách mạng tâm linh đang diễn ra trên thế giới
hiện nay. Đây hoàn toàn là một hành vi tự phát đơn độc của một người
Công Giáo đã đau khổ nhiều với những trăn trở của lương tri và chỉ
vì yêu quê nhớ nguồn mà thẳng thắn nói lên ý kiến của mình trên lập
trường dân tộc bình thường mà thôi. Tôi biết những bài viết của tôi
trong mục đích này có thể gây khó chịu cho những người cuồng tín, nhưng
xét cho cùng thì tôi cũng chỉ là người có nhiệt tâm hưởng ứng lời kêu
gọi của Giáo hoàng John Paul II. Từ khi lên ngôi năm 1978 đến nay, Giáo
hoàng John Paul II đã hàng trăm lần kêu gọi mọi tín đồ Công Giáo phải
xét lại vấn đề lương tâm của giáo hội (The Church’s examination of
conscience). Toàn bộ nội dung những bài viết của tôi không đi ra ngoài mục
đích trong tư cách là tín đồ Công Giáo. Nếu suy nghĩ như vậy, tôi tin rằng
quý vị khó có thể có lý do chính đáng để kết án tôi về một tội
nào được.
Hầu hết các giáo hội Công Giáo
Âu Mỹ hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hoàng Jean Paul II đã lên tiếng
thú nhận tội lỗi của giáo hội và khẩn xin sự tha thứ của loài người.
Chỉ riêng giáo hội Công Giáo Việt nam, dưới sự lãnh đạo của HĐGM do
Hồng y Phạm Đình Tụng cầm đầu, cho đến nay vẫn cứ im hơi lặng tiếng
và vẫn cố tình giả điếc như chẳng có chuyện gì xảy ra! Thái độ
ngoan cố của Công Giáo Việt Nam nói chung và của HĐGM Việt Nam nói riêng
là không thể chấp nhận được. Theo công tâm mà xét, chỉ những kẻ
phạm tội biết tỏ ra có thành tâm hối hận mới đáng được tha thứ.
Trái lại, Giáo hội Công Giáo Việt Nam là một tập thể tội phạm đối
với dân tộc, nếu không sớm tỉnh thức ăn năn hối hận và xin sự tha
thứ mà vẫn cứ tiếp tục thản nhiên như hiện nay thì nhất định sẽ bị
toàn dân Việt Nam trừng trị đích đáng vì chính thái độ trân tráo của
họ đã làm cho họ không đáng được tha thứ!
Không phải đến bây giờ mọi người
mới nhận ra cái bản chất xấu xa gớm ghiếc của đạo Công Giáo mà khắp
thế giới đã có biết bao phong trào và danh nhân của nhân lọai đã phải
lên tiếng gay gắt kết án nó từ lâu. Chỉ riêng tại Việt Nam, các cụ
ngày xưa đã gọi Công Giáo là Hoa Lang Tả đạo. Cuối thể kỷ 19, cụ đồ
ái quốc Nguyễn Đình Chiểu gọi Công Giáo là Tà đạo, đầu thế kỷ 20,
nhà cách mạng Phan Bội Châu gọi nó là Đạo Chích. Tại hải ngoại, nhân
sĩ Công Giáo tỉnh ngộ là BS Nguyễn Văn Thọ nói là Đạo Dối, nhà
nghiên cứu văn hóa chính trị Lê Trọng Văn gọi nó là Đạo Bịp. Mới đây
nhất, ứng cử viên tổng thống Mỹ George W. Bush trong cuộc vận động bầu
cử tại trường Đại học South Carolina ngày 2.2.2000 đã gọi giáo hội
Công Giáo là Giáo hội của Satan. Có một điều đáng ngạc nhiên là nếu
chúng ta đọc kỹ Thánh Kinh Tân Ước sẽ nhận thấy chính Jesus cũng gọi
Phê-rô, kẻ đứng đầu giáo hội Công Giáo là Satan. Phúc âm của Matthew
[Thánh Kinh Tân Ước cuốn Mathiơ, chương 16, đoạn 23.]
(16:23) có chép lời của Jesus như
sau: "Nhưng Ngài quay mặt lại mà phán cùng Phê-rô rằng: Hỡi Satan,
hãy lui ra đằng sau ngươi, người xúc phạm ta" (But He turned and said
unto Peter: Get thee behind me, Satan, thou art an offence unto me). Theo nguyên ngữ
Hebrew thì Satan có nghĩa là Vật Chất. Phê-rô là Đá. Đá và Vật Chất
là một. Giáo hội Công Giáo của Phêrô quả thật là giáo hội của Satan
vì nó chỉ lo vơ vét tiền của vật chất và chiếm đọat quyền lực
khuynh đảo thế gian. Cho nên trong gần hai ngàn năm qua, nó đã lao mình vào
con đường tội lỗi chống loài người và chống cả Thiên Chúa!
Từ ngày tên bạo chúa La Mã
Constantine biến nó thành tôn giáo chính thức của đế quốc vào năm 325 đến
nay, nó đã giết hại trên 200 triệu người, trong số đó có 3 triệu người
trong hàng ngũ Thập tự quân đã chết uổng mạng để giải cứu ngôi mộ
của Jesus khỏi tay quân Hồi Giáo, trên 10 triệu người chống đạo bị
đưa lên giàn hỏa và 14 triệu nạn nhân trong các cuộc thánh chiến do
Vatican phát động nhằm tiêu diệt các giáo phái Kit-tô khác (Deception and
Myths of the Bible by Lloyd M. Graham, p.463). Nhưng có lẽ tội ác lớn hơn mọi
tội lỗi kể trên là Công Giáo La Mã đã phá hủy gần như hoàn toàn nền
văn minh nhân bản của Hy Lạp khiến cho đà tiến hóa của nhân loại đã
bị khựng lại trên một ngàn năm! Các bộ óc vĩ đại của Hy Lạp
như Pythagoras vào thế kỷ 16 TCN đã dạy học trò là trái đất tròn và
xoay chung quanh mặt trời. Vào thế kỷ 3 TCN. Aristarchus đã đưa ra lý thuyết
về thái dương hệ tương tự như lý thuyết của Copernicus (thế kỷ 6). Cũng
trong thời gian đó, Eratosthene đã đo được chu vi trái đất. Đến thế kỷ
thứ 2 TCN, Hippachus đã phát minh ra cách vẽ địa cầu theo kinh tuyến và vĩ
tuyến! (sách dẫn chiếu trang 448).
Để thay thế cho ngọn đuốc Hy
Lạp thắp sáng trí tuệ, Công Giáo La Mã đã bao trùm lên toàn thể nhân loại
bóng tối triền miên qua nhiều thế kỷ bằng cách không ngừng bành trướng
thế lực và truyền bá nền văn hóa du mục máu lửa bắt nguồn từ
Babylon-Israel để gieo rắc không biết bao nhiêu thứ tai họa đau thương cho
cả loài người trong gần 17 thế kỷ qua. Vậy chúng ta nên gọi Công
Giáo La Mã là gì cho đúng với thực tế ghê tởm khủng khiếp của nó?
Tôi đề nghị chúng ta nên gọi Đạo Công Giáo là " ĐẠO MÁU" hoặc
cũng có thể gọi nó là "Tây-Dương Khuyển-Sinh Đại-Đạo"!
Bởi vì Công Giáo La Mã thực chất không phải là đạo thờ Thiên Chúa mà
là đạo thờ con quái vật ba đầu (hoặc ba ngôi) và một người đàn bà
Do Thái. Từ thế kỷ 11 đến nay, Công Giáo La Mã đã ra sức thần thánh
hoá người đàn bà này tới mức ngày nay bà ta đã trở thành ngôi thứ tư
của Thiên Chúa. Do đó, Thiên Chúa của Công Giáo La Mã (The Roman Catholic
God) đã thật sự trở thành Quái Vật Bốn Đầu (gồm có một đầu bò
El, một đầu thanh niên mặt mũi hắc ám đầu đội mão gai, máu me đầy mặt
có hình in trên tấm vải liệm ở nhà thờ lớn Turin, một đầu chim bồ câu
đực và mới thêm một đầu đàn bà). Tuần báo Newsweek số ra ngày
25.8.1997 (trang 49) viết: "Thay vì Thiên Chúa Ba Ngôi, dường như đã
xuất hiện một loại Thiên Chúa Bốn Ngôi với vai trò phức tạp của bà
Maria: Cùng một lúc bà ta là con gái của Chúa Cha, mẹ của Chúa Con và vợ
của Chúa Thánh Thần. (In place of the Holy Trinity, it would appear there would
be a kind of Holy Quartet with Mary playing the multiple roles of daughter of the Father,
mother of the Son and Wife of the Holy Spirit). Theo giáo lý Công Giáo thì Ba
Ngôi là một Thiên Chúa, cho nên cùng một lúc Jesus là con, là cha và cũng là
chồng của bà Maria. Chỉ riêng một điều này cũng đủ cho ta thấy giáo
lý căn bản của đạo Công Giáo chẳng những nhảm nhí bậy bạ mà còn
mang tính chất loạn luân mất dạy (incestuous, ill-bred).
Ngoài ra, Công Giáo còn tôn sùng
nhiều kẻ loạn luân khác như "thánh" Abraham (lấy em gái làm vợ);
cha con Lot trong Kinh Thánh Cựu Ước (Lot lấy 2 cô con gái, một cô có với
y 2 đứa con), "vua thánh" David giết tướng dưới quyền để cướp
vợ của ông ta là Bathsheba để đẻ ra tổ tiên của Jesus. Giáo hoàng
Borgia Alexander VI (1492-1503) có công xây dựng kiệt tác kiến trúc là Đền
Thánh Phêrô và nuôi các danh họa kỳ tài Michael Angelo, Leonardo da Vinci
[1451-1519, người Ý: họa sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ và khoa học gia.]
để họ có phương tiện kiến tạo
nhiều kiệt tác hội họa và điêu khắc để đời. Nhưng đồng thời y
cũng tổ chức nhiều cuộc truy hoan cực kỳ xa hoa trụy lạc cho các giáo sĩ
và viên chức tòa thánh làm tình tập thể (sex orgy) ngay tại Tòa Thánh với
những gái điếm tuyển lựa ở Roma. Giáo hoàng cho người đi hứng tinh dịch
của những người đàn ông tham dự để làm tiêu chuẩn tuyển chọn người
có khả năng làm tình xuất sắc nhất. Sau đó giáo hoàng và con gái y là
Lucrezia đích thân phát thưởng. Con trai của giáo hoàng là "ông
hoàng" Caesar Borgia nổi tiếng độc ác quỷ quyệt đã trở thành đề
tài cảm hứng cho Machiavel [1469-1527, người Ý.]
viết nên tác phẩm The Prince
lừng danh thế giới. Lucrezia làm tình với cả cha lẫn anh nên khi nàng sinh
ra một đứa con trai, chính nàng cũng không biết nó là con của ai. Tuy
nhiên, từ khi đứa bé được 6 tháng tuổi thì Giáo hoàng Alexandre VI công
khai cho Lucrezia bế đứa bé ngồi bên cạnh mỗi khi "Đức Thánh
Cha" chủ tọa các buổi họp của tòa thánh hoặc khi y nổi hứng ban
phép lành tòa thánh cho toàn giáo hội Công Giáo hoàn vũ! Giáo hoàng Borgia
Alexander VI chẳng những loạn luân với con gái mà còn loạn luân với hai
cô em ruột và có rất nhiều vợ bé. The Bad Popes by E.R. Chamberlin, Dorset
press N.Y 1969; The Borgias, translated from Italian by Peter Green, Praeger Bublisher USA
1972; Babylon Mystery Religion by Ralph Woodrow Evangelistic Association, CA 1990, p. 89).
Một sự thật hiển hiên không thể
chối cải là Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước và Lịch sử Giáo hội
Công Giáo tràn ngập đủ thứ chuyện vô cùng mất dạy của Chúa Cha
Jehovah, các thánh và giáo sĩ Công Giáo các cấp. Giáo hoàng Borgia nói trên
không phải là một trường hợp cá biết. Tôi đã tóm dịch cuốn Tự Điển
Bách Khoa về các Giáo Hoàng (The Pope Encyclopedia from A to Z) và sẽ đưa in để
quý độc giả biết sơ qua về các thủ lãnh mất dạy và gian ác của đạo
Công Giáo từ xưa đến nay. Tôi đề nghị chúng ta nên phát động một
cuộc thăm dò ý kiến với qui mô rộng rãi khắp trong các cộng đồng người
Việt hải ngoại và đồng bào trong nước để thử tìm một danh xưng xứng
hợp nhất với thực chất của Công Giáo La Mã mà chúng ta có thể nhận
thức được trong hoàn cảnh hiện nay, nhất là sau khi Vatican đã phải thú
nhận 7 núi tội của nó ngày 12 tháng 3 năm 2000 vừa qua.
Ngoài những điều xấu xa bẩn
thỉu và những tội ác khủng hiếp thuộc bản chất chung của "Tây-Dương
Khuyển-Sinh Đại-Đạo", giáo hội Công Giáo Việt Nam còn phạm tội
phá hoại tinh thần và văn hóa dân tộc cũng như những âm mưu lũng đoạn
quốc gia nhằm tiếp tay cho thực dân đế quốc nô lệ hóa đất nước. Chúng
ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm Công Giáo là đạo của Việt
gian. Muốn nêu ra bằng chứng về những điều xấu xa ác đức này,
chúng ta chẳng cần phải tìm ở đâu xa vì tất cả đều nằm ngổn ngang ở ngay trong sách kinh nguyện của Công Giáo Việt
Nam. Để đồng bào mọi giới có tài liệu tìm hiểu vấn đề này,
tôi xin trình bày toát lược nội dung và xuất xứ của các bài kinh nguyện,
sau đó phân tích những tác hại mà các bài kinh này đã gây ra trên phương
diện văn hóa và tinh thần như thế nào. Cuối cùng, chúng ta cùng nhau tìm
mọi biện pháp thật hữu hiệu để chận đứng những tác hại của các
sách kinh nguyện đó.
3. SỰ KHÁC BIỆT
GIỮA KINH NGUYỆN & KINH THÁNH
Ai cũng biết các sách Kinh Thánh
(Books of the Bible) là cái gốc của các đạo độc-thần và được các tín
đồ coi là cuốn sách cao quý nhất trên hết các sách ở trên đời, nhưng
trong thực tế hầu như tuyệt đại đa số giáo dân không đọc Kinh Thánh
bao giờ. Các sách Kinh Thánh thường rất dày như những cuốn tự điển,
in trên giấy mỏng đặc biệt (biblical paper) chữ in nhỏ với lối văn dịch
nhiều chỗ ngô nghê và khó hiểu. Trước đây, sách Kinh Thánh thường được
những người Công Giáo lớn tuổi gọi là Sách Sấm Truyền, ngày nay người
ta thường gọi Kinh Thánh là Sách Phúc Âm hay sách Tin Mừng (do tiếng Hy Lạp
Gospels có nghĩa là Good News). Thông thường vào mỗi buổi lễ ngày Chủ nhật,
các cha cố thường trích một đoạn nào đó trong Thánh Kinh để thuyết giảng
cho giáo dân nghe sau khi đã chọn lọc và nghiên cứu kỹ càng. Do đó giáo
dân có ảo tưởng Thánh Kinh gồm toàn những lời hay ý đẹp cả. Trong các
lễ ngày Chủ nhật hiện nay, một vài giáo dân được đề cử để đọc
một vài đoạn Thánh Kinh nào đó. Sau khi đoạn sách được đọc xong, người
đọc nâng cao sách Thánh Kinh lên rồi kính cẩn nói: "Đó là Lời
Chúa" và mọi người trong nhà thờ cùng đáp: "Tạ ơn Chúa!".
Sự thật trong cái gọi là
Thánh Kinh không thiếu gì những điều nhảm nhí và vô luân. Ngược lại,
có nhiều điều rất hợp lý và bổ ích nhưng các cha cố đã cố tình
tránh né không dám mang ra giảng cho giáo dân nghe vì những điều này có hại
cho nghề nghiệp của họ. Chẳng hạn như lời của Jesus dạy về sự bình
đẳng: "Mỗi người trong anh em đều là Thầy của nhau. Tất cả đều
là anh chị em của nhau" (For one is your Master and all ye are brethen –
Matt.23: 4-10). Lời của giáo chủ dạy về sự bình đẳng rõ ràng như thế
nhưng các tu sĩ Công Giáo chẳng bao giờ coi giáo dân là những người bình
đẳng với họ. Họ luôn luôn cao ngạo tự xưng mình là CHA thiên hạ, các
đấng Bề Trên, Đức Cha, Đức Ông, Đức Thánh Cha... Các giáo chủ lập
đạo là nhữung tâm hồn yêu thương toàn nhân loại và quý trọng giá trị
của mọi người dù bé nhỏ đến đâu. Các vị đó chỉ muốn giúp đỡ
phục vụ con người chứ không lên mặt làm Thầy của bất cứ ai. Trái lại,
tu sĩ Công Giáo đa số rất tự phụ, cao ngạo, ích kỷ, tham lam và đạo
đức giả. Bởi lẽ trí óc của họ rất hẹp hòi và trình độ tâm linh rất
thấp kém nên họ đã không hiểu đạo. Các giáo chủ càng đạo đức và
khiêm tốn bao nhiêu thì đệ tử của các ngài lại càng hư đốn và kiêu
căng láo xược bấy nhiêu.
Phúc âm Tông đồ Công Vụ dạy rằng:
"Thánh Linh Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ được xây dựng
bởi bàn tay con người" và "Anh em là đền thờ của Chúa,
Thánh Linh Thiên Chúa ngự trong anh em" (The Holy Spirit of God no longer
dwelt in temples made with men’s hands – Act.17:24 – Ye are the temples of God, the
Spirit of God dwelt in you – Corinth 3:16). Chúa cũng như Phật đều xác nhận
tâm linh con người mới đích thực là các đền thờ thật. Đức Phật dạy
"Phật tại tâm" chứ không hề dạy "Phật tại
Chùa" bao giờ. Nhưng nhiều tu sĩ của các tôn giáo đã biến các nơi
thờ tự thành những nơi buôn thần bán thánh, làm hủy hoại chân lý của
các giáo chủ. Chính chúng đã làm cho các vị giáo chủ mất hết chỗ đứng
trong những ngôi đền thật là tâm hồn của mọi người. Một sự thật
hiển nhiên là các tu sĩ chỉ lo xây dựng những ngôi đền giả vì nhữntg
động lực ích kỷ thấp hèn của chúng và chúng ra sức phá hủy các ngôi
đền thật quý giá vô cùng là lòng người. Thay vì dùng tôn giáo để giải
phóng con người, các tu sĩ đã biến các tôn giáo thành những nhà tù tư
tưởng để giam hãm đồng loại và biến đồng loại thành nô lệ phục vụ
cho quyền lợi ích kỷ của chúng. Bởi vậy chúng chỉ trích dẫn từ Kinh
Thánh những gì có lợi cho chúng mà thôi, những điều tốt lành nhưng bất
lợi cho chúng thì chúng hoàn toàn dấu nhẹm!
Kinh Thánh là một bộ sách rất phức
tạp gồm nhiều cuốn sách do nhiều người viết trong những thời đại khác
nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm của Công Giáo La Mã thì Thánh Kinh gồm có
hai phần: Các sách Kinh Thánh của đạo Do Thái được người Công Giáo
công nhận là Cựu Ước gồm có 46 cuốn được viết bằng tiếng Hebrew
trong khoảng thời gian từ 1000 TCN đến 400 TCN. Các chuyện kể trong những
sách này đều là những chuyện dân gian truyền khẩu được góp nhặt lại,
trong đó có rất nhiều chuyện thần thoại được sáng tác ở Babylon từ
nhiều thế kỷ trước đó. Các giáo phái Tin lành chỉ công nhận 39 cuốn
trong tổng số 46 sách Cựu Ước nói trên mà thôi. Sáu cuốn khác, trong đó
có cuốn Wisdom of Salomon, bị họ coi là những chuyện bịa đặt nhảm nhí!
Các sách kể chuyện về cuộc đời
hoạt động của Jesus và các môn đệ gọi là Tân Ước gồm 27 cuốn do
nhiều người viết bằng tiếng Hy Lạp trong 60 năm (từ năm 40 đến cuối
thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên). Chúng ta cần chú ý một số điểm là
cả Jesus và đồng bạn đều là người Do Thái nhưng không nói tiếng Do
Thái (Hebrew) mà nói tiếng Aramaic là ngôn ngữ của người Syria. Không một
cuốn sách Tân Ước nào được viết bằng tiếng Aramaic là tiếng mẹ đẻ
của Jesus. Ông giảng đạo và chết tại Do Thái vào khoảng năm 29 sau Công
Nguyên, tới 11 năm sau mới có cuốn sách đầu tiên kể chuyện về ông và
người ta tiếp tục viết cái gọi là Thánh Kinh Tân Ước tại Hy Lạp dài
dài cho tới hơn 70 năm sau để làm chứng cho những phép lạ mà Jesus đã
làm tại một nơi xa xôi là Jerusalem!
Vào đầu thế kỷ thứ 7, tại thành
phố Mecca thuộc xứ Ả Rập Seoudite, một thương gia giàu có là Mahomet đã
lập ra đạo Hồi với sự cộng tác của Zayd là một tín đồ Do Thái
Giáo và của Waraqua là một tín đồ Ki-tô Giáo. Do đó, đạo Hồi là một
sự tổng hợp của hai đạo nói trên. Đạo Hồi công nhận một phần
Thánh Kinh Cựu Ước và một phần Thánh Kinh Tân Ước. Họ tin tổ tông
loài người là Adam và Eva, họ nhận Baraham là tổ phụ và là người sáng
lập Đạo Thiên Chúa (Monotheism). Người Hồi Giáo thù ghét Do Thái Giáo
và Ki-tô Giáo vì họ cho đó là những tà đạo phỉ báng Thiên Chúa
(blasphemous). Họ hết sức khinh bỉ giáo lý "Thiên Chúa Ba Ngôi" của
Ki-tô Giáo. Nhưng họ lại rất tôn trọng các tiên tri Do Thái từ
Abraham, Isaac, Jacob, Moses, Isaiah cho đến Jesus. Đối với người Hồi Giáo
chỉ có Mahomet là tiên tri cuối cùng và cao hơn hết thảy. Kinh Thánh Coran
do Mahomet viết liên tục trong 23 năm là sách Thánh Kinh đúng đắn nhất.
CORAN (tiếng Ả Rập là Quran) có nghĩa là Sự Thuật Lại (Recitation) vì
Mahomet không nhận mình là tác giả mà chỉ nhận là người ghi chép lại
những điều thiên thần Gabriel đọc cho ông ta viết mà thôi. Mahomet viết:
"Abraham là tín đồ Hồi Giáo đầu tiên biết tuân phục Đức Chúa
Trời. Đức tin của chúng ta là đức tin của Abraham. Chúng ta tin Thiên
Chúa và những điều đã được Ngài truyền cho Abraham, Isaac, Jacob, Ismael
và dòng dõi của các vị đó. Chúng ta tin vào những điều đã được làm
chứng bởi Moses và Jesus" (Abraham had been the first Muslim to surrender to
God. Ours is the creed on Abraham. We believe in God and in that which has been bestowed
upon Abraham, Isaac, Jacob, Ismael and their descendants and that which has been vouched
to Moses and Jesus – Koran 2:135-136).
Nói tóm lại, các đạo thờ Chúa
gồm có Do Thái Giáo, Ki-tô Giáo và Hồi Giáo gọi chung là Thiên Chúa Giáo
hay Độc Thần Giáo (Monotheism) đều coi Thánh Kinh là bộ sách quan trọng nhất.
Tuy nhiên, mỗi tôn giáo có những quan niệm riêng về thành phần của Bộ
Thánh Kinh: Do Thái Giáo chỉ công nhận Cựu Ước. Ki-tô Giáo công nhận phần
lớn các sách Cựu Ước nhưng Tân Ước là chủ yếu. Đạo Hồi công nhận
một phần các sách trên nhưng kinh Coran là chủ yếu. Chỉ vì những chi
tiết khác biệt nhỏ nhặt mà ba tôn giáo thờ cùng một Chúa và có chung
các thánh tổ phụ đã chém giết nhau trong nhiều thế kỷ làm thiệt mạng
hàng trăm triệu người! Đó là hậu quả của nền văn hóa du mục bắt
nguồn từ Babylon. Chính Kinh Thánh Khải Huyền cũng phải công nhận: "Huyền
thoại Babylon vĩ đại là mẹ của những con điếm và những chuyện khủng
khiếp trên thế giới!" (Mystery Babylon the Great, mother of harlots and
abominations of the earth. Rev.17:1-6).
Nội dung của các Sách Kinh Nguyện
Công Giáo (Catholic prayer-books) trên nguyên tắc phải phù hợp với nội dung
của các sách Kinh Thánh bao gồm cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Trong thực
tế có nhiều bài kinh nguyện (prayers) đã phản lại tinh thần Thánh Kinh
(antiscriptural) hoặc không có căn bản Thánh Kinh (Unscriptural). Theo Thánh
Kinh Cựu Ước thì mọi người chỉ có thể cầu nguyện với Thiên Chúa
mà thôi chứ không được cầu nguyện với bất cứ ai khác vì chỉ có
Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống. Việc cầu nguyện các thánh bị coi là
nói chuyện với những người đã chết bị Cựu Ước lên án (All attempts
to communicate with the dead are condemned – Isaiah 8:19-20). Trong các sách kinh nguyện
Công Giáo có rất nhiều bài kinh dùng để cầu nguyện với các thánh đã
chết, như vậy là đã chống lại Thánh Kinh.
Những bài kinh dùng để lần chuỗi
Mân Côi được người cầu kinh lặp đi lặp lại nhiều lần là trái với
lời dạy của Jesus: "Khi anh em cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại
như những kẻ ngoại vì họ lầm tưởng rằng cứ nói nhiều thì sẽ được
nghe nhiều". (When ye pray, use not vain repititions as the heathen do for they
think that they shall be heard for their much speaking -–Matt. 6:7-13).
Những bài kinh ca ngợi Đức Mẹ Đồng
Trinh là trái với Cựu Ước vì Cựu Ước chỉ nói rằng Chúa Cứu Thế sẽ
được sinh ra bởi một người mẹ "Trẻ" chứ không phải là
"Đồng Trinh". Sách của Matthew là sách duy nhất trong bộ Tân Ước
nói Đức bà Maria đồng trinh bằng cách trích dẫn sách của Isaiah trong Cựu
Ước, nhưng các nhà nghiên cứu Thánh Kinh đã phát giác ra sự ngụy tạo của
Matthew vì Isaiah dùng chữ Hebrew "ALMAH" có nghĩa là trẻ (young) chứ
không hề có nghĩa là Đồng Trinh (virgin). Ngoài ra còn rất nhiều điều ngụy
tạo trong bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng La Tinh của Jerôme (Vulgate) so với
chính bản Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp hoặc những điều ngụy tạo trong
các bài kinh nguyện so với Thánh Kinh sẽ được trình bày ở những đọan
sau.
4. XUẤT XỨ
CÁC BÀI KINH NGUYỆN
Các bài kinh nguyện (prayer) phát
sinh từ nhiều nguồn khác nhau và xuất hiện trong nhiều thời điểm khác
nhau nhưng nói chung các bài kinh này đều đã phải trải qua sự kiểm duyệt
kỹ càng của Vatican. Căn cứ vào Thánh kinh và lịch sử giáo hội Công
Giáo, ta có thể biết được nguồn gốc của một số kinh nguyện như sau:
1. Kinh Mười Điều
Răn xuất phát từ đạo Do Thái.
Theo Thánh Kinh Cựu Ước Exodus thì
khoảng năm 1200 TCN, Moses (tức thánh Mai-sen) một mình leo lên núi Sinai ở
phía Bắc Hồng Hải (hiện thuộc lãnh thổ Ai Cập) để gặp và nói chuyện
mặt đối mặt với Thiên Chúa Jehovah. Moses nhận hai phiến đá ghi 10 điều
răn, tức 10 điều luật, từ tay Thiên Chúa Jehovah trực tiếp trao cho. Sau
đó Moses xuống núi công bố cho dân Do Thái biết rằng Jehovah là Thiên
Chúa của Israel và chính là thần EL của các tổ Phụ Abraham, Issac và
Jacob. Chúa phán cùng Moses rằng: "Ta là Thiên Chúa của tổ phụ ngươi,
Thiên Chúa của Abraham, của Issac và Jacob"(I am the God of your father,
the God of Abraham, the God of Issac and the God of Jacob – Exodus 3:5-6). Tuy xác
nhận Jehovah chính là thần bò EL (còn gọi là Elohim) nhưng Moses lại cấm dân
chúng thờ ảnh tượng bò thần. Moses ra lệnh giết liền một lúc trên
3000 người bất tuân lệnh. Y ra lệnh cho những người Levy là đồng bọn
của y nấu chảy tượng thần bò đúc bằng vàng rồi lấy vàng nóng chảy
đổ vào tai, mắt, miệng của những người đã đúc ra nó để xử tử họ.
Điều thứ nhất cấm không ai được
thờ thần nào khác ngoài Jehovah. Điều thứ hai cấm thờ ảnh tượng. Điều
thứ ba cấm mọi người làm việc trong ngày thứ bảy (Sabbath). Có nhiều
người lên rừng kiếm củi để nấu bếp vào ngày Sabbath bị Maisen bắt
đem đi xử tử. Điều thứ tư khuyên mọi người phải thảo kính cha mẹ.
Điều thứ năm cấm giết người nhưng trong thực tế Moses giết người
như ngóe!... Tóm lại, Kinh Mười Điều Răn chỉ là bản tóm tắt các luật
lệ của đạo Do Thái, Kinh Thánh Cựu Ước Pentateuch mới là văn bản luật
pháp chi tiết khai triển 10 điều răn thành 613 điều luật (mitzvot). Tuy điều
thứ tư có dạy người ta phải thảo kính cha mẹ, nhưng trong Luật
Pentateuch lại có những điều khuyên mọi tín đồ không được thương xót
cha mẹ vợ con anh em mà phải giết họ nếu họ tuyên truyền đạo khác.
Nhiều điều luật chi tiết buộc tín đồ phải cung cấp cho các tu sĩ những
nông sản đầu mùa, rượu ngon và lông cừu để họ làm áo (Exodus 22:20
– Pentateuch 5:12-15), buộc tín đồ phải diệt hết các đạo của kẻ ngoại,
đập tan đền thờ và đốt trụi hết các tượng thần của chúng, treo cổ
các tu sĩ của những đạo đó để làm nguôi cơn thịnh nộ của "đức"
Jehovah... (Pentateuch 12:2-3). Chẳng khác gì giáo dân La Vang nghe lời xúi giục
của bọn cố Tây đi cướp phá chùa Phật Giáo để xây nhà thờ kính Đức
Mẹ Maria của họ vào cuối thế kỷ 19!
Mong rằng sẽ có nhiều người Công
Giáo biết chịu khó lấy Kinh thánh Cựu Ước ra mà đọc để tận mắt nhìn
thấy Thiên Chúa Jehovah của họ độc ác và mất dạy như thế nào. Nếu
thấy Kinh Thánh dầy quá hoặc khó đọc thì xin hãy tìm đọc cuốn "Lòng
Tin Âu Mỹ Đấy!" do Đồng Thanh xuất bản năm 1996, Văn Nghệ phát
hành. Sách có hai phần: Phần đầu là tác phẩm Tín Ngưỡng Tây Phương
(144 trang) của tác giả Trần Quý và phần sau là tác phẩm The Age of
Reason của Thomas Paine viết vào cuối thế kỷ 18, Trần Quý dịch ra Việt
Ngữ dưới tựa đề "Thời Đại Lý Trí" (156 trang). Khi đọc
sách này, xin quý vị đừng vội nghĩ rằng các tác giả thù ghét Công
Giáo nên viết bậy bạ để bêu xấu. Thật sự không phải đến ngày nay
người ta mới nhận thức được Thiên Chúa Jehovah (tức Đức Chúa Cha của
Công Giáo) thực chất là một con quỷ mà nhiều giáo phái Ki-tô Giáo
nguyên thủy trong 3 thế kỷ đầu Công Nguyên, tức trước khi Ki-tô Giáo bị
Constantine diệt vào đầu thế kỳ 4 để lập ra đạo Công Giáo, cũng đã
nói rất rõ những điều này trong các sách giáo lý của họ:
- Giáo Phái Ngộ Đạo (Gnosticism)
là một giáo phái Ki-tô nguyên thủy thịnh hành tại Ai Cập và
vùng Tiểu Á trong hơn 3 thế kỷ đầu, chủ trương tôn thờ Thượng Đế
và phủ nhận Jehovah của đạo Do Thái. Đối với họ, con rắn ở vườn
Địa Đàng là một vị thần khôn ngoan muốn giúp tổ tiên loài người là
Adam và Eve trở nên khôn ngoan sáng suốt bằng cách ăn trái của Cây Hiểu
Biết (The Tree of Knowledge). Vì lẽ đó, con rắn không phải là quỷ mà là một
đại ân nhân của loài người. Điều không may là Adam và Eva quá sợ ác
thần Jehovah nên đã không ăn trái cây này nên loài người đã chìm đắm
trong sự ngu dốt và đau khổ triền miên vì không thoát ra được sự ức
chế của con qủy Jehovah!. Con quỷ Jehovah biết rất rõ rằng sự hiểu biết
sẽ giúp con người thoát ra khỏi sự thống trị ác độc của nó nên nó
đã cấm tổ tiên loài người không được ăn Trái Cây Hiểu Biết, vì vậy
trái cây này được gọi là trái cấm!
- Giáo phái Marcionism do tín đồ
Ki-tô tên Marcion ở Rome sáng lập năn 160 rất thịnh hành tại Tây Âu cho
đến khi bị Constantine tiêu diệt. Giáo phái này kêu gọi tín đồ Ki-tô tẩy
chay Thiên Chúa Jehovah vì Jehovah là một ác thần vô cùng dữ tợn, thiên vị,
nông nổi và vô đạo đức, Jehovah chẳng những rất thấp kém về đạo
đức mà còn ngu hơn cả người thường nữa cho nên nó không đáng được
tôn xưng là Thiên Chúa và không đáng được tôn thờ. Theo họ, Thiên Chúa
thật phải là Thiên Chúa của tình thương yêu và sự tha thứ (The Real God
is a God of Love and Mercy) chứ không thể là Thiên Chúa Jehovah mô tả trong Cựu
Ước của đạo Do Thái được. Vì vậy, ai thờ Thiên Chúa Jehovah thực chất
là thờ quỷ! Công Giáo thực chất là đạo thờ quỷ Satan vì đạo này đã
tôn vinh con quỉ Jehovah lên thành Đức Chúa Cha!
2. Hai bài kinh được
viết theo những lời giảng của Jesus là Kinh Lạy Cha và Kinh Phúc Thật
Tám Mối.
Theo Phúc âm của Luca (11:2-4) một
hôm sau khi thấy Jesus vừa cầu nguyện xong, một môn đệ xin Jesus dạy cách
cầu nguyện. Jesus đã dạy: "Lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúng
con nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến...". Qua kinh Lạy
Cha, ta thấy rõ ý định của Jesus muốn mọi người nhận biết một Đấng
Thiên Chúa là Cha Chung và mọi người phải biết thương yêu nhau vì tất cả
là anh chị em cùng Cha. Điều đáng ghi nhận là Jesus đã biến Thiên chúa
hung ác Jehovah của đạo Do Thái thành một người cha nhân từ và biến đổi
các tín đồ từ những ngưòi sợ Chúa (God fearers) thành những người yêu
Chúa (God lovers). Nếu so sánh với đạo Do Thái thì những lời dạy này của
Jesus là những điều mới lạ và rất tiến bộ. Tuy nhiên, những kẻ lập
đạo Công Giáo đã không quan tâm đến những điều này. Họ đã biến
Jehovah thành Chúa Cha, Jesus thành Chúa Con. Điều điên khùng nhất là họ đã
biến Jesus thành Đấng Tạo Hóa sáng tạo ra vũ trụ vạn vật (Creator)! Tất
cả những điều này đều do người ta ngụy tạo và cố tình gán ghép cho
Jesus, sự thật Jesus không bao giờ giám lộng ngôn tự xưng mình là Thiên
Chúa. Trong các sách Tân Ước, ta thấy Jesus luôn luôn tự xưng mình là Con
của Người (Son of Man) chứ chẳng bao giờ Jesus dám tự xưng mình là Con
Thiên Chúa (Son of God).
Kinh Phúc Thật Tám Mối là bản
tóm tắt các bài giảng của Jesus ở trên núi (The Sermons on the Mount). Nội
dung của những bài giảng này thật ra không phải của Jesus mà là những
chủ trương của giáo phái Essene do Jean Baptist lãnh đạo. Vào thời của
Jesus, đạo Do Thái chia ra làm ba giáo phái: Giáo phái Pharisees đông tín đồ
nhất, chiếm giữ Đền Thánh Jerusalem. Gia đình của Jesus theo giáo phái
Pharisees nên năm lên 12 tuổi, Jesus được cha mẹ dẫn đến Đền Thánh để
học đạo. Giáo phái bảo thủ cuồng tín cực đoan là Sadducees chủ trương
tuân hành triệt để luật Mai-sen, Phêrô và Giu-đa theo phái này nên cả
hai được gọi là kẻ cuồng tín (The Zealots – Mark 3:18). Giáo phái thứ ba
là Essense cấp tiến nhất vì họ đứng về phía người nghèo và sống tập
thể với nhau theo chế độ cộng đồng tài sản. Jean Baptist, tức Gio-an
Bao-ti-xi-ta, là tu sĩ khổ tu cao cấp của giáo phái Essenes, trụ sở đặt tại
vùng Qumran ở gần Biển Chết. Quanh năm suốt tháng ông chỉ khoác trên người
một tấm da cừu mà thôi. Jean Baptist là con trai của bà Elizabeth (tức bà
thánh I-xa-ve) lúc đó bà dì này đang mang thai Jean Baptist được 6 tháng. Như
vậy Jean Baptist là cậu họ của Jesus và lớn hơn Jesus 6 tháng tuổi. Đến
khi trưởng thành, Jesus đã theo Jean Baptist để học đạo. Jean Baptist làm lễ
rửa tội cho Jesus trên sông Jordan để chính thức thâu nhận Jesus làm đệ
tử. Cũng từ đó, Jesus được phép mặc áo dài trắng
là đồng phục của các tu sĩ thuộc giáo phái Essenes.
Vào năm 25 sau Công Nguyên, Jean
Baptist bị vua Herode bắt giam về tội xúi giục dân làm loạn. Trong lúc
còn đang bị giam, Jean Baptist viết thư và nhờ một người lính gác ngục
tốt bụng chuyển cho Jesus. Ông gọi Jesus là "Người đến sau rốt"
(the coming One after all – Mark 1;14-15). Sau khi Jean Baptist bị vua Herode chém đầu
vào khoảng năm 26, Jesus bắt đầu đi giảng đạo thay sư phụ. Jesus tiếp
tục đi theo con đường của Jean Baptist nên tự biết sớm muộn cũng bị
Herode bắt giết. Hơn nữa, Jesus thừa hiểu đạo Do Thái đã định
nghĩa Messiah (Ki-tô) là Vua Do Thái, cho nên khi tự xưng mình là Messiah,
đương nhiên Jesus tự biết mình đã phạm tội chính trị. Đó chính là
quan điểm của chính quyền Do Thái và đế quốc La Mã đã nhìn Jesus trên
khía cạnh chính trị của truyền thuyết Ki-tô (The Political view of Messiah). Nói
tóm lại, đường lối chính trị và tôn giáo của Jesus là sự nối nghiệp
rập khuôn theo sư phụ Jean Baptist thuộc giáo phái Essenes mà thôi.
Các học giả nghiên cứu tôn giáo
Tây phương gọi Jeam Baptist và Jesus là những tiên tri chuyên về ngày tận
thế (apocalyptic prophets) chủ trương khôi phục vương quốc Do Thái khỏi
ách thống trị của đế quốc La Mã bằng cách tuyên truyền ngày tận thế
sắp đến để kích động tâm lý quần chúng nổi loạn chống đế quốc.
Judas Escariot thuộc giáo phái bảo thủ Sadducees và cũng là một du kích
quân Zealot chủ trương phải phản công đế quốc La Mã bằng quân sự nên
đã hợp tác với các tu sĩ Sadducees bắt Jesus để giao cho chính quyền. Sau
khi xử tử Jesus, quân lính La Mã đã ghim trên thập giá một tấm bảng nhỏ
ghi hàng chữ La Tinh: Jesus Nazarenus Rex Judaeorum (Jesus người làng
Nazarenus là vua nước Do Thái). Trên các tượng thánh giá ngày nay, hàng chữ
La Tinh này được ghi tắt là "JNRJ". Điều đó đủ cho ta thấy ý
nghĩa chính trị trong cái chết của Jesus.
Năm 1947, các nhà khảo cổ đã
tìm thấy cả một kho sách vĩ đại của giáo phái Essenes tại Qumran ở gần
Biển Chết, chỉ cách nơi Jean Baptist làm phép rửa tội cho Jesus xưa kia 5 cây
số. Kho tàng này gồm có hàng trăm cuốn sách viết trên những cuộn da lừa,
trên những thanh đồng hoặc những thanh gỗ được gọi chung là "The
Dead Sea Scrolls". Ngày nay, các sách này đã được dịch giả Tây phương
kết luận: Giáo phái Essenes là tiền thân của Ki-tô giáo hoặc có thể gọi
"Ki-tô Giáo trước Jesus". (Chrisanity before Christ – Xin đọc thêm
Newsweek số đặc biệt về Phục sinh ra ngày 8.4.1996). Tóm lại, Kinh Phúc
Thật Tám Mối là bản tóm lược giáo lý của giáo phái Essenes chứ không
phải là của Jesus. Trong thực tế, Jesus không phải là người tài giỏi
siêu phàm như người ta tưởng! Jesus của sự thờ phượng hoàn toàn không
phải là Jesus thật (the cultic Jesus is not the real Jesus)!.
3. Kinh Tin Kính (The
Creed) là kết quả của Công đồng Nicaea do hoàng đế La Mã Constantine triệu
tập năm 325.
Tác giả bài kinh này là Irenaeus, gốc
Ả Rập, làm giám mục tại Lyon (Pháp) vào cuối thế kỷ 2. Năm 185, Iraneus
xuất bản cuốn sách "Against the Heretics" kết tội hai giáo
phái Ki-tô Gnosticism và Marconism là các tà giáo vì họ dám gọi Jehovah là
quỷ và ca ngợi con rắn đã cám đỗ Adam-Eva ăn trái cây hiểu biết (the
tree of Knowledge) là vị thần khôn ngoan muốn cứu loài người thoát khỏi sự
ức chế của con quỷ Jehovah. Giám mục Irenaeus chủ trương tôn Jehovah của
đạo Do Thái lên thành Đức Chúa Cha và tôn Jesus lên thành Đức Chúa Con.
Điều quan trọng là Irenaeus viết bản dự thảo "Đức tin của các
thánh tông đồ" The Creed of Apostles): ‘Tôi tin Đức Chúa Cha toàn năng.
Chúa Jesus là Con một Thiên Chúa sinh bởi bà Maria đồng trinh, ngài xuống
thế chịu chết để chuộc tội thiên hạ, ba ngày sau lại lên trời và sẽ
tái lâm để phán xét mọi người sống và mọi người chết. Tôi tin Chúa
Thánh Thần và sự sống lại của kẻ chết". Các bài viết này của
Irenaeus đã lót đường cho sự hình thành đạo Công Giáo La Mã.
Vào mùa hè năm 325, hoàng đế La Mã
Constantine triệu tập Công đồng tại thành phố Nicaea thuộc Thổ Nhĩ Kỳ
qui tụ trên 300 giám mục trong toàn đế quốc để thành lập đạo mới của
đế quốc bằng cách thống nhất mọi giáo phái Ki-tô thành một tổ chức
duy nhất dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đế quốc. Năm 340, đế
quốc La Mã chính thức đặt tên cho tôn giáo do họ thành lập là Đạo Công
Giáo (Cattolica) có nghĩa là đạo của toàn cầu (universal). Công đồng
Necaea đã thông qua bản văn "Đức tin của các tông đồ" do
Irenaeus soạn thảo sau khi thêm vào một số điều: Đức Chúa Cha dựng nên
trời đất muôn vật. Đức Chúa Con bởi Đức Chúa Cha mà ra như ánh sáng
bởi ánh sáng và cùng với chúa Cha tạo thành vạn vật. Đức Chúa Thánh
Thần bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra". Từ đó văn bản
của Irenaeus và các điều đước viết thêm vào tại Công đồng Nicaea đã
chính thức trở thành Kinh Tin Kính của giáo hội Công Giáo ngày nay.
Năm 1054, các giáo hội Đông phương
gồm có Nga, Hy lạp và một số nước Đông Âu qui trách La Mã có tham vọng
lãnh thổ nên tách rời khỏi Công Giáo La Mã để thành lập Chính Thống
Giáo (Orthodox Church). Đầu thế kỷ 13, Công Giáo La Mã và Chính Thống Giáo
cãi nhau về điều liên quan đến Chúa Con (Filioque clause). Giáo lý Công
Giáo quyết đoán rằng Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.
Phía Chính Thống Giáo không chấp nhận điều đó và quả quyết rằng
Chúa Con sinh ra bởi Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh thì không thể
nói Chúa Thánh thần bởi Chúa Con mà ra được. Cuộc cãi vã về giáo lý
này đã dẫn đến cuộc thánh chiến thảm khốc. Năm 1204, giáo hoàng La Mã
kéo Thập tự quân tới tàn phá bình địa thủ đô của Chính Thống Giáo
là thành phố Constantinople, nay là Istambul của Thổ Nhĩ Kỳ, giết chết nhiều
người và cướp đi rất nhiều tài sản đưa về Rome, trong số đó có tượng
bốn con ngựa bằng đồng đen trên khải hoàn môn ở Constantinople. Hiện những
con ngựa đồng đen này đang đứng trên nóc nhà thờ lớn ở Venice, nước
Ý. Tóm lại, Kinh Tin Kính là bản tuyên ngôn lập đạo Công Giáo theo chủ
trương của đế quốc La Mã, chủ trương này hoàn toàn trái ngược với
giáo lý của Ki-tô Giáo nguyên thủy. Nó cũng là đầu mối gây chia rẽ và
tạo ra nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai giáo hội Ki-tô Đông
và Tây Âu Châu từ thế kỷ 11 cho tới ngày nay. (xin đọc thêm ĐỨC TIN CÔNG
GIÁO của Trần Chung Ngọc, Giao điểm xuất bản năm 2000. Tác giả dành
riêng chương II dài 112 trang trình bày hết sức đầy đủ về Kinh Tin Kính).
4. Kinh KÍNH MỪNG và
phép lần hạt Mân Côi được đặt ra từ năm 1050.
Tự điển Bách Khoa Britanica (vol.14,
p.999, article: Mary) cho biết Ki-tô Giáo trong những thế kỷ đầu Công
Nguyên không thờ bà Maria cho đến khi Công đồng Chalcedon (Hy Lạp) năm 451
công nhận bà Maria "trọn đời đồng trinh" (perpitual virginity). Khi
tín điều này được công bố, nhiều nhà thần học thời đó đã phản
đối vì theo Thánh Kinh, bà Maria có 8 người con gồm 5 trai 3 gái. Jesus là
người con trưởng chứ không phải là người con trai duy nhất của bà.
(Jesus is Mary’s firstborn son – Matt. 1:25). Ba em gái của Jesus không được nêu
tên, nhưng bốn em trai của ngài được nêu tên đầy đủ trong Thánh Kinh
là: James, Joses, Simon, Judas (không phải là Judas Escariot – Matt. 13:55). Cũng
theo Thánh Kinh thì Jesus không phải là con của Joseph, nhưng tên Jesus là do
chính Joseph đặt cho (Joseph knew her not till she had brought forth her firstborn son
and he called him Jesus. Matt. 1:25). Như vậy, bảy người anh chị em kia chỉ là
những anh chị em cùng mẹ khác cha với Jesus mà thôi.
Vấn đề đặt ra: Ai là cha ruột của
Jesus? Có hai câu trả lời:
a. Theo sách Talmud, một cổ thư của
các tu sĩ Do Thái Giáo, thì Jesus là một đứa con hoang. Vào năm bà Maria
lên 16 tuổi, trong dịp đến nhà ông cậu là Gioakim để săn sóc bà vợ của
ông ta là I-sa-ve (Elizabeth) lúc đó đang mang bầu Gioan – Baotixita được 6
tháng thì bà Maria đã bị một người lính La Mã tên là Panthera hiếp dâm.
Tên này gốc người Sidon (tức Li Băng ngày nay (đi lính lê dương cho đế
quốc La Mã và được giữ chức xạ thủ. Y chết tại Đức, lúc đó cũng
là thuộc địa của La Mã, vào năm 62 tuổi và được chôn tại Bingerbruck.
Hiện nay người ta đã tìm thấy bia mộ của tên lính này, trên đó có khắc
hình một người lính La Mã với tên là Panthera. Tấm bia mộ hiện được
lưu trữ tại bảo tàng viện Bad Kreuzenach, Đức quốc. Trường Đại học
của Dòng Tên tại Trung Tây Hoa Kỳ hiện dùng các tài liệu này để giảng
dạy "giáo lý mới" về gia phả của Jesus.
b. theo giáo lý Công Giáo, bà Maria
thụ thai và sinh ra Jesus là do Đức Chúa Thánh Thần. Sách Phúc Âm của Luca
chép lời của thiên thần Gabriel truyền tin cho bà Maria rằng "Đức
Chúa Thánh Thần sẽ đến cùng bà, Thánh linh thiên chúa sẽ phủ bà, cho
nên đứa con sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (The Holy
Ghost shall come upon thee and the Power of the Highest shall overshadow thee, therefore
this holy thing which shall be born of thee shall be called the Son of God – Luke
chap.1).
Nếu người Công Giáo tin rằng
Ba Ngôi là một Thiên chúa thì đương nhiên phải chấp nhận là Jesus đã
phủ [ Ăn nằm ]
mẹ mình vì Jesus cũng chính là
đức Chúa Thánh Thần! Chẳng lẽ Jesus lại là đứa con khốn nạn loạn luân
với mẹ ruột như vậy sao? Nhưng nếu không tin Jesus là một đứa khốn nạn
phạm tội loạn luân với mẹ của y thì cũng không thể tin y là Thiên
Chúa được vì y không phải là Chúa Thánh Thần. Tôi thách thức các
nhà thần học Công Giáo, nhất là các tiến sĩ Thánh Mẫu Học
(Mariologists) thuộc Dòng Đồng Công phản bác lại những điều trình bày
trên. Nếu các ông không phản bác nổi thì hãy tự biết liêm sĩ của một
người mang tiếng là trí thức. Các ông hãy lấy mảnh bằng tiến sĩ thần
học của các ông cho giáo dân lau bàn rồi đắp lên mặt các ông. Các ông
chỉ bịp được đám giáo dân kém trí tuệ của các ông thôi. Cả cái
Dòng Đồng Công ở Carthage Missouri chỉ là một tổ chức bịp bợm lường
gạt đồng bào.
Về việc
đọc kinh Kính Mừng (the Hail Mary), Tự Điển Bách Khoa chính thức của
Giáo hội Công Giáo cho biết: "Không có bằng cớ chưn駠tỏ bài kinh Kính Mừng được công nhận như một công
thức của lòng sùng kính Đức Mẹ trước năm 1050". (There is little
or no trace of the Hail Mary as an accepted devotional formula before about 1050 – The
Catholic Encyclopedia Vol.7, p.11 article: Hail Mary). Kinh này được đọc đi đọc
lại nhiều lần với chuỗi hạt gọi là chuỗi hạt Mân Côi (the
Rosary-beads). Mân Côi có nghĩa là hoa hồng vì mỗi một bài kinh Kính Mừng
được coi như một bông hồng dâng lên Đức Mẹ. Việc tôn thờ bà Maria với
chuỗi hạt Mân Côi và hình tượng Mẹ bồng con hoàn toàn rập khuôn theo
đạo cổ truyền của Ai Cập đã có từ nhiều thế kỷ trước Công
Nguyên. Khi giảng đạo tại Jerusalem, chính Jesus đã ngăn cấm sự bắt chước
ngoại giáo bằng cách lần chuỗi đếm những bài kinh được lặp đi lặp
lại nhiều lần (Matt.6:7-13). Việc lần chuỗi này đã biến đổi Công
Giáo từ đạo thờ Chúa thành đạo thờ bà Maria. Đây là điều khác biệt
rõ nét nhất giữa Công Giáo và Tin lành. Người ta tính ra mỗi ngày giáo
dân Công Giáo trên khắp thế giới kêu tên Đức Mẹ nhiều hơn kêu tên
Chúa gấp 6 lần và Đức Mẹ phải nghe tới 46.296 bài kinh Kính Mừng bằng
đủ thứ tiếng trong một giây đồng hồ! (Babylon Mystery Religion, p.18).
5. Kinh Cầu Hồn và
ngày Lễ Các Linh Hồn xuất hiện do sự phát minh ra Luyện Ngục của giáo
hoàng Gregory the Great năm 600.
Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân
Ước chỉ nói tới Thiên đàng và Hỏa ngục chứ không hề nói tới một
nơi thứ ba để tạm giam giữa các linh hồn. Vào năm 600, Giáo hoàng Gregory
I the Great công bố giáo lý mới là có một nơi thứ ba giam giữ các linh hồn
để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi vào thiên đàng, nơi đó giáo
hoàng gọi là Luyện Ngục (Purgatory). Năm 1459, công đồng Florence đã biến
phát minh nầy thành tín điều hiện hành buộc mọi tín đồ phải tin (an
actual dogma). Nhờ có tín điều này, giáo hội Công Giáo đã trở thành
giáo hội giàu nhất thế giới do tiền của giáo dân nộp cho cha cố nhà
thờ để xin lễ cầu hồn cho các thân nhân quá cố. Ngoài ra, trong thời
Trung cổ, Vatican còn tổ chức nhiều đại lý ở khắp nơi để rao bán ơn
đại xá của tòa Thánh (indulgence sales) đã thu về Rome những nguồn tài sản
kếch sù gồm đủ thứ vàng bạc nữ trang và báu vật. Nhờ vào những nguồn
lợi lớn lao này, giáo hoàng và tu sĩ cao cấp ở Vatican đã có một lối sống
hết sức xa hoa tội lỗi. Chính điều này đã là động lực trực tiếp
thúc đẩy Martin Luther từ bỏ Công Giáo để lập ra đạo Tin Lành. Ông
nói: Những kẻ bán ơn tha tội là những kẻ phạm tối lớn nhất. (Those
who sold indulgences to sinners were great sinners themselves).
Việc thu tiền lễ cầu hồn là một
thủ đoạn làm tiền trắng trợn của cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là
nước toàn tòng Công Giáo có câu ca dao nổi tiếng như sau: "High
money high Mass; low money low Mass; no money no Mass" (Nhiều tiền lễ lớn,
ít tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ!". Thành thử chỉ những
linh hồn có thân nhân giàu có mới hy vọng được vào nước thiên đàng của
Chúa mà thôi. Trải qua nhiều thế kỷ bị bọn cường quyền cấu kết với
tu sĩ lưu manh áp lực bóc lột và lừa bịp, đám dân nghèo ở Âu Châu
vào đầu thế kỷ 19 đã lên tiếng đòi hỏi giáo hội phải tổ chức một
ngày lễ cầu hồn miễn phí chung cho những người thiếu may mắn vì không
có thân nhân bỏ tiền ra xin lễ. Họ gọi những linh hồn này là những
linh hồn bị bỏ quên ở luyện ngục (the forgotten souls in Purgatory). Năm
1856, Vatican đã đáp ứng lời yêu cầu của đám giáo dân nghèo bằng cách
lập ra ngày Lễ Các Linh Hồn (All Soul’s Day) vào ngày 2 tháng 11 hàng năm,
tương tự như lễ cúng các cô hồn vào rằm tháng Bảy của ta. Vì vậy, một
số các bài kinh cầu hồn đã được sáng tác để đáp ứng nhu cầu này.
Quả thật sự phát minh ra Luyện ngục của GH Gregory, tiếp theo là các lễ
cầu hồn, đã biến Núi Sọ (Golgotha) của Chúa thành Núi Vàng (Golconda) của
giáo hội Công Giáo La Mã!
6. Kinh Ngắm Đàng
Thánh Giá (Way of the Cross).
Theo sách The Essential Catholic Prayer
Book (Liguory Missouri – 1999, p.67) thì trong những thế kỷ đầu Công Nguyên
cho tới thời Trung cổ, giáo dân Âu châu thường tổ chức những cuộc hành
hương viếng thăm thánh địa Jerusalem. Họ đi theo lộ trình khổ nạn của
Jesus (Via Dolorosa) khởi đầu từ Praetorium là nơi Jesus bị xử án đến núi
Golgotha là nơi Jesus bị đóng đinh. Tới mỗi nơi đặc biệt trong lộ trình
này họ dừng lại để suy niệm và cầu nguyện. Trong thời Trung cổ, do việc
thánh điạ Jerusalem bị quân đội Hồi Giáo chiếm đóng nên các cuộc
hành hương nói trên bị chấm đứt. Từ thế kỷ 16, Vatican ra lệnh cho toàn
giáo hội phải trang trí chung quanh phía trong của các nhà thờ 14 ảnh hoặc
tượng mô tả 14 nơi đặc biệt trong lộ trình khổ nạn của Jesus (14
stations of the Cross). Tuy việc lập ra nghi lễ ngắm (meditating) Đàng Thánh
Giá phát sinh từ cuộc thánh chiến do Vatican phát động kéo dài nhiều thế
kỷ chống Hồi Giáo nhưng nội dung của 14 bài kinh cho 14 nơi của Đàng
Thánh giá lại chứa đầy những sự xuyên tạc lịch sử nhằm mục đích
diệt chủng Do Thái bằng cách trắng trợn đổ tội giết Jesus cho Do Thái.
Vấn đề này sẽ được trình bày ở đoạn sau.
7. Các kinh do tu sĩ
Việt gian sáng tác và được Vatican khuyến khích:
Đó là các kinh "Dâng Nước
Việt Nam"; "Dâng Cõi Đông Dương" nói là dâng cho
Chúa và Đức Mẹ nhưng thực chất là dâng cho Vatican. Ngoài ra, họ còn
sáng tác nhiều bài kinh khác như Kinh Bản (Kinh Bổn) dùng để đầu độc
tinh thần trẻ thơ. Các kinh "Cầu cho dân nước Việt Nam đặng trở
lại đạo thánh", "Kinh cầu cho kẻ ngoại" và nhất là "Kinh
Cầu Ông Thánh Phan-xi-cô-Xa-vi-e" đều có nội dung nhục mạ những
người ngoại giáo, nhục mạ quê hương tổ quốc Việt Nam và mạ lỵ Phật
Giáo hết sức nặng nề. Tôi lần lượt trình bày trong những đoạn sau.
Qua phần mở đầu bài viết này,
quý độc giả cũng đã thấy rõ tham vọng của HĐGM Việt Nam dưới thời
bạo quyền Ngô Đình Diệm muốn biến Công Giáo thành quốc giáo của nước
Việt Nam và muốn đưa "thánh địa" LA-VANG lên hàng với
"thánh địa" Lộ Đức (Lourdes) của giáo hội Công Giáo Pháp. Sự
việc này đã giúp chúng ta nhận rõ chân tướng cướp nước của thực dân
Pháp, đế quốc Vatican và những Việt gian bán nước núp dưới nhãn hiệu
tôn giáo.
9. Các kinh do giáo
dân sáng tác và được giám mục giáo phận phê chuẩn:
Trong vài thế kỷ trước đây, tại
nước ta có một số giáo dân xuất thân từ giới nho sĩ rất giỏi Hán văn
đã sáng tác những bài kinh bằng chữ Hán và được giám mục địa phận
chấp nhận. Các bài kinh này được phổ biến rộng rãi trong giáo dân ở
miền quê thuộc các địa phận Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam). Trong số
các kinh thuộc loại này có kinh Phục Dĩ, còn gọi là kinh Cảm Tạ Cầu Hồn,
do cụ Phan Tự Thiện sáng tác (không rõ năm nào). Cụ Thiện quê ở xứ Cốc
Thành, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, đậu cử nhân không rõ thuộc triều
đại nào. Cụ viết Kinh Phục Dĩ theo lối văn giống như Bình Ngô Đại Cáo
của Nguyễn Trãi. Đa số giáo dân ở Bùi Chu, Phát Diệm và Thái Bình thuộc
bài kinh này để cầu hồn cho thân nhân quá cố trong các dịp giỗ chạp: "Chí
tôn chân Chúa cửu trùng cao ngự chi thiên. Khả tiểu phá phu vạn vật hữu
sinh chi địa. Thần Chúa Gia-tô thục tội thi ân chi đại. Nhân từ Thánh mẫu
vì kỳ xá quá chi đa..."
5. NHỮNG TÁC HẠI
NGUY HIỂM CỦA CÁC SÁCH KINH CÔNG GIÁO
Để trưng dẫn các bằng chứng cụ
thể về những tác hại nguy hiểm do các sách kinh nguyện Công Giáo gây ra
cho tinh thần của giáo dân Việt Nam, chúng tôi chọn hai cuốn sách kinh nguyện
tiêu biểu sau đây:
1. Sách kinh nguyện NHỰT KHÓA của
tổng giáo phận Sài gòn, có sự phê duyệt của TGM Nguyễn Văn Bình ngày
19.3.1971, là sách kinh nguyện chính thức của cả Tổng giáo phận Sài gòn
bao gồm tập thể giáo dân toàn Miền Nam.
2. Sách TOÀN NIÊN KINH NGUYỆN của
hai địa phận Bùi Chu và Hà Nội in chung thành một cuốn, do Cơ Sở Dân
Chúa – P.O Box 1419 Gretna, LA 70053, USA xuất bản. Địa phận Bùi Chu là cái
nôi của Công gíao Việt Nam và địa phận Hà Nội nay đã thành Tổng giáo
phận bao gồm tập thể giáo dân miền Bắc Việt Nam. Trong những lần xuất
bản trước đây tại Việt Nam, những sách này đã được giám mục Hồ
Ngọc Cẩn và các giám mục quản nhiệm khác duyệt xét cẩn thận. Trong lần
xuất bản tại hải ngoại này, Linh Mục Việt Châu là chủ nhiệm nguyệt
san Dân Chúa đứng ra xuất bản và viết lời giới thiệu với các giáo
dân tại hải ngoại.
Do vậy, hai sách kinh nguyện này thiết
tưởng cũng đủ là đại diện cho toàn thể các sách kinh nguyện của
Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Để tiện việc trích dẫn, chúng tôi dùng chữ
tắt NK để chỉ sách kinh nguyện Nhựt Khóa và chữ TNKN để chỉ sách
Toàn niên Kinh nguyện, số theo sau những chữ tắt nói trên là số trang
trong các sách dẫn chiếu.
Những điều trình bày sau đây chỉ
là những nét điển hình về tính chất phản văn hóa dân tộc và những
tác dụng đầu độc tinh thần trong nội dung của một số bài kinh nguyện
mà thôi. Hiện nay tại hải ngoại có nhiều tiệm sách Việt ngữ cũng có
bày bán những sách kinh nguyện tương tự, chúng tôi đề nghị quí vị có
quan tâm đến vấn đề này có thể mua về nghiên cứu để kiểm chứng và
tìm hiểu thêm.
1. Đề cao bạo
lực:
Người Công Giáo quan niệm Thiên
Chúa là một vị thần chiến tranh luôn luôn đứng cùng phe với họ để
giúp họ tiêu diệt những người chống họ hoặc không theo họ. Trong
các lễ Misa ở nhà thờ, không bao giờ thiếu Kinh Nguyện Thánh Thể, trong
đó có câu: "Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên chúa các Đạo Binh.
Đất trời đầy vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời: (NK
581). Quan niệm này phát xuất từ đạo Do Thái của Moses qua chuyện kể
trong Cựu Ước Exodus về việc dân Do Thái nổi loạn chống lại Ai Cập để
thoát vòng nô lệ và tìm đến Đất Hứa. Người Do Thái xưa thường ca ngợi
Thiên Chúa là Yahweh Sabaoth có nghĩa là Thiên Chúa của các đạo binh (God of
Armies). Đây là một quan niệm ngây ngô của những bộ lạc bán khai về thần
linh. Bà Karen Amstrong, nguyên là một nữ tu Công Giáo gốc Ái Nhĩ Lan, đã
viết về quan niệm này trong tác phẩm bestseller của bà như sau: "Đây
là một Thiên Chúa tàn bạo, thiên vị và hiếu sát, một vị thần chiến
tranh hay nói đơn giản là vị thần của bộ lạc. (This is a brutal,
partial and murderous god, a god of war... and is simply a tribal deity – A History
of God, p.19).
Tâm lý chung của con người là
luôn luôn muốn mình trở nên giống như thần tượng mà mình tôn thờ.
Quan niệm về Thiên Chúa như một hung thần chiến tranh mà người Công
Giáo ngưỡng mộ dần dần sẽ hình thành nơi tâm hồn họ xu hướng ham
chuộng bạo lực. Lịch sử bành trướng đạo Công Giáo là lịch sử chiến
tranh đẫm máu kéo dài qua nhiều thế kỷ đã chứng minh Công Giáo là một
tôn giáo của bạo lực. Đây cũng là nét đặc trưng phản ảnh tính chất
văn hóa phi nhân bản (inhumanity) của đạo này. Những bài kinh ca ngợi bạo
lực đã làm xói mòn bản chất nhân hậu hiền hòa nơi những người giáo
dân vốn xuất thân từ những nông dân chất phát Việt Nam. Điều này giải
thích cho ta hiểu lý do vì sao mọi người Công Giáo đều mất gốc và đã
tự biến thành những kẻ lạc loài trên quê hương Việt Nam.
2. Công Giáo Việt Nam
hùa theo chủ trương diệt chủng Do Thái của Đế quốc La Mã:
Ai cũng biết đế quốc La Mã, chứ
không phải dân Do Thái, bắt và đóng đinh Jesus trên thập giá vì vào thời
đó nước Do Thái bị La Mã đô hộ nên quyền xét xử các tội nhân bản
xứ hoàn toàn thống thuộc chính quyền của mẫu quốc. Đặc biệt việc
áp dụng hình phạt đóng đinh trên thập giá là đặc quyền của đế quốc
La Mã đối với nô lệ và dân thuộc địa. Người La Mã không áp dụng
hình phạt này đối với các công dân của họ. Ngược lại, chính quyền
bù nhìn Do thái thời đó do vua Herode cầm đầu cũng được phép xử tử tội
nhân nhưng chỉ được dùng những cách thức thông thường như ném đá hoặc
chém đầu chứ tuyệt đối không được phép áp dụng hình phạt đóng
đinh tội nhân trên thập giá.
Đạo Công Giáo do hoàng đế La Mã
Constantine thành lập năm 325, với ý đồ dùng tôn giáo làm phương tiện xâm
lược toàn cầu, đã tôn Jesus vốn là nạn nhân của đế quốc La Mã lên
thành Thiên Chúa tối cao nên bọn đế quốc đã tìm mọi cách đổ tội giết
Jesus cho do Thái. Vì chẳng lẽ đế quốc La Mã lại tôn thờ một người
do chính tay mình giết chết hay sao? Đó là nguyên nhân chính yếu đã khiến
cho đế quốc La Mã ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử nhằm tạo
nên thành kiến thù ghét Do Thái triền miên trong lịch sử Âu Châu và cũng
từ đó dẫn đến chủ nghĩa diệt chủng Do Thái của Vatican trong nhiều thế
kỷ qua. Để thực hiện chủ trương này, Vatican đã soạn ra những bài
kinh nhằm mục đích chạy tội giết Jesus của đế quốc La Mã mà đại diện
của nó là quan toàn quyền Phong-xi-ô Phi-la-tô (Pontius Pilatus). Những âm mưu
nham hiểm này được biểu lộ rõ nét nhất qua những bài kinh ngắm 14 nơi
của Đàng Thánh Giá (TNKN 69-86) và kinh Ba Ngày Lễ Đèn (NK 250-277).
Sự thật lịch sử là quan toàn quyền
La Mã Pontius Pilatus (Pilate) đã tuyên án xử tử Jesus về tội xúi giục
dân chúng chống chính quyền, cũng tương tự như vua Herode chém đầu sư phụ
của Jesus là Gio-an Bao-ti-xi-ta về tội này ba năm về trước. Chính Pilate
trao Jesus cho toán lính La Mã thuộc quyền, do đại úy Longinus dẫn đầu,
đem Jesus lên núi Sọ (Golgotha = Skull) để hành hình bằng cách lột trần
truồng trước khi đóng đinh vào thập giá. Cái khố của Jesus trên thập
giá tuy chỉ là một vật ngụy tạo nhỏ xíu nhưng thật sự nó là một tấm
màn vĩ đại che lấp mọi sự dối trá bỉ ổi của Ki-tô Giáo nói chung
và của Công Giáo La Mã nói riêng. Xin đọc thêm "Cái Khố Của Jesus
Trên Thập Giá" của Charlie Nguyễn đăng trên Đông Dương Thời Báo
– Houston, số 69 ngày 30.7.1998. Bài này được in lại trong tác phẩm "Thực
Chất Của Giáo Hội La Mã", quyển 1 của giáo sư sử học Nguyễn Mạnh
Quang, tr. 360 –365).
Tuy nhiên sự ngụy tạo cái khố của
Jesus trên thập giá không bỉ ổi cho bằng sự kiện quân lính La Mã luôn
luôn hiện diện trong suốt lộ trình của Đàng Thánh Giá nhưng trong 14 bài
kinh của nghi thức cầu nguyện này không hề nói đến quân La Mã mà chỉ
dùng những danh từ như "quân dữ", "quân độc ác" hoặc
"quân Giu-dêu" để chỉ người Do Thái. Thí dụ những câu như:
"quân dữ toan đóng đinh Đức Chúa Giê xu thì nó lột áo ra hết";
"Tôi khen lòng mạnh bạo bà Veronica chẳng sợ quân dữ". Khi đọc
các bài kinh này, giáo dân Việt Nam có ấn tượng "quân dữ" là người
Do Thái chứ không phải là quân La Mã!. Ngoài ra còn có nhiều câu kinh miệt
thị Do Thái và cố ý qui trách nhiệm giết Jesus cho họ như: "Đừng
bắt chước quân Giu-dêu... Khi Phi-la-tô nghe lời quân Giu-dêu gắn vó
van nài xin tha Baraba thì liền phú Đức Chúa Giê-xu cho quân lính đánh đòn
cho đẹp lòng dân Giu dêu..." (KN 297). Ghê gớm nhất là lời
nguyền rủa truyền kiếp độc địa được gán cho là lời của Jesus nguyền
rủa dân tộc mình trong kinh Ba Ngày lễ Đèn (NK 250-277): "Đức Chúa
Giê xu liền trở mặt lại mà phán rằng: Ớ con thành Giê-ru-sa-lem bay chớ
khóc thương Tao làm chi, bay hãy khóc thương bay cùng các con cháu bay ngày
sau phải khốn mà chớ..." (NK 266). Nhiều câu kinh khác trắng trợn
xuyên tạc lịch sử để gở tội cho La Mã: "Khi phi-la-tô thấy quân
độc ác làm khốn cho Đức Chúa Giêxu thới quá [Thái quá, quá nhiều.]
thì động lòng thương" (NK
263), "Vậy quan ấy tra hỏi căn do mới biết Người chẳng có tội
gì cho nên quan ấy có ý muốn tha mà quân Giu-dêu ngăn cản chẳng chịu"
(NK 259).
3. Công Giáo Việt
Nam coi rẻ công ơn cha mẹ tổ tiên và các anh hùng dân tộc, ngược lại họ
hết sức tôn sùng những kẻ loạn luân mất dạy. Điều này cho ta thấy
Công Giáo là đạo mất dạy số Một.
Trong kinh Ăn Năn Tội có câu: "Lạy
Chúa là cha rất nhân từ hơn cha mẹ thế gian bội phần" (NK 745). Câu
kinh này phản ảnh đúng theo lời dạy của Jesus. Bản thân Jesus là một đứa
con hoang nên Jesus thù ghét cha nuôi và mẹ ruột của y. Vì thế y đã dạy
người khác bất hiếu với cha mẹ của họ. Phúc âm của Matthew (10:34-37)
có chép lời Jesus như sau: "Chớ tưởng rằng ta đem hòa bình cho thế
gian. Ta đến không phải đem lại hòa bình mà là gươm giáo. Ta đến để
phân rẻ con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng và mọi
người trong gia đình là thù nghịch của nhau. Ai yêu cha mẹ hơn yêu ta thì
không xứng đáng với ta". (Think not that I am come to send peace on earth.
I came not to send peace but a sword. For I am come to set a man at variance against his
father, and the daughter against her mother and the daughter in law against her mother in
law. And a man’s foes shall be they of his own household. He that loveth father or
mother than me is not worth of me). Chỉ có những đứa con bất hiếu mới nghe nỗi
những lời mất dạy đó của Jesus. Nếu quả thật Jesus đã nói những lời
đó thì Jesus cũng là một gả mất dạy số Một và cái chết thê thảm của
y trên thập giá cũng chưa đủ đền tội của chính y!
Trong nhiều thế kỷ qua, các giáo
hoàng La Mã luôn luôn qui kết việc thờ cúng tổ tiên là thờ cùng ma quỉ
nên người Công Giáo không lập bàn thờ gia tiên ở trong nhà. Đối với các
vị anh hùng dân tộc thì người Công Giáo hoàn toàn dửng dưng. Ngược lại,
người Công Giáo Việt Nam rất tôn sùng những kẻ loạn luân và vô đạo
đức như Abraham và David... Abraham lấy em gái ruột làm vợ và toan giết
con ruột mình để tế thần. David là một tên vua dâm dật vô độ. Y có cả
ngàn cung nữ trong các nhà chứa gọi là ‘harem" mà vẫn chưa đủ thỏa
mãn dục vọng. Vì quá say mê vẻ đẹp của bà Bathseba trong dịp David nhìn
trộm bà Bathseba tắm truồng trên sân thượng nên y đã tìm cách sát hại
chồng của bà là một vị tướng dưới quyền để cướp vợ của ông.
Kinh Thánh Tân Ước không coi chuyện này là một điều xấu xa tội lỗi mà
còn hãnh diện xác nhận cuộc tình tội lỗi này đã sinh ra các tổ tiên của
Jesus. Tất cả để chứng tỏ Jesus là hậu duệ đời thứ 28 của tên dâm
David! Chuyện tình tội lỗi bẩn thỉu này chẳng có gì đáng hãnh diện
cho David và Jesus. Vậy mà các sách kinh Công Giáo hết lời ca ngợi David là
Vua Thánh: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim
cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật đặng hiệp làm một cùng vua
thánh David" (NK 330).
Trong kinh cầu Đức Bà có câu: "Đức
Bà là lầu đài David". Mọi người Công Giáo Việt Nam muốn hiểu lầu
đài David" là cái gì thì hãy chịu khó đem sách kinh Cựu Ước ra đọc
(Các Vua-Sách thứ nhất) tất nhiên sẽ thấy đó là các harem chứa gái cho
tên hôn quân David hành lạc! Ở đây tôi xin trích một đoạn ngắn để quý
vị rõ. Quí vị sẽ thấy chuyện trong Thánh Kinh còn hay hơn chuyện "Chú
Tư Cầu" hoặc chuyện "Cậu Chó" của Việt Nam trước
1975: "Vua David đã già vì đã cao tuổi lắm, người ta đã lấy vải
phủ lên Ngài rất nhiều nhưng ngài vẫn chẳng thấy ấm chút nào. Bọn hầu
cận bàn với nhau là cần phải tìm cho ngài một cô gái trinh thật đẹp dẫn
đến trước mặt ngài. Hãy dạy cho cô ta biết cách làm cho ngài thích
thú. Hãy đặt cô ta nằm trong lòng ngài thì vua thánh của chúng ta mới sưởi
ấm". Xin để quý vị đọc tiếp Chapter 1, the Third Book of the Kings của
Cựu Ước, tôi xin miễn kể tiếp!
Điều bỉ ổi hơn nữa là Công
Giáo La Mã ngụy tạo những bài kinh để che dấu những dối trá bịp bợm
đã có sẵn từ trước. Đó là trường hợp hai bài kinh sau đây:
1. Kinh Ông Thánh Gioakim (trang 189
TNKN): "Lạy ông Thánh Gioakim là đấng rất sang trọng về dòng dõi
vua David, Đức Chúa Trời đã chọn mà ban mọi sự lành cho cả loài người
ta vì đã dùng người cho được làm nên những mầu nhiệm Đức Chúa Trời
tuyền ở thế gian này..."
2. Kinh Bà Thánh Anna (trang 212 TNKN): "lạy
ơn Bà Thánh Anna là mẹ Thánh Nữ Vương, bà làm sáng thiên hạ vì sinh được
con thanh sạch sáng láng hơn mặt trời mặt trăng. Bà là đấng sang trọng
thuộc dòng vua David..."
Vấn đề đặt ra là
tại sao Công Giáo phải bịa ra hai bài kinh nói trên?
Chuyện rắc rối khởi đầu từ việc
Cựu Ước của Do Thái "tiên tri" Chúa Cứu Thế phải là người
thuộc dòng dõi của vua David. Dù cho David hoang dâm vô độ nhưng lịch sử
Do Thái vẫn coi Daid là vị anh hùng số một. Chúa Cứu Thế được dân
chúng mong chờ như một David tái thế, do đó Chúa Cứu Thế được người
Do Thái quan niệm như một vị vua David mới (Christ is the New King David). Chuyện
rắc rối kế tiếp là trong thế kỷ I sau Công Nguyên, người viết Tân Ước
lại chỉ nhấn mạnh đến ông Joseph là chồng của bà Maria và là cha ruột
của Jesus nên tác giả Tân Ước đã thuật lại cả một hệ thống dọc
gia phả từ David đến Joseph và không hề viết một điều nào chứng tỏ
bà Maria là người thuộc dòng dõi vua David cả. Như vậy rõ ràng Jesus thuộc
dòng dõi David vì là con ruột của Joseph, cho nên Jesus có thể được chấp
nhận là đấng Cứu Thế như Cựu Ước đã tiên tri. Nhưng
nếu điều nầy được chấp nhận thì bà Maria không thể Đồng trinh!
Vấn đề rắc rối kế tiếp xảy
ra năm 451, sau khi Công đồng Chalcedon công bố tín điều Đức Mẹ trọn đời
đồng trinh (dogma of the Perpetual Virginity). Người ta tự hỏi: "Nếu
Chúa Jesus là con của Đức Chúa Thánh Thần và Đức Bà Đồng Trinh thì
Chúa Jesus đúng là con của Đức Chúa Trời thật, Ngài không phải là Chúa
Cứu Thế [ Chúa trời và Chúa Cứu Thế là hai nhân vật khác nhau.]
vì Ngài không thuộc dòng dõi vua
Thánh David như Cựu Ước đã tiên tri! Chẳng lẽ Đức Chúa Thánh Thần
cũng là con cháu của David"? Theo lẽ thường ở trên đời, mọi sự
gian dối luôn luôn đẻ ra những sự gian dối khác, nhưng mọi sự gian dối
thường lâm phải tình trạng "dấu đầu hở đuôi". Tuy vậy, vốn
sẵn bản chất đại lưu manh chuyên nghiệp, tòa thánh La Mã đã trơ trẽn
sáng chế hai bài kinh nói trên (mặc dầu không có căn bản Thánh Kinh –
Unscriptural) nhưng cốt để tín đồ tin rằng cả cha lẫn mẹ của bà Maria
là Gioakim và Anna đều thuộc dòng dõi của vua David, cho nên Jesus dù là con
của Chúa Thánh Thần và bà Maria đồng trinh cũng vẫn thuộc dòng dõi David
như thường! Tôi nêu lên những điều trên đây để yêu cầu Linh Mục
Việt Châu, Chủ nhiệm Nguyệt San Dân-Chúa kiêm đại diện Cơ Sở Xuất Bản
Dân-Chúa (P.O. Box 1419 Gretna, LA 70053) chịu trách nhiệm xuất bản sách Toàn
Niên Kinh Nguyện, trả lời cho độc giả bốn phương được biết Kinh Thánh
nói ông Gioakim và bà Anna thuộc dòng dõi vua David ở đoạn nào? Nếu LM
Việt Châu không trả lời nổi thì mọi cuốn sách Toàn Niên Kinh Nguyện
Bùi Chu-Hà nội cần phải được thu hồi để vứt bỏ.
Cho nên người ta gọi Công Giáo là
đạo bịp hay đạo dối, thật không sai chút nào. Nếu phải kể cho hết
những chuyện bịp của Công Giáo chắc phải viết một tràng thiên tiểu
thuyết thì may ra mới tạm đủ. Riêng về chuyện Thánh Phêrô là giáo
hoàng đầu tiên cũng có hàng chục chuyện bịp. Chẳng hạn cái được gọi
là "Chiếc ghế Phêrô" (Chair of Peter) cốt để mọi người tin rằng
Công Giáo là đạo chính truyền của chúa Jesus qua thánh Phêrô. Vào tháng 7
nam 1968, một phái đoàn khoa học quốc tế đã đến tận Tòa Thánh giảo
nhiệm bằng phương pháp Carbon (Carbon dating method) đã xác nhận chiếc ghế
này được ngụy tạo trong thế kỷ 9. Còn tượng thánh Phêrô bằng đồng
đen rất lớn đứng gần bàn thờ chính trong Đền Thánh Phêrô đã được
toàn giáo hội Công Giáo tôn kính nhiều thế kỷ qua với hàng triệu triệu
người đã quì mọp hôn chân tượng này. Các nhà khoa học và khảo cổ
xác định bức tượng này là tượng Thần Jupiter của các hoàng đế thời
cổ La Mã vài thế kỷ trước khi Jesus ra đời!. (Babylon Mystery Religion, p.
78-). Chúng ta thường nghe Vatican khoe khoang rằng: "Giáo hoàng là đấng
thừa kế ngôi vị của Thánh Phêrô" (Saint Peter’s Successor) nhưng có lẽ
ít ai biết giáo hoàng nào là người đầu tiên nêu lên danh hiệu này. Tôi
xin kể lại một lần nữa hầu quí vị nghe câu chuyện thương tâm của
giáo hoàng Joanne như sau:
Giáo hoàng này nguyên là một cô
gái, hồi còn nhỏ có tên là Catherine tinh nghịch. Vào đầu thế kỷ 9, cô
gái đến tuổi trưởng thành đã giả trai xin vào tu ở một Dòng Nam với
sự cải tên là Joanne. Dần dần bà trở thành một thầy tu rất nổi tiếng
về tài hùng biện. Bà đã để lại nhiều bài diễn văn độc đáo hiện
còn lưu trữ trong văn khố của Tòa Thánh. Nhiều sử gia Ý như Petrarch,
Boccacio đã viết sách ca ngợi sự học vấn uyên bác của bà. Vào năm 855,
Giáo hoàng Leo IV qua đời. Hội thánh Công Giáo lúc đó nhận thấy chỉ có
tu sĩ Joanne là người xứng đáng nhất kế vị giáo hoàng. Kết quả là Hội
Thánh dưới sự "hướng dẫn" của Đức Chúa Thánh Thần đã bầu
tu sĩ Joanne vào ngôi vị Đại Diện Chúa Ki Tô Dưới Trần Thế. Trong lễ
đăng quang, ngài tuyên bố "Giáo hoàng là người kế vị Thánh
Phê-rô". Giáo hoàng Joanne cai trị Hội Thánh của Chúa được ba
năm rất ngon lành thì một tai biến bất ngờ xảy ra cho ngài. Năm 858, tòa
Thánh tổ chức một cuộc rước kiệu trọng thể tại Rome. Trong lúc Đức
Thánh Cha đang nghiêm trang đi theo đoàn kiệu thì bất ngờ ngài bị té xỉu,
máu ra lênh láng ướt hết đũng quần và bộ lễ phục giáo hoàng lộng lẫy
sang trọng. Lúc đó cả giáo hội kinh ngạc khám phá ra là Đức Giáo Hoàng
bị... sẩy thai!. Ngay lập tức sau đó, Giáo hoàng Joanne [Trong nhiều sách
liệt kê các triều đại giáo hoàng, không có tên nữ giáo hoàng nầy.]
bị lột trần truồng và bị đám
tu sĩ của Tòa Thánh lôi ra Công trường Colossium để cho dân chúng ném đá
đến chết tại chỗ. Nữ giáo hoàng thật ra chẳng có tội gì, ngài đã
chết thảm chỉ vì ngài là một phụ nữ. Linh mục nữ còn không được
chấp nhận huống hồ là Nữ Giáo Hoàng!
Ngoài các bài kinh ca ngợi tên hôn
quân dâm dật khét tiếng David, sách kinh Công Giáo Việt Nam cũng không thiếu
gì những bài kinh cầu ca ngợi tên mất dạy Abraham – ông tổ chung của
đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Nhưng điều đáng nói là trong những
bài kinh này, người Công Giáo Việt Nam đã sỉ nhục dân tộc mình: "Xin
Chúa đoái thương dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm ngọai
giáo. Chúa đã phán rằng ngày sau sẽ có nhiều kẻ bởi đông tây đến
nghỉ ngơi cùng thánh Abraham trên nước thiên đàng" (NK 144-145); "Xin
các thánh thần đem linh hồn này lên nơi vui vẻ cùng ông thánh Abraham"
(NK 330). Những bài kinh như vậy đã dẫn dắt người Công Giáo Việt
Nam xa rời dân tộc và từ đó đi tới chỗ phản quốc không còn bao xa.
Sách kinh Công Giáo chính là cội nguồn sâu xa đã đưa họ vào con đường
phản bội tổ quốc và dân tộc Việt Nam!
4. Những câu kinh nhục
mạ các dân tộc Đông phương là mọi rợ và nói lên ý đồ của Công
Giáo Việt Nam muốn tiêu diệt đạo Phật:
Trong kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô
Xa-vi-e có những câu như: "Ông Thánh Phan-xi-cô soi sáng phương Đông...
là đá tảng đỡ Hội thánh Phương Đông... Ông Thánh Phan-xi-cô phá tan đạo
bụt thần... Ông Thánh Phan-xi-cô là lịnh rao tiếng Đức Chúa Thánh Thần
cho những dân mọi rợ" (NK 782-791). Với những câu kinh nói trên,
rõ ràng Giáo hội Công Giáo Việt Nam đã công khai bày tỏ ý muốn
"phá tan đạo Phật" và công khai nhục mạ các dân tộc Đông phương,
trong đó có Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn, Tân Gia Ba, Thái
Lan... là những dân tộc mọi rợ! Quê hương của Phan-xi-cô là Tây Ban
Nha so với những con rồng Châu Á thôi chứ chưa cần phải so sánh với Nhật
Bản cũng đủ thấy cách xa nhau một trời một vực. Nếu dịch các câu
kinh này ra tiếng Tây Ban Nha cho họ đọc, chắc chắn những người Tây Ban
Nha có liêm sỉ phải cảm thấy xấu hổ.
Chúng ta cần phải hiểu thế
nào là mọi rợ. Theo tôi thì người Công Giáo hiện nay còn đang ở
trong tình trạng rất mọi rợ về tâm linh và còn lâu họ mới có thể trở
thành người văn minh về phương diện này. Trước hết, họ luôn luôn mang
tâm cảm là những "con chiên" tức những con cừu non (Lamb: young
sheep). Giống cừu, nhất là cừu non, thường rất ngu, chúng chỉ hùa theo
bày như chuyện những con cừu của Panurge mà học sinh trung học thời trước
đã học qua những giờ về Littérature Francaise đều biết. Muốn trở thành
người Việt Nam bình thường, người Công Giáo phải trải qua nhiều bước
trong quá trình tiến hóa tâm linh mới đạt được. Bước đầu tiên họ
phải gạt bỏ cái mặc cảm là bầy chiên ngu ngốc của Vatican để nhận
ra nhân cách con người của mình. Nghĩa là họ phải trải qua quá trình tiến
từ súc vật để trở thành người đứng thẳng (Homo Erectus).
Sau đó, họ cần phải loại bỏ
cái thói xấu thích ăn thịt người (Cannibal) dù chỉ là ăn thịt người
tưởng tượng khi họ xếp hàng lên phía bàn thờ cố đạo cho "Rước
Mình Thánh Chúa". Phép bí tích Mình Thánh Chúa đã biến người Công
Giáo thành những kẻ ăn thịt người vừa man rợ vừa ngây ngô đến tức
cười sống giữa xã hội văn minh của loài người chúng ta. Cách đây
vài chục năm, tôi đã có lần lên chịu lễ nhưng tôi không nuốt bánh
Thánh. Tôi ra khỏi nhà thờ, nhổ bánh Thánh xuống đất và dùng gót giầy
đạp lên nó. Tôi đạp lên bánh Thánh với cảm giác như mình đang hết sức
đạp thẳng vào Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ và giáo hoàng ở Vatican. Nhờ
hành động này, tôi cảm thấy đã tiến hóa một lúc tới hai bước: Một
là tôi từ bỏ thân phận làm con cừu của Vatican để "trở lại"
làm người. Đồng thời tôi đã tiến một bước nhảy vọt về tâm linh từ
một tên mọi rợ dã man ăn thịt người để "trở lại" thành người
bình thường trong xã hội. Sau khi trở lại làm người bình thường, tôi
phải học hỏi về cội nguồn dân tộc và nhận thức được giá trị rất
cao của nền văn hóa nhân bản của tổ tiên chúng ta. Phải trải qua một
quá trình tự giáo dục và chiến đấu với bản thân hết sức quyết liệt,
tôi mới có thể cải hóa tâm linh của mình từ một tín đồ Công Giáo để
tiến lên làm một người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam
bình thường khác. Cho tới bây giờ, tôi mới dám tự hào được làm một
người Việt Nam bình thường! Khi bình tâm nghĩ lại tôi cảm thấy đồng
bào Công Giáo của mình thật đáng thương vì họ còn ở trong tình tạng
bán khai tâm linh mà chính họ không biết nên đã quay ngược chê dân tộc
mình là mọi rợ. Thật là một sự đau xót vô cùng.
Trở lại với bài Kinh Cầu Ông
Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e, sau khi truy tìm qua nhiều sách kinh bằng Anh Ngữ,
tôi nhận thấy Phan-xi-cô tuy được coi là một cộng sự viên của Loyola lập
ra Dòng Tên [Dòng Tên (Jesuit) là một trong những dòng giáo sĩ hung hản của
Vatican, nhất là trong phong trào đi chiếm thuộc địa.]
nhưng chỉ một mình Ignatius Loyola
được Vatican lập lễ kính hàng năm vào ngày 31 tháng bảy. Phan-xi-cô
không có cái vinh dự này. Trong các sách kinh Công Giáo bằng Anh ngữ đều
có kinh cầu "thánh" Ignatius Loyola nhưng không có kinh cầu
"thánh" Phan-xi-cô. Do vậy, tôi nghĩ rằng bài "kinh cầu ông
thánh Phan-xi-cô" nói trên là sản phẩm riêng của giáo hội Công Giáo
Việt Nam. Bài kinh này rất dài so với các bài kinh khác vì nó chiếm tới
10 trang trong sách Nhựt Khóa (782-791). Đọc bài kinh này, chúng ta sẽ thấy
tác giả của nó là một kẻ có đầu óc u tối hẹp hòi và hoàn toàn mù
tịt về tiểu sử của Phan-xi-cô Xa-vi-e (Francis Xavier). Tiểu sử của F.
Xavier chứng minh rằng tu sĩ này đã thành công phần nào ở Ấn Độ là nhờ
biết sống hòa mình với đám tiện dân vốn bị khinh rẻ trong xã hội
theo Ấn giáo. Ông được dân địa phương có cảm tình đặc biệt vì ông
đã liên tục lên án gay gắt sự vô đạo đức và thói tham lam tàn bạo của
bọn thực dân Âu châu trên đất Ấn.
Phan-xi-cô sinh năm 1506 trong một gia
đình quí tộc tại Tây Ban Nha. Khi lớn lên, y được cha mẹ cho đi du học
Đại học Sorbonne – Paris. Tại đây vào năm 1530, y gặp tu sĩ Ignatius
Loyola và đã cùng với tu sĩ này lập ra dòng Tên (có nghĩa là một dòng tu
mang tên Jesus – The Jesuit Order) vào năm 1534. Từ năm 1540 đến 1548,
Phan-xi-cô hợp tác với các tu sĩ Bồ Đào Nha giảng đạo ở Ấn Độ, đã
dụ dỗ được trên 100.000 dân nghèo Ấn Độ theo đạo. Do công trạng
này, Phan-xi-cô được Vatican tuyên dương là "tông đồ của Ấn Độ
(Aspostle of India). Sau khi giảng đạo tương đối có kết quả tại Ấn Độ,
Phan-xi-cô có tham vọng chinh phục Nhật Bản. Ngày 15 tháng 8 năm 1549,
Phan-xi-cô Xa-vi-e đặt chân lên đất Nhật và cố gắng truyền đạo tại
đây trong 27 tháng nhưng hoàn toàn thất bại vì tinh thần dân tộc của người
Nhật quá cao. Phan-xi-cô Xa-vi-e quá chán nản nên đã viết thư gửi cho
Ignatus Loyola như sau: "tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ tìm
được một dân tộc nào có thể sánh ngang với người Nhật. Họ là những
người có phong độ tốt, hết sức tôn trọng danh dự là vật quí giá hơn
bất cứ cái gì khác trên thế giới này. Họ chỉ nghe những điều được
dẫn chứng bằng lý luận và khi ai lý luận với họ chứng minh được điều
họ làm là xấu thì họ sẽ bị thuyết phục bởi lý luận đó". (It
seems to me that we shall never find another race to equal the Japanese. They are a people
of good manners. They are men of honor to a marvel and prize honor above all else in the
world. They like to hear thing propounded according to reason and when one reasons with
them, pointing out that what they do is evil, they are convinced by this reasoning – All
Saints by Robert Ellsberg, The Crossroad Pub. NY - 1997, P. 528-529).
Năm 1552, sau khi để lại ở Nhật
hai tu sĩ dòng Tên người bản xứ là Arima và Bungo do y đào tạo để tiếp
tục truyền đạo, Phan-xi-cô một mình tìm cách nhập lậu vào Trung Quốc.
Khi mới đến đảo Sancian ở ngài khơi Hồng Kông thì Phan-xi-cô đột nhiên
bị bệnh và chết cô đơn tại đây ngày 3 tháng 12 năm 1552. Phan-xi-cô hiển
nhiên là một nhân tài và là một tông đồ truyền giáo xuất sắc, nhưng
không biết vì lý do gì, Chúa chỉ cho y được hưởng dương có 46 năm. Và
dù cho Chúa có cho y được sống tới 460 năm chăng nữa chắc chắn y cũng
chẳng bao giớ "phá tan đạo bụt thần ma qủy" như những tu sĩ cuồng
tín Việt Nam ước mơ. Xa-vi-e được Vatican thương tình phong thánh năm
1662. Năm 1927, y được Vatican ban thêm cho tước hiệu "Thánh quan thầy
của các đoàn thuyền giáo hải ngoại" (Patron of foreign missions). Có lẽ
vì tước hiệu này mà xứ đạo Công Giáo người Hoa ở cuối đường Đồng
Khánh – Chợ Lớn đã nhận Phan-xi-cô Sa-vi-e làm thánh bổn mạng và dựng
tượng Phan-xi-cô trên tháp chuông nhà thờ của họ. Dân Saigon thường quen
gọi cái nhà thờ Công Giáo Ba Tàu Chợ Lớn này là nhà Thờ Cha Tam, một
địa danh đi vào lịch sử Việt Nam với cái chết thê thảm đền tội xứng
đáng của anh em Diệm – Nhu năm 1963. Tạ ơn Chúa! Deo Gracias! Tiện thể tạ
ơn luôn cả Thánh Phan-xi-cô cho thánh đỡ tủi.
Vào năm 1587, tại Nhật có khoảng
100.000 tín đồ Công Giáo, phần đông tập trung tại Nagasaki. Trong thời
gian này, nhiều tàu chiến của Bồ Đào Nha đến xâm chiếm Nhật. Chính
quyền Nhật nắm được đầy đủ bằng cớ chứng tỏ các tu sĩ và giáo
dân Công Giáo làm nội ứng cho địch. Do đó, chính quyền Nhật ra lệnh xử
tử bằng cách đóng đinh các tu sĩ ngoại quốc và chém giết rất nhiều
giáo dân. Tuy nhiên, các tu sĩ dòng Tên vẫn tiếp tục nhập lậu vào Nhật
truyền đạo. Năm 1614, chính quyền Nhật mở cuộc hành quân đợt hai do
tướng Tokogawa Yagasu chỉ huy. Năm 1638, giáo dân còn sót lại ở Nagasaki
nổi loạn chống chính quyền. Lần này chính quyền Nhật nhất quyết thẳng
tay trừng trị nên đã ra lệnh cho tướng Iemitsu mang đại quân đến dẹp
loạn đồng thời đẩy lui quân Bồ Đào Nha xâm lược. Quân Nhật giết
luôn một lúc 37.000 giáo dân tại Nagasaki, đóng đinh các tu sĩ và đánh đuổi
bọn xâm lược Bồ Đào Nha ra khỏi lãnh thổ. Một số tàn quân Bồ Đào
Nha và giáo dân Nhật sống sót tìm cách vượt biên bằng thuyền đến tỵ
nạn tại Hội An - Việt Nam. Từ đó, trong hơn hai thế kỷ, nước Nhật
sạch bóng quân ngoại xâm và bọn giáo dân phản quốc (The Secret History
of the Jesuits, by Edmond Paris, translated from French 1975. Chick Publications USA,
p.51-52; National Geographic Magazine, Vol.182, No.1, Nov.11.1992, p.56-93: "Portugal’s
Sea Road to the East").
Chiến thắng vẻ vang do quyết
tâm tiêu diệt tà đạo Công Giáo của người Nhật đã bảo toàn nền độc
lập và văn hóa của nước Nhật. Tinh thần dân tộc Nhật đã được hun
đúc bởi Thần Đạo (Shinto), tinh thần Võ sĩ đạo (Samourai) và tinh thần
Phật Giáo đã cứu nước Nhật thoát ách ngoại xâm và đưa nước Nhật lên
địa vị siêu cường ngày nay. Tiểu sử của Phan-xi-cô cũng như lịch
sử nước Nhật đã chứng minh không hề có chuyện Phan-xi-cô "phá tan
đạo bụt thần" như tác giả thiếu trí tuệ của bài kinh đã tưởng
tượng và Phan-xi-cô cũng chẳng bao giờ dám coi một dân tộc Đông phương
nào là mọi rợ cả! Ngược lại, Phan-xi-cô rất tôn trọng phong tục tập
quán của các nước ông ta đến giảng đạo và đó chính là yếu tố
thành công của ông. Bài kinh nói trên là một bằng cớ cụ thể chứng
tỏ tính vong bản nặng nề của các tu sĩ Công Giáo Việt Nam. Chúng đã
mù quáng xuyên tạc tiểu sử của Phan-xi-cô và tán tận lương tâm đến mức
dám cố tình nhục mạ tổ quốc và các dân tộc Đông phương là những
dân mọi rợ! Các tu sĩ này thật sự là một đám cỏ dại trên cánh đồng
văn hóa Việt Nam. Muốn bảo vệ cánh đồng văn hóa Việt Nam, chúng ta
không thể không tính đến chuyện trừng trị đám cỏ dại nguy hiểm này.
Việc đặt Công Giáo ra ngoài vòng pháp luật phải là điều đương nhiên
trong giai đoạn sắp đến như nước Nga đã làm mấy năm trước đây.
5. Những câu kinh gây hận
thù và chia rẽ dân tộc:
Sau hơn bốn thế kỷ xâm nhập Việt
Nam, tổng số tín đồ Công Giáo cũng chỉ chiếm được khoảng 8% dân số
cả nước. Cái thiểu số này đã coi 92 % còn lại của dân tộc Việt Nam
là "những người ngoại đạo khinh rẻ công ơn cứu chuộc của Chúa".
Kinh Cầu Cho Kẻ Ngoại có câu: "Cúi xin Chúa từ rày về sau đừng
để những người ngoại đạo khinh dễ công ơn cứu chuộc, một xin Chúa
nhậm lời cầu nguyện các thánh cùng hội thánh là bạn thanh sạch con
Chúa mà dong thứ cho những kẻ ấy. Xin Chúa hãy nhớ lòng nhân từ Chúa
mà che lấp lỗi những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy bụt thần (TNKN
Bùi Chu, Hà Nội, tr.18). Tệ hơn nữa là tới năm 1971, sách Kinh Nhựt Khóa
của TGP Saigon vẫn còn những câu kinh nhục mạ Phật Giáo nặng nề như
sau: "Ai chẳng nghe lời Hội Thánh trong mọi việc ấy là chẳng
nghe lời Chúa tôi. Tôi ước ao cho muôn vàn kẻ ngoại xứ này đặng bỏ
bụt thần ma quỉ mà trở lại cùng Chúa tôi" (NK 139). Trong thực
tế, chẳng có ai thờ quỷ cả, vì quỉ là những kẻ có tội bị Chúa
giam cầm trong lửa hỏa ngục đời đời, như tín đồ Công Giáo đã được
dạy như thế, làm gì còn quyền hành tung hoành tùy ý được. Chẳng qua là
các tu sĩ Công Giáo sử dụng danh từ "ma quỉ" chỉ nhằm mục đích
để hạ nhục Phật Giáo cho bỏ ghét mà thôi.
Nhưng theo kinh nghiệm bản thân của
tôi thì Kinh Bản (Kinh Bổn) nguy hiểm nhất vì kinh này trước đây giáo hội
buộc những người tân tòng và các trẻ em trong các gia đình Công Giáo đều
phải học thuộc. Riêng kẻ viết bài này đã bị cha mẹ bắt phải học
thuộc lòng từ năm lên bảy tuổi để được chịu phép xưng tội và rước
lễ lần đầu. Kinh Bổn được viết theo lối vấn đáp và trước đây
ở quê nhà, kinh này thường được đọc tại nhà thờ vào ngày Chủ nhật.
Tôi nhớ như in câu kinh sau đây vì nó đã làm cho tôi có ác cảm với mọi
người ngoại đạo trong suốt thời niên thiếu của tôi: "Hỏi: Kẻ
lành là ai? – Thưa: Kẻ lành là kẻ giữ đạo nên. Kẻ dữ là kẻ chẳng
có đạo và kẻ giữ đạo chẳng nên" (TNKN 325). Câu kinh này đã
gây ấn tượng sâu xa trong đầu óc non nớt của tôi cho rằng mọi người
không theo đạo Công Giáo đều là những kẻ ác cả? Do đó trong lòng
tôi luôn luôn mang nặng một mặc cảm nghi ngờ và thù ghét mọi người
ngoại đạo. Sau này, khi đến tuổi lớn khôn, tôi tự hỏi là tôi làm
sao có thể sống sót được nếu tôi phải sống giữa một đất nước có
tới 92% dân số là những kẻ ác? Và nếu 8% dân số Việt Nam theo đạo
Công Giáo vẫn sống còn và phát triển như ngày nay thì hiển nhiên những
người Việt Nam ngoại đạo không phải là những kẻ ác như kinh Bổn đã
dạy! Quả thật, Kinh Bổn đã là công cụ đầu độc tinh thần trẻ thơ Công
Giáo Việt Nam trong nhiều thế hệ qua, và nay cũng vẫn còn tiếp tục.
Ngoài ra, người Công Giáo Việt Nam còn bị nhiễm cái định kiến của giáo
sĩ ngoại quốc cho rằng "có đạo" là văn minh và ngoại đạo
(Heathen) đồng nghĩa với kém văn minh (uncivilized) hay mọi rợ (barbarous). Với
các định kiến sai lầm về dân tộc cũng như đối với đồng bào ngoại
giáo do các sách kinh nguyện đầu độc, tập thể Công Giáo Việt Nam vĩnh
viễn xa rời dân tộc và vĩnh viễn bị coi như cùi hủi đáng ghê tởm
trên quê hương mình. Các sách kinh nguyện đã biến tập thể Công Giáo
thành một đám người xa lạ không hồn, chẳng những sống gửi vô ơn trên
quê hương Việt Nam mà còn luôn luôn sẵn sàng làm nội ứng đắc lực cho
đủ loại kẻ thù của Tổ Quốc.
6. Những bài kinh
nguyện sặc mùi văn hóa du mục Do Thái – Ả Rập đã biến tập thể
Công Giáo Việt Nam thành một giáo hội súc vật hèn hạ:
Như đã trình bày ở trên, nếu cứ
nhìn theo bề ngoài thì ta thấy mọi người Công Giáo đều là những người
bình thường, nhưng sự thật bên trong họ là những tim óc bán khai. Họ
không phải là bán khai sao được khi họ còn ham đến nhà thờ để được
ăn thịt uống máu Chúa (cannibal). Nam nữ tín đồ ăn thịt uống máu
(Chúa) cho đả để rồi sau đó nam nữ tín đồ bài tiết Chúa ra ngoài qua
lối cửa trên hoặc cửa dưới um tùm. Thấy phát khiếp.
Do hậu quả của sự tự kỷ ám thị,
những bài kinh sặc mùi văn hóa du mục đã biến các tín đồ Công Giáo
thành một đàn cừu non và hạng tu sĩ đương nhiên trở thành những
"chủ chăn" của họ. Đầu óc ô nhiễm giáo lý Công Giáo của họ
u tối như đêm ba mươi không đèn không đóm nên họ không thấy điều đó
là nhục. Trong khi đó, các tu sĩ cao cấp như giám mục , hồng y, giáo
hoàng cứ tưởng mình là những "đấng" chăn cừu chăn dê thật
nên mỗi khi làm lễ, chúng thường cầm cây gậy mạ vàng tượng trưng cho
cây gậy của những kẻ mục đồng trên những đồng cỏ hoang dã ở Do
Thái – Ả Rập xưa kia. Dưới con mắt của tu sĩ cao cấp này, đoàn giáo
dân chỉ là một bầy súc vật để cho chúng ăn thịt. Kinh Dâng Cõi Đông
Dương cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria có câu: "Sau nữa, vì công nhiệp,
Đức Mẹ chuyên cầu, xin cho cả dân cõi Đông Dương nhờ có máu châu
báu của con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, thảy đều nên một ràn
cùng một kẻ chăn." (NK 170-172).
Trong sách kinh Công Giáo Việt Nam đầy
dẫy những câu kinh nhồi sọ giáo dân tinh thần nô lệ mù quáng khiến họ
chỉ biết cúi đầu tuân phục mọi mệnh lệnh của Vatican và tuyệt đối
tin tưởng vào một điều quái đản là "giáo hoàng La Mã không thể
sai lầm". Chẳng hạn như trong kinh Phạt Tạ Rất Thánh Trái Tim Đức
Chúa Giê-xu có câu: "Chúng tôi xin đền tội chung cho các nước thiên
hạ hằng chống cưỡng cùng chẳng vâng phục lời Hội Thánh Chúa truyền
dạy" (N 130-131). "Ai chẳng vưng lời Hội Thánh truyền dạy
trong mọi việc là chẳng vưng lời Chúa tôi" (NK 137). "Chính
đấng cai trị ở trên trời là Đức Chúa Giê-xu và đấng ở dưới đất
cai trị các giáo hữu khắp thế gian là Đức Giáo Hoàng ở thay mặt Đức
Chúa Giê-xu... Đức Chúa Trời hằng gìn giữ Đức Giáo Hoàng cho nên chẳng
có lẽ nào sai lầm được" (TNKN 126-127). Tập thể giáo dân trở
thành một bầy con chiên tức bầy cừu non dại hoàn toàn tùy thuộc vào sự lãnh đạo của hệ thống tu sĩ đứng đầu bởi giáo
hoàng.
Giáo hoàng và bộ tham mưu đầu
não trung ương của thế giới Công Giáo đặt tại Vatican. Bộ tham mưu địa
phương của chúng nằm vùng tại các quốc gia có tín đồ Công Giáo là
các Hội Đồng Giám Mục. Tại nước ta, HĐGMVN trụ sở đặt tại số 40
phố Nhà Chung, Hà Nội, là bộ tham mưu của bọn Việt gian nằm vùng thường
trực trong lòng dân tộc Việt Nam. Mọi mệnh lệnh của Vatican ban ra đều
được ban tham mưu này răm rắp thi hành, miễn sao phục vụ tối đa quyền
lợi của Vatican, chẳng bao giờ quan tâm đến quyền lợi và danh dự của
dân tộc. Các sách kinh nguyện là những công cụ chiến tranh tâm lý hữu
hiệu của Vatican nhằm đầu độc tinh thần giáo dân và biến họ thành một
lực lượng chính trị của Vatican mai phục sẵn trong lòng dân tộc Việt
Nam. Điều nguy hiểm là lực lượng chính trị này đồng nhất, đa số là
những tim óc bán khai và hung hăng cuồng tín, cho nên kẻ lưu manh quốc tế
ở Vatican rất dễ dàng xử dụng họ để tha hồ thao túng lũng đoạn nội
bộ nước ta. Các sách kinh nguyện thực sự đã trở thành những trái mìn
cài sẵn trong mọi ngóc ngách của căn nhà Việt Nam.
7. Các lời cầu
nguyện của GH Jean Paul II trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam năm
1988 tại Vatican có nội dung vinh danh hay mạ lỵ người Công Giáo Việt
Nam?.
Các sách kinh Công Giáo đều có
những "kinh cầu các thánh tử đạo Việt Nam". Nhưng các kinh ngày
thường chỉ là những lời ca tụng suông mà thôi. Phải đợi đến khi giáo
hoàng Jean Paul II tuyên đọc những lời cầu nguyện để tôn vinh 117 tử đạo
Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988 [Trong Tòa "Thánh" Vatican có một số
giáo sĩ người Việt, họ đã vận động cố tình chọn ngày 19-6 với mưu
đồ chính trị. Đó là ngày của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.]
tại Vatican, chúng ta mới có thể
hiểu được những người tử đạo Việt Nam đã chết cho ai và với mục
đích gì. Trong bài kinh phong thánh có những câu sau đây:
- "Các Ngài là niềm vinh quang của Jerusalem
- "Là nỗi vui mừng của Israel
- "Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam!
Tôi dám quả quyết rằng ngoài
một thiểu số tín đồ Công Giáo cuồng tín ra, tuyệt đại đa số người
Việt ở trong nước cũng như tại hải ngoại chẳng có ai cảm thấy một
vinh dự nào trong việc Vatican phong thánh cho 117 tử đạo Việt Nam. Trái lại,
sự phong thánh đó chỉ làm cho người Việt Nam gai mắt vì bị coi là một
hành vi khiêu khích đối với cả một dân tộc. Bởi lẽ người Việt Nam
không quên rằng sự du nhập đạo Công Giáo đã là nguyên nhân chính yếu
đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ thực dân Pháp trong hơn 80 năm đau
thương ô nhục!. Chính những người tử đạo đã là nguyên nhân gây hận
thù và chia rẽ dân tộc mà hậu quả là việc thành lập các lực lượng
cuồng tín hiếu sát của Tự Vệ Công Giáo ở Phát Diệm, Bùi Chu, Thái
Bình và Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo ở Miền Nam Việt Nam, gọi tắt là
UMDC (Unités Mobiles de Defense des Chrétiens) trong công cuộc chiến tranh Việt-Pháp
1946-1954.
Trong cuộc chiến tranh tái chiếm
thuộc địa của thực dân Pháp 1946-1954, các giám mục Việt gian Lê Hữu Từ
và Phạm Ngọc Chi đã ra sức phục vụ cho thực dân tại miền Bắc dưới
chiêu bài chống Cộng Sản vô thần. Sau 1954, Lê Hữu Lễ và đàn em là
Hoàng Quỳnh tiếp tục phục vụ quyền lợi của thực dân pháp tại Việt
Nam bằng cách hợp tác với đại tá Le Roy, Tổng chỉ huy UMDC và đảng cướp
Bình Xuyên. Từ 1954 đến 1963, người Công Giáo huênh hoang tự phong cho
mình là những người chống cộng hàng đầu. Họ đã điên cuồng chống cộng
không phải vì yêu nước hay vì chính nghĩa quốc gia mà chỉ để phục vụ
cho chủ trương chống cộng cực đoan của giáo hoàng Pio XII (1939-1958). Pio
XII là tên trùm của siêu quyền lực Mafia. Trước khi lên ngôi giáo
hoàng, Pio XII đã sống nhiều năm ở Đức. Mặc dầu là người Ý, nhưng rất
thông thạo về mọi vấn đề của Đức quốc và nói tiếng Đức như tiếng
mẹ đẻ. Trong thế chiến thứ hai, Pio XII đã góp công đặc lực cho Hitler
tiêu diệt Do Thái. Hiện nay tại bảo tàng viện Bronx (New York) có một gian
hàng triển lãm tội ác của Pio XII với một tấm bảng ghi: "Tên đồ
tể Quốc xã tại Rome" (The Nazi butcher at Rome). Pio XII là một
giáo hoàng rất cuồng tín đã ra lệnh cho giáo phận Bùi Chu lập Dòng Đồng
Công trong thập niên 1940 do LM Trần Đình Thủ đứng đầu. Pio XII tích cực
hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm Việt nam. Năm 1954, chính y đã kêu gọi
Mỹ ném bom nguyên tử xuống Bắc Việt để cứu Pháp nhưng người Mỹ đã
bác bỏ đề nghị này của y.
Sau khi Pio XII chết vào năm 1958, các
giáo hoàng kế nhiệm là John XXIII (58-63) và Paul VI (63-78) đã quay ngược
180 độ bắt tay với Liên Xô. Đầu thập niên 1960, John XXIII móc nối với
Hồ Chí Minh để thiết lập chính phủ trung lập tại Nam Việt Nam và hợp
tác với Kennedy sát hại anh em Ngô đình Diệm năm 1963. TGM Ngô Đình Thục
suốt đời làm thân khuyển mã cung cúc phục vụ quyền lợi của đế quốc
thế tục Pháp và đế quốc tinh thần Vatican nhưng đã bị bỏ rơi tàn nhẫn.
Vatican (sau Công đồng tháng Mười 1962) đã không ngần ngại ban cho tên tổng giám mục Việt
gian này án phạt tuyệt thông, đó là một hình phạt nặng nề và nhục
nhã nhất đối với một tín đồ Công Giáo. Ngày 30.1.1967, GH Paul VI tiếp
thủ tướng Liên Xô tại Vatican. Cũng trong thời gian này (65-67), LM Hoàng Quỳnh
và hàng chục ngàn giáo dân liên tục biểu tình phá rối trị an tại Nam
Việt Nam, nhất cử nhất động đều răm rắp theo lệnh của Vatican! Ngày
12.11.1974, LM Hoàng Quỳnh cùng với gán điệp CS Vũ Ngọc Nhạ đến Củ Chi
họp mật với MTGPMN để lập Thành Phần Thứ Ba trong chính phủ liên Hiệp
theo như hiệp định Paris dự liệu. Sau 1975, GH Paul VI đã ban thưởng huy
chương cho gián điệp Vũ Ngọc Nhạ và không thèm đếm xỉa gì đến các
chiến sĩ QLVNCH chống cộng đang nằm trong các trại tù cải tạo. Giới
trí thức Công Giáo hoàn toàn nín khe không dám nói nửa lời chống lại
các hành vi phản bội trắng trợn này của Vatican đối với Việt Nam Cộng
Hòa. Vậy mà tại hải ngoại, bất cứ ai lên tiếng đả kích Công Giáo về
bất cứ vấn đề gì, luôn luôn bị nhóm trí thức Công Giáo này gán ngay
cho cái mũ Cộng Sản vô thần.
Nhưng sự thật lịch sử xưa và
nay đều chứng minh rằng tập thể Công Giáo Việt Nam chỉ là một bầy cừu
hèn hạ luôn nép mình dưới cái gậy chỉ huy độc đoán và cực kỳ nham
hiểm của Vatican. Vì cuồng tín, họ đã tự biến mình thành một tập thể
Việt gian luôn luôn có hành động đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
Trách nhiệm hàng đầu thuộc về cái gọi là Hội Đồng Giám Mục. Xét
cho cùng, mọi hành vi xuẩn động phản quốc của tập thể Công Giáo là
do hậu quả của những bài kinh cầu xin Chúa cho làm súc vật: "Xin
Chúa hãy lùa tôi vào một đoàn cùng các con chiên Chúa." NK 721). "Vì
công nghiệp Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho cả dân Đông Dương (Indochine
Francaise) thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (NK 170-172). Thiên
Chúa là đấng thiêng liêng chẳng thấy đâu, cho nên đoàn chiên gọi là của
Chúa trong thực tế chỉ là một bầy cừu khờ dại của Vatican!.
Tu sĩ Công Giáo Việt Nam là những
kẻ đốn mạt tự nguyện từ bỏ tư cách làm người để hạ mình ngang
hàng súc vật. chỉ có tín đồ cuồng tín mới tôn họ lên làm "Các Vị
Lãnh Đạo Tinh Thần" và tâng bốc gọi họ là Cha, Đức Cha, Đức Ông
hoặc Các Đấng Bề trên mà thôi. Các tu sĩ Công Giáo hay ghi nhớ nằm
lòng những điều đó và chấm dứt ngay hành vi láo xược xưng Cha xưng
Ông với những người Việt Nam ngoại giáo. Trình độ nhận thức của dân
tộc Việt Nam ngày nay về thực chất của đạo Công Giáo đã khác xa với
thời Ngô Đình Diệm và tấm gương sáng oanh liệt Nagasaki của Nhật Bản
thế kỷ 16-17 sẽ được dân tộc Việt Nam học tập. Sống trên quê hương
Việt Nam, những người Công Giáo chỉ biết ca ngợi hết lời đối với
quân cướp nước và bán nước rồi quay đầu lại nhục mạ dân tộc
mình là mọi rợ. Các người mù quáng đến độ Giáo hoàng Jean Paul II đã
chưởi khéo mà các người không biết.
Lời cầu nguyện của GH John Paul II
trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo năm 1988 đã cho chúng ta thấy rõ là những
người tử đạo đó đã hy sinh tính mạng nhằm phục vụ cho ai: "Người
là niềm vinh quang của Jerusalem, là nỗi vui mừng của Israel!". Thật
rõ ràng là họ đã chết không phải vì dân tộc Việt Nam mà vì Jerusalem
và Israel! Chúng ta hãy tự hỏi: Cái thành phố Jerusalem kia có liên quan gì
đến dân tộc Việt Nam mà 117 kẻ tử đạo đã phải chết để đem lại
vinh quang cho nó? Ngay cái thành phố này tự nó đã là hiện thân của sự
chia rẻ tôn giáo đáng nguyền rủa, hà cớ gì người Việt Nam lại phải
đem sinh mạng của mình để lo cho vinh quang của nó? Báo Washington Post ngày
25.3.2000 loan tin GH Jonh Paul II đến nhà thờ The Holy Sepulbsher tại Jerusalem
làm lễ đã kêu gọi bảy giáo phái Ki-tô Giáo tại thành phố này hãy xóa
bỏ hận thù chém giết lẫn nhau trong nhiều thế kỷ qua để hợp nhất
trong tinh thần anh em cùng cha là Chúa Ki-tô. Nhưng trong khi GH John Paul II làm
lễ thì các nhà thờ thuộc các giáo phái Ki-tô khác đã khua chuông ầm ĩ
để phá đám! Một giới chức trong phái đoàn của giáo hoàng đã phải thở
dài và than rằng: "Phương cách này là một cuộc chiến!" (This
process is a battle) và John Paul II cũng đành thú nhận: "Từ xưa đến
nay, tôn giáo vẫn được xử dụng làm phương tiện cho sự chia rẽ và chiến
tranh" (Religion has been used as a means for division and war). Như vậy rõ
ràng Jerusalem là một chứng tích hùng hồn về sự thất bại của cái gọi
là "công ơn cứu chuộc của Chúa Jesus" và là biểu tượng nhục
nhã của chiến tranh tôn giáo đã gieo rắc biết bao thảm họa cho nhân
loại trong 2000 năm qua. Cả hàng triệu tử đạo trên khắp thế giới cũng
không đủ sức đem lại một chút xíu vinh quang nào cho Jerusalem huống hồ
117 tử đạo cắc ké Việt Nam?
Mọi người Việt Nam ngoại giáo rất
ngạc nhiên vì không thể hiểu nổi tại sao người Công Giáo Việt Nam lại
phải đổ máu cho nỗi vui mừng của Israel?. Các đây 4000 năm, cháu nội của
Abraham là Jacob đã đặt tên cho nước Do Thái là Isra-El để vinh danh con bò
thần tên EL. Chẳng lẽ cái chết của 117 tử đạo Việt Nam chỉ để mang
lại niềm vui cho dân tộc thờ bò? Người Việt Nam vẫn thường quan niệm
con bò là biểu tượng của sự ngu đốt, vì vậy tục ngữ Việt Nam có
câu: "ngu như bò". Không có một trường hợp nào có thể áp
dụng câu tục ngữ này thích hợp cho bằng trường hợp những người Việt
Nam tử đạo "vì vinh quang của Jerusalem và vì nỗi vui mừng của
Israel". Thật đau buồn để phải nhận ra rằng máu bò Do Thái còn
quí hơn máu tử đạo Việt Nam bội phần! Do đó, những lời cầu nguyện
của Giáo hoàng Jean Paul II đọc trong lễ phong thánh cho 117 tử đạo Việt
Nam năm 1988 thực chất là những lời nhục mạ Công Giáo Việt Nam! Bà
Joanne Meehl viết: "bỏ đạo là từ chối làm kiếp con bò" (refusing
to be a cow) thật là chí lý!
6. BẦY QUẠ
TRÊN THÂN XÁC NGƯỜI ĐÀN BÀ DO THÁI
Tại Việt Nam chỉ có một dòng tu
Công Giáo duy nhất do người Việt Nam sáng lập là Dòng Đồng Công.
Danh hiệu "Đồng Công" là chữ tắt của danh hiệu "Đức Mẹ
Đồng Công Cứu Chuộc" (The Co-Redemptrix). Dòng này do LM Trần Đình Thủ
sáng lập vào cuối thập niên 1940 do lệnh của Giáo Hoàng PIO XII. Thoạt
tiên, trụ sở dòng đặt tại làng Liên Thủy (gần với làng Hành Thiện -
Nam Định). Sau 1954, dòng dời về xã Tam Hà - Thủ Đức. Sau 1975, một số
thầy tu Dòng Đồng Công tới định cư ở Missouri lập nghiệp từ hai bàn
tay trắng. Ngày nay, chi nhánh Dòng Đồng Công hải ngoại này đã trở
thành một đại công ty kinh doanh lòng sùng kính Đức Mẹ với những cơ sở
hết sức lớn lao rải rác khắp nơi. Trụ sở chính đặt tại Carthage
Missouri MO. 64836,USA với những công trình kiến trúc vĩ đại. Với số giáo
dân hải ngoại vừa đông đảo vừa khá giả, thêm vào đó là tài kinh
doanh vượt bực của các thầy tu, Dòng Đồng Công ngày càng làm ăn khấm
khá phát tài, tiền vô như nước! Tôi rất tiếc chưa có dịp đi hành hương
"Đất Thánh" Missouri của Công Giáo Việt Nam hải ngoại, nhưng đã
được coi mấy cuốn băng video của cơ sở ngoại vi của Dòng Đồng Công
là Câu Lạc Bộ Văn Hóa Tố Như (Box 66, Vienna – VA 22183 – Fax (702)
319-9489) cũng đủ thấy sự khai thác thương mại đại qui mô của dòng tu
Việt Nam này. Tôi thật kinh ngạc phục tài thao lược "tay trắng làm
nên" và tài mê hoặc quần chúng của những chuyên gia Thánh Mẫu Học
Việt Nam (Vietnamese Mariologists).
Trong thời gian gần đây, CLBVH Tố
Như mới cho ra lò một bộ băng video "Ave Maria, Mẹ yêu Dấu" gồm
4 cuốn:
- 1. FATIMA – Mẹ là niềm hy vọng
- 2. LỘ ĐỨC – Mẹ là nguồn yêu thương
- 3. LA VANG – Mẹ củng cố đức tin son sắt
- 4. GUADELOUP – Chứng tích mẹ yêu dấu
Thông điệp chính yếu trong những
lần "Đức Mẹ hiện ra", nếu có thật, là khuyến cáo các tu sĩ,
nhất là các linh mục, phải cải thiện đời sống để cứu nguy giáo hội
Công Giáo đang bên bờ diệt vong. Nhưng các tu sĩ hoàn toàn làm ngơ trước
những khuyến cáo này của Đức Mẹ. Trái lại, họ chỉ biết chú tâm
vào việc khai thác thương mại lòng sùng kính ngây thơ của giáo dân dành
cho Đức Mẹ, hiện thân của tình mẫu tử theo nhân tính tự nhiên. Nếu
Đức Mẹ là Đấng Hiển Linh như niềm tin của họ thì Đức mẹ đang hiện
diện khắp mọi nơi, cần gì phải tổ chức những cuộc hành hương rềnh
rang tốn phí mà chỉ những kẻ nhiều tiền lắm bạc mới kham nổi. Từ
nhiều năm qua, Dòng Đồng Công đã tổ chức nhiều cuộc hành hương tới
những địa danh nổi tiếng về phép lạ của Đức Mẹ như Fatima ở Bồ
Đào Nha, Lộ Đức (Lourdes) ở Pháp, Núi Mẹ Sầu Bi tại Oregon. Hàng năm, Dòng
Đồng Công tổ chức "Đại Hội Thánh Mẫu" thu hút năm, sáu chục
ngàn người từ khắp nơi qui tụ về "Thánh địa" Carthage –
Missouri.
Đây là dịp cho các nhà thần học
hoang tưởng về khoa học "Thánh Mẫu Học" (Mariology) trổ tài hùng
biện thuyết giảng về các phép lạ của Đức Mẹ để thỏa mãn nhu cầu
ham chuộng phép lạ vô bờ bến của giáo dân Việt Nam. Trong số các
chuyên gia về Thánh Mẫu Học nổi tiếng, chúng ta phải kể đến "nhà
văn" Phạm Đình Khiêm, tác giả cuốn "Đức Mẹ La Vang Là Nữ Vương
Chiến Thắng". Linh Mục Barnabê Nguyễn Đức Thiệp, cựu Giám Tỉnh
Dòng Đồng Công tại Hoa Kỳ, "nhà khảo cứu" Nguyễn Đức Tuyên,
Giáo sư Trần Ngọc Vân tức "nhà văn" Trần Phong Vũ. Trần Ngọc Vân
là người đã đặt tên cho cuốn sách mới toanh về Đức Mẹ là cuốn "Mẹ
Maria Trong Ánh Sáng Đức Tin" 285 trang, giá 10 đô, của tác giả Ngưỡng
Nhân Lưu Âu Nhi, xuất bản tại Hòa Kỳ tháng 10.2000. Nếu coi băng video của
Câu lạc bộ Văn hóa Tố Như, chúng ta sẽ được nghe nhà thần học hoang
tưởng trẻ măng là Linh Mục Phan Hữu Ngọc, tiến sĩ Thánh Mẫu Học thuộc
dòng Đồng Công thuyết giảng.
Cơ quan tuyên truyền chính yếu của
dòng Đồng Công là Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ. P.O Box 836, Carthage – MO
64836, phone (417) 358-8296. Cũng theo báo này thì từ xưa đến nay, Đức Mẹ
đã hiện ra khắp nơi trên thế giới hơn 30.000 lần. Mỗi lần Người hiện
ra đều có những phép lạ khác nhau và mặc sắc phục khác nhau. Chắc là
Đức Mẹ có khả năng nói thông thạo mọi ngôn ngữ trên thế giới nên
Người mới có thể trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của Người tới
đàn con của Mẹ thuộc mọi chủng tộc. Hay mỗi lần Đức Mẹ hiện ra lại
cần phải có thông dịch viên? Tôi vẫn thắc mắc không biết khi Đức Mẹ
"hiện ra" ở La Vang trên 200 năm trước đây với giáo dân Quảng
Trị, Người có mặc váy và quấn khăn mỏ quạ không? Người có biết ăn
trầu bỏm bẻm không? Và Người nói chuyện với giáo dân La Vang Quảng Trị
bằng giọng Bắc kỳ, Nam kỳ hay bằng giọng rặc Quảng Trị? Phải chăng
Đức Mẹ đã phát âm theo kiểu "Nược cô còn nọng hay là nguồi"?
Xin các nhà thần học Công Giáo thông thái làm ơn giải thích dùm, nếu
không thì đồng bào có quyền nghĩ rằng những chuyện Đức Mẹ hiện ra
chỉ là những chuyện bịp và quý vị Thánh Mẫu Học chỉ là hạng lưu
manh ngụy trí thức chuyên nghề lừa gạt đám tín đồ khờ dại để hành
nghề bất lương với mục đích kiếm tiền một cách đốn mạt hèn hạ
mà thôi.
Tôi không xa lạ gì với Dòng Đồng
Công. Tôi đã đến thăm nhà dòng từ buổi sơ khai vào tháng 7.1950 tại
nhà xứ Liên Thủy Bùi Chu, lúc đó tôi là cậu học trò 13 tuổi. Thầy
giáo dạy tôi tiểu học lúc đó dẫn tôi và mấy đứa cùng trạc tuổi.
7. GÓP Ý VỚI
QUÝ VỊ TRÍ THỨC NGOÀI CÔNG GIÁO
A. Về phương diện
tổng quát:
Giáo hội Công Giáo luôn khuyến
khích tín đồ thường xuyên đọc kinh vì đó là cách tốt nhất để nhồi
sọ giáo dân các tín điều nhảm nhí và làm tê liệt óc phán đoán của
giáo dân khiến cho họ không còn biết suy xét gì khác hơn là ngoan ngoản
cúi đầu tuân phục mọi mệnh lệnh của Vatican. Các sách Kinh Nguyện đã
được các chuyên gia của giáo hội soạn sẵn và đã được nghiên cứu
chắt lọc hết công phu qua nhiều thời đại nên các sách kinh này đã trở
thành những công cụ chiến tranh tâm lý cực kỳ tinh vi của bọn đế quốc
nham hiểm. Do đó hậu quả tâm lý của sự tự kỷ ám thị và sự lập lại
nhiều lần, tất cả những giáo điều dù vô lý đến đâu cũng đều trở
thành những chân lý tuyệt đối trong đầu óc của những kẻ có thói quen
đọc kinh cầu nguyện hằng ngày. Bằng các sách Kinh Nguyện, Vatican đã đào
luyện nên những tập thể giáo dân tuyệt đối trung thành với chúng trong
hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới. Những tập thể giáo dân cuồng
tín này luôn luôn sẵn sàng phạm mọi tội ác phản bội đồng bào và
dân tộc để thực hiện mọi âm mưu phá hoại của đế quốc. Hầu hết
các chính quyền gặp phải hoàn cảnh này đều không đám thẳng tay đàn
áp vì sợ gây "thánh chiến" và sợ bị dư luận gán cho tội vi phạm
nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhờ đó, Vatican đã trở thành
tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (spiritual imperialism).
Muốn chận đứng những tác hại của
cuốn sách kinh, trước hết chúng ta hãy cố gắng giải thích cho đồng bào
của chúng ta nắm được những sự thật về đạo Công Giáo và hiểu rõ
bộ mặt thực rất đểu cán của nó. Sự thật lịch sử chứng tỏ
Công Giáo La Mã không phải là một tôn giáo mà chỉ là một âm mưu vô
cùng thâm độc của đế quốc La Mã được ngụy trang dưới lớp vỏ tôn
giáo giả tạo mà thôi. Nhiều công trình nghiên cứu đa diện của giới
học giả Tây phương cận đại chứng minh rằng hầu hết những kẻ đứng
đầu giáo hội ở Vatican là những kẻ vô thần, vô đạo đức và độc
ác (Godless, immoral and wicked). Chúng chỉ giả vờ là những kẻ đạo đức
mà thôi. Bọn đầu não "Công Giáo La Mã ở Vatican là một tổ chức
tội ác hình sự cao cấp". Chỉ vì kỹ thuật phạm tội của chúng
đạt tới mức tinh vi siêu đẳng vượt thời đại nên ít ai nhận ra được
bản chất vô cùng độc ác và nham hiểm của chúng mà vẫn cứ lầm tưởng
chúng là những người thánh thiện. Tu sĩ được giáo dân xưng tụng là
"các đấng chủ chăn" thực chất chỉ là quỉ mang mặt người.
Vatican là sào huyệt của Mafia đội lốt tôn giáo lưu manh nguy hiểm nhất
thế giới vì chúng là những kẻ sát nhân ác độc nhưng lại được đám
đông tín đồ khờ dại cuồng tín kính trọng và vâng lời chúng tuyệt đối.
Đó là lý do tại sao trong gần 17 thế kỷ qua chúng đã gây ra biết bao thứ
tội ác trên khắp thế giới mà bóng ma của chúng vẫn cứ tiếp tục bao
trùm cả nhân loại.
Thực chất Công Giáo cũng không phải
là Ki-tô Giáo (Christianity) vì đế quốc La Mã đã ra sức tiêu diệt Ki-tô
Giáo rất ác liệt trong hơn 3 thế kỷ đầu Công Nguyên. Từ năm 325 đến
cuối thế kỷ 4, đế quốc La Mã lập ra đạo mới là đạo Công Giáo
(Catholicism) trên xác chết của Ki-tô Giáo nguyên thủy bằng cách tiêu diệt
các giáo phái Ki-tô còn sót lại dám chống Công Giáo. Đồng thời chúng hủy
diệt các dấu tích thật về Chúa Jesus còn sót lại ở Jerusalem, ngụy tạo
Thánh Kinh, xuyên tạc lịch sử, đốt phá các thư viện và đốt các sách
thuộc văn minh nhân bản Hy Lạp. Sỡ dĩ đế quốc La Mã phải diệt nền văn
hóa nhân bản Hy Lạp vì nền văn hóa này hoàn toàn đi ngược lại bản chất
phi nhân bản (inhumanity) của Công Giáo La Mã do chúng mới thành lập. Tội
ác tiêu diệt văn hóa Hy Lạp của đế quốc La Mã đã làm cho nền văn
minh của nhân loại bị chậm lại cả ngàn năm. Từ năm 325 trở đi, đế
quốc La Mã không hề ngược đãi Công Giáo mà chỉ lo củng cố và bành trướng
tôn giáo này mà thôi vì Công Giáo là con đẻ của đế quốc. Đến thế kỷ
5, sự tiêu diệt nền văn hóa nhân bản cổ xưa của Hy Lạp gần như hoàn
toàn đến nỗi tổng Giám mục Chrysotom phải khoe rằng: "Mọi dấu vết
về triết học và văn chương của thế giới cổ đã bị xóa sạch khỏi
mặt đất" (Every trace of the old philosophy and literature of the ancient
world has vanished from the face of the earth – Bible Myths by Doane p. 436).
Tiến sĩ Rivera đã rất có lý khi
ông viết như sau: "Tổ chức Công Giáo La Mã không phải và chưa bao
giờ là một giáo hội Ki-tô. Nó là con điếm đã được tiên tri mô tả
trong sách Khải Huyền (cuốn sách cuối cùng trong bộ Thánh Kinh Tân Ước).
Đám tín đồ Công Giáo khốn khổ đã bị nó phản bội và đang phải đối
phó với thảm họa về tinh thần. Bọn người nguy hiểm nhất là những
kẻ bề ngoài rất sùng đạo, đặc biệt nguy hiểm khi chúng qui tụ lại
thành tổ chức và nắm những vị trí chính quyền. Bọn chúng được kính
trọng sâu xa bởi những kẻ ngu dốt không biết gì về những động lực
của bọn chúng ở phía sau sân khấu là hoàn toàn có tính cách vô thần
và chỉ để nhắm đến quyền lực. (The Roman Catholic institution is not a
Christian Church and never was. Prophetically she is the whore of Revelation. The poor
Roman Catholic people have been betrayed by her and are facing spiritual disaster. The
most dangerous men are those who appear very religious, especially when they are ignorant
of their ungodly push for power behind the scene).
Kẻ gia nô văn hóa số một của
Vatican ở Việt Nam là Linh Mục Phan Phát Huồn, thuộc dòng Chúa Cứu Thế,
tác giả cuốn Việt Nam Giáo Sử (hai tập), xuất bản lần đầu vào
năm 1962. Từ đó đến nay, cuốn sách này được giới "trí thức"
Công Giáo thường xuyên sử dụng như một tài liệu tham khảo sử học
chân chính. Tôi chưa cần đề cập đến phần nội dung của cuốn giáo sử
này, chỉ riêng một đoạn Linh Mục Huồn viết trong bài tựa (trang 20) cũng
đã phạm phải hai điều sai lầm nghiêm trọng về lịch sử: "Máu
(tử đạo) đã nhuộm đỏ đất nước Việt Nam yêu quí làm cho đất phì
nhiêu tươi tốt. Lấy võ lực đàn áp Công Giáo để tiêu diệt người Công
Giáo thì chẳng những người Công Giáo không bị tiêu diệt mà còn sinh sản
đông đúc thêm... Các hoàng đế Roma muốn tiêu diệt người Công Giáo thì
ngày nay trên thủ đô Roma phất phới trước gió cách oai hùng quốc kỳ
Vatican tượng trưng cho giáo quyền của giáo hội".
Sai lầm thứ nhất của Linh Mục
Huồn là đã ngộ nhận Ki-tô Giáo nguyên thủy (the Early Chistianity) với
Công Giáo La Mã (Roman Catholics). Lịch sử thế giới đã chứng minh: Trong 3
thế kỷ đầu Công Nguyên, Ki-tô Giáo không có nhà thờ mà chỉ có phòng hội
(synagogue), không biết Thiên Chúa Ba Ngôi là gì, không thờ ảnh tượng, không
tin và không thờ bà Maria đồng trinh. Thậm chí họ cũng không thờ Jesus
mà chỉ coi ngài như một bậc thầy khôn ngoan mà thôi, do đó không có
thánh lễ Misa, không có phép Mình Thánh Chúa.. Cuối thế kỷ 3, vị giám mục
nổi tiếng nhất thời đó là Arius, người Hy Lạp, đã sáng tác ra những
bài thơ tóm tắt giáo lý của Ki-tô Giáo nguyên thủy: "Thiên Chúa
là đấng duy nhất không được sinh ra bởi ai, đấng duy nhất vĩnh cửu,
duy nhất thật, duy nhất khôn ngoan. Jesus là một tạo vật giống như chúng
ta". Năm 325, Arius cũng được Constantine mời họp công đồng Nicaea
cùng với các giám mục Ki-tô khác như Athanasus và Marcellus. Các vị giám mục
này giữ vững niềm tin Ki-tô nguyên thủy nên không chịu ký tên công nhận
kinh Tin Kính của Constantine. Kết quả là Arius bị Constantine giết chết năm
336, Athanasus và Marcellus bị bắt đưa đi đày. Hàng ngàn tín đồ Ki-tô bị
đế quốc sát hại. Mười bốn năm sau, Marcellus được thả ra. Ông viết
sách lên án Công Giáo là tà đạo "Tritheism" có nghĩa là đạo thờ
ba Thiên Chúa ám chỉ là một thứ Đa thần giáo (Paganism) với những tín
điều bịa đặt và hoàn toàn trái ngược với Ki-tô Giáo nguyên thủy là
một độc thần giáo chân chính (The Real Monotheism). Năm 340, đế quốc La
Mã chính thức đưa tôn giáo do chúng thành lập lên thành đạo chính thức
của toàn đế quốc và đặt tên cho nó là Công Giáo (Cattolica). Tất cả
những gì là đặc trưng của Công Giáo ngày nay đều do đế quốc La Mã
bày đặt ra sau năm 325. Từ đó chẳng có hoàng đế La Mã nào muốn tiêu
diệt người Công Giáo vì Công Giáo và đế quốc La Mã là một. Những nhận
định của Linh Mục Huồn là hoàn toàn sai trái vì những điều đó, trái
ngược với lịch sử đã được các yếu tố khách quan xác nhận.
Chúng ta không nên quên một điều
rất thực tế là trong các loại sách Công Giáo, không có sách nào quan trọng
cho bằng các sách Kinh- Nguyện. Đại đa số các gia đình giáo dân không
có sách Thánh kinh nhưng gia đình nào cũng có ít nhất một cuốn sách Kinh
Nguyện. Đại đa số giáo dân không đọc Thánh Kinh (Bible) nhưng đã là
giáo dân thì nếu không thuộc nhiều cũng phải thuộc một số Kinh Nguyện
cần thiết. Các bài kinh nguyện là chủ chốt hình thành tư tưởng của tập
thể tín đồ chứ không phải là Thánh kinh hay một thứ sách nào khác.
Từ đầu thập niên 1990 đến nay,
khắp thế giới bùng lên phong trào giải trừ Ki-tô Giáo với hàng trăm cuốn
sách và hàng ngàn bài báo giá trị, tấn công mọi mặt
khiến cho tôn giáo này đã bị lung lay tận nền tảng của nó. Điều
đáng chú ý là hầu hết các tác giả của các sách báo này đều là những
người Ki-tô Giáo tỉnh ngộ (recovering christians) trong thế giới Tây phương,
trong số đó đặc biệt có nhiều tác giả nguyên là những tu sĩ cao cấp
(đáng chú ý là những tu sĩ thuộc Dòng Tên) hoặc là những giáo sư chuyên
khoa tôn-giáo-học tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Cũng
trong thời gian đo,頴ại hải ngoại chúng ta
thấy xuất hiện khá nhiều sách báo Việt ngữ có nội dung lên án đạo Công
Giáo và đặc biệt tố giác tính cách phản dân tộc của Công Giáo Việt
Nam. Nhưng hầu hết các sách báo Việt ngữ này đều là sản phẩm của
quý vị Việt kiều trí thức ngoài Công Giáo, khác với những sách chống
Công Giáo ác liệt nhất ở các nước Âu Mỹ hầu như đều là sản phẩm
tinh thần của những người Công Giáo tỉnh ngộ.
Trước 1975, tại miền Nam Việt
Nam, hầu như không một ai dám viết sách báo bằng Việt ngữ để công
khai và trực diện đã kích Công Giáo. Điều đó dễ hiểu vì miền Nam Việt
Nam dưới hai thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, áp lực chính trị của
Công Giáo quá mạnh. Bọn mật vụ Cần lao, bọn chính trị hoạt đầu Công
Giáo cũng như bọn cha cố Mafia không từ bỏ một thủ đoạn ác độc đê
tiện nào mà không dám làm để triệt hạ những người dám lên tiếng chống
bọn chúng. Tập san "Tiếng Loa Cảnh Báo" của nhóm Công Giáo cực
đoan do cựu nghị sĩ Trương Tiến Đạt chủ biên, xuất bản tại San Jose
tháng 11.1998 đã viết: "Cộng Sản chiếm chính quyền và quyết tâm
diệt đạo nhưng chỉ phá được cảnh yên vui sống đạo, phá nhà thờ,
nhà trường, các hội đoàn và cản trở các hoạt động tôn giáo nhưng đã
không phá được đức tin và lòng mộ đạo. Hơn nữa, số người mới
theo đạo Công Giáo lại còn nhiều hơn thời trước. Rõ ràng Cộng Sản
Việt nam chỉ biết phá đạo cách vụng về và đã thất bại (trang 39). Lối
phá đạo của Cộng Sản không nguy hiểm vì đó là sự tấn công từ bên
ngoài và dùng sự cưỡng bách là chính (tr. 40). Công Giáo sợ nhất
là sự phá đạo từ trong phá ra!
Thứ đến, Công Giáo rất
sợ sự giáo dục và tự do tư tưởng vì đó là những thứ vũ khí hữu
hiệu nhất để tiêu diệt mê tín chẳng khác nào dùng ánh sáng để tiêu
diệt bóng tối. Căn bản của lòng cuồng tín tôn giáo là sự ngu dốt. Giáo
dục và tự do tư tưởng soi rọi ánh sáng vào những vùng tối tâm linh
thì sự mê muội tôn giáo phải đội nón ra đi. Chính nhờ kết quả của
giáo dục và tự do tư tưởng tại các nước dân chủ tự do Âu Mỹ mà
Công Giáo La Mã đang lâm nguy dẫy chết. Dùng cưỡng bách và đàn áp để
diệt đạo là hạ sách vì Công Giáo chẳng khác nào cỏ dại, nếu ta càng
dập nó mạnh bao nhiêu thì bông cỏ dại càng văng xa tung tóe và lan rộng
thêm bấy nhiêu!. Do những nhận định trên, tôi không tin tưởng vào khả
năng diệt đạo của chính quyền Việt Nam ở quê nhà mà đặt nhiều hy vọng
vào khả năng giáo dục và bài trừ mê tín nơi quý vị trí thức ngoại
giáo tại hải ngoại. Những cố gắng của qúy vị trong những năm qua chắc
chắc đã soi sáng tâm linh cho một số giáo dân cuồng tín tại hải ngoại
cũng như ở trong nước. Đây là một công tác giáo dục hết sức chính đáng
và cần thiết để cứu nguy dân tộc và góp phần bảo tồn truyền thống
văn hóa nước nhà.
Tuy nhiên, những cố gắng của
quý vị đã bị hạn chế rất nhiều bởi những nguyên nhân sẽ được trình
bày sau đây mà theo thiển ý của tôi, quý vị có thể đã không biết hoặc
không để ý tới vì lý do quý vị không phải là những người trong cuộc.
Nguyên nhân 1. Trước hết,
mỗi khi phát hiện có sách báo chống đạo, các cha cố thường giảng tại
nhà thờ lưu ý giáo dân về những sách báo đó và công khai ngăn cấm giáo
dân đọc. Phần đông giáo dân ngây thơ răm rắp tuân lệnh các cha cố
nên họ đã không đọc và không hề biết nội dung của những sách báo chống
đạo nói gì. Bằng phương cách đơn giản này, các cha cố đã dễ dàng
vô hiệu hóa tác dụng giáo dục của quý vị. Do vậy, cái não trạng của
đa số giáo dân vẫn như xưa và chẳng có gì thay đổi. Nói lên điều này,
tôi muốn lưu ý quý vị một sư thật: muốn cho công cuộc giáo dục bài
trừ mê tín đạt kết quả tốt, việc trước hết là phải bằng mọi
cách loại trừ toàn bộ hệ thống tu sĩ Công Giáo vì họ là một bức tường
kiên cố ngăn cản ánh sáng giáo dục khiến nó không thể soi tới vùng
bóng tối tâm linh của tập thể giáo dân. Nói cách khác, chừng nào còn hệ
thống tu sĩ Công Giáo thì chừng đó công cuộc giáo dục bài trừ mê tín
sẽ không thành công.
Nguyên nhân 2. Khi viết
sách báo chống Công Giáo, quí vị thường quá chú trọng đến những điều
sai trái trong Thánh Kinh như thuyết Tạo Dựng (Creation) hay thuyết Cứu Rỗi
(Salvation) và quý vị chủ quan tin rằng quý vị đã nắm chắc phần thắng
trong việc tấn công những điều sai trái này, quý vị tưởng rằng cứ tấn
công vào những điều căn bản đó thì đạo Công Giáo sẽ sụp đổ.
Nhưng thưa quí vị, đây thật sự là một ảo tưởng! Bởi lẽ, dưới sự
lãnh đạo vô cùng xảo quyệt của Vatican, các cha cố đã có sẵn trong tay
vô số những lập luận lươn lẹo để giải thích cho giáo dân. Hầu hết
giáo dân có trình độ hiểu biết thấp kém nên khi nghe cha cố giải thích
đều thấy xuôi tai, không thắc mắc gì thêm và vẫn tiếp tục sùng đạo
như xưa. Muốn biết nghệ thuật giải thích lươn lẹo rất tài tình của
bộ tham mưu thần học Vatican ra sao, xin quý vị hãy tìm đọc cuốn "Giáo
Lý Mới Thời Đại Mới", 517 trang, do Đất Mẹ phát hành tại
Houston – Texas 1996. Thí dụ: Thánh Kinh dạy rằng Thiên Chúa tạo dựng vũ
trụ trong 7 ngày. Sách Giáo Lý Mới giải thích nên hiểu chữ
"ngày" ở đây là "thời đại" và mỗi thời đại có thể
kéo dài qua nhiều triệu năm! [Nhưng không có ai luận rằng nếu ngày có
nghĩa là thời đại thì làm sao cây cỏ, thảo mộc sống được vì theo
Thánh Kinh, Chúa sinh cây cỏ trước mặt trời.]
Về trường hợp thánh tổ Abraham lấy
em gái làm vợ và toan giết con để tế thần, sách Giáo Lý Mới giải
thích: "Chúng ta không được mời gọi để bắt chước những việc
Abraham làm, nhưng cốt để chú ý đến thái độ trung thành của ông đối
với Thiên Chúa (tr.54).
Nguyên nhân 3. Có một
điều quý vị trí thức ngoại giáo không thể ngờ tới: đó là sự uyển
chuyển linh động và co dãn như cao su của đức tin Công Giáo (the resilience
of the Catholic faith). Đây là một khám phá của giới học giả Tây phương
trong thời gian gần đây. Vào đầu thập niên 1970, tiến sĩ sử học Tim
Dooley đã qui tụ 70 giáo sư chuyên khoa về các môn sử học, khảo cổ học,
tôn giáo học, triết học và thần học thuộc các trường đại học danh
tiếng Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản vác các nước Âu Châu. Họ đã cùng nhau
làm việc trong 7 năm để hoàn thành một công trình nghiên cứu về Ki-tô
Giáo. Họ đã đúc kết công trình nghiên cứu của họ trong hai tác phẩm
đồ sộ mang tên "Eerdmans Handbook of the Bible" và "Eerdmans
Handbook of Christianity", mỗi bộ sách này dày trên 700 trang giấy khổ
lớn, do Eerdmans Publishing Co. xuất bản lần đầu tại Anh và Mỹ năm 1977,
tái bản năm 1987, mỗi lần in mỗi đầu sách 750.000 cuốn.
Trong khi cùng làm việc với nhau, họ
cố gắng tìm hiểu nguyên nhân tại sao Ki-tô Giáo (đặc biệt là Công
Giáo La Mã) vẫn có khả năng vượt thoát mọi đình đốn và vẫn tồn tại
sau biết bao đợt tấn công dữ dội của các giới trí thức Âu Châu như
phong trào Enlightenment trong thế kỷ 18 và của các giới khoa học trong thế
kỷ 19-20. Phần đông chúng ta đều nghĩ rằng Đức Tin là những điều
căn bản cố định và không một ai có tư cách để sửa đổi. Trong thực
tế không phải vậy! Ki-tô Giáo nói chung và Công Giáo La Mã nói riêng có
khả năng đáng kinh ngạc trong việc tự điều chỉnh và canh tân đức tin
của mình, đó là một khả năng đặc biệt đã giúp Ki-tô Giáo vượt thắng
mọi đợt tấn công để tiếp tục tồn tại và phát triển như ngày nay.
Một thí dụ điển hình cho việc tự
điều chỉnh đức tin là vụ Vatican sửa đổi Kinh Tin Kính. Chúng ta đã biết
Kinh Tin Kính đã được hình thành trong Công đồng Nicaea năm 325 để trở
thành một bản tóm lược tín điều căn bản của đạo Công Giáo trong 16
thế kỷ qua. Vậy mà Vatican đã dám sửa đổi một số điều quan trọng
để bài kinh này có thể phù hợp với thời đại ngày nay:
- Kinh Tin Kính cũ có câu: "(Chúa
Jesus) chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi
trong kẻ chết mà sống lại..."
- Kinh Tin Kính mới sửa lại: "(Chúa
Jesus) chịu khổ hình và mai táng đời Phong-xi-ô Phila-tô, ngày thứ
ba sống lại như lời Thánh Kinh" (Giáo Lý Mới Thời Đại Mới,
tr.160). Như vậy ta thấy qua bài kinh Tin Kính mới, Vatican không xác nhận
Jesus đã chết trên thập giá mà chỉ nói trống là Jesus chịu khổ
hình mà thôi. Chúng ta được biết qua vụ khám nghiệm thánh tích Tấm
Vải Liệm Turin vào tháng 10 năm 1978, giới khoa học quốc tế đã xác nhận
tấm vải liệm Turin là thật và các dấu vết trên tấm vải liệm này chứng
tỏ Jesus đã thoát chết sau khổ hình đóng đinh trên núi Sọ. Sau cơn hôn
mê, Jesus đã tỉnh dậy chứ không phải từ kẻ chết sống lại. Xin đọc
bài Tấm Vải Liệm Xác Chúa của Charlie Nguyễn trong cuốn "Kitô
Giáo Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại" tr. 267-281, hoặc trong cuốn
Petrus Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập tr. 157-165). Do đó, Vatican đã sửa lại
kinh Tin Kính bằng cách không xác nhận Jesus đã từ kẻ chết sống lại
và chỉ nói trống là Jesus đã sống lại... "như lời Thánh Kinh".
Vatican cũng loại bỏ việc Chúa xuống
ngục tổ tông (tức Luyện Ngục – The Purgatory) vì ngục tổ tông là một
vấn đề gây tranh cãi sôi nổi tại các nước Tây phương đã dồn Vatican
vào thế bí. Cuối cùng, Vatican đã bỏ luôn câu này khỏi kinh Tin Kính.
d. Muốn giáo dục tập thể giáo
dân có hiệu quả, quý vị cần xử dụng văn phong rõ ràng mạch lạc (để
soi sáng vấn đề và phải dùng những từ ngữ thông dụng để họ có thể
hiểu được. Thí dụ: Khi nói đến Holy Spirit hay Jean Baptist, xin quý vị cần
xử dụng những danh từ mà người Công Giáo quen dùng là Đức Chúa Thánh
Thần và Thánh Gio-an-Bao-ti-xi-ta thì họ sẽ hiểu ngay. Nếu quý vị gọi
Holy Spririt là Con Ma Thánh và gọi Jean Baptist là Giăng Rửa Tội thì mọi người
Công Giáo sẽ không hiểu quý vị nói cái gì. Khi quý vị viết sách mà người
đọc không hiểu được thì mọi cố gắng giáo dục của quý vị sẽ
thành vô hiệu.
B. Về một số từ
ngữ tôn giáo.
Tôi đề nghị quí vị tác giả ngoại
giáo không nên gọi đạo Công Giáo là đạo Gia-tô vì danh từ này không
chính xác. Chúng ta đã biết trong các Kinh Nguyện được viết bằng Hán
tự, Chúa Jesus được gọi là "Thần Chúa Gia-tô". Chẳng hạn như
trong Kinh Phục Dĩ có câu: Thần Chúa Gia-tô thục tội thi ân chi đại, có
nghĩa là Chúa Jesus chuộc tội và ban ơn rất lớn. Như vậy, "Gia-tô"
là tiếng Hán tự phiên âm tên Chúa Jesus chứ không phải là tiếng
phiên âm chữ Catholic. Trong tác phẩm Phá Ngục Tù, nơi trang 283, tác
giả Trần Văn Kha đã lầm lẫn viết rằng: "Gia-tô là tiếng phiên
âm từ chữ Catholic". Thật ra, đạo Công Giáo đã được truyền vào
Việt nam từ năm 1533, đến nay đã gần 5 thế kỷ. Chữ quốc ngữ mới
được phổ biến tại Việt Nam trong đầu thế kỷ 20. Từ đầu thế kỷ
16 đến đầu thế kỷ 20, các sách kinh cũng như các tài liệu truyền giáo
đều được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Sở dĩ người Việt
thời xưa quen gọi Đạo Công Giáo là đạo Gia-tô vì các cụ đồ nho thấy
đạo này thờ Chúa Giê-su mà chữ Hán gọi là Gia-tô, nên gọi đạo này
là đạo Gia-tô. Về điểm này, ông Trần Quý đã viết rất đúng:
"Người Việt ta thường gọi đạo Giê-su là đạo Gia-tô; nguyên
nhân vì người Trung Hoa phiên dịch chữ Giê-su sang chữ Hán, người Việt
đọc chữ hán theo âm ngữ Nho thành Gia-tô" (Phần mở đầu tác phẩm
Lòng Tin Âu Mỹ Đấy – Đồng Thanh xuất bản, 1996).
Tuy nhiên, chúng ta không thể
gọi đạo Công Giáo là đạo Gia-tô được vì trên thế giới không có
đạo nào được gọi là đạo Giê-su hay đạo Gia-tô cả. Người ta gọi các
đạo thờ Chúa Giê-su (Chúa Gia-tô) là CHRISTIANITY tức Cơ-đốc-giáo
theo phiên âm Hán tự, hoặc Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt Nam. Các tín
đồ thờ Chúa Giê-su đều tin rằng ngài chính là Đấng Cứu Thế (Christ).
Christ là tiếng Anh và Pháp phiên âm tiếng Hy Lạp CHRISTOS. Người Hán
phiên âm Christos là Cơ-Đốc. Trước Công Đồng Vatican II, các sách Kinh
Nguyện Công Giáo Việt Nam phiên âm Christos là Ki-ri-xi-tô, sau 1965, danh từ
Ki-ri-xi-tô được rút ngắn lại thành Ki-tô. Nếu ta dùng danh từ Gia-tô để
gọi đạo Công Giáo thì chẳng hóa ra Công Giáo là đạo duy nhất thờ Chúa
Giê-su hay sao?. Ngoài Công Giáo ra còn có nhiều đạo khác cũng thờ Chúa
Giê-su như Chính Thống Giáo, Anh Giáo và trên hai trăm giáo phái Tin Lành.. Tất
cả các tín đồ của các tôn giáo này đều được gọi chung là các
Ki-tô-hữu (Chritians) vì mặc dù họ thuô những giáo hội khác nhau nhưng
họ có chung một niềm tin Chúa Giê-su là đấng Christ (Kitô). Công Giáo La
Mã chỉ là một trong những giáo phái của Ki-tô Giáo và không phải là đạo
duy nhất tôn thờ Chúa Jesus (thần Chúa Gia-tô) nên không thể gọi đạo này
là đạo Gia-tô được.
Thiết tưởng chúng ta cần phân biệt
rõ rệt giữa nhân vật Giê-su và huyền thoại Ki-tô. Giê-su (Gia-tô) là
một nhân vật có thật trong lịch sử, tên thật theo ngôn ngữ Hebrew do
cha nuôi Joseph đặt cho lúc mới sinh là Yeshua, tiếng Hy Lạp phiên âm thành
Iesous, tiếng La Tinh cũng như tiếng Anh và Pháp đều phiên âm là Jesus. Theo
các cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và lịch sử trong những thế kỷ gần đây
thì Jesus sinh khoảng năm thứ 4 trước Công Nguyên. Bị đế quốc La Mã đóng
đinh trên thập giá năm 29, lúc đó Jesus 33 tuổi. Theo kết quả giảo nghiệm
tấm vải liệm xác Jesus của phái đoàn khoa học quốc tế tại Turin nước
Ý vào tháng 10 năm 1978, căn cứ vào những vết máu, mồ hôi và chất nhờn
da thịt (skin oil) của Jesus hiện còn dính trên tấm vải liệm, các nhà
khoa học đã ước đoán Jesus cao 1 mét 82 và cân nặng 79 kí.
Tôi đã trình bày hơi dài dòng về
vấn đề này không ngoài mục đích để xác nhận Jesus là một nhân vật
có thật trong lịch sử. Trái lại, Ki-tô là một huyền thoại chứ không
phải là một nhân vật có thật. Huyền thoại Ki-tô đã phát sinh từ
Babylon vào khoảng 4000 năm trước Công Nguyên và huyền thoại này đã xâm
nhập vào Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái vào khoảng thế kỷ 10 trước Công
Nguyên. Cho tới nay, những người theo đạo Do Thái vẫn tin rằng Chúa
Ki-tô chưa ra đời. Họ phủ nhận Jesus là Ki-tô. Đối với họ, Jesus đã
chết không phải với tư cách của một Đấng Cứu Thế (Ki-tô/Cơ đốc/Messiah)
nhưng với tư cách là một công dân Do Thái chống đế quốc La Mã. Bọn
đế quốc đã thần thánh hóa Jesus bằng huyền thoại Ki-tô. Nói cách
khác, Jesus đã được chúng Ki-tô hóa để trở thành Thiên Chúa (JESUS WAS
CHRISTED) nhằm mục đích biến Jesus thành cái Boomerang quay ngược trở lại
tàn sát dân tộc Do Thái để trả thù.
Tôi cũng đề nghị quý vị không
nên gọi Công Giáo là Thiên Chúa Giáo vì trên thế giới, người ta gọi các
dạo thờ chung Một Thiên Chúa (one-God religions) là Monotheism tức Nhất Thần
Giáo hoặc Độc Thần Giáo chứ không có đạo nào được gọi là Thiên
Chúa Giáo cả. Monotheism gồm có ba tôn giáo là Do Thái Giáo, Ki-tô Giáo và
Hồi Giáo. Công Giáo chỉ là một giáo phái của Ki-tô Giáo và Ki-tô Giáo
chỉ là một trong ba tôn giáo thuộc hệ thống Nhất thần giáo mà thôi.
Chúng ta đã biết rằng các đạo thờ Chúa là sản phẩm của Tây phương,
bao gồm các nước Âu Mỹ và các nước Do Thái Ả Rập, do đó chúng ta
nên hiểu tôn giáo này theo định nghĩa của họ. Đối với người Tây phương,
nếu nói tới Monotheism là người ta nghĩ ngay đến những tôn giáo bắt nguồn
từ Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái gồm có đạo Do Thái (Judaism) đạo Ki-tô
(Christianity) và đạo Hồi (Islam). Tất cả mọi người ngoài ba tôn giáo
này đều được gọi là người ngoại giáo (heathen: One who adheres to a
religion that does not acknowledge the God of Judaism, Christianity or Islam).
Chúng ta cũng không nên gọi Công
Giáo La Mã là Ca-tô Rôma. Theo tôi hiểu, quý vị muốn tránh dùng danh từ
Công Giáo vì quý vị cho rằng danh từ này ám chỉ Công Giáo là quốc giáo
(state religion/official religion of state/public religion). Thật ra,nếu chúng ta
hiểu chữ Catholic là state religion hay public religion là chúng ta đã đánh
giá quá thấp ý đồ thâm độc của đế quốc La Mã. Trong ba thế kỷ
đầu Công Nguyên, không có đạo Công Giáo mà chỉ có đạo Ki-tô với rất
nhiều giáo phái khác nhau. Năm 325, đế quốc La Mã thống nhất các giáo
phái Ki-tô bằng võ lực. Năm 340, đế quốc La Mã đổi tên Ki-tô Giáo
thành Công Giáo, tiếng La Tinh "Catholica" có nghĩa là toàn cầu
(universal). Kẻ chủ mưu là hoàng đế Constantine không tin đạo Công Giáo nhưng
đã cố tình biến đạo này thành một công cụ chính trị giúp y thực hiện
mộng bá chủ toàn cầu dưới chiêu bài tôn giáo. Y nêu ra khẩu hiệu
"In Hoc Signo Vinces" có nghĩa là "Với dấu hiệu Thánh giá, ta sẽ
chiến thắng thế giới". Tự điển Bách Khoa Công Giáo đã viết rõ về
điều này như sau: "Constantine favored Christianity merely from political
motives and he has been regarded as an enlightened despot who made use of religion only to
advance his policy – The Catholic Encyclopedia Volume 4, p.300). Thực chất Công
Giáo La Mã là mộ đạo do đế quốc La Mã lập nên trên nấm mồ của
Ki-tô Giáo nguyên thủy và đi ngược lại giáo lý của đạo Ki-tô lúc ban
đầu chỉ thờ Một Thiên Chúa chứ không thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì đạo
Ki-tô đã được Đế quốc La Mã biến đổi thành Công Giáo và Công Giáo
đã thống trị tâm linh Âu Mỹ nhiều thế kỷ nên ngưởi ta quen gọi Công
Giáo là Ki-tô Giáo. Cũng do đó, người ta đã gọi Thiên Chúa Ba Ngôi là
Thiên Chúa của Ki-tô Giáo (Xin đọc chương 4, tác phẩm bestseller A
HISTORY OF GOD của cựu nữ tu sĩ Công Giáo Anh quốc Karen Armstrong, tác giả
trình bày vấn đề này hết sức rõ ràng dưới tiểu đề "Trinity:
The Christian God" , tr. 107-131). Một số vị trí thức ngoài Công
Giáo đã lầm lẫn dịch chữ "Christian God: là "Thần Gia-tô".
Thật ra, Christian God có nghĩa là "Thiên Chúa theo quan niệm của Ki-tô
Giáo", tức quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong các Kinh Nguyện bằng
chữ Hán thì danh từ "Thần Chúa Gia-tô" có nghĩa là "Đức Chúa
Giê-su". Như vậy Gia-tô là tiếng phiên âm chữ Hán để gọi tên
Giê-su. Còn chữ Christianity là Ki-tô Giáo theo phiên âm Việt Nam, người Hán
phiên âm là Cơ đốc giáo (bắt nguồn từ chỗ phiên âm tiếng Hy Lạp
Christos là Cơ đốc). Tiến sĩ Lý Khôi Việt dịch chữ "Christian
God" là "Thần Gia tô" theo tôi nghĩ là không đúng nghĩa (sách
"Phật Giáo & Quốc Đại Việt Nam" của tác giả Lý Khôi Việt,
Viện Tư Tưởng Việt-Phật xuất bản năm 2000, trang 378). Giáo sư Trần
Chung Ngọc lầm lẫn Christian God với Thiên Chúa Jehovah (còn gọi là Elohim tức
con bò thần El) của đạo Do Thái. Ông viết: "Theo Thánh Kinh Thần Ki
tô đã dạy dân mà Ngài chọn".
Nếu chúng ta thấu hiểu âm mưu
vô cùng thâm độc của đế quốc La Mã khi chúng lập ra đạo Công Giáo
(có nghĩa là tôn giáo toàn cầu) vào năm 325, thì chúng ta sẽ cố gắng
làm cho đồng bào của chúng ta hiểu rõ ý nghĩa xâm lược toàn cầu của
chúng qua chiêu bài tôn giáo bịp bợm hơn là phiên âm thành
"Ca-tô-Rô-ma" vì tiếng phiên âm này đã làm mất đi chữ CÔNG với
ý nghĩa nguyên thủy là tham vọng toàn cầu (universal) của bọn đế quốc.
Ngoài ra, cũng xin nói thêm là sở dĩ người ta dùng danh từ Công Giáo La
Mã (Roman Catholic) cốt để phân biệt với nhiều giáo phái Công Giáo khác
như Công Giáo Ai Cập (Coptic), Công Giáo Hy Lạp (Greek Catholic), Công Giáo Anh
tức Anh Giáo (Anglicanism). Tôi sẽ cố gắng trở lại vấn đề nêu trên với
đầy đủ chi tiết trong một bài viết riêng.
- PHỤ LỤC
- Câu Chuyện Ly Kỳ về Một
Thánh Tích 2000 Năm Lịch Sử:
TẤM VẢI LIỆM
XÁC CHÚA
Hai thuyết quan trọng
bậc nhất làm rường cột cho Kitô Giáo là thuyết Tạo Dựng và Cứu Rỗi.
Theo thuyết Tạo Dựng, Thượng đế
sinh ra vũ trụ và con người khoảng 6-10 ngàn năm trước đây. Thuyết này
đã bị khoa học bác bỏ qua thuyết "Big Bang", và các khám phá của
môn khảo cổ học cho biết con người có mặt trên quả địa cầu từ khoảng
trên 150 ngàn năm, mà độc giả sẽ thấy trong bài của Nguyễn Hồng Ngọc.
Về thuyết Cứu Rỗi nói rằng
Chúa Jesus (Giê-su) được Chúa Cha phái xuống trần gian chịu chết trên
cây thập tự để chuộc tội cho nhân loại, sau đó Ngài sống trở lại
và bay về trời với Chúa Cha. Nhưng qua tấm vải liệm mà các nhà khoa học
quốc tế giảo nghiệm ngày 8-10-1978 cho thấy: "Chúa Jesus bị đóng
đinh trên cây thập tự nhưng không chết, chứ không phải đã chết
và sống trở lại rồi bay về trời qua bài sưu tầm dưới đây của
Charlie Nguyễn: (Lời giới thiệu trong cuốn "Kitô Giáo Từ Thực
Chất Đến Huyền Thoại").
Cuối tháng 5.96 vừa qua, đài phát
thanh VOVN Houston có loan một tin ngắn: Tấm vải liệm xác Chúa Jesus là một
thánh tích rất nổi tiếng qua nhiều thế kỷ đã bị Tòa Thánh La Mã xác
nhận là một vật giả mạo. Thực ra đây không phải là một tin mới mẻ
vì cách đây 8 năm, vào tháng 10.1988, Tòa Thánh đã tổ chức một cuộc họp
báo tại London chính thức công bố thánh tích tấm vải liệm xác Chúa đã
bị "ngụy tạo" trong khoảng thời gian từ 1250 đến 1390.
Sự công bố trên của Tòa Thánh La
Mã đã gây ngạc nhiên cho nhiều giới khoa học, học giả và ký giả từng
quan tâm đến thánh tích này vì sự công bố của La Mã hoàn
toàn trái ngược với kết quả cuộc giảo nghiệm của Ủy Ban Khoa Học Quốc
Tế được tổ chức tại Turin (Ý) vào tháng 10.1978. Kết quả cuộc nghiên
cứu năm 1978 đã xác nhận tấm vải liệm xác Chúa Jesus là thật.
Do đó, nhiều học giả và ký giả
đã tự động mở cuộc điều tra để tìm hiểu ngọn nguồn sự việc,
trong số đó có hai học giả Đức là Holger Kersten và Elma R. Gruber. Sau nhiều
năm nghiên cứu lịch sử và tiếp xúc với các nhà khoa học đã từng tham
dự các cuộc giảo nghiệm năm 78 và 88 nói trên, họ đã tường trình kết
quả của cuộc điều tra riêng của họ trong một cuốn sách được viết
bằng tiếng Đức. Cuốn sách này do chính các tác giả chuyển ngữ sang tiếng
Anh với tựa đề The Jesus Conspiracy, 337 trang, Element Co, xuất bản tại
Hoa Kỳ năm 1994.
Để độc giả Việt Ngữ hiểu rõ
hơn về thánh tích rất nổi tiếng tại các nước Âu Mỹ trong nhiều thế
kỷ qua, chúng tôi xin tóm lược phần nói về TẤM VẢI LIỆM trong cuốn
sách nói trên một cách ngắn gọn.
I. XUẤT XỨ TẤM VẢI
LIỆM
Dưới đề mục Bí Mật Núi Sọ
(The Secrets of Golgotha) Elma R. Gruber đã kể chuyện xuất xứ của tấm vải
liệm như sau: Năm 29 sau Công Nguyên, Jesus 33 tuổi, người xứ thuộc địa
Galilee đã bị quan Toàn Quyền La Mã Pilatus tuyên án tử hình về một tội
chính trị: "Âm mưu gây bạo loạn chống chính quyền". Một
toán lính La Mã đã dẫn Jesus lên núi Sọ Golgotha ở Jerusalem xử tử bằng
cách đóng đinh vào thập giá. Lúc đó là buổi chiều thứ sáu. Ngày hôm
sau là ngày Lễ Vượt Qua (Passover) nhằm ngày thứ bảy (Sabbath). Theo tục lệ
Do Thái thì mọi tử tội đều phải được chôn cất trước ngày Sabbath
vì Thánh Kinh đã dạy: "Mặt trời không chiếu trên xác tử tội
vào ngày Sabbath". Hai người bạn thân của Jesus là Joseph Arimathea
và Nicodemus là những người rất giàu có và quyền thế. Cả hai đều là
thành viên của hội đồng tối cao Do Thái (Sanhedrin) là một chính quyền bản
xứ do La Mã lập ra để trông coi mọi việc về tôn giáo và luật lệ Do
Thái, hai người này cũng đều quen biết Pilatus (Pilate). Joseph và Nicodemus
biết trước từ lâu việc chính quyền La Mã đã quyết định xử tử
Jesus. Tuy họ không thể cứu Jesus thoát khỏi án tử hình nhưng họ đã cố
gắng tìm mọi cách can thiệp với Pilatus (Pi-la-tớt) cho phép họ tháo xác
Jesus xuống càng sớm càng tốt để kịp thời cứu sống. Joseph đã mua sẵn
một khu vườn nằm sát bên núi Sọ, xây sẵn một ngôi mộ lớn có nhiều
phòng, chung quanh có cây cối che khuất. Nicodemus (Ni-cô-đe-mớt) mua một số
lượng thuốc men rất lớn mà theo kinh Phúc Âm của John (19:30) kể rằng:
Nicodemus đến với Chúa vào ban đêm mang theo dầu myrrh và aloe (lô hội) nặng
100 stones" (tương đương 100 pounds). Đó là chất thuốc có tác dụng
gây mê, tẩy uế và chữa trị vết thương. Trong lúc còn bị treo trên thập
giá, Jesus kêu khát nước. Một sĩ quan La Mã đã dùng một miếng bọt biển
(sponge) thấm dấm rồi lấy cây giáo đưa miếng bọt biển đó lên miệng
cho Jesus uống. Viên sĩ quan đó là thuộc hạ của Pilatus, cấp bậc như Đại
Úy, chỉ huy toán hành hình Jesus nhưng lại là một tín đồ bí mật của
Ngài. Phúc Âm của Mark [Thánh Kinh Tân Ước có tên là Mác.] ghi rõ (15
39-27:54): "Viên sĩ quan này là người đã từng ngợi khen Chúa là con
của Đức Chúa Trời." Sau khi uống dấm xong, Chúa nói: "Công
việc đã hoàn tất", rồi Ngài cúi xuống trút linh hồn (bất tỉnh).
Tại sao Jesus chết giả ngay
sau khi uống dấm? Và có phải là dấm thật không? Có thể đó là rượu
nho pha myrrh và aloe là hai chất Nicodemus mang lên núi Sọ rất nhiều. Sau
này các nhà khoa học đã phân chất khám phá ra trong aloe (lô hội) có chất
phenol là chất có tác dụng gây ra tình trạng hôn mê (coma). Dầu myrrh lấy
từ cây Commiphora được ông tổ y khoa Hippocrate ca ngợi là một thần dược
tẩy uế, ngăn ngừa bệnh dịch và chữa trị vết thương. Cũng không loại
trừ giả thuyết cho rằng trong nước "dấm" đó có pha thêm thuốc
phiện vì vào thời Jesus ở Palestine, việc xử dụng thuốc phiện rất phổ
biến. Do đó, uống "dấm" xong, Jesus ngất xỉu. Chỉ sau đó vài giờ,
vì đã được phép của Pilatus, Jesus được Joseph và Nicodemus tháo xuống
khỏi thập giá và đưa ngay vào nhà mộ kín đáo trong vườn riêng của
Joseph. Tại nhà mộ này, Joseph và Nicodemus đã trải sẵn một tấm vải trắng
trên ghế dài bằng đá. Vì tấm vải rất dài (4m36, rộng 1m10) nên chỉ cần
một nửa tấm vải cũng đủ phủ lên mặt ghế đá. Nicodemus rắc các thứ
dầu và thuốc đó trước khi đặt thân xác Jesus nằm lên trên. Do toàn
thân của Jesus lúc đó đẫm máu nên tấm vải trắng in rõ các vết roi rướm
máu ở lưng, mông, đùi và chân. Cũng nhờ các vết máu này, người ta đã
đo được chiều cao của Jesus là 1m82 và ước lượng thân xác Ngài nặng
khoảng 79Kg. Với tuổi 33, Ngài là một thanh niên khá cao lớn lực lưỡng!
Phân nửa tấm vải còn lại được
trùm qua đầu, qua mặt, ngực, bụng xuống tới hai bàn chân. Lúc đó hai
tay của Jesus được đặt vắt chéo nhau trên bụng. Phân nửa tấm vải
này in rõ các vết tròn nhỏ do gai nhọn đâm vào trán. Một số lỗ gai đâm
từ lâu trước đó nên máu đã khô đen. Bấy giờ, người ta tháo đinh gai
ra khỏi đầu Jesus nên máu tươi bật chảy ra làm ướt cả mặt. Jesus được
thoa hỗn hợp dầu myrrh và aloe khắp thân thể. Những chất dầu này hòa lẫn
với máu đã in khuôn mặt của ngài lên tấm vải phủ phía trên thân xác,
hai cánh tay vắt chéo với lỗ đinh trên hai bàn tay, hai ống chân với hai lỗ
đinh trên hai bàn chân. Buổi tối hôm đó là đêm thứ Sáu rạng ngày thứ
Bảy cũng là ngày lễ Vượt Qua. Đó là ngày đại lễ của Do Thái kỷ niệm
ngày thánh Moses (Môi-se), tương truyền Môi-se hóa phép cho nước Hồng Hải
rẽ ra và thánh đã dẫn toàn dân Do Thái thoát ách nô lệ Ai Cập để đến
miền đất hứa Palestine (Pa-lét-tin). Vào thời kỳ đó, người Do Thái
dùng Âm lịch và ngày lễ Vượt Qua trùng vào dịp trăng tròn rất sáng ban
đêm. Mọi người dân Jerusalem (Rê-ru-sa-lem), thủ phủ của nước Do Thái,
đều lo sửa soạn ăn mừng ngày lễ lớn nhất của họ, không có ai để
ý đến người tử tội đã bị xử tử hồi chiều qua. Người tử tội
Jesus lúc này đã tỉnh dậy vì chất "dấm" gây mê đã hết tác dụng.
Đêm đó, dưới ánh trăng rằm, Joseph, Nicodemus và các "thiên thần mặc
áo trắng" đã đưa Jesus từ nhà mồ của Joseph đến một nơi bí mật
an toàn hơn để tiếp tục chữa trị các vết thương cho Ngài. Về sau, do
sự khám phá từ hơn trên một trăm cuốn sách cổ tại Qumran gần Biển Chết
(Dead Sea), người ta mới biết các "thiên thần mặc áo trắng"
đó là các tu sĩ kiêm y sĩ thuộc giáo phái Essene, một giáo phái xuất
phát từ đạo Do Thái nhưng đã được biến cải thành "Kitô Giáo trước
Jesus". Trước đó ba năm, một tu sĩ nổi tiếng của giáo phái này là
Gioan Baotixita đã làm phép rửa tội cho Jesus trên sông Jordan (Róc-đan), chỉ
cách Qumran có 5km. Các tu sĩ thuộc giáo phái này luôn luôn mặc áo dài trắng,
thường hay chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo trên khắp nước Do Thái thời
ấy. Sau khi đưa Jesus đến một nơi an toàn hơn, họ đã để lại ở ngôi
mộ tấm vải liệm xác Chúa Jesus. Sáng hôm Chủ Nhật (Do Thái gọi là
ngày đầu tuần), một nữ tín đồ thân thiết của Jesus là Mary Magdelene
đến thăm mộ Chúa. Phúc Âm (Kinh Thánh) của John (20: 1-18) kể chi tiết như
sau: Magdelene đến thăm mộ Chúa trong buổi sáng ngày đầu tuần. Lúc ấy
trời hãy còn tối. Bà thấy hòn đá chắn cửa hang đã dời đi nơi khác.
Bà vô cùng hoảng hốt bèn đi tìm Peter và John, than khóc với hai người rằng:
"Không biết ai đã mang xác Chúa ra khỏi mộ rồi!" (Peter là
Thánh Phêrô, John là Thánh Gioan tông đồ và cũng là một trong bốn vị
thánh viết sách Phúc Âm). Phúc Âm của John (20: 4-7) kể tiếp: "Peter
và John cùng chạy đến hang mộ Chúa nhưng John chạy nhanh hơn nên tới trước.
John nhìn vào hang thì thấy tấm vải liệm cuộn lại cùng chiếc khăn che mặt
của Chúa."
Xin lưu ý là tác giả Phúc Âm
đã dùng động từ thì hiện tại (present tense) để kể chuyện này, muốn
chứng tỏ sự việc trên do tác giả chứng kiến.
- II. TỘT ĐỈNH VINH QUANG CỦA
THÁNH TÍCH SUỐT CHIỀU DÀI LỊCH SỬ BỊ KẾT THÚC
- BẰNG MỘT DIỄN BIẾN BẤT NGỜ.
Trong phần lớn cuốn sách The
Jesus Conspiracy, học giả Holger Kersten đã tường thuật cuộc hành trình
từ Đông sang Tây của thánh tích và một biến cố bất ngờ năm 1978 đã
đưa thánh tích này từ tột đỉnh vinh quang xuống đáy vực của sự ô nhục.
Theo Phúc Âm của John thì Peter là
người đầu tiên nhặt tấm vải liệm xác của Jesus lên. Đối với người
Do Thái, không ai dám nhặt vải liệm xác người chết đem về nhà vì họ
cho đó là thứ dơ bẩn. Nhưng đối với các tín đồ tin Chúa và với các
môn đệ thì tấm vải liệm xác Chúa là một thánh tích vô cùng quý giá cần
phải được bảo tồn. Theo một tài liệu của Thánh Nino (chết năm 335) thì
tấm vải liệm xác Jesus có một thời gian lọt vào tay vợ của Pilatus. Bà
này rất có cảm tình với Jesus và chính bà đã khuyên chồng đừng giết
ông ta. Do đó, Pilatus đã rửa tay tuyên bố không liên can đến vụ án và
giao Jesus cho người Do Thái muốn làm gì thì làm. Sau đó tấm vải này được
các cộng đồng tín đồ Kitô Giáo ở Palestine kế tiếp nhau lưu giữ và
truyền lại từ đời này qua đời khác. Tới năm 670, giám mục người Pháp
Arcurf de Périgeux đến Palestine hành hương. Ông đi theo một đám đông người
đến một thánh đường tại đây để viếng tấm vải liệm xác Chúa.
Ông trở về Pháp thuật lại chuyện này và kể chính ông ta đã hôn lên tấm
vải liệm đó.
Năm 944, tấm vải liệm được
đưa về lưu giữ tại một nhà thờ ở Constantinople. Tháng 8.1203, nó được
đưa về nhà thờ ở Blachernal ở Hy Lạp. Nhà thờ này mở cửa vào các
ngày thứ sáu hàng tuần cho dân chúng đến chiêm bái và cầu nguyện.
Năm 1418, tấm vải liệm được
đưa về pháo đài Monfort (Pháp) thuộc quyền sở hữu của dòng họ Charny.
Năm 1452, Margaret Charny đem triển lãm thánh tích này tại lâu đài Germolles.
Cuối cùng, bà hoàng này quyết định đem tấm vải thánh tích tặng cho Quận
Công Savoy. Quận công vô cùng cảm kích đã tặng lại bà hoàng Margaret tòa
lâu đài Varambon ở Geneve và tất cả tiền lợi tức bất động sản của
quận công ở Lyon. Từ đó, tấm vải liệm thánh tích được lưu giữ và
tôn thờ tại một thánh đường riêng của dòng họ này tại Chambery.
Năm 1506, Giáo Hoàng Julius II ra đạo
luật công nhận tấm vải liệm là một thánh tích của Chúa Jesus và Ngài
quyết định chọn ngày 4 tháng 5 hàng năm là ngày lễ chính thức của
giáo hội tôn kính thánh tích này. (The Feast Day of The Holy Shrout). Từ đó,
các vua chúa, các nhà quí tộc, các giám mục, tu sĩ và các tín đồ giàu
có từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt kéo đến Chambery hành hương để
được cầu nguyện "trước mặt Chúa" (tấm vải liệm).
Ngày 17.9.1578, Quận Công Emmanuel
Philibert de Savoy dời thủ đô về Turin (thuộc nước Ý ngày nay). Thánh
tích tấm vải liệm của Chúa được đặt trong lồng kiếng khung vàng dựng
ở phía trên bàn thờ tại nhà thờ Turin. Từ đó người ta gọi thánh
tích này là "khăn liệm Turin" (The Turin Shrout).
Vào tháng 5.1931, nhân dịp đám cưới
của Hoàng Tử Umberto, sau này trở thành Vua nước Ý, tấm vải liệm được
đưa ra triển lãm trong 22 ngày để cho dân chúng khắp nơi đến chiêm bái.
Trong cuộc Thế Chiến Thứ Hai, thánh tích được di chuyển đến tu viện
Vergine ở Avellino để được cất giữ an toàn.
Tuy giáo phận Turin có nhiệm vụ bảo
quản thánh tích vải liệm của Chúa đã hơn 400 năm nhưng quyền sở hữu
vẫn thuộc dòng họ Savoy (Xa-voi). [Ngày 2 tháng 3 năm 1983, Giáo Hoàng John
Paul II đích thân đến Lisbone (Bồ Đào Nha) gặp Cựu Hoàng Umberto đang
tĩnh dưỡng tại đây để xin ông này chuyển nhượng quyền sở hữu tấm
vải liệm. Cựu Hoàng lúc đó đã rất yếu, bằng lòng tặng cho Tòa
Thánh. Hai tuần sau, ông qua đời. Từ nay, Vatican hoàn toàn làm chủ nên dễ
"uyển chuyển" lúc bị thế giới đem ra mổ xẻ Tấm Vải Liệm
lần khác]
Năm 1978, thành phố Turin tưng bừng
làm lễ kỷ niệm 400 năm thành phố này có vinh dự được lưu giữ một
thánh tích thiêng liêng và duy nhất của giáo hội Kitô. Thánh tích được
đưa ra triển lãm trong sáu tuần lễ, từ ngày 28.8.78 đến 8.10.78. Các phương
tiện truyền thông thế giới loan báo rộng rãi tin tức này. Chỉ trong sáu
tuần lễ có tới trên 3 triệu tín đồ từ khắp nơi kéo về Turin hành hương.
Mọi người xếp hàng để lần lượt được đi ngang qua chiêm bái Nhan
Thánh Chúa in trên tấm vải liệm. Dư luận thế giới lúc đó bắt đầu bàn
tán không biết thánh tích khăn liệm của Chúa có thật hay không. Nhiều nước
Âu Mỹ lập các hội khoa học để điều tra vụ này. Tòa Thánh Vatican cũng
hoan nghênh Ủy Ban Quốc Tế gồm các nhà khoa học ưu tú trên thế giới đến
Turin giảo nghiệm vào ngày cuối cùng của cuộc triển lãm tức là ngày
8.10.1978. Riêng Hoa Kỳ gửi đến Turin một phái đoàn 25 nhà khoa học với
hàng tấn dụng cụ máy móc trong đó có một số máy dùng vào việc giảo
nghiệm thánh tích này. Phái đoàn của Tòa Thánh có ba nhà bác học: nhà vật
lý học Luigi Gonella, chuyên gia về kính hiển vi Giovani Riggi và giáo sư bệnh
lý học Peerluigi Baina Bollone. Những nước Anh, Pháp, Đức cũng gửi một số
nhà khoa học của họ đến tham dự cuộc giảo nghiệm vô cùng quan trọng
này.
Trước hết, tấm vải liệm được
đem đến tòa nhà Palazzo Reale cạnh nhà thờ Turin và được đặt trên một
cái bàn rất lớn, chung quanh được bao vây bằng những tấm kiếng chắn
an toàn. Các nhà khoa học chia tấm vải thành 60 khu vực nghiên cứu. Họ lần
lượt khám nghiệm, chụp hình, phân chất từng inch (phân) vuông của tấm
vải liệm. Những tiến bộ khoa học về các môn học mới như tử thi học,
phạm tội học đã giúp ích rất nhiều cho cuộc thử nghiệm này. Sau hai
tuần lễ làm việc miệt mài với tinh thần vô tư, các nhà khoa học đã
đi đến kết luận như sau:
Tấm vải liệm làm bằng sợi bông
Ai Cập, được dệt tại Syria là một xứ thuộc địa La Mã vào thời
Jesus, ở phía bắc Palestine. Tuổi thọ của tấm vải khoảng 2000 năm. Vào
thời kỳ này, dân Âu Châu chưa biết cây bông là gì và phải đợi đến
thế kỷ 14, dân Âu Châu mới học được kỹ thuật dệt vải hình xương
cá trích (herring bone pattern). Các vết máu in trên vải đúng là máu người.
Hình mặt người in trên tấm vải là do phản ứng hóa học và sự oxýt
hóa của chất nhờn da mặt (skin oil), mồ hôi, dầu aloe và dầu myrrh dính
trên mặt và thân thể thấm vào sợi vải nhiều ngày mà thành. Cuộc thử
nghiệm cũng cho biết đã có một người bị thương nặng đang ở trong tình
trạng hôn mê (coma) nhưng vẫn còn sống nằm trên tấm vải. Chiều cao của
người đó là 1m82 và nặng khoảng 79kg. Có người thắc mắc: "tại
sao tấm vải liệm này có thể tồn tại lâu như vậy?". Các nhà
khoa học xác nhận vải bông có thể tồn tại rất lâu không hư. Hiện nay
tại Cairo (Ai Cập) còn lưu trữ nhiều mẫu vải bông có tuổi thọ từ
3000 đến 5000 năm! Các nhà khoa học đã phân biệt được những vết máu
khô trước đó và những vết máu tươi chảy ra khi "người đó"
được đặt nằm trên tấm vải. Các vết máu tươi có vành huyết tương
viền chung quanh. Nhưng nếu một người đã chết cứng thì không chảy thứ
máu tươi này. Hơn nữa, các vết máu của lưng, mông, đùi, chân đều nằm
trên một mặt phẳng. Đó là tư thế nằm dài của một người còn sống.
Người chết trên thập giá, hai chân gập lại ở đầu gối (ảnh tượng
Jesus mà chúng ta thấy thờ ngày nay), không thể có tư thế nằm thẳng như
vậy và có máu chảy được. Cuộc xét nghiệm năm 1978 đã đi tới kết quả
như trên, phần lớn do công lao của các nhà khoa học Mỹ. Khám phá này
phù hợp với kết quả cuộc điều tra kéo dài trên 200 năm qua (khởi đầu
từ phong trào Enlightenment thế kỷ 18 ở Âu Châu) của các học giả nghiên
cứu lịch sử. Sự thật lịch sử là: Jesus đã thoát chết sau khi bị
đóng đinh trên thập giá tại núi Sọ (Golgotha) vì tội "âm mưu gây bạo
loạn chống chính quyền", không có chuyện Chúa chịu chết để chuộc
tội cho nhân loại và cũng chẳng có chuyện sống lại (phục sinh) rồi trở
về thiên đàng với Chúa Cha nào cả. Hai tín điều này là căn bản cốt yếu
của đạo Kitô. Tấm vải liệm xác Chúa Jesus đã được coi là một thánh
tích thiêng liêng duy nhất của Thiên Chúa Giáo bỗng một sớm một chiều
biến thành ‘Con ngựa thành Troy" có nguy cơ phá hoại giáo hội
từ căn bản giáo lý. Nhiều ký giả của các hãng thông tấn nổi tiếng
Âu Mỹ e sợ Tòa Thánh có thể tiêu hủy thánh tích này. Đã mấy lần
Reuter và UPI loan tin có mật báo cho biết Vatican có âm mưu thủ tiêu thánh
tích. Mỗi lần như thế, Vatican lại phải lên tiếng cải chính là thánh
tích vẫn còn ở Turin. Thực ra vì thánh tích này đã quá nổi tiếng và
nhiều triệu người trên thế giới đã từng hành hương chiêm ngưỡng nó
nên Tòa Thánh cũng khó có thể tiêu hủy nó được.
III. DƯỚI TIÊU ĐỀ
VỤ LỪA BỊP CỦA THẾ KỶ (FRAUD OF THE CENTURY)
HOLGER KERSTEN VIẾT TIẾP: Cuối cùng
Tòa thánh cũng tìm ra được một giải pháp để vô hiệu hóa kết quả giảo
nghiệm của Uy Ban Khoa Học Quốc Tế năm 1978
(nhằm bào chữa cho thuyết Cứu Rỗi và Phục Sinh).
Trong năm 1988, Tòa Thánh triệu
tập một ủy ban khoa học hạn chế gồm toàn những người do Tòa Thánh chọn
lựa. U빠ban này dùng phương pháp Radiocarbon
để định tuổi tấm vải liệm. Kết cuộc, ủy ban "gà nhà" nói
rằng tấm vải liệm đã được ngụy tạo vào thời trung cổ, khoảng từ
1260 đến 1390. Tòa Thánh tổ chức cuộc họp báo tại London trong tháng
10.88 để công bố kết quả trên.
Mấy tháng sau, vào ngày 28.4.1989,
ký giả Ý Orazio Petrosillo tháp tùng Giáo Hoàng John Paul II trong chuyến công
du Madagascar. Trên máy bay, ký giả có dịp phỏng vấn Giáo Hoàng về tấm vải
liệm. Giáo Hoàng trả lời "Tấm vải đó hiển nhiên là một thánh
tích" (The Cloth was definitely a relic). Về câu hỏi thánh tích đó có
xác thực không, Ngài trả lời: "Nếu đã là một thánh tích thì nó
phải có tính cách xác thực". Việc ký giả Petrosillo phỏng vấn
Giáo Hoàng trên máy bay được thuật lại trên báo của Tòa Thánh là tờ Observatore
Romano ngày 3.5.89. Nhưng các ý kiến nói trên của Giáo Hoàng thì lại bị
tờ báo đục bỏ. Chẳng qua vì kết quả giảo nghiệm của Uy Ban Khoa Học
Quốc Tế năm 1978 tại Turin đã phát giác một sự thật lịch sử là
"Chúa Jesus đã thoát khỏi nạn chết trên núi Sọ" nên buộc lòng
Tòa Thánh phải phủ nhận tính cách xác thực này để thuyết Cứu Rỗi và
Phục Sinh được tồn tại. Tuy nhiên, khi phủ nhận tính cách xác thực
của tấm vải liệm, Tòa Thánh đã mặc nhiên phủ nhận "tính cách
không thể sai lầm" của ngôi vị Giáo Hoàng, người thay mặt Chúa.
Trong lúc Giáo Hoàng Julius II năm 1506 đã ra đạo luật công nhận thánh
tích này là thật, nay Tòa Thánh nói ngược lại tức đã công khai xác nhận
Giáo Hoàng Julius II sai lầm!. Nói khác đi, Tòa Thánh đã tự phủ nhận "sự
không thể sai lầm" về các vấn đề tín lý của chính mình. Tín
điều "Đức Mẹ Đồng Công" (Co-Redemptrix) và tín điều "Giáo
hoàng không sai lầm" (dogma) sẽ đưa CGLM đến chỗ chết: Tận thế!
Đây cũng là một điều rất đáng buồn cho Tòa Thánh nhưng dầu sao cũng
ít nguy hiểm hơn là sự công nhận tính cách xác thực của thánh tích này
(mà phái đoàn khoa học đã thử nghiệm năm 1978).
Sau tháng 10.88, lễ Kính Thánh Tích
hàng năm vào ngày 4 tháng 5 đương nhiên bị bải bỏ. Thành phố Turin vĩnh
viễn mất đi một nguồn lợi kếch sù thu được của khách thập phương
đến hành hương chiêm bái thánh tích hàng năm. Kể từ ngày 4.5.1990, nhà
thờ Turin được lệnh đóng cửa vô hạn định. Những thế kỷ vinh quang
của tấm vải liệm lịch sử đã chính thức cáo chung. Điều Tòa Thánh
mong muốn là thánh tích và những câu chuyện liên quan đến nó sẽ chìm
vào sự quên lãng của nhân loại. [*]
- Charlie Nguyễn
- 7/1996
- (đã sửa lại lần chót 09/24/01)
[*] Tuy vậy,
vì cần móc túi những con chiên khờ khạo, nên ngày 22.8.2000, Tòa Thánh
Vatican đem tấm vải liệm khác ra triển lãm. Theo tờ nhật báo uy tín lớn
LA Times, tấm vải liệm nầy mới chỉ có 13 thế kỷ tuổi mà Jesus thì đã
chết cách đây 20 thế kỷ. Xin xem thêm cuốn Vatican Thú Tội và Xin Lỗi,
GĐ 2000.
Click vào
đây để in ra bằng font VNI
Điểm sách: Charlie Nguyễn
Nguyễn Văn Hóa
Home | Go to top