>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Chủ Nghĩa Khủng Bố Là Đặc Tính Chung Của Các Đạo Chúa
 
charlie1.jpg (24784 bytes)
  Charlie Nguyễn
Cựu Trung tá quân đội VNCH, cựu Chánh án Tòa án Quân sự Mặt trận Vùng 4. Tín đồ của 4 đời Công giáo Rôma. Hiện cư ngụ tại bang Texas, chuyên nghiên cứu về tôn giáo.

Sau biến cố nhóm khủng bố Hồi giáo Ả-rập phá sập hai tòa nhà cao tầng ở New York ngày 9-11-01, mọi phương tiện truyền thông khắp nơi trên thế giời đã nói nhiều đến Hồi giáo và chủ nghĩa khủng bố. Trong những ngày đầu sôi động, rất nhiều người vì thiếu hiểu biết đã đồng hóa Hồi giáo với khủng bố, một số khác đồng hoá Hồi giáo với Ả-rập.

Tờ Time số ra ngày 11-1-02 đã đưa ra một bản thống kê về dân số Ả-rập tại Mỹ tính đến cuối năm 2001 như sau: Có 7 triệu người Mỹ gốc Ả-rập, 23% theo đạo Hồi, 77% theo đạo Kitô. Số người theo đạo Kitô này bao gồm: 42% Công giáo la mã, 12% Tin Lành và 23% theo Chính thống giáo. Thực tế cho thấy không phải người Ả-rập nào cũng theo đạo Hồi và đại đa số tín đồ Hồi giáo trên thế giới hiện nay không phải là người Ả-rập mà là người Á châu: Indenesia, Pakistan, Bangladesh, Ấn độ, mã Lai và nhiều nước Trung Á. Riêng Việt Nam có 50.000 người tín đồ Hồi giáo.

Từ khi đạo Hồi xuất hiện vào giữa thế kỷ 7 đến nay, gnười Tây phương đã bị ám ảnh về sự thô bạo của những đoàn quân truyền giáo. Họ gọi đạo Hồi là đạo của binh đao (religion of the sword) và gọi kinh Koran là cuốn sách của tử thần (Book of Death) hoặc nhiều vần thơ của quỉ Satăng (The Satanis Verses). các vua chúa Hồi giáo Caliph, Sultan đều đồng nghĩa với bạo chúa (tyrant)... Sách báo Tây phương đã viết rất nhiều về những tục lệ man rợ của những bộ lạc Hồi giáo đối với phụ nữ (cắt âm vật, tục đeo mạng, chửa hoang bị giết v.v...), tệ nạn nội chiến liên miên trong các nước Hồi giáo do tinh thần bộ tộc hẹp hòi. Nhưng những tệ nạn đó không hẳn là những tục lệ đã có từ trước khi đạo Hồi xuất hiện.

Trong hơn một thế kỷ từ khi Muhammad qua đời năm 632, đạo Hồi đã bành trướng với tốc độ thần kỳ từ Trung Đông, Bắc Phi qua Âu châu đến tận biên giới Trung Quốc. Họ đã không truyền đạo bằng những đoàn truyền giáo thừa sai mà bằng những đoàn kỵ binh hung bạo như đoàn kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn. Tuy nhiên đạo Hồi cũng chỉ là một trong ba độc thần. Đạo Hồi không phải là một tôn giáo duy nhất truyền đạo bằng bạo lực. năm 325, hoàng đế La Mã Constantine đã tiêu diệt các giaó phái Kitô để thống nhất mọi tín đồ Kitô trong một tôn giáo mới trực thuộc đế quốc La Mã là đạo Công giáo. Để chống lại sự phát triển của đạo Hồi, Công giáo La mã đã thực hiện 7 cuộc chiến tranh với những đoàn quân chữ thập ròng rã trong 195 năm (từ 1096 đến 1291) sát hại hàng triệu sinh linh. Tôi đã viết một bài riêng về vấn đề này dưới tựa đề “Bảy Cuộc Chiến Tranh Chống Hồi Giáo Cuả Những Đoàn Quân Chữ Thập”, vậy tôi xin miễn nhắc lại ở đây. Tôi chỉ xin nêu lên một lời nhận định của sử gia Lloyd M. Graham trong tác phẩm rất nổi tiếng của ông :Deceptions and Myths of the Bible” trang 350 như sau: “Hãy quan tâm đến những cuộc thận tự chinh (của Công giáo La mã) là những cuộc chiến tranh khủng khiếp nhằm vào mục đích chiếm lại ngội mộ của Chuá Giê-su tại Jerusalem, ngôi mộ này không hề có. Vậy mà 3 triệu người đã bị giết một cách vô ích, trong số đó có 6 chục ngàn trẻ em”.

Nữ học giả hàng đầu chuyên viết về các vấn đề tôn giáo là bà Karen Amstrong, nguyên là nữ tu Côn giáo Ái-nhĩ-lan, hiện là giáo sư đại học ở Luân Đôn, tác giả nhiều sách best-seller, đã viết trong bài tựa sách “Muhammad, A Biography of The Prophet” do Harper San Francisco xuất bản năm 1992 như sau: “Tây phương có quá nhiều quan niệm sai lầm về đạo Hồi và người Hồi giáo do tầm nhìn thiển cận của họ. Người Tây phương cứ làm như chỉ có Hồi giáo là kẻ duy nhất tôn sùng chiến tranh và bạo lực còn họ thì không. Trong thực tế, chính người Tây phương đã gieo rắc biết bao cuộc chiến tranh tàn khốc và những cuộc khủng bố hết sức dã man lên những nước Hồi giáo, nhất là những nước Hồi giáo Ả-rập, trong những thế kỷ qua.

Ngoài những cuộc thập tự chinh (Crusades) trong thời Trung cổ, từ thế kỷ 18 trở đi các nước Tây phương núp dưới chiêu bài truyền giáo đã áp đặt chế độ thuộc địa lên nhiều nước Hồi giáo Ả-rập.

Bà Karen Amstrong viết: “Ngày nay, thế giới Hồi giáo đã coi tội ác của Tây phương là sự tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc, công cuộc truyền đạo Kitô và các cuộc thập tự chinh. Công cuộc truyền đạo Kitô luôn luôn hổ trợ cho bọn thực dân trong mưu toan phá hoại nền văn hóa cổ truyền của Hồi giáo trong các nước bị chiếm đóng.” (Sách đã dẫn, trang 40)

Bà Karen Amstrong đã dẫn chứng về những hành vi man rợ của bọn thực dân Pháp, hầu hết là những tín đồ Công giáo, đã gây ra trên thân xác của những người phụ nữ Hồi giáo Algeria trong năm 1830 (tham chiếu trang 160 của tác phẩm “La Guerre et Le Gouvernment de l’Algerie” của sử gia Pháp M. Bandricourt) : Chính phủ thực dân Pháp xua quân chiếm Algeriea năm 1830, nhưng phải nhiều năm sau Pháp mới bình định được toàn lãnh thổ nước này. Công cuộc bình định được thực hiện bằng những cuộc khủng bố hết sức dã man, nhưng những hành vi man rợ nhất của thực dân Pháp là sự đối xử vô cùng tàn bạo của chúng trên thân xác những người phụ nữ này. Nhiều phụ nữ Algeria được cha mẹ đeo vào cổ tay những chiếc vòng vàng hay bạc chạm trổ rất mỹ thuật từ lúc họ còn nhỏ. Đến khi lớn lên họ vẫn tiếp tục đeo những chiếc vòng đó vì không thề tháo ra được nũa. Bọn lính Pháp rất thích những chiếc vòng này nhưng chúng cũng không thể tháo để lấy ra được. Vì vậy, bọn chúng đã nhẩn tâm chặt chân, chặt tay của những người phụ nữ đó để tước đoạt những chiếc vòng vàng và bạc của họ. Khắp nước Algeria đầy những người phụ nữ quằn quại đau đớn, sống lây lất trong cảnh què cụt thê thảm cho đến mãn đời!.

Những điều trình bày trên đây thiết tưởng cũng đủ chứng minh: bạo lực và khủng bố không phải là một đặc sản của Hồi giaó. Nêu truy nguyên cho đến căn cơ cuối cùng của lòng tôn sùng bạo lực, chúng ta sẽ thấy chủ nghĩa bạo lực và khủng bố bắt nguồn từ bản chất của nền văn hóa du mục. Sản phẩm của du mục là súc vật để ăn thịt. Bời vậy, người du mục thường xuyên ăn thịt là chính yếu, nông sản là những món ăn phụ thuộc và rất hiếm đối với họ. Chính vì vậy họ đã trở thành những người quá quen thuộc với việc giết chóc và họ coi thường sự đau đớn của các sinh vật bị giết đến độ trở thành vô cảm xúc.

Từ nhiều năm qua, dân tộc Việt Nam chúng ta chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, thực phẩm chính yếu là những sản phẩm nông nghiệp nên rất ít sát sinh. Các sinh hoạt văn hóa nông nghiệp đã hun đúc nên tâm hồn nhân ái của người Việt Nam và tạo nên một nền văn minh nhân bản với chủ trương lấy con người làm gốc.

Các sinh hoạt văn hóa nông nghiệp đã hun đúc nên tâm hồn nhân ái của người Việt Nam và tạo nên một nên văn minh nhân bản với chủ trương lấy con người làm gốc.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ có chuyện giết người để tế thần như chuyện Abraham bắt đứa con trai duy nhất của mình phải khom lưng vác bó củi lên núi để sau khi cha giết con bó củi mà nó vác theo sẽ được dùng để thiêu nó.

Theo tục lệ của đạo Do thái Maisen, mỗi khi làm lễ phải giết một con dê hoặc cừu   để lấy máu rưới lên bàn thờ và lên các giáo dân. Tu sĩ chủ lễ phải đọc câu kinh : “Đây là máu của sự giao ước giữa Thiên Chúa và con người.” Điều đó có nghĩa là bất cứ ai phản đạo Maisen đều phải trả giá bằng máu của mình.

Lịch sử đạo Hồi ghi nhận tục lệ giết súc vật để tế lễ Thiên Chúa là một tục lệ lâu đời của người Ả-rập do ảnh hưởng của đạo Abraham, tức đạo Do thái nguyên thuỷ (Pre-Mosaic Judaism). Đầu năm 628, Muhammad đi hành hương tại đền thờ Kaaba ở thành phố Mecca đã dẫn theo 70 con lạc đà của người Ả-rập rất cao lớn và to hơn những con ngựa. Chúng ta thử tưởng tượng 70 con lạc đà mà chỉ để lấy máu của chúng rưới lên đất thánh!

Theo quan niệm của những người du mục thì Thiên Chúa của họ rõ ràng là một ác thần khát máu. Nếu không phải là ác thần thì tại sao họ phải sát sinh để làm đẹp lòng Chúa?

Riêng về phần cá nhân tôi, từ nhỏ tới lớn tôi chỉ đi nhà thờ và cho tới nay tuy đã 65 tuổi nhưng tôi chưa bao giờ vào chùa chắp tay trước bàn thờ Phật . Có mấy lần tôi tò mò đến thăm chùa và chỉ đứng ngoài nhìn vào tượng Phật qua khung cửa sổ mà thôi. Chuyện đơn giản có vậy nhưng cũng đủ cho tôi nhận ra sự khác biệt sâu xa giữa hai tôn giáo: Một đàng là tôn giáo của hòa bình, một đàng là tôn giáo của chiến tranh. Hình ảnh đức Phật ngồi lặng thinh với nét mặt thanh thản hướng nội đã gây ấn tượng trong tôi về một triết lý nhân ái. Tôi chợt hiểu tại sao 80% dân Việt Nam theo Phật. Đó là chính vì triết lý nhân ái của Phật hoàn toàn phù hợp với nền văn hóa nông nghiệp nhân bản của dân tộc Việt Nam. Hãy nhìn lên bàn thờ Phật, tuyệt đối không có một miếng thịt, một giọt máu sinh vật mà chỉ có những sản phẩm của nông nghiệp: trái cây, hoa, oản, bánh, nhang ... tất cả đều là thực vật mà ra. Chỉ riêng những vật dâng cúng cũng đủ để thực hiện bản chất phi nhân hoặc nhân bản của hai nên văn hóa du mục và văn hóa nông nghiệp.

Những vật dâng cúng trên bàn thờ Chúa thì sao? Thay vì người ta giết sinh vật để lấy máu rưới lên bàn thờ như Abraham hay Maisen (Moses)  đã làm xưa kia, nay người ta treo tượng Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá ở chính giữa bàn thờ vì Giê-su là “con Chiên của Thiên Chúa” (The Lam of God) đã bị giết đề làm lễ hy sinh chuộc tôi loài người. Dưới bức tượng Giê-su bị đóng đinh là một “nhà tạm” tức một cái tủ nhỏ có cánh cửa dùng để chứa bánh thánh và rượu nho, tức những vật hiện thân của thịt và máu thật của Giê-su.

Tuy chỉ là chuyện tưởng tượng nhưng nghi lễ của đạo Công giáo đã thể hiện rất đậm nét tinh thần phi-nhân-bản của văn hoá du mục Ả-rập Do thái. Nòng cốt của nghi lễ là chuyện Chuá Cha giết Chuá Con. Những vật dâng lên bàn thờ Chúa chính là máu thịt của đứa con ruột của Chúa! Nghi lễ đó cho chúng ta thấy Chúa Cha của đạo Công giáo thực chất là một quái vật ác thú ăn thịt con. Chẳng những thế, tín đồ Công giáo thực chất là những kẻ mang tâm bệnh thích ăn thịt người vì mỗi sáng đi lễ nhà htờ họ thường xếp hàng lũ lượt kéo nhau lên bàn thờ để được các linh mục cho ăn thịt và uống máu Giê-su. Nghi lễ này được gọi là Bí-tích Mình Thánh Chúa! Các đạo Chúa đều phát sinh từ miền Trung Đông là những vùng dân cư chuyên sống bằng nghề du mục. Theo ngôn ngữ địa phương, danh từ Ả-rập (Arab) có nghĩa là Du-mục (Nomad). Các dân tộc Ả-rập và Do thái đều được gọi chung là Semites. Tuy các dân tộc Ả-rập Do thái thường hay xung đột chém giết nhau nhưng họ cò chung một nền văn hóa mang tính chất du mục và phi nhân (inhuman) và cùng thờ chung một Thiên Chúa khát máu.

Trước khi đi sâu vào vấn đề này, thiết tưởng chúng ta cần xác định trước danh từ các “đạo Chúa” là những đạo nào? Do những hoàn cảnh lịch sử, người Việt Nam chúng ta qua mấy thế kỷ chỉ tiếp xúc với đạo Công giáo La mã là một trong nhiều giáo phái của Thiên Chúa giáo, cho nên mỗi khi nói đến đạo Chúa hay Thiên Chúa giáo là đại đa số người Việt Nam liên tưởng ngay đến đạo Công giáo.

Sự thật, người Tây phương gọi đạo Chúa hay Thiên Chúa giáo là “Monotheism”, do tiếng Hy Lạp “Mono” là một và “Theo” là Thiên Chúa. Người Trung Hoa dịch Monotheism thành Độc Thần giáo. Người Tây phương chia Thiên Chúa giáo, tức Độc Thần giáo thành ba nhóm:

Nhóm một: - Do thái giáo, gồm ba giáo phái chính là Saducees, Pharisees và Essenes.

Nhóm hai: - Kitô giáo (người Tàu gọi là Cơ Đốc giáo), gồm có : Công giáo La mã, Chính Thống giáo, Anh giáo và hàng trăm giáo phái Tin Lành.

Nhóm ba: - Hồi giáo (tức đạo Islam) gồm có: giáo phái Sunni (80%), giáo phái Shiit (12%) và nhiều giáo phái nhỏ như Sufi, Bahai, Druzes, Zaydis v.v...

Cho nên, trong bài này, danh từ “đạo Chúa” hay “Thiên Chúa giáo” không chỉ giới hạn vào đạo Công giáo mà mang ý nghĩa của Monotheism, tức là bao gồm tất cả mọi tôn giáo thờ Chúa thuộc ba nhóm tôn giáo nói trên. Đặc điểm chung của tất cả các tôn giáo thờ Chúa đều nhận Abraham là tô phụ chung, do đó các đạo Chúa còn được gọi là các đạo của tổ phụ Abraham (Abrahamic Religions). Đặc điểm thứ hai là tất cả các đạo thứ hai là tất cả các đạo thờ Chúa đều lấy những sách Kinh thánh của đạo Do thái làm căn bản. Vì đặc điểm này, chúng ta chỉ cần tìm hiểu tính chất hiếu sát, sự sùng bái bạo lực và chủ nghĩa khủng bố trong Kinh thánh Do thái cũng đủ giúp chúng ta hiểu được bản chất phi nhân của các đạo Chúa khác.

Các sách Kinh thánh Do thái gồm có rất nhiều quyển. Ở đây, chúng ta chỉ nêu lên một số những quyển Kinh thánh mà cả hai nhóm tôn giáo Do thái và Kitô đều công nhận như: Xuất hành (Exodus), Joshua, Thánh Vịnh David (Psalm of David). Các sách thánh kinh được hai nhóm trên công nhận gọi là Thánh kinh Do thái-Kitô (Judeo-Chritian Scriptures). Sau khi điểm qua một số trích đoạn trong Kinh thánh Do thái-Kitô, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về chủ nghĩa khủng bố trong Kinh thánh của đạo Hồi (Gospel of Islam) và kinh Koran. Cuối cùng, chúng ta sẽ sơ lược lại những tôi ác chống nhân loại trong lịch sử phát triển của các đạo Chúa và những tổ chức khủng bố của các đạo này trong thời đại hiện nay.

I. Chủ nghĩa bạo lực và khủng bố trong Kinh thánh Do thái-Kitô:

Sau đây chỉ là những thí dụ điển hình nhắm chứng minh một sự thật hiển nhiên là đặc tính hiếu chiến hiếu sát, sự sùng bái bạo lực và chủ nghĩa khủng bố của tất cả các đạo Chúa đã bắt nguồn từ cái gốc của nó lá Kinh thánh Do thái mà cái đạo ấy đều chấp nhận là chân lý:

-Sách xuất hành (Exodus) thuật chuyện Maisen dẫn dân Do thái từ Ai-cập trở về đất Hứa. Maisen và dân Do thái đã phải cầu nguyện Chúa rất nhiều mời được Chúa can thiệp để buộc vua Ai-cập Pharaon cho họ ra đi. Lúc đó dân Do thái chưa gọi hiên Chúa là Jehovah mà gọi ngài là El Shaddai. Theo sử gia Lloyd M. Graham thì danh từ El-Shaddai có nghĩa là “quyền lực khủng khiếp” (The word El-Shaddai means Terrible Power – Deceptions and Myths of the Bible, page 157). Quả thật, Thiên Chúa của Do thái là một ác thần khủng khiếp vì trong lúc vua Pharaon còn đang lưỡng lự chúa El Shaddai (tức Jehovah sau này) đã dồn dập gây ra rất nhiều tai họa cho dân Ai-cập nhằm mục đích để khủng bố tinh thần vua Pharaon. Chúa biến các con sông của Ai-cập thành những sông máu, cá trong sông đều bị chết. Nước sông thối nên không thể dùng để uống hay để tắm rửa. (Exodus chapter 7:20:25)  Sau 7 ngày mà vua Pharaon vẫn cứng lòng không cho dân Do thái chịu rời Ai-cập. Ngày thứ 8, Chúa sai thiên thần xuống giết hết các đứa con đầu lòng của nước Ai-cập và giết luôn các con vật đầu lòng của mọi thứ súc vật của người Ai-cập. (Exodus 11:1-5 và 12:29) Sáng hôm sau, vua Pharaon tỉnh dậy thấy cả nước Ai-cập ở đâu cũng có tiếng than khóc thảm thiết, lúc đó nhà vua mới biết khắp nước Ai-cập không có nhà nào mà không có người chết. (Exodus 12:30-31)

Sử gia Lloy M Graham bình luận: “Tại sao Chúa chọn một tên sát nhân Maisen? Đó là vì tên sát nhân chính là mẫu người Thiên Chúa cần” (Why did He pick this murderer Moses? Because a murderer was just the man He need – Sách đã dẫn như trên, trang 153)

-Sách Joshua: đó là sách kể chuyện Joshua, người kế vị Moses lãnh đạo nước Do thái. Chuyện đầu tiên trong sách Joshua là Thiên Chúa ra lệnh cho Joshua tiêu diệt thành phố Ha’di. Thành phố này có 12 ngàn dân. Joshua đã dùng dáo và gươm giết hết 12 ngàn người của thành phố này bao gồm cả người lớn trẻ em. (Joshua 8:18-27) Trong chương 19 sách Joshua (29-35) kể chuyện Chúa ra lệnh cho Joshua phải giết 31 vị vua ở quanh vùng và một triệu thần dân của những vua đó. Các sách Kinh thánh Do thái gọi những cuộc chiến tranh như trên là “các cuộc chiến tranh của Jehovah” (the wars of Jehovah). Nếu những chuyện đó là thật thì Thiên Chúa Jehovah đúng là “Hitler của Do thái” (Hebrew’s Hitler)!

-Các Thánh Vịnh của vua Da-vít (Psalm of David) : Các Thánh Vịnh là những bài thơ ca ngợi Thiên Chúa. Những bài thơ này được ghi trong sách “Các Thẩm phán và các Vua” (Judges and Kings) trong bộ Kinh thánh Cựu ước. Tôi tin rằng rất ít người Công giáo Việt Nam đã đọc qua Thánh Vịnh của David, nhưng một điều chắc chắn là họ đã đọc nhiều bài kinh nguyện (prayers) ca ngợi ông vua dâm tặc này. Tôi đề nghị Giáo hoàng và Tòa thánh nên phong David làm thánh quan thầy cho các tu sĩ Công giáo dâm tặc trên toàn thế giới và chọn một ngày làm ngày lễ thánh để tôn kính Ngài cách riêng. Về các bài kinh ca ngợi David tôi đã nêu lên trong phần hai của cuốn “Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm” do Gia Điểm xuất bản Hè 2001. Về phẩm hạnh của vua David thì giáo sư Trần Chung Ngọc đã viết một bài riêng, tựa đề là “Thánh David là ai?” đăng trong phần phụ lục của tác phẩm “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những gì?” Giao Điểm xuất bản , năm 2002. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ nêu lên một số câu thơ trong các bài Thánh Vịnh mà thôi. Trước khi trích dẫn những câu thơ này, tôi xin kể một câu chuyện khó quên trong tuổi ấu thơ:

   Vào đầu thập niên 1940, bổn đạo ở miền quê tôi thường đọc kinh bằng chữ Hán, trong số đó có kinh Cầu Đức Bà. bài kinh này khá dài, tới bây giờ tôi đã quên hết chỉ còn nhớ một câu duy nhất, đó là câu: “Đa-vít địch lâu”. bài kinh này thường được đọc buổi tối ở nhà thờ vào thánh Kính Đức Bà tức thánh 5 Dương lịch.

Lúc còn nhỏ, bọn nhi đồng chúng tôi thường được xếp ngồi trên những chiếc chiếu ở giữa nhà thờ và ở gần bàn thờ nhất. Phía sau chúng tôi là những ông quản, bà quản. mấy vị chức sắc này người nào cũng có những chiếc quạt giấy lớn, họ dùng để quạt thì ít mà để dánh chúng tôi thì nhiều. vào một buổi tối đọc kinh ở nhà thờ, một thằng bạn tôi lúc đó khoảng 7,8 tuổi đã bị ông quản cầm quạt đánh vào đầu nó một cái rất mạnh muốn bật máu chỉ vì cái tội nói ngọng. Thay vì đọc “Đa-vít địch lâu” nó đã đọc thành “Đa-vít địt lâu” !

Có lẽ từ sau năm 1945 hoặc 1954, Công giáo Việt Nam không còn đọc kinh chữ Hán nữa. kinh cầu Đức Bà bằng chữ Việt đã đổi câu “Đa-vít địch lâu” thành : “Đức Bà là lâu đài Đa-vít  vậy”. Bổn đạo đọc kinh như chiếc máy, được ghi âm ra sao thì phát lại như vậy, thực sự họ chẳng hiểu Đa-vít là ai và lâu đài Đa-vít là cái gì! Thực sự lâu đài Đa-vít chỉ là những Harems chứ gái để cho Đa-vít hành lạc từ lúc trẻ đến lúc già. Sử gia Lloyd M. Graham viết: “David không chỉ là một quân nhân, y cũng là một tên dâm đãng, một tên trộm, một kẻ sát nhân và một tên cướp.” (David who was not only a warrior, he was also a lecher, a thief, a murderer and a bandit – Sách dẵ dẫn, trang 215).

Muhammad là vị sáng lập đạo Hồi đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thánh kinh Do thái. Ông đã viết trong kinh Koran ít nhất là 17 câu thơ ca tụng David (đạo Hồi gọi David là tiên tri Dawood). Chẳng hạn như Chương 4 câu 163 lời Thiên Chúa phán: “Ta đã mặc khải cho con như Ta đã mặc khải Nô-e và các tiên tri sau đó... và Ta đã mặc khải cho David những bản Thánh thi.” (We have revealed to you as we revealed to Nuh and the prophets after him... ang we gae to Dawood the Psalms – Koran, Sura 4:163) và “Ta ban cho David sách Thánh kinh” (and to Dawood we gave a Scripture – Koran 17:55)

Bây giờ chúng ta hãy đọc Thánh Vịnh xem David đã nói những gì?                         

Trước hết, David mô tả Thiên Chúa là vị thần chiến tranh (God of war): “Thiên Chúa là sức mạnh và quyền năng của tôi. Ngài luyện những bàn tay của tôi để xử dụng trong chiến tranh. Ngài ban cho tôi sức mạnh để ra trận. Ngài lôi cổ những quân địch của tôi ra để tôi dập nát chúng như những hạt bụi...”

(God is my strength and power,
He teach me my hands to war.
Thou hast girded me with strength to battlbe.
Thou hast also given me the necks of my enemies,
Then did I beat them as small as the dust.” Psalm 18.)

“Lạy Chúa, có nhiều kẻ nổi dậy chống lại con. Nhưng, lạy Chúa, Ngài là tấm khiên che chở con Ngài là niềm vinh quang của con và là đấng nâng đầu con dậy.

“Lạy Chúa, Ngài hãy đứng lên để cứu con.
Ôi lạy Chúa, xin hãy đập nát những kẻ thù của con.”
(Lord, many are they that rise up agaisnt me.
But thou, Lou, art a shield for me, my glory and the lifter of my head.
Arise, Oh Lord, save me.
Oh my God, thou hast smitten all my enemies.” Psalm 3)

Con sẽ ca ngợi Ngài, lạy Chuá, với tất cả tâm hồn. Con sẽ vui mừng trong Ngài, con sẽ ca ngợi nhân danh Ngài, Đấng Tối Cao của con. Khi những kẻ thù của con trở lại đây, chúng sẽ phải ngã xuống và chết trước mặt Ngài.”

Tất cả những bài Thánh Vịnh của David chỉ là những lời mặc cả với Chúa để bắt Chúa phải phục vụ những mục tiêu ích kỷ của hắn. Những Thánh Vịnh đó cũng chẳng khác gì với lời nguyện của tổ tiên hắn là Jacob xưa kia: “Lạy Chúa xin hãy nuôi nấng con, hãy cho con quần áo mặc và hãy giết kẻ thù cho con. Được như vậy mới là Chúa của con. Hãy che chở con mọi sự dữ và con sẽ thờ Ngài.” (Yea lord, feed me, clothe me, kill my enemies and You can be my God. Protect me from all harm and I will worship you.” Genesis 28:20-21)

II. Sự tôn sùng bạo lực và chủ nghĩa khủng bố trong Kinh Koran của đạo Hồi:

Như những điều đã trình bày trên đây, đạo Hồi là đạo thứ ba trong hệ thống Thiên Chúa giáo (tức Độc Thần giáo) hoặc là đạo thứ ba thuộc hệ Abraham. Thiên Chúa của đạo Hồi cũng là Thiên Chúa của các đạo Do thái và Kitô. Đạo Do thái ca ngợi Kitô Thiên Chúa là “Chúa của các đạo binh” (God of the Armies). Công giáo Việt Nam cũng đọc kinh ca ngợi Chúa như vậy trong mọi buổi lễ Mi-sa: “Chúa là Thiên Chúa các đạo binh. Đất trời đầy vinh quang Chúa. Vinh danh Chúa trên các tầng trời...” Rõ ràng Thiên Chúa của các đạo Chúa là một vị “Chúa của chiên tranh” (God of war). Nhưng nếu ta đọc kinh thánh của đạo Hồi là kinh Koran chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa chẳng những là Thần chiến tranh mà còn là một vị thần của sự kinh hoàng (Gos of Terror). Xin hãy nghe lời Chúa phán cùng các tín đồ Hồi giáo nơi Chương 8 câu 12:

các con hãy nhớ Chúa đã phán với các thiên thần: Ta ở cùng các con, các on hãy củng cố niềm tin nơi các tín đồ. ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại giáo không chịu tin. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng .” (Koran, Sura 8, Verse 12).

Hãy gieo kinh hoàng cho những kẻ thù của Thiên Chúa, cũng là kẻ thù của các con” (Koran 8:60)

Bọn ngoại giáo phải lấy tay ép sát tai để khỏi phải nghe những tiếng sét kinh hoàng, bọn chúng sợ hãi chết điếng và Thiên Chuá bao vây chúng” (Koran 2:19)

Điều nguy hiểm là trong cuộc truyền đạo, mọi hành vi giết người đều không phải tội ác, vì đó là việc do Ý Chúa và là việc của Chúa Làm. Kinh Koran đã khẳng định điều đó: “Không phải là các con đã giết chúng, nhưng Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã đập tan chúng” (Koran 8:17)

Người Hồi giáo được kinh Koran khuyến khích giết người mà không phải cắn rứt lương tâm vì đó là Ý Chúa muốn như vậy. Người Hồi giáo chẳng những được khuyến khích mà là bị bắt buộc phải tham gia thánh chiến (Jihad): “Các con đã được Chúa ra lệnh phải chiến đấu – thánh chiến – mặc dù các con ghét điều đó” (Koran 2:216)

Hồi giáo chia thế giới thành hai khu vực: khu vực của thế giới Hồi giáo. Khu vực còn lại của thế giới được gọi là “Vùng đất của những kẻ không tin đạo” (Land of the unbelievers), tiếng Ả-rập gọi là Dar al Harb, đồng nghĩa với danh từ thường dùng trong chiến tranh Việt Nam trước 1975. Đó là danh từ “Vùng oanh kích tự do”. Những kẻ cuồng tín Hồi giáo căn cứ vào kinh Koran đã tự ban cho mình cái quyền tự do thực hiện mọi hành vi chiến tranh trên những vùng đất không theo Hồi giáo. Mục tiêu tối hậu của đạo Hồi là biến cả thế giới này thành một vương quốc của Thiên Chúa Allah.

III. Lịch sử phát triển các đạo Chúa là những trang sử đẩm máu

1. Công giáo La mã:

Trong hàng ngũ các đạo Chúa có hai anh khổng lồ hung hãn nhất là Công giáo La mã (thuộc hệ thống Kitô giáo tức Cơ Đốc giáo) và giáo phái Sunni (thuộc hệ thống Hồi giáo). Chúng ta không kể đến các giáo phái Kitô khác như Chính Thống giáo, Anh giáo, Tin Lành; chỉ riêng một mình Công giáo La mã từ ngày Constantine lập ra nó đến nay đã giết hại trên 200 triệu người. Chỉ tính riêng số nạn nhân trong các cuộc thập tự chinh trong thế kỷ 12-13 là 3 triệu người và những người bị đưa lên dàn hỏa thiêu sống vì bị Tòa án tôn giáo kết tội nghịch đạo là 10 triệu người. Tuyệt đại đa số những nạn nhân là người Công giáo! (“Deceptions and Muths of the Bible, sách đã dẫn, trang 463).

Về tội ác giết người của Công giáo La mã các sử sách của Tây phương đã viết rất nhiều và đã được nhiều tác giả Việt Nam trình bày trong nhiều tác phẩm đã được xuất bản tại hải ngoại trong những năm gần đây.

-Riêng về các trận Thập Tự chinh (Crusade) chống Hồi giáo trong 195 năm (1096-1291) tôi đã trình bày trong bài viết “Bảy cuộc chiến tranh chống Hồi giáo của những đoàn quân chữ Thập”.

-Về tội diệt chủng Do thái và các tội khác như nuôi dưỡng chế độ nô lệ, khuyến khích phát triển chủ nghĩa Phát-xít, chủ nghĩa Quốc-xã, chủ nghĩa Thực-dân và đàn áp phụ nữ... tôi đã trình bày trong sách “Công giáo bên bờ vực thẳm”, chương 4, dưới tựa đề “Giáo hội gian ác” .

Tất cả những vấn đề kể trên đều là những đề tài lớn nên cần phải đọc nhiều sách mới nắm được những điều hiểu biết cần thiết. Do đó, tôi xin miễn nhắc lại ở đấy và chỉ xin giới thiệu với quý vị một số sách nê đọc:

-Về tội ác diệt chủng của Công giáo La mã: xin đọc “Tôn giáo đối chiếu”, tập II, trang 634 và sách “John Paul II” các trang 335-374 của Trần Văn Kha.

2. Hồi giáo:

Sau đây, tôi sẽ trình bày với khá nhiều chi tiết về chủ nghĩa khủng cố của đạo Hồi trong quá trình hình thành và bành trướng của đạo này.

Kể từ khi đạo Hồi được Muhammad thành lập vào đầu thề kỷ 7 đến nay, lịch sử đạo Hồi luôn luôn gắn liền với bạo lực và khủng bố. Ngay trong thời kỳ đạo Hồi còn ở trong giai đoạn phôi thai tại ốc đảo nhỏ bé Medina trong sa mạc Syro-Arabis (622-632), Muhammad đã chỉ huy tín đồ thực hiện rất nhiều cuộc đột kích (raids) đẫm máu không phải để truyền đạo mà chỉ nhằm ăn cướp thực phẩm, hàng hóa, súc vật và vũ khí của các đoàn thương buôn lữ hành (caravans).

Muhammad và các tín đồ của ông lúc đầu chỉ có khoảng 100 người từ bỏ thành phố Mecca đến tị nạn tại ốc đảo Medina. Tại đây đã có sẵn một số người Ả-rập và bà bộ lạc Do thái là những gnười đã định cư từ đây từ lâu đời. Sau 5 năm cướp bóc, Muhammad và những người Hồi ở Medina đã trở nên giàu có. Số tín đồ tăng lên nhiều ngàn người và đều được vũ trang hùng hậu. Ngày 31-3-627, 10 ngàn quân Mecca kéo tơi đánh Muhammad tại Medina để trả thù về những vụ cướp bóc, nhưng quân Mecca đã thất bại. Nhân vụ này, Muhammad nghi ngờ bộ lạc Do thái Aws làm phản. Đa số người Do thái thuộc bộ lạc này làm nghể thợ rèn, sản xuất vũ khí. Để trừ hậu hoạn, Muhammad ra lệnh cho các tín đồ bao vây bắt hết mọi người thuộ bộ lạc Aws. trong khi đó, Muhammad ra lệnh cho một số tín đồ đào một cái mương rất lớn tại chợ Medina. Tất cả mọi người đàn ông Do thái đều bị trói dẫn ra chợ. Một số ít  người Do thái được Muhammad tha mạng vì có quen biết với người Hồi giáo và được họ bảo lãnh. Số còn lại là 700 người đàn ông Do thái đều bị đem ra bờ mương chém đầu. Tất cả 700 mạng người được vừa lấp trong nấm mồ tập thể. Đây là vụ tàn sát tập thể đầu tiên trong lịch sử của đạo Hồi do chính giáo chủ Muhammad thực hiện.

Hai năm sau khi Muhammad qua đời, người kế nhiệm thứ hai là Umar Khattab tự xưng là “Tư lệnh của các tín đồ”  (Commander of the faithful) đã biến toàn thể tín đồ thành quân đội. Chỉ trong 10 năm (634-644) những đoàn kỵ binh Hồi giáo như những cơn lốc quét hết các ốc đảo trong bán đảo Ả-rập (rộng gấp 8 lần Việt Nam) để tăng cường quân đội, rồi từ đó tiến chiếm Iraq, Syria, toàn bộ đế quốc Ba-tư, chiếm luôn Jerusalem, Palestine, toàn Bắc Phi (Tusinia, Algeria, Maroc) và một phần lãnh thổ của đế quốc Kitô giáo Byzantine.

Quân Hồi đi tới đâu chém giết tới đó khiến cho toàn thể dân chúng không ai có quyền lựa chọn. Danh từ Islam (Hồi giáo) có nghĩa là “Phục tòng” (Submission). Sự chọn lựa duy nhất của mọi người là chết hoặc chấp nhận đạo Islam. Số tín đồ Hồi giáo nhờ đó đã tăng lên với tốc độ thần kỳ. Đoàn quân Hồi giái mỗi ngày một đông đảo và hùng mạnh trước sự kinh ngạc của Âu châu. Họ gọi đạo Hồi là “Đạo Quân sự” (The Military Religion) hoặc “Đức tin của Bạo lực” (A Violent Faith). Tiếp theo Umar là Uthman cai trị thế giới Hồi giáo trong 12 năm. Uthman được ca ngợi là một thiên tài của bạo lực. Ông xua quân đi qua các ngả của thế giới để mở rộng nước của Allah trong khi ông vẫn chỉ ngồi ở ốc đảo Medina và chỉ huy trên bản đồ. Đoàn quân của Uthman chiếm một phần Đông Âu tới gần thủ đô Moscow của Nga, chiếm một loạt các nước Trung Á phía Nam nước Nga và chiếm luôn Bắc Ấn tức Pakistan và Afghanistan ngày nay. Bí quyết tốc chiến tốc thắng của quân Hồi là khủng bố và giết chóc, thực hiện đúng lời củ giaó chủ: “Thiên Chúa sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ không chịu theo đạo. Cho nên các con hãy chặt đầu chúng và bứt hết các đầu ngón tay của chúng” (Koran 8:12).

Trên thế giới đạo Hồi hiện nay có trên 1200 triệu tín đồ, chiếm 1/5 dân số của loài người. Như đã đề cập ở trên, các nhà thần học Hồi giáo cực đoan ngày nay đã chia thế giới thành hai khu vực: Ngoài khu vực đạo Hồi, khu vực thứ hai là của những người không tin đạo (unbelievers). Họ nhìn “thế giới của những người ngoại đạo “ qua lăng kính của kinh Koran là “thế giới của những sai lầm”, tất cả đều đáng bị chặt đầu hoặc bắt bỏ tù. Điều vô cùng phi lý và dã man này được ghi rõ ràng trong kinh thánh Koran: “Những kẻ không tin đạo là những kẻ sai lầm. Khi các con gặp những kẻ không tin đạo ở nơi mặt trận, các con hãy chặt đầu chúng hoặc bắt chúng cầm tù.” (Koran 47:4)

Thế giới của những kẻ không theo đạo Hồi là thế giới thù nghịch. Thánh chiến (Jihad) là cuộc chiến được coi là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi tín đồ Hồi giáo. Tất cã những điều trên đây đã được quy định sẵn trong các văn bản giáo lý và luật pháp đạo Hồi. Những văn bản của đạo Hồi (text of Islam) gồm có:

1. Kinh Koran: Kinh thánh của đạo Hồi.
2. Sunna: Sách ghi những tập tục của Hồi giáo.
3. Hadiths: Sách ghi những câu nói của Muhammad ở ngoài kinh Koran.
4. Sharia: Luật pháp Hồi giáo.

Những kẻ cuồng tín Hồi giáo nuôi ảo vọng áp đặt những thứ giáo lý và giáo luật trên lên toàn thể nhân loại. Để thực hiện cái ảo vọng đó, bọn cuồng tín đã đưa ra nhiều chủ thuyết để tuyên truyền và lôi kéo tín đồ. Có nhiều kẻ cuồng tín nghe theo những chủ thuyết này đã dấy lên thành những phong trào hoặc lập thành những tổ chức khủng bố hoạt động trên khắp thế giới:

1. Chủ thuyết Kharijism: Chủ thuyết này nhắm khủng bố tinh thần những người Hồi giáo cấp tiến muốn canh cải đạo Hồi. Nhóm chủ trương coi Kinh Koran là chân lý của Thiên Chúa nên loài người không ai có tư cách để sử đổi. Bất cứ ai không thi hành đúng mọi điều trong các kinh sách của Hồi giáo đều bị coi là kẻ bỏ đạo (Apostate) và người đó phải bị giết. Chủ thuyết này thịnh hành tại các nước Ả-rập Hồi giáo từ thời Trung Cổ. Ngày nay, chủ thuyết này vẫn còn thịnh hành tại Algeria, Đông Phi Châu và Oman. Chủ thuyết nảy là thủ phạm chính đã gây ra các cuộc nội chiến liên miên tại các nước nói trên. Những đảng viên Kharijites đã bị các chính quyền Hồi giáo ở Iraq và Iran tận diệt sau nhiều lầnnổi loạn. Tại Saudi Arabia còn một số dư đảng Kharijites tại miền đông nước này.

2. Chủ thuyết Wahhabism: Chủ thuyết này mang tên của người sáng lập là Al-Wahhab (1703-1792) tại Saudi Arabia. Thuyết này chủ trương phải thiết lập những quốc gia Hồi giáo (Muslim State). luật pháp quốc gia phải là luật Hồi giáo (Islamic Law). Không phân biệt thế giới theo quốc gia hay chủng tộc mà chỉ phận biệt tín đồ (believer) và kẻ ngoại đạo (unbeliever). Các kẻ cuồng tín tham gia các phong trào bạo động hoặc các tổ chức khủng bố phần lớn là những kẻ theo chủ thuyết Wahhabism.

3. Chủ thuyết Phục hồi đạo Islam chân chính (Restoration of True Islam): Đây là chủ thuyết của những người bảo thủ như Osama bin Laden. Họ tin rằng: muốn thoát ra khỏi tình trạng bế tắc và lạc hậu hiện nay của thế giới Hồi giáo, mọi người Hồi giáo phải phục hồi những giá trị của thời đại Hoàng kim của Hồi giáo  từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 13. Đó chính là thời kỳ đen tối (The Dark Age) của Âu châu từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 10. Thế giới Hồi giáo phải trở về với cội nguồn lịch sử, đó là thời kỳ các dân tộc Ả-rập thống nhất trong đạo Hồi nguyên chất (Pure Islam). Phải quan niệm thế giới là hai khu vực đối lập: Khu vực Hồi giáo (The realm of Islam) và khu vực chiến tranh (The realm of war). Đạo Hồi đã được Thiên Chúa an bài phải chiến thắng khu vực kia.

4. Chủ thuyết Thống nhất thế giới Hồi giáo: Sự sống còn của nhân loại hiện nay đang bị đe dọa trầm trọng do thế giới Hồi ngày càng trở nên bảo thủ và nhiều tổ chức hồi giáo đang vận động cho việc thống nhất toàn khối Hồi giáo trên thế giới. Họ nêu lên những danh từ để kêu gọi thế liên kết chặt chẽ của các quốc gia Hồi giáo như “Đế quốc hồi giáo thống nhất” (The United Islamic Empire) hoặc “Khối các Quốc gia Hồi giáo” (The Bloc of Islamic Nations).

Năm 1998, chuyên gia Hoa Kỳ về các vấn đề Hồi giáo là Anthony Dennis đã cảnh báo chính phủ Mỹ như sau: Trong nhiều năm qua, những người Hồi giáo bảo thủ cực đoan đã ráo riết vận động cho sự thống nhất chính trị giữa các nước Hồi giáo trên toàn thế giới để đi đến sự hình thành mộ “Liên bang Hồi giáo” (The Islamic Confederation). Luật pháp Hồi giáo sẽ vượt biên giới các quốc gia trong Liên bang để thành luật pháp thống nhất của chế độ độc tài tôn giáo (a religious dictatorship). Để thực hiện điều này, cần phải lên án những kẻ ôn hòa hoặc thân Tây phương là những kẻ phản đạo và phải áp dụng án tử hình đối với họ. Những nạn nhân của chủ trương này là Nasser, thủ tướng Ai-cập, đã bị ám sát năm 1970, và Sadat, tổng thống Ai-cập (được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1978) đã bị ám sát năm 1981. Mục tiêu tối hậu của chủ trương này là biến Hồi giáo thế giới thành mộ “sức mạnh quân sự toàn cầu” (a global military streghth). Sức mạnh đó được tạo thành bởi sự thủ đắc mọi thứ vũ khí giết người hàng loạt như nguyên tử, khinh khí, vi trùng và các loại vũ khí sinh học v.v... Tất cả để tiêu diệt “thế giới của những kẻ ngoại đạo”.

IV. Những tổ chức khủng bố của các đạo Chúa (Hồi giáo, Công giáo, Tin Lành)

Trong mấy thập niên gần đây, nhiều tổ chứ khủng bố được thành lập và có mặt hầu như khắp nới trên thế giới. Theo Trung tâm Nghiên cứu Chủ nghĩa Khủng bố của chính phủ Hoa Kỳ (The Terrorism Research Center) thì hiện nay Hồi giáo có tới trên 100 tổ chức khủng bố với 300 ngàn hội viên sẵn sàng tự đạo. Nhiều tổ chức khủng bố ẩn danh và nguỵ trang dưới hình thức các công ty thương mại, các hội thiện nguyện và thậm chí dưới danh nghĩa hội từ thiện. Trung tâm trên thường phổ biến tin tức trên website: www.terrorism.com   .

Cuối năm 2001, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chính thức phổ biến cho báo chí một tài liệu mang tên “Patterns of Global Terrorism 2000”. Tài liệu này liệt kê một số tổ chức khủng bố lớn đáng chú ý như sau:

Al Quada: Do Osama bin Laden thành lập năm 1980, thâu nạp 5 ngàn hội viên, có mặt trên 60 quốc gia, đông nhất tại Afghanistan, Chechnya, Phillipine và tại các nước Trung Á thuộc Liên sô cũ. Nhóm khủng bố này có hai mục tiêu lớn : Trước hế là bằng mọi cách phải thống nhất các nước Ả-rập thành một khối duy nhất. Sau đó là thiết lập một sự lãnh đạo duy nhất cho toàn thế giới Hồi giáo (A Pan-Islamic Caliphate Throughout the World). Nhóm này đã thực hiện nhiều cuộc khủng bố thành công như vụ nổ bom tại phi trường quốc tế Los Angeles, phá huỷ hàng chục máy bay bằng cách gài bom để cho nổ lúc máy bay đang bay trên không, đánh sập nhiều sứ quán Hoa Kỳ tại Phi Châu trong các năm từ 1993 đến 1998. Al Quada bắn rơi một máy bay trực thăng của Mỹ tại Somalia năm 1993 và đánh bom nhiều sứ quán Mỹ tại Á châu trong năm 1994.

Al Jihad: Đây là tổ chức khủng bố Hồi giáo Ai-cập, được thành lập vào cuối thập niên 1970, số hội viên khoảng 1000 người nhưng tất cả đều là những kẻ tình nguyện ôm bom tự sát (suicide-bombers). Nhóm này chủ trương tiêu diệt mọi tín đồ Hồi giáo ôn hòa hoặc cấp tiến (muốn cải cách xã hội Hồi giáo).

Năm 1981, nhóm này ám sát Tổng thống Ai cập Sadat. Năm 1993, ám sát Bộ trưởng Nội vụ Hassan Alfi và Thủ tướng Sedky. Năm 1995, tổ chức này cho nổ bom phá sập sứ quán Ai-cập tại thủ đô Islamabad của Pakistan. Tổ chức khủng bố Al Jihad thuộc giáo phái Shiite nên được Iran tích cực ủng hộ vì Shiite là quốc giáo của nước này.

Hamas: Nhóm khủng bố của Hồi giáo Palestine cực đoan, được thành lập năm 1987, tự xác nhận là đối lập của tổ chức PLO của Arafat. Toàn bộ số hội viên Hamas gồm 10 ngàn người đều tự nguyện đánh bom thí mạng để tiêu diệt Israel. Hamas thuộc giáo phái Sunni, được Irad và Saudi Arabia tích cực ủng hộ và tài trợ. Nhóm Hamas nổi tiếng thế giới về các vụ đánh bom tự sát, bắt cóc đòi tiền chuộc, giết con tin và ám sát rất táo bạo. Sự xích mích giữa chính quyền PLO và Hamas trở thành nghiêm trọng vào năm 1991. Từ đó, Hamas bị đuổi ra khỏi cơ quan chính quyền hỗn hợp là Hội đồng Quốc gia Palestine.

HIZB-ALLAH: Danh xưng của nhóm khủng bố này có nghĩa là “đảng của Thiên Chúa” (Party of God). Nhóm này chuyên chở bom bằng xe truck để phá huỷ những cơ sở lớn như các toà đại sứ, các căn cứ quân sự Mỹ tại Trung Đông. Nhóm này đã thực hiện thành công nhiều vụ đánh bom bằng xe (car-bombing) nhằm chống Mỹ trong các năm từ 1983 đến 1992.

(Viết theo tài liệu “Who are the terrorists?” trong sách Fast Facts on Islam của John Ankerberg và John Weldon, Haverst House Pub. 2001).

Trên đây là một số những tổ chức khủng bố của đạo Hồi. Cũng như phần đầu của bài viết này, chúng tôi đã trình bày: Chủ nghĩa khủng bố không phải là một đặc điểm của riêng đạo Hồi mà là một đặc tính chung của các đạo Chúa. Sau đây là một số tổ chức khủng bố tiêu biểu của Công giáo và Tin Lành hiện vẫn đang hoạt động:

1.Ku-Klux-Klan: Tổ chức này được thành lập tại miền Nam nước Mỹ sau cuộc nội chiến Bắc Nam, thường gọi tắt là KKK. Mục tiêu của KKK là dùng các phuơng tiện khủng bố như đốt nhà, bắt cóc để thủ tiêu, tập thể hành hạ nạn nhân rồi cuối cùng treo cổ (lynching). Họ chống lại 3 loại người mà họ thù ghét là Công giáo, Do thái và các người nô lệ được phóng thích (freed slaves). Mỗi khi thi hành một cuộc khủng bố, các đảng viên đều bịt khăn che mắt và dựng lên tại địa điểm khủng bố một cây thập tự giá bằng sắt quấn vải tẩm dầu để đốt sáng vì họ thường tấn công vào ban đêm. Các đảng viên KKK đều là những người Tin Lành da trắng, theo đuổi chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc và kỳ thị tôn giáo. Lúc đầu họ hoạt động rất mạnh nhưng về sau bị chính quyền trung ương đàn áp nên họ phải rút vào những hoạt động bí mật từ đầu thế kỷ 20. Năm 1915, tổ chức KKK bí mật chỉnh đốn lại hàng ngũ tại tiểu bang Georgia. Đến nay số hội viên còn khoảng 4500 người trên khắp nước mỹ. Năm 1979, tổ chức KKK giết 4 người tại North Carolina nhưng chính quyền không tìm được thủ phạm. Năm 1985, chính quyền Mỹ bắt được 9 tên KKK can tội đốt nhà và giết người. Các bị can đều bị đưa ra tòa lãnh án.

2.Bắc Ái-nhĩ-lan là một quốc gia độc lập nhỏ bé, chỉ có 5452 dăm vuông (diện tích Việt Nam gấp 23 lần) với dân số là 1.537.200 người, nhưng có tới 3 tổ chức khủng bố của Tin Lành và một tổ chức của Công giáo . Ba tổ chức của Tin Lành là:

-UDA  (The Ulster Defense Association)

-UVF (The Ulster Volunterr Force)

-RHC (The Red Hand Commandos)

Các tổ chức khủng bố của Tin Lành nhắm ám sát những người lãnh đạo Công giáo Ái-nhĩ-lan, hoặc những tín đồ Công giáo cực đoan nổi tiếng. Để đối phó với những tổ chức khủng bố Tin Lành, Công giáo lập ra tổ chức khủng bố PROVOS. Các hành vi của tổ chức khủng bố của PROVOS có hai mục tiêu: Trước hết là đánh đuổi quân Anh ra khỏi lãnh thổ Bắc Ái-nhĩ-lan vào Cộng hòa Ái-nhĩ-lan là một nước toàn tòng Công giáo. Trên một lãnh thổ nhỏ bé với dân số một triệu rưỡi người mà hàng năm các tổ chức khủng bố của Tin Lành và Công giáo đã giết hại nhiều trăm người. Nếu tính theo tỷ lệ thì đây là mức sát hại cao nhất trong các hoạt động khủng bố. Nếu xét về tính chất táo bạo để gieo kinh hoàng và gây tiếng vang trong dư luận thì các tổ chức khủng bố của Tin Lành và Công giáo ở Bắc Ái-nhĩ-lan được xếp vào hàng thứ hai sau các tổ chức khủng bố của Hồi giáo ở Trung Đông. Vụ khủng bố nổi tiếng nhất của PROVOS là vụ nổ bom tại dinh của nữ Thủ tướng Magaret Thatcher ở Luân Đôn trong tháng 10-1984. Các hoạt động khủng bố của Công giáo và Tin Lành vẫn còn đang tiếp diễn. (“The war on terrorism”, issues for 90’s by Michael Kronenwetter, The Wesport Pub. 1998).

Charlie Nguyễn 8/2002.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........