| .......... |
. |
-
-
- ĐẶC CÔNG
CHÍNH TRỊ HAY LÃNG MẠN CHÍNH TRỊ ?
- Hoàng Nguyên Nhuận
Những tưởng chỉ một đôi người
như Phạm kim Vinh, Nguyễn văn Chức lúc nóng giận có nặng lời ‘oan’ với
đồng bào đồng hương Việt Nam. Nhưng không, hậu sinh khả úy, kẻ đến
sau còn khủng khiếp hơn, dù là người cùng nhóm. Bài Khi Lịch Sử Chất Vấn
của Nguyễn gia Kiểng được tuần báo Việt Luận Sydney đăng lại trong số
Xuân Đinh Sửu 1997 là ví dụ.
Lời lẽ nóng giận của Phạm kim Vinh trong Việt Nam Tự Do
hay của Nguyễn văn Chức trong Việt Nam Chính Sử có thể chỉ là khởi điểm
hay giả định, nghĩa là có thể tàn phai theo mạch tư tưởng của tác giả,
khiến tác giả hồi tâm thấy được những oan khiên vọng ngữ. Và hình
như Phạm kim Vinh đã có sự hồi tâm ấy trong bài Cuộc Chiến Cho Gốc Việt
và Khí Phách Việt được đăng lại trên tuần báo Dân Việt Sydney số
ngày 4.7.1996. Thịnh nộ của Nguyễn gia Kiểng đối với đồng bào đồng
hương mình trái lại là một kết điểm lý luận. Thịnh nộ như thế nào,
tại sao?
TARZAN
NỔI GIẬN LÀ AI?
Xin hãy nghe qua lời tâm sự của
một người yêu nước đắng cay thịnh nộ... ‘Tôi ở trong nhóm Thông Luận,
một nhóm rất đặc biệt, có lẽ chưa từng có...Nhóm chúng tôi mới đầu,
cách đây mười bốn năm, gồm khoảng mười người, ngồi lại với nhau
định lập một tổ chức. Thấy các tổ chức chính trị cứ thành lập rồi
tan rã, chúng tôi lấy một quyết định là chỉ thành lập một tổ chức
sau khi đã thảo luận tất cả mọi vấn đề và viết ra được một tài
liệu đầy đủ, đúc kết những gì đã đồng ý; sau đó ai muốn tiếp tục
thì ở lại, ai không muốn thì thôi. Công việc nầy đòi hỏi hai năm thảo
luận. Kết quả là tài liệu Cơ Sở Tư Tưởng được viết ra, vài người
đã bỏ cuộc nhưng một số người mới đã đến tăng cường. Sau đó
vài năm một lần, chúng tôi xét lại toàn bộ dự án chính trị, mỗi lần
tốn cả một năm thảo luận. Đã có Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
1992 rồi Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996 với tên riêng là Thử
Thách và Hy Vọng...’
Tóm lại, sau 14 năm nhóm Thông Luận đã nhất trí với nhau
về con đường... thử thách và hy vọng, được giới thiệu trên Việt Luận
số ngày 20.9.1996 như ‘một dự án chính trị toàn bộ cho Việt Nam trước
ngưỡng cửa của thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba, bao gồm một nhận
định về Việt Nam trong bối cảnh thế giới, một chủ thuyết dựng nước,
một dự án tổ chức xã hội, một đề nghị chế độ chính trị, một
chiến lược đấu tranh cho dân chủ, một chính sách chuyển tiếp về dân
chủ...(đây là) thành quả của hơn một năm nghiên cứu, trao đổi và đúc
kết của hàng trăm trí thức, thân hữu và chí hữu Thông Luận cả trong lẫn
ngoài nước.’
Nguyễn gia Kiểng không nhắc tới kết quả của thử thách
và hy vọng đó. Nhưng những ai theo dõi Thông Luận có thể nghĩ rằng Nguyễn
gia Kiểng ít ra cũng đã một lần thử thách và một lần hy vọng? Thử
thách đó là cuộc ‘đại hội’ ngày 23.6.1996 tại Paris để công bố Dự
Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996 và hy vọng đó là triệu thỉnh Nguyễn
Hộ lên cầm đầu phong trào thực hiện dự án đó như xác quyết của
Nguyễn bá Long Tổng Thư Ký kiêm Phát Ngôn Viên Mặt Trận Quốc Dân Đối
Kháng Cộng Sản, bình phong chính trị của tổ chức Hiến Chương Roma 92.
Do đó bài Khi Lịch Sử Chất Vấn có thể coi là kết luận
lý thuyết của cuộc thử thách và lòng hy vọng đó. Đây là một kết luận
chẳng sáng sũa, một tiếng hô chẳng hào hứng chút nào của một người
ít ra đã hoang phí mười bốn năm để ‘hình thành một mặt trận dân chủ
có tầm vóc (có khả năng) mau chóng chấm dứt chế độ cộng sản (nếu
không) tổ quốc Việt Nam sẽ chết đi trong lòng rất nhiều người.’ Ngôn
từ bài nầy phảng phất âm vang phản thệ của những người xé cờ bỏ
Đảng trong các buổi lễ tổ chức cho cán binh cộng sản hồi chánh ngày xưa.
Điều khác biệt là những cán binh ngày trước phản thệ xé cờ bỏ Đảng
để ‘tung cánh chim tìm về tổ ấm’ với Phe Quốc Gia Khối Tự Do, còn
tác giả của Khi Lịch Sử Chất Vấn thì không biết về đâu. Quả vậy,
Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996 là một chương trình chính trị.
Và tham chính hay đối chính thì đàng nào cũng cần dân, trước là để nắm
được chính quyền, sau là vì yêu sách dân chủ do chính mình đề ra. Khi
Lịch Sử Chất Vấn hình như đã hoàn toàn đi ngược nhu cầu cần dân,
vì dân đó sau khi đã vượt qua ngưỡng cửa thử thách và hy vọng do
chính nhóm Thông Luận đề ra?
LỊCH
SỬ CHẤT VẤN HAY CHẤT VẤN LỊCH SỬ?
Nguyễn gia Kiểng bắt đầu bằng
ba câu hỏi. Thứ nhất, thời kỳ chống Pháp, tại sao lại có nhiều người
theo Cộng Sản dù đó chỉ là một chủ nghĩa quốc tế chứ không phải
lý tưởng dân tộc? Pháp đi rồi, Cộng Sản gây ra những tội ác, sai lầm
trầm trọng tại sao vẫn được ủng hộ? Thứ hai, trong cuộc chiến tranh
giải phóng miền Nam, thực chất là để mở rộng biên giới khối Cộng Sản
và thỏa mãn tham vọng quyền lực của giới lãnh đạo cộng sản địa
phương, tại sao Cộng Sản vẫn được ủng hộ dù đó chỉ là một ‘phản
xạ thời trang’? Thứ ba, từ 1975 đến nay, tại sao không có một phản
ứng chống cộng ngang tầm nào cả với những sai phạm nghiêm trọng và chồng
chất mà chính quyền cộng sản đã gây ra?
Hỏi xong, Nguyễn gia Kiểng tự đưa ra ba câu trả lời. Thứ
nhất, vì người Việt không thực sự quan tâm, không thực sự tha thiết với
chuyện đất nước. Số người thực sự quan tâm ở hải ngoại đã ‘vô
cùng nhỏ’ mà trong nước thì ‘còn kém xa nhiều’. Thứ hai, vì Việt
Nam thiếu một ‘giai cấp’ trí thức đúng nghĩa của Nguyễn gia Kiểng là
những người biết hợp nhất tư tưởng và hành động có khả năng đặt
vấn đề và tự tìm câu trả lời cho những vấn đề đó. Thứ ba, vì hai
lý do trên nên người Việt không thấy được sự quan trọng của một mặt
trận dân chủ kiểu mặt trận nhóm Thông Luận đã dày công nặn ra.
QUỐC
GIA DÂN TỘC NHẬP CẢNG
Nhưng tại sao người Việt lại
thờ ơ với vấn đề đất nước, tại sao lòng yêu nước và ý thức dân
tộc của người Việt ỏyếu kém từ lâuõ, tại sao trí thức thực sự
quan tâm đến đất nước ‘không có bao nhiêu’? Nguyễn gia Kiểng tự
đưa ra những giải thích có thể nói... ‘đặc biệt không phải là xuất
sắc, có thể chỉ là kỳ cục’ như chính lời Nguyễn gia Kiểng mô tả
hoài bảo và quá trình hoạt động của nhóm Thông Luận. Thật vậy...
Thứ nhất, Nguyễn gia Kiểng bảo rằng người Việt không
có ý niệm gì về quốc gia dân tộc, đất nước, do đó lòng yêu nước,
yêu quốc gia dân tộc cũng không có. Người Việt ngày xưa chỉ biết
trung, hiếu, nghĩa, tình người đồng cảnh ngộ chứ không có tình nước,
vì nước là nhà, nhà là nhà vua, nhà của vua chứ không phải của dân. Người
dân chỉ yêu nước nếu người dân thấy mình có chủ quyền trên nước,
nước thuộc chủ quyền của dân chứ không phải của vua. Nói thế khác,
ý niệm quốc gia dân tộc hay tình nước là mặt trái của ý niệm chủ
quyền nhân dân, dân chủ. Đây là ý niệm do Tây Phương nhập cảng vào Việt
Nam. Do đó Nguyễn gia Kiểng quả quyết như đinh đóng cột rằng ‘danh từ
yêu nước không có trong ngôn từ Việt Nam trước thế kỷ 20’. Có phải
ý thức quốc gia là một ý thức nhập cảng, cũng như ý niệm cộng sản
và có lẽ vì vậy mà chỉ có ‘người quốc gia’ mới biết chống cộng
sản, những người ‘không quốc gia’ thì không biết chống cộng, và tệ
hơn là thân cộng, là làm lợi cho cộng sản như ý kiến đơn thuần của
những kẻ đã ‘mất quốc gia’ từ khi Nguyễn văn Thiệu đặt bút ký Hiệp
Định Paris 1973?
Nguyễn gia Kiểng cho rằng yêu nước là đồ nhập cảng từ
Tây phương. Nhưng trong Anh ngữ chẳng hạn, chỉ có từ ngữ yêu nước mới
có chữ tương đồng là patriotism, ít ra là tạm thời. Phải, tạm thời
thôi, vì ngay cả The Hutchinson Encyclopedia cũng không hề ghi chữ patriot và
patriotism. Ngoài ra, yêu dân tộc và yêu quốc gia thì không hề có từ ngữ
tương đồng vì populism và nationalism là những chủ thuyết chính trị chứ
không phải tình cảm như patriotism. Cho nên thật cũng khó mà quả quyết
yêu nước, yêu quốc gia, yêu dân tộc của người Việt là những sản phẩm
nhập cảng từ Tây phương hay Trung Hoa. Trước khi dùng chữ dân tộc của
Trung Hoa, có thể vì người Việt chỉ có chữ người, về sau tiếp xúc với
Trung Hoa, tổ tiên chúng ta đã mượn chữ dân để chỉ người trong một họ,
một làng, một nước do đó mà có dân tộc, nhân dân. Tổ tiên chúng ta
có lẽ cũng chỉ có chữ sông núi, nước nhà truớc khi hai tiếng tương đồng
của Trung Hoa là quốc gia theo định nghĩa của Tam Thiên Tự là ‘gia nhà,
quốc nước, tiền trước, hậu sau...’ Lại nữa, nước nhà nhiều khi cũng
chỉ là một, theo kiểu nước Việt Nam, nhà Việt Nam cũng như nhà cũng có
thể là nhà vua theo kiểu nhà Lý, nhà Trần, cho nên yêu nước cũng có thể
là yêu nhà, và yêu nhà cũng có thể là yêu nhà vua và yêu nhà vua không phải
là không yêu nước. Người Việt thờ Lê Lợi, Quang Trung, Định Bộ Lĩnh,
Lê Hoàn, Lý Thái Tổ, Trần nhân Tông, Thành Thái, Hàm Nghi, Nguyễn thái Học...
có ai nói chuyện thờ Lê long Đĩnh, Lê chiêu Thống, Khải Định... Nói thế
khác, không phải người Trung Hoa dạy cho chúng ta biết thế nào là quốc
gia dân tộc mà chúng ta đã có sẵn những ý niệm ấy trước khi tiếp xúc
với văn hóa Trung Hoa, khoan nói là phải đợi đến khi tiếp xúc với Tây
Phương.
YÊU
NƯỚC TỪ BAO GIỜ?
Quả thực thì người xưa có
khi cũng đã làm những chuyện khiến cho Nguyễn gia Kiểng hiểu lầm rằng
về chuyện nước non, người Việt chỉ là kẻ học mót của thiên hạ chứ
trong đầu trong tim chẳng có gì cả. Phải chi Lý thường Kiệt bảo ‘Vua
Nam ở nước Nam’ thay vì ‘Nam quốc sơn hà Nam đế cư’, hay Trần Hưng
Đạo viết Hịch Tướng Sĩ Văn, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo bằng
chữ Nôm... thì họ đã không bị Nguyễn gia Kiểng chê là không biết yêu
nước vì ‘từ ngữ yêu nước không có trong ngôn ngữ chúng ta trước thế
kỷ 20’. Có phải chỉ vì không biết yêu nước, chưa được Trung Hoa hay
Tây phương dạy cho yêu nước, yêu quốc gia dân nên Lý thường Kiệt, Trần
hưng Đạo hay Nguyễn Trãi đã dùng chữ Hán mà không dùng chữ Nôm?
Nguyễn gia Kiểng đã chặt đầu chặt đuôi một câu ca dao
và chỉ giữ có khúc ngắn ‘nhiễu điều phủ lấy gia gương’ dùng làm
bằng chứng kết luận rằng người Việt không có tình yêu quốc gia dân tộc
mà chỉ có chuyện thương người cùng cảnh ngộ thôi. Nhưng cái khúc bị
chặt vứt đi là ‘người trong một nước’ có phải là một biểu tượng
của ý thức quốc gia dân tộc không? Cho nên trong ba ý niệm nước, dân tộc,
quốc gia có lẽ chỉ có một là đồ nhập cảng. Đó là ý niệm quốc
gia, do Pháp bày ra năm 1949 khi phong Bảo Đại làm Quốc Trưởng Quốc Gia Việt
Nam để cân bằng quyết định ngoại giao của Trung Hoa thừa nhận Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ chí Minh. Nhờ quyết định gỡ huề ngoại
giao đó của Pháp mà những người Việt thân Pháp mới có quốc gia, trước
đó thì chỉ là những miền riêng trong Liên Bang Đông Dương, hoặc những
‘nước’ riêng như Cochinchine (Nam Kỳ Quốc), Annam (Trung Kỳ tự trị),
Tonkin (Bắc Kỳ bảo hộ), không kể Hoàng Triều Cương Thổ hay cao nguyên với
thủ phủ Đà Lạt.
Nguyễn gia Kiểng đã mâu thuẫn với chính mình khi cho rằng
người Việt không biết yêu nước. Thứ nhất Nguyễn gia Kiểng nói cộng
sản thành công vì đã lừa dối được một số người không cộng sản
theo họ và không có những người nầy thì cộng sản cũng chẳng làm gì
có ngày nay. Rồi Nguyễn gia Kiểng lại bảo người Việt chẳng ai yêu nước
cả! Như vậy những người bị cộng sản lừa theo họ để chống Pháp chống
Mỹ là ai nếu không phải là những người thực sự yêu nước chứ không
phải là những Tây con Mỹ con không hề biết dân tộc quốc gia là gì? Họ
theo cộng sản vì yêu nước chứ không yêu cộng sản thì mới trách là họ
đã bị lừa, chứ nếu họ theo cộng sản vì yêu nước và yêu cả cộng
sản, hoặc chỉ yêu cộng sản không thôi, thì đâu có thể nói họ bị lừa
nữa. Thứ hai, bảo rằng người Việt chẳng ai yêu nước cả thì Nguyễn
gia Kiểng đã tự đánh mất chính mình. Bởi đã không yêu nước thì hơi
đâu mà tính chuyện đội đá vá trời để rồi Tarzan nổi giận vì thấy
chẳng ai chịu theo lối yêu nước của mình cả. Chẳng lẽ Tarzan nổi giận
chỉ là để đóng trò chơi hay để giả mù pha mưa?
DÂN
CHỦ ĐA NGUYÊN
Nội dung hay định nghĩa của
những từ ngữ chính trị xã hội kinh tế... thường tùy thời gian hoàn cảnh
mà đổi thay, ví dụ như chữ dân chủ. Nhận định về kết quả cuộc tổng
tuyển cử đầu năm 1997 trong đó chính quyền đã đại thắng và phe đối
lập gần như bị triệt tiêu, Thủ Tướng Singapore Goh Chok Tong tuyên bố rằng
cử tri Singapore đã dùng lá phiếu để chối bỏ nền dân chủ tự do kiểu
Tây phương.
Không biết bao nhiêu xương trắng máu đào đổ ra vì hai chữ
‘dân chu’ 場hế nhưng cho
đến hôm nay người ta vẫn không đồng ý với nhau thế nào là dân chủ.
Cũng vì muốn tránh những hiểu lầm đó mà Nguyễn gia Kiểng đã phải hao
hơi tốn sức nói đi nói lại cho rõ rằng dân chủ của mình là dân chủ
đa nguyên. Nhưng dân chủ nào mà không đa nguyên, không đa nguyên thì đâu
còn dân chủ? Cho nên nói dân - chủ - đa - nguyên thì cũng chẳng khác gì
nói cho thật rõ rằng ‘tàu bay bay trên trời, tàu ngầm lặn dưới nước’
để thiên hạ khỏi hiểu lầm tàu bay dưới nước tàu lặn trên trời.
Phải chăng vì một số người Việt - nhất là người Việt
trí thức theo định nghĩa của Nguyễn gia Kiểng, cứ ham bám vào những ý
niệm nhập cảng của ngoại quốc khi tính chuyện yêu nước, yêu quốc
gia, yêu dân tộc nên người Việt đã mất cả ngàn năm, trăm năm mới bứng
hết ngoại nhân xâm lăng ra khỏi xứ để rồi tiếp tục ‘gà nhà bôi mặt
đá nhau’ để dành độc quyền bình giảng mấy quyển thánh thư của thiên
hạ mà quên rằng ông cha mình ngày xưa đã hăm he cảnh giác ‘mù quáng
tin vào sách vở thì thà đừng có sách vở còn hơn’.
KẺ
SĨ TỒI HÈN THỤ ĐỘNG
Nguyễn gia Kiểng cho rằng
văn hoá Việt Nam quá kém, không có tư tưởng, thiếu sự vĩ đại, cóp nhặt
vụn vặt, dân chúng lơ là với chuyện quốc gia đại sự, tôn thờ bạo lực...
cũng chỉ vì Việt Nam thiếu nhân sự chính trị, thiếu một giai cấp trí
thức theo đúng ý Nguyễn gia Kiểng là những người biết kết hợp tư tưởng
với hành động để đặt và tìm giải đáp cho các vấn đề một cách
cá nhân... Ngày xưa, Việt Nam chỉ có tầng lớp kẻ sĩ mà Nguyễn gia Kiểng
cho là thụ động, cúi đầu vâng lệnh vua. Ngày nay thì trí thức đa số là
những kẻ tồi hèn vong thân, kiểu Nguyễn khắc Viện, Nguyễn mạnh Tường
và những người không tham gia nhóm Thông Luận?
Nguyễn Trãi từng than nước ta bao năm nhục nhằn bị trị
thế nhưng khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa thì ‘tuấn kiệt như sao buổi
sáng, nhân tài như lá mùa thu.’ Nguyễn Trãi đâu có lên án kẻ sĩ là thụ
động, bảo hoàng, tồi hèn, vong thân... Bởi Nguyễn Trãi cũng là kẻ sĩ,
kẻ đã từng ‘trước là sĩ sau là khanh tướng.’ Bàn tay có ngón ngắn
ngón dài, nếu kẻ sĩ ai cũng tồi hèn cúi đầu vâng lệnh vua thì ai theo
Lê Hoàn, Lý công Uẩn, Trần thủ Độ, Lê Lợi, Quang Trung, Hàm Nghi, Thành
Thái, Phan đình Phùng, Hoàng hoa Thám, Phan bội Châu, Nguyễn thái Học... để
làm lịch sử cho Nguyễn gia Kiểng hôm nay chất vấn?
ĐỘC
LẬP NHỜ NÚI
Nguyễn gia Kiểng cho rằng
lòng yêu quốc gia dân tộc của người Việt thấp, tầng lớp trí thức xưa
tồi hèn thụ động, nhưng sở dĩ như vậy mà Việt Nam không bị biến
thành một tỉnh của Trung Hoa đó cũng là vì Việt Nam ‘ngăn sông cách
núi’ với thiên triều. Bằng chứng? Theo Nguyễn gia Kiểng, câu ‘sơn xuyên
chi cương vực ký thù...’ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo là một
nhận định chiến lược thừa nhận rằng chúng ta không mất nước nhờ có
núi và vì bị núi vây nên Việt Nam mới trở thành một quốc gia riêng chứ
đa số dân Việt đều con cháu chú Ba bằng cớ là đa số đều có họ
Trung Hoa. Theo Nguyễn gia Kiểng, Lào không bị Việt Nam nuốt chửng cũng nhờ
dãy Trường Sơn, có thể lắm. Nhưng Campuchia liền núi liền sông với Việt
Nam mà đâu có bị trở thành một tỉnh của Việt Nam? Và cũng vì Việt
Nam không ngăn sông cách núi với Trung Hoa nên mỗi lần bị Trung Hoa đe dọa
về mặt quân sự thì triều đình Việt phải rút lui về tận Thanh Hóa lập
phòng tuyến mới. Lại nữa, Lý thường Kiệt và Nguyễn Huệ hành quân vượt
biên sang Trung Hoa đòi lại Lưỡng Quảng vì cho Trung Hoa đã lập lờ vẽ lại
bản đồ để cướp mất của Việt Nam. Napoléon rồi Hitler thất bại ở
Nga rồi đổ tội cho là vì Đại Tướng Mùa Đông hay tuyết lạnh mà mình
thua chứ không phải vì người Nga tài giỏi gì kháng chiến. Nguyễn gia Kiểng
ngày nay biện minh cho Trung Hoa rằng nhờ núi non nên Việt Nam mới còn là
Việt Nam. Nhưng nếu núi non là biên giới thiên nhiên bất khả xâm phạm
giữa Hoa Việt như thế rồi thì Mã Viện chỉ cần một tấm bia đá nơi
chân núi nào đó là đủ rồi sao còn phải dựng cột đồng như sử đã
ghi lại làm gì? Lại nữa, dãy Trường Sơn thiên nan vạn hiểm đâu có ngăn
được Miền Bắc biến đường mòn Hồ chí Minh thành con đường chiến
lược vào Miền Nam?
Người Việt có nhiều tiếng để chỉ quốc gia như nước
nhà, nước non, núi sông, non sông... Tất cả đều ám chỉ những biên giới
thiên nhiên. Mấy chữ xuyên sơn cương vực của Nguyễn Trãi có lẽ cũng là
hình dung từ như Nam quốc sơn hà của Lý thường Kiệt vậy chứ không hẳn
là một xác quyết địa lý chính trị?
LÃNG
MẠN LỊCH SỬ HAY ĐẶC CÔNG LỊCH SỬ ?
Nguyễn gia Kiểng suy tư về
những chất vấn lịch sử như một cách xét mình ăn năn tội. Nhưng lịch
sử mà Nguyễn gia Kiểng nhìn thấy là lịch sử nào đây? Dân tộc không
biết yêu nước, bất cần chuyện nước non, giai tầng kẻ sĩ thì tồi
hèn vong thân. Suy tư hấp dẫn nhất là về Nguyễn Huệ mà Nguyễn gia Kiểng
cho là một tay anh chị hung tàn bạo ngược, không đem lại lợi ích gì cho
dân, không có Nguyễn Huệ thì cũng không có việc quân Thanh sang Việt Nam
để có trận Đống Đa và chỉ có những kẻ tôn thờ bạo lực mới phục
Nguyễn Huệ như phục phát xít Nhật, Quốc Xã Đức vậy.
Nói đến lịch sử là nói đến thời gian. Không hiểu,
Nguyễn Huệ của Nguyễn gia Kiểng có phải là nhân vật lịch sự thực
không, hay Nguyễn gia Kiểng đã lạc lối về quá khứ nên đã gặp một
Nguyễn Huệ của bá vơ nào đó? Nghi ngờ đó có thể coi là hợp lý khi
nghe Nguyễn gia Kiểng quả quyết ‘còn ba năm nửa chúng ta sẽ thay đổi
thế kỷ và chúng ta cũng sẽ thay đổi thiên niên kỷ’, nghĩa là để bước
vào thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba! Thực tế thì còn đến bốn năm
nữa (năm 1997, 1998, 1999 và 2000) mới hết thế kỷ 20 vậy làm sao mà chỉ
cần ba năm nữa là đã đi vào thế kỷ 21? Chẳng lẽ thế kỷ 21 lại có
trước thế kỷ 20 chứ không phải bắt đầu vào ngày 1.1.2001?
Bất cần thực tế thời gian là một biểu hiện lãng mạn
kiểu Đoàn phú Tứ:
- Màu thời gian không xanh
- Màu thời gian tím ngát
- Hương thời gian không nồng
- Hương thời gian thanh thanh
Chúng ta từng chứng kiến những biểu tượng lịch sử lãng
mạn như cộng sản chủ nghĩa lãng mạn, kháng chiến lãng mạn, chủ nghĩa
quốc gia lãng mạn, chia cắt đất nước lãng mạn, chống cộng lãng mạn,
vượt biên lãng mạn, đối kháng lãng mạn, đa nguyên dân chủ lãng mạn...,
và bây giờ với mộng mị chính trị lãng mạn kiểu ăn năn tội lịch sử.
Đã nghĩ đồng bào, tổ tiên, kẻ sĩ ngày xưa, trí thức
ngày nay, cộng sản và những người chống cộng... đều là như thế rồi
mà vẫn chịu mất công bỏ ra mười bốn năm để lập thuyết thì có phải
cũng là lãng mạn hết thuốc chữa!? Điều đáng ngạc nhiên là trong khi
có đủ nhẫn tâm chà đạp lịch sử đất nước, nguyền rũa dân tộc,
khinh thường giới có học, coi thường hạng bình dân đồng bào thì Nguyễn
gia Kiểng lại không hề có một lời xúc phạm nào đối với những quốc
gia đã có trách nhiệm về những đau khổ của chính đất nước Việt Nam
cách nầy cách khác. Hay Nguyễn gia Kiểng đã thực sự nghĩ rằng những quốc
gia đó thì cũng chỉ như quân Thanh do những ‘Nguyễn Huệ’ manh động mở
cửa rước vào mà thôi?
Lịch sử có thể là một thực tại tương tự như con voi
trong tay mấy người mù. Lịch sử tái hiện tùy quan điểm và ý hướng của
người nhìn về lịch sử. Có người chẳng bao giờ dám mơ tưởng hiểu
được lịch sử, có người lại lăm le viết lại lịch sử để biện
minh những thất bại hoặc để vỗ về những cuồng vọng của chính
mình, ý hướng chất vấn lịch sử của Nguyễn gia Kiểng có lọt vào một
trong hai sử quan đó không?
Tarzan nổi giận vì tâm thức lãng mạn chính trị chứ đây
không phải là một hành động đặc công chính trị nhằm hủy hoại tất
cả mọi thần tượng lịch sử để đi đến kết luận rằng lịch sử Việt
Nam tồi như thế thì không mất vào tay Pháp cũng mất vào tay người khác
thôi, đừng đổ lỗi cho ai xúi dục Pháp vào chiếm Việt Nam, hoặc lên
án người ta cỏng rắn cắn gà nhà?
Nhóm Thông Luận mất mười bốn năm để hoàn thành Thử
Thách và Hy Vọng, Nguyễn gia Kiểng đã mất bao lâu để hoàn thành Khi Lịch
Sử Chất Vấn và có để cho nhóm Thông Luận nhất trí thông qua không? Nếu
đã được cả nhóm thông qua rồi thì đây chính là một bản tuyên bố
khánh tận, nếu cả nhóm không hề thông qua thì đây quả là một bài điếu
tụng?
Câu hỏi ấy xin dành cho lịch sử - ít nữa là lịch sử
chính trị lưu vong, trả lời.
[Đăng lại từ Chuyển Luân số ra mắt tháng 4.1997 với sự
đồng ý của tác giả]

|
© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và
ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài
đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com |
|
|
. |
.......... |