>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
ĐẠO LÝ Gia Tô ĐƯỢC THỂ HIỆN RA TRONG VĂN PHẨM
QUA NGÔN TỪ VÀ VĂN PHONG

Nguyễn Mạnh Quang

* * *

Từ khi thiết lập xong bộ máy cai trị sắt máu bao trùm gần kín cả Âu châu với những đạo quân thập tự gồm toàn những phần tử cuồng tín hung hăng, hiếu sát, khát máu cùng với một hệ thống tòa án dị giáo bất nhân bạo ngược, Giáo Hội La Mã đã trở thành một thứ hung thần ác quỷ tàn bạo nhất trong lịch sử loài người.

Từ thế kỷ thứ 11 trở đi, ở nơi nào có bàn tay của Giáo Hội vươn tới, tức thì ở nơi đó, những người dân không phải đạo Chúa bị đe dọa, lo sợ không biết ngày giờ nào có thể bị tóm cổ đưa ra tòa án dị giáo. Tất cả đều bị cưỡng bách phải biến thành tín đồ Gia Tô để làm nô lệ cho Giáo Hội. Nếu không, họ sẽ bị gán cho tội "tà giáo" và sẽ bị quân thập tự đến tàn sát hay làm cỏ, đúng lời như ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã ghi lại: "Nếu Ai theo đạo thì được quân lính mang huy hiệu (chữ thập) đến gắn cho để bảo vệ, ai kháng cự tất nhiên phải chịu hình phạt. Dần dần các dân theo đạo cảm thấy cây thập giá như một thứ bùa hộ mạng và hoàn toàn quên thực chất của nó là một dụng cụ giết người cực kỳ ác hiểm." (1). Ngay cả những người đã trở thành tín đồ Gia Tô nếu còn dám nói hay viết lên sự thật về những việc làm bất chính, bất công, bất nghĩa, hay những tín điều phi lí, phi nhân bản, phản nhân quyền của Giáo Hội thì cũng bị lôi cổ ra tòa án di giáo và chụp cho cái mũ "rối đạo" hay "dị giáo" để rồi đưa lên giàn hỏa thiêu thiêu sống, và nếu có may lắm thì cũng bị tù chung thân như nhà thiên văn học Galileo Galilei. (Xin xem sách Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, Nguyễn Mạnh Quang tự xuất bản, trang 137-160).

Tại Đức, tình trạng này kéo dài cho đến khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) phát động Phong Trào Cải Cách Tôn Giáo vào năm 1517. Tại Anh, mãi đến khi bạo quyền Mary I bị đạp đổ vào năm 1558, nhân dân quốc đảo này mới thoát khỏi bàn tay đẫm máu của Giáo Hội. Tại Pháp, phải đợi cho đến khi Cách Mạng 1789 bùng nổ, tài sản của Giáo Hội bị tịch thu, các ông tu sĩ của Giáo Hội phải tuyên thệ với chính quyền Cách Mạng mới được hành nghề thày cúng, lúc đó người dân Pháp mới thoát khỏi cái ách thống trị của bọn tăng lữ đại gian đại ác mà người dân Pháp đã dành cho họ cái biệt hiệu là bọn "Corbeaux Noirs". Tại Tây Ban Nha, bọn quạ đen này vẫn còn hoành hành cho đến năm 1820. Khi đó, Hoàng Đế Ferdinand VII (1784-1833) thấy rằng không thể nào bơi ngược được dòng lịch sử, mới phải ra lệnh chấm dứt mọi hoạt động của các tòa án dị giáo bất nhân này.

Riêng tại miền Nam Việt Nam, bọn "Corbeaux Noirs" này vẫn còn tác oai tác quái cho đến ngày 30-4-1975. Bọn "quạ đen" này vẫn còn tung hoành tổ trác đến nỗi người dân lúc bấy giờ khinh rẻ, coi chúng như đám chị em ta: "Nhất đĩ, nhì cha, tam sư, tứ tướng". Câu vè này đã giúp cho nền văn chương Việt Nam thêm phần phong phú và cũng là giúp cho đời biết rõ bộ mặt thật của băng đảng "quạ đen" lưu manh buôn thần bán Chúa đội lốt thày tu, lừa bịp người đời.

Ngay nay, tại hải ngoại, thấy rằng không còn sử dụng các đạo quân thập tự và những giàn hỏa thiêu của tòa án dị giáo được nữa, Giáo Hội bèn quay sang mặt trận văn hóa, áp dụng chiến lược vu khống (chụp mũ), mạ lị bóp méo lịch sử bằng cách ra lệnh cho tín đồ tìm đủ mọi phương cách nắm hết các phương tiện truyền thông (báo chí, truyền thanh và truyền hình) đẻ thao túng ngành truyền thông trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại và sử dụng bọn đao phủ văn chươngcôn đồ văn hóa làm những công việc "chửi thuê nịnh muớn" để:

  1. khủng bố cả tinh thần lẫn thể xác bất kỳ người nào dám nói hay viết lên sự thật về những việc làm không đẹp có liên hệ đến Tòa Thánh Vatican và các bạo quyền tay sai của Giáo Hội bằng cách bịa đặt ra những chuyện xấu xa và bới móc đời tư để bêu riếu và hạ nhục nạn nhân bằng những ngôn từ của những phường "đá cá lăn dưa", và nếu cần, đe dọa đến sinh mạng nạn nhân.

  2. Bóp méo lịch sử bằng cách xuyên tạc những sự kiện lịch sử, ngụy tạo hay phịa ra nhiều điều hoặc là để tô vẽ cho Tòa Thánh Vatican và bạo quyền tay sai của Giáo Hội, hoặc là để bêu riếu hay làm hạ giá những thành phần đối lập với Giáo Hội hay chính quyền tay sai.

Chính vì thực trạng trên đây mà chúng tôi phải cố gắng viết chương này và các chương kế tiếp nói về Những Nét Đặc Thù của Nền Văn Hóa Gia Tô qua văn chương và qua con người.

"Văn tức là người" và "Con người có văn hóa là sản phẩm của nền đạo lý mà họ đã hấp thụ được". Dó đó, chỉ cần đọc những bản văn của những người Gia-tô là chúng ta có thể thấy rõ những nét đặc thù của nền văn hóa đạo phiệt Gia Tô (xin gọi là đạo lý Gia Tô) đã được du nhập vào Việt Nam qua sách lược được viết ra thành văn bản trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Alexandre de Rhodes và trong sách Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Saigon (1971, trang 784-791) để rèn luyện tín đồ thành bọn "côn đồ văn hóa" hay "đao phủ văn chương". Ngày nay, bọn này đã trở thành một thứ công cụ vô cùng hữu hiệu của Giáo Hội La Mã để thay thế cho các đạo quân thập tự và đàn rắn độc tòa án dị giáo trong thời Trung Cổ, và cũng là để thay thế cho các bộ máy công an cùng mật vụ của các chính quyền Liên Minh Đế Quốc Pháp-Vatican và bạo quyền tăng lữ chuyên chính Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu trước tháng 4 năm 1975. Chúng tôi xin mời độc giả theo dõi hai trường hợp điển hình của hai trong số muôn vàn nạn nhân của bọn văn nô, bồi bút, côn đồ văn hóa và đao phủ văn chương chuyên nghề "chửi thuê nịnh mướn". Hai nạn nhân này là cô Hồ Thị Lạc Hồng và Giáo Sư Hoàng Tuệ.

TRƯỜNG HỢP CÔ HỒ THỊ LẠC HỒNG

Hồ Thị Lạc Hồng thuộc gia đình truyền thống tam giáo cổ truyền, và đang theo học tại một đại học Hoa Kỳ. Vào một ngày đầu tháng 11/1997, tình cờ được nghe đài Little Saigon truyền thanh bài đặc ký truyền thanh nói về ông Diệm với những lời lẽ suy tôn và tán dương ông ta một cách lố bịch, hoàn toàn trái ngược với những gì mà cô đã được nghe do các bậc trưởng thượng kể lại và được biết qua tài liệu lịch sử mà cô đã từng tìm hiểu. Sự kiện này khiến cho cô thắc mắc và quyết tâm đi vào thư viện tìm đọc thêm sách sử để viết bài viết có tựa đề là "Phải Chăng Ông Ngô Đình Diệm Là Người Yêu Nước Chân Chính?". Nguyên văn bài viết này như sau:

"Vào ngày 4 tháng Mười Một 1997, trên đường đến trường, tôi mở đài Little Saigon Radio và được nghe: Đặc ký truyền thanh" do các ông Phạm Long, Thanh Toàn và cô Phương Thanh thực hiện. Nội dung bài đặc ký truyền thanh này xoay quanh cuộc đời ông Ngô Đình Diệm và việc ông bị ám sát trong nền Đệ Nhất Cộng Hòa, Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Theo lời người viết bài đặc ký này, ông Ngô Đình Diệm là người yêu nước chân chính, rất có công trong việc tạo dựng nên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, và rằng việc ám sát ông để lại một vết nhơ trong lịch sử Hoa Kỳ và là một mất mát to lớn cho dân tộc Việt Nam.

Và rồi vào ngày 6 tháng Mười Một 1997, trong mục điểm báo buổi trưa, Little Saigon lại đưa ra một bài viết nữa cũng ca ngợi ông Diệm là một nhà yêu nước chân chính nhất trong lịch sử cận đại. Bài viết này được đăng trong tập san "Ngày Nay" ở Houston (Texas). Bài viết này, theo lời đài Little Saigon, được viết bởi hai sử gia không theo một đảng phái chính trị hay tôn giáo nào cả. Nghĩa là hai sử gia này có cái nhìn khách quan vô tư. Tuy nhiên, điều này vẫn không tháo gỡ được gút mắc trong tôi, vì xét về ông Diệm, công và tội, tôi cho ông không xứng đáng với ngôi vị đẹp đẽ mà một số người Việt hải ngoại tôn vinh. Tôi xin đưa ra một vài nhận xét, đánh giá của một người trẻ tuổi hầu mong các bậc trưởng thượng, những người đã chứng kiến giai đoạn lịch sử này và nhất là các nhà chuyên môn chỉ giáo.

Thứ nhất, ông Diệm có phải là người có công trong việc sáng lập ra nền Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam không?

Theo ba tôi và một số bạn bè của người là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, ông Diệm chỉ là người may mắn được Mỹ đưa lên ngôi vị có sẵn.

Tôi có hỏi một số bạn bè và các chị tôi, những người đã qua một vài lớp lịch sử ở trường Santa Ana College. Họ đều nói rằng theo sử sách thì ông Diệm quả đã được Mỹ đưa lên. Riêng cá nhân tôi, sau khi nghe bài đặc ký, đã tìm hiểu thêm và thấy rằng hai nhận xét trên là đúng. Trong Bách Khoa Toàn Thư của nhà sách Collier (Collier’s Encyclopedia) quyển 17 (trang 518) và quyển 18 (các trang 131, 136, 140 và 141), thì trong suốt thời Đệ Nhị Thế Chiến, ông Diệm ở Sàigon và dưới sự bảo trợ của Nhật. Mặc dầu ông không giữ một chức vụ nào trong Indochinese War (xin lỗi, tôi không biết gọi là gì). Sau chiến tranh, ông được coi là lãnh tụ của Công Giáo Việt Nam. Dưới áp lực của Mỹ, vua Bảo Đại đã phải bổ nhiệm ông làm Thủ Tướng vào tháng Năm 1954. Nhưng hơn một năm sau đó, ông loại vua Bảo Đại bằng quyền phán quyết của dân (popular referendum) và trở thành Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa.

Với tài liệu trên, tôi cho là ông Diệm không có công trạng gì trong nền Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nói một cách khác, ông chỉ là lá bài của Mỹ trên chính trường Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, tôi chỉ đưa ra những dữ liệu rất hạn hẹp, mong được các bậc cha anh chỉ giáo và góp ý thêm.

Điều thứ hai, Ông Diệm có phải là nhà yêu nước chân chính hay không?

Tôi không biết người viết bài đặc ký truyền thanh nói trên và một số người khác dựa trên những tiêu chuẩn nào hay định nghĩa thế nào là yêu nước chân chính. Với sự hiểu biết còn non nớt của một người còn trẻ tuổi, tôi cho rằng yêu nước chân chính là người dám hy sinh những quyền lợi cá nhân, gia đình, và ngay cả tính mạng cho đất nước, cho dân tộc như Đức Trần Hưng Đạo Trần Quốc Toản, Vua Hàm Nghi, và gần đây là cụ Phan Bội Châu là hình ảnh tiêu biểu nhất. Nếu quý vị đồng ý với tôi rằng các bậc anh hùng dân tộc mà tôi vừa nêu ra thực là những nhà yêu nước chân chính thì ông Diệm chỉ là cái bóng mờ nếu đem so sánh và cũng có thể là bất kính nếu đem so sánh ông với ho.

Thử xét lại từ khi lên ngôi vị Tổng Thống, ông Diệm đã làm được gì cho đất nước. Ai cũng biết từ khi lên nắm quyền bính, ông đã đưa cả gia đình vào những chức vụ hết sức quan trọng trong chính quyền. Nói tới chính quyền Ngô Đình Diệm, ai cũng phải nhớ đến hình ảnh lố lăng của bà Ngô Đình Nhu, người đã làm cho hàng triẹu phụ nữ Việt Nam phải nhục lây. Vậy mà bà ta đã thao túng chính quyền đương thời biết bao nhiêu! Những ai đã từng sống dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa đều nhớ mỗi khi chào cờ, họ phải hát và dành vài phút để suy tôn "Ngô Tổng Thống" sau bài quốc ca. Hai điểm này đã cho thấy rõ ông Diệm là một nhà độc tài và tôn thờ chủ nghĩa cá nhân; vậy thì sao lại gọi ông là nhà yêu nước chân chính được?

Một vết nhơ của chính quyền Ngô Đình Diệm , mà tôi tin rằng không ai có thể biện hộ hay rửa được: Đó là cuộc đàn áp đẫm máu lúc ông đương nhiệm. Tôi nhớ trong bài đặc ký có đoạn rằng, ông Diệm hiểu rõ ý đồ thực dân của Mỹ ở Đông Dương, không muốn thấy máu của dân tộc mình đổ xuống cho quyền lực của đế quốc này. Vậy tôi nghĩ không biết người Việt có bao giờ tự hỏi, vậy ông Diệm đã lấy máu của chính dân tộc mình đổ xuống cho mục đích gì trong vụ đàn áp tôn giáo vừa nói trên.

Để kết thúc bài đặc ký truyền thanh, người viết đã đặt câu hỏi rằng, "Người ta thường hay tự hỏi nước Mỹ sẽ đi về đâu nếu ông Kennedy không bị ám sát, và chúng ta là những người Việt cũng tự hỏi nếu ông Diệm không bị ám sát, tình hình Viêt Nam sẽ ra sao? Cách đặt câu hỏi thì không có gì đáng nói, nhưng người viết lại hết lời thương tiếc cho dân tộc Việt Nam, vì theo người này, sau cái chết của ông Diệm thì tình hình Việt Nam trở nên rối ren hơn, đen tối hơn vì mầm mống chia rẽ.

Tôi xin xét lại việc đàn áp tôn giáo của ông Diệm ở một phương diện khác. Trong nền Đệ Nhất Cộng Hòa, tính theo phần trăm thì những người Việt theo Công Giáo là 5%. Vậy mà ông Diệm nhân danh một số nhỏ để đàn áp một khối lớn, gây ra biết bao vụ tự thiêu. Xét ra ông là kẻ bất nhân và cũng không phải là một nhà chính trị có tài. Tôi xin hỏi mấy ai có thể tin vào một viễn cảnh xán lạn của đất nước nếu ta đem cơ đồ giao vào trong tay một kẻ độc tài, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân mà lại bất tài và bất nhân?

Còn nói rằng vì cái chết của ông Diệm tạo ra sự xáo trộn chia rẽ làm cho tình hình Việt Nam trở nên đen tối, thì theo sự suy nghĩ của tôi là không đúng. Mà phải nói chính ông Diệm đã gây ra mầm mống chia rẽ từ cuộc đàn áp tôn giáo lúc đương quyền. Chính ông đã khơi dậy chủ nghĩa cá nhân, quyền lợi đảng phái, và chính vì vậy mà người ta đã quên đi quốc gia và dân tộc.

Cuối cùng, xin thưa lý do tại sao mà tôi viết bài này. Như quý vị đã kêu gọi lớp trẻ chúng tôi hãy nêu cao tinh thần Quốc Gia, chống Cộng để giành lấy tự do cho dân tộc Việt đang bị áp bức bởi một chế độ độc tài, mà lại đưa ông Diệm là hình ảnh đẹp nhất của Việt Nam Cộng Hòa, thì tôi cho là không đáng để lớp trẻ chúng tôi phải chiến đấu gian khổ thêm nữa, vì cuối cùng kết quả cũng là đưa ra một nhà độc tài nữa mà thôi - (tn)" (2).

NGÔN TỪ VÀ VĂN PHONG TRONG BÀI VIẾT "ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM"

Sau khi bài viết Phải Chăng Ông Ngô Đình Diệm Là Người Yêu Nước Chân Chính?" dược đăng trên tờ Người Việt số 4301, ngày Thứ Bảy 15-11-1997 , thì tác giả Hồ Thị Lạc Hồng bị một tên côn đồ văn hóa, sản phẩm của nền đạo lý Gia Tô chiếu cố bằng những "ngôn từ và văn phong" rất là "Vatican". Nguyên văn bài viết này như sau:

Bà Hoàng Dược Thảo thân mến,

Tôi là một lao công đẩy xe 3 gác chợ Cầu Ông Lãnh trước ngày mất nước, năm nay đã 65 tuổi, nhân đọc báo Người Việt số 4301, ngày Thứ Bảy 15-11-1997 về bài viết của cháu Hồ Thị Lạc Hồngﬠkhông biết có phải tên thật người thật hay không?

Nếu quả là cháu Lạc Hồng đúng là một Hồ Thị Lạc Hồng thì chúng ta rất vui mừng vì đã từ lâu thấy xuất hiện một tuổi trẻ hải ngoại biết ưu tư và nhận xét về những sự kiện đã xẩy ra trong đất nước Việt Nam thân yêu, bằng cách trong lúc trên đường đến trường mà còn có thì giờ để nghe radio về bài đặc ký truyền thanh dài dằng dặc hầu có một nhận định về lịch sử.

Còn nếu không phải là cháu Hồ Thì Lạc Hồng thật, thì theo sự tưởng tượng của tôi, một phu xe ba gác, người viết bài có thể là một Hồ Chí Lạc Lõng ở hải ngoại, thật ra, đời tôi với một phu xe ba gác, thì về học vấn chắc chắn thua xa cháu Lạc Hồng sinh viên của Santa Ana College một trời một vực rồi, làm sao tôi dám "chỉ giáo", làm sao tôi đọc nổi được Bách Khoa Toàn Thư của nhà sách Collier về nhận xét kết luận của ngoại nhân. Tôi chỉ muốn nhắc với cháu Lạc Hồng hay Lạc Lõng nào đó rằng tôi chỉ căn cứ vào những mắt thấy tai nghe về ông Ngô Đình Diệm như hàng triệu người Việt chính tông nghe thấy và công nhận từ sau thuở ông Phan Bội Châu đến nay nước Việt Nam vẫn chưa có một vị nguyên thủ nào xứng đáng hơn ông ta được gọi là một người yêu nước chân chính. Nếu có ai hơn được xin cháu vui lòng bảo cha cháu đơn cử cho chúng tôi biết. Tội nghiệp cho cha cháu đã sai lầm dạy bảo cháu những điều mà đại đa số đồng bào mình đều biết là mỗi giai đoạn lịch sử đều có những biểu hiệu khác nhau, có những vị anh hùng ngoi lên từ dựng cờ khởi nghĩa trong lịch sử ta thật. Nhưng đó là thế nước lúc xưa. Còn về lúc Indochinese War (mà cháu không biết gọi đó là gì đó, sao cháu tệ thế, cháu đã học đại học Mỹ rồi và biết dùng hai tiếng Hán Việt chỉ giáo mà lại không biết dịch ra là cuộc chiến Đông Dương, xạo vừa thôi nghe cháu Lạc Lõng) thì lịch sử thế giới đã biểu hiện một ngả rẽ khác. Ông Ngô Đình Diệm quả thật là do các thế lực ngoại bang đưa lên, nhưng trong thời gian chấp chánh, ông ta có nhiều hành động yêu nước đem lại cho miền Nam nhiều thắng lợi trong lẫn ngoài nước. Về cá nhân ông ta, chưa hề có ai phê phán là tham nhũng, độc ác. Như trên tôi đã nói, dù là lá bài do Mỹ đặt ra chăng nữa, thì dù cho kẻ sĩ nào, nếu lợi dụng được để đem lại sự sống còn của dân tộc, đất nước trong thời điểm lịch sử lúc ấy vẫn là người yêu nước. Và ông Ngô Đình Diệm vẫn luôn tỏ ra một cá nhân yêu nước, chống lại mọi kế hoạch lũng đoạn và kìm chế của tất cả thế lực ngoại bang, và ông ta bị giết chết bởi những người Việt Nam kế tục ngu xuẩn, ham địa vị nghe theo lệnh của ngoại bang, như hàng triệu đồng bào mình đã biết. Chắc riêng cha cháu thì không biết đó thôi, và một lần nữa hai tiếng "chỉ giáo" xin nhường lại cho cha con cháu chỉ giáo với nhau cho đời cha con cháu thêm lạc lõng nơi đất khách để ăn Hamburger, chớ khỏi đấu tranh làm gì cho mệt thêm đồng bào Việt Nam.

Đó là luận về cá nhân ông Ngô Đình Diệm. Và như mọi người có theo dõi về nền chính trị thế giới cổ kim hẳn đều biết về những vua chúa, tổng thống, thủ tướng, nếu cá nhân họ có tốt đẹp đi chăng nữa, nhưng đôi khi không thể kiểm soát nổi những hành vi nhũng lạm của một vài cận thần hoặc một vài người thân thì cũng không thể quá khắt khe kết tội một cá nhân như ông Diệm trong một hoàn cảnh đất nước lúc đó nếu thiếu vắng ông Ngô Đình Nhu, một nhà hoạch định chính sách kế hoạch có thì để chống cộng giữa bầy hàng thần lơ láo như Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân trong buổi giao thời.

Kết tội ông Ngô Đình Diệm là đôc tài và nhơ danh không rửa được qua việc đàn áp Phật giáo thì cha cháu quả thật ngu muội. Đã hai mươi năm qua, mọi việc đã bạch hóa, tất cả nhữgì do cộng sản giựt dây sách động, về Phật giáo Ấn Quang và Phật giáo miền Trung. Những kẻ lãnh đạo các phong trào đó nay đã thật sự trở về với cõi nguồn cán bộ cộng sản cao cấp như Thích Trí Quang và 2 vị luật sư dân biểu lúc đó cùng nhiều tên khác hiện còn ở Việt Nam nếu cháu là ông Ngô Đình Diệm trong lúc đó thì hành động của cháu có phải là từ chức và gọi Hồ Chí Minh (bà con giòng họ Hồ của cháu) vào Nam tiếp thu chính quyền rồi chứ gì?

Họ Hồ là một trong trăm ngàn họ khác, chỉ có một vài cá nhân họ Hồ làm cho tôi nổi da gà mỗi khi nghe đến như: thứ nhất Hồ Chí Minh, thứ nhì Hồ Qúy Ly, kế là họ Hồ của Bồ Tùng Linh, và sau chót là Hồ Chí Lạc Lõng. May mắn là cái đất nước VN đã mất, nếu còn cha con giòng họ Hồ chắc sẽ kế ngôi Tổng Thống Tám Lèo thì miền Nam sẽ vào thiên đàng sớm.

Nhớ ráng học để dịch được chữ Indochinese War. Nếu cha cháu không biết thì hỏi ông nội cháu.

Đỗ Mười Một – Công Nhân Xe Ba Gác

Và muốn biết độc tài là gì thì về VN mà học rồi hãy nói 2 chữ đó, nói rõ hơn là con cháu Bác Hồ, họ của cháu đó đang độc tài sắt máu đấy, không tin thì hỏi cha cháu hay ông nội cháu nhờ đâu mà được qua Mỹ để đi học Santa Ana College, chớ có chê độc tài. Okê?" (3).

TRƯỜNG HỢP GIÁO SƯ HOÀNG TUỆ

Cũng như các nhà trí thức yêu nước khác, vì thiết tha "muốn cho dân nước biết rõ hơn về những chuyện cũ trong quá khứ của đất nước mình" cho nên Giáo-sư Hoàng Tuệ mới viết bài "Bàn Về Chữ Quốc Ngữ" theo khả năng và nhận xét của ông rồi cho đăng trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số ra ngày 21-1-1993, phần Văn Hóa, trang 14. Sau khi bài viết vừa ra mắt độc giả khoảng chừng hai tháng, cũng như cô Hồ Thị Lạc Hồng, Giáo-sự Tuệ bị ngay những nhát dao đao phủ của một tên côn đồ văn hóa giáng cho tới tấp bằng những ngôn từ với một văn phong rất ư là Đắc Lộ. Xin mời quý vị theo dõi bài viết "Ai Làm Ra Chữ Quốc Ngữ" của Gíao-sư Hoàng Tuệ, nguyên văn như sau:

"Gần đây, Alexandre de Rhodes được nhắc đến khá nhiều với lời lẽ nồng nhiệt ca ngợi công lao của ông trong sự sáng chế ra chữ Quốc Ngữ. Nhưng sự thật ai làm ra chữ Quốc Ngữ vẫn còn là câu hỏi. Vì cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha - Latin, sẽ gọi la DALL), xuất bản năm 1651 ở Roma, mang tên tác giả là Alexandre de Rhodes (tứ Đắc Lộ) nên người ta cứ nghĩ ông là người sáng chế ra chữ Quốc Ngữ.

Nhưng, không phải! Trước DALL, đã có từ điển Annam – Bồ Đào Nha của D’Amaral và từ điển Bồ Đào Nha – Annam của Barbosa (mất năm 1647). Hai vị này, cùng với De Pina, Borri… là một tập thể đã phiên âm tiếng An Nam và làm từ điển. Vậy đóng góp riêng của Alexandre de Rhodes? Rất khó trả lời. Vì DALL thì còn đây, mà hai cuốn từ điển trước nó, những bản viết tay, không còn nữa, hay đang được lưu trữ đâu đó trong các kho tư liệu của giáo hội.

Có ý kiến cho công của Alexandre de Rhodes là đã dùng các dấu để ghi thanh, đến sáu thanh, thì đối với các giáo sĩ phương Tây là chịu chết, cá lẫn thành cà…! Tiếng mình khó không phải ở đa dạng phương ngữ (như tiếng Hán) mà ở sự phong phú thanh điệu (nhiều hơn tiếng Hán). Trong hồi ký của mình, Rhodes ghi lại cảm tưởng: "Nghe người bản xứ nói, nhất là đàn bà, nghe chim hót". (De Francis, 1977). Cảm tưởng ấy do thanh điệu tạo nên.

Nhưng ý kiến như trên về cống hiến của Rhodes bị bác bỏ: Trên các bản viết tay (1632, 1636) của D’Amaral tìm được, đã có dấu thanh (Đỗ Quang Chính, 1972). Một phản chứng đầy đủ giá trị. Cho nên có giả thuyết cho rằng chữ Quốc Ngữ là công trình không phải của duy nhất ai, đặc biệt của riêng Alexandre de Rhodes, mà là của nhiều người. Giả thuyết này không vu vơ, mà có căn cứ. Ngoài căn cứ nói trên về các từ điển của D’Amaral và Barbosa, còn có những căn cứ sau đây:

1.- Thời gian Alexandre de Rhodes ở Việt Nam, tính chung chừng 6 năm, nhưng gián đoạn bởi 4 lần bị trục xuất, chỉ liên tục được 3 năm (1627-1630) vậy có đủ cho ông hoàn thành bấy nhiệu việc: Học cái tiếng "nghe như chim hót" ấy, rồi phiên âm nó, rồi biên soạn DALL? Hay ông đã dùng cả thời gian ông lưu lại Macao, tính chung chừng 15 năm, với 10 năm liên tục (1630-1640)? Mà một mình hay với ai?

2.-Chữ Quốc ngữ cho ta thấy đó là một sự Latinh hóa dựa trên những chữ viết khác nhau: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp và cả Hy Lạp cổ (Haudricourt, 1949). Các giáo sĩ đến Việt Nam nửa đầu thế kỷ 17, thuộc các dòng Jésuites, Dominicains, Franciscains, có quốc tịch và bản ngữ khác nhau. Còn các câu hỏi: Người bản xứ có ai trực tiếp tham gia vào sự sáng chế chữ Quốc Ngữ không? Trong hồi ký, Rhodes có nói tới một tín đồ cực kỳ thông minh, đã giúp ông rất nhiều trong sự phát âm các từ, phân biệt các thanh. Nhưng người đó là ai thì ông chẳng ghi lại họ tên.

Cũng có những lời khẳng định rằng làm ra chữ Quốc Ngữ là tín đồ bản xứ, có khi đưa ra cả họ tên. Nhưng thật khó kiểm chứng những khẳng định như thế. Đáng chú ý là ở Việt Nam thời đó, không phải chẳng có ai biết gì về văn tự học, nhưng dù sao về chữ viết ghi âm, các giáo sĩ phương Tây có nhiều kinh nghiệm, và những tri thức ngữ âm học đã khá cao. Chữ Quốc Ngữ cho thấy một trình độ phân tích ngữ âm đáng phục. Và được xác nhận là đã hình thành thời đó những phương án Latinh hóa chũ Hán, chữ Nhật… của các giáo sĩ phương Tây.

Và sự xuất bản DALL thì có chuyện sau đây: Năm 1645 Alexandre de Rhodes lại bị trục xuất khỏi Việt Nam. Ông trở lại Macao, rồi trong năm ấy lên đường đi Roma, nhưng 1649 mới tới nơi vì bị quân Hà Lan bắt giữa tại Indonesia. Trong hồi ký, ông nói rõ: Các giấy tờ đều bị tịch thu. Vậy bản thảo Dall? Nếu cũng mất luôn, thì ở Roma trong 2 năm (1649-1651), ông đã làm lại một mình? Dù sao, cuốn từ điển đã được xuất bản, với rất nhiều sức ông đã bỏ vào tại một xưởng in, theo lời ông trong hồi ký.

Lại còn chuyện: Sau khi DALL ra đời, giáo hội Bồ Đào Nha đầy thế lực đã lên tiếng phản đối việc cho ông quay lại Việt Nam, mặc dù đó là ước nguyện của ông. Vatican phái ông đi Ba Tư. Ông mất trên đất Hồi giáo vào năm 1660.

Rõ là có xích mích giữa ông và giáo hội Bồ Đào Nha! Sự thật, ông không phải người Pháp. Ông gốc Do Thái, quê Avignon, lãnh địa của giáo hoàng trên đất Pháp. Tuy vậy, ông gắn bó với Pháp. Hồi ký viết: "Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, đặt nó dưới quyền Jesus Christ". (De Francis, 1977). Và ông đã có một chuyến đi Pháp. Ở đây, ông được hoan nghênh. Kết quả là ở Paris (1664) được thành lập Société des Missions Etrangeres (Hội Truyền Giáo ở nước Ngoài) chỉ toàn giáo sĩ Pháp. Thế lực giáo hội Pháp ở Việt Nam tăng lên là từ hồi đó. Như ai cũng đều biết, đằng sau giáo hội với sứ mệnh cao cả là những chính phủ, những công ty tìm kiếm thuộc địa vì những quyền lợi trần tục. Cho nên, bảo ai sáng chế chữ Quốc Ngữ thì điều đó có ý nghĩa về thanh thế của giáo hội này hay giáo hội khác.

Như đã nêu ở trên, chữ Quốc Ngữ ai làm ra vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp thật rõ. Thời gian đã trôi qua, chuyện đã cũ thì thôi, cho qua đi. Vấn đề là sự thật lịch sử. Người Việt Nam ngày nay muốn biết rõ hơn về những chuyện cũ trong quá khứ của đất nước mình. Gs. Hoàng Tuệ. (Trích Tuổi Trẻ Chủ Nhật ra ngày 31-1-1993, phần Đời Sống Văn Hóa trang 14) " (4).

NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA NỀN ĐẠO LÝ GIA TÔ
QUA VĂN PHONG VÀ NGÔN TỪ CỦA MÔT NHÀ TU HÀNH TRÍ THỨC GIA TÔ

Quý vị vừa đọc qua bài viết của ông Đỗ Mười Một, làm nghề kéo xe ba gác. Dưới đây là bài viết của ông cựu Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên có bằng Tiến Sĩ Thần Học (không biết ông ta tốt nghiệp trường đại học quái đản nào). Đọc xong rồi quý vị sẽ thấy rằng văn phong và ngôn tư của nhà tu hành trí thức Gia Tô này còn ghê gớm hơn văn phong và ngôn từ của ông Đỗ Mười Một làm nghề kéo xe ba gác. Có thể cả hai người này đều đã học thuộc lòng những ngôn từ vô giáo dục cùng sách lược chưởi bới, vu khốngmạ lỵ từ trong cuốn sách giáo khoa Phép Giảng Tám Ngày dành để dạy dỗ những người Thiên La Đắc Lộ với mục đích hạ nhục và hạ giá những người khác tôn giáo hay khác chính kiến với họ. Cả hai đều dốt lịch sử, không có óc lý luận, và cả hai đều nhắm mắt phát ngôn và hành động theo phản ứng Pavlov. Cũng nên biết là ông Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên là người đã cùng với ông Phạm Đình Khiêm đã cho phát hành cuốn Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên (Sàigon, 1961) cho ăn nhịp với việc chính quyền Gia Tô Ngô Đình Diệm đang tiến hành kế hoạch Gia-tô hóa trong thời kỳ này với thành tích đã tàn sát mất hơn 300 ngàn người bị chụp mũ là Cộng Sản. Dưới đây là nguyên văn bài viết của ông Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên có bằng Tiến-sĩ thần học.

GỬI GIÁO SƯ HOÀNG TUỆ BÀN VỀ CHỮ QUỐC NGỮ TRÊN TỜ TUỔI TRẺ

Tác giả: Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên, Tiến-sĩ Thần học

"Năm 1961 khi ở Sàigon bộ Văn Hóa và Viện Khảo Cổ tổ chức triển lãm và thuyết trình về Đắc Lộ, nhân 300 năm húy nhật giáo sĩ (1660-1960), thì ở Hà Nội người ta đã chụp mũ cho chúng tôi là làm công tác tâm lý chiến. Rồi người ta tìm được một câu nói của Thomazi viết trong cuốn (Cuộc Xâm Chiếm Đông Dương, Pavot, Paris, 1934, page 13) để chụp mũ cho Đắc Lộ là đã có mưu đồ xúi giục người Pháp xâm chiếm nước Việt Nam. Thế là Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử ở Hà Nội cho đăng bài của hai tác giả Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận dài 15 trang giấy khổ lớn bàn giải về vấn đề này (Coi: Nghiên Cứu Lịch Sử, Viện Sử Học Hà Nội, số 63, tháng 6 năm 1964, trang 14-31). Thế rồi từ đó, các sách vở thi nhau lập lại luận điệu vu khống. Lịch Sử Việt Nam tập I, Hà Nội, 1971, trang 304, Sổ Tay Văn Hóa, Hà Nội, 1978, trang 137. Một Số Vấn Đề Ngôn Ngữ Học Việt Nam, Hà Nội, 1981, bài của Giáo-sư Trần Văn Giàu, trang 185. Người ta còn đem trưng bày câu xuyên tạc đó trong Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội: trong một tủ kính người đặt câu nói của Thomazi giữa hai cuốn sách của Đắc Lộ, cuốn Hành Trình Và Truyền Giáo (1653) và Tường Trình Về Đàng Trong (1652), để đầu độc trí óc học sinh và sinh viên. Thật là đểu giả: Đắc Lộ ở đây được coi như một kẻ xúi người ngoại quốc tới xâm lược, chứ không phải là một trong những người trọng yếu nhất đã làm ra chữ quốc ngữ với ba tác phẩm: Cuốn Ngữ Pháp Tiếng Việt, cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La và cuốn Phép Giảng Tám Ngày, cả ba đều ấn hành tại Roma năm 1651.

Năm 1993 này, nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ, nhiều nơi chuẩn bị nhắc nhở tới sự nghiệp của giáo sĩ, thì giáo sư Hoàng Tuệ đã viết một bài ngu xuẩn đăng trong tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Saigon, ngày 31 tháng 1 năm 1993, nhan đề "Ai Làm Ra Chữ Quốc Ngữ?". Cho tới năm 1993 này mà Giáo-sư còn dám hoài nghi đặt ra câu hỏi ngu xuẩn như thế. Chúng tôi nhắc nhở cho giáo sư biết rằng vấn đề đã được nêu ra từ những năm 1913-1914 trong Đông Dương Tạp Chí, với Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính, năm 1927 trong Nam Phong với Khảo Về Chữ Quốc Ngữ, trong Indochine với bài của nhà học giả Nguyễn Văn Tố, rồi trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan. (Tại sao ông Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên lại không biết là tất cả bài viết này đều được viết trong thời kỳ Việt Nam nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican, và lúc bấy giờ hầu hết tài liệu liên hệ đến những hoạt động gián điệp của các nhà truyền giáo Gia Tô chưa được giải mật – NMQ). Đó mới nói tới phía người Việt. Nhưng tất cả chỉ là những bài khảo cứu nhỏ nhặt, chưa đi vào chi tiết, vào chiều sâu. Phải đợi tới những năm 1958-1964 mới có mấy công việc sưu tầm đáng kể như những bài khảo luận của Thanh Lãng (một tu sĩ Gia Tô – NMQ) và một phần nào của chúng tôi. Thế nhưng tác phẩm của Đỗ Quang Chính (cũng lại là một tu sĩ Gia Tô – NMQ), Lịch sử Quốc Ngữ (Saigon, Ra Khơi, 1972) là một công trình đầy đủ nhất về vấn đề này. Chúng tôi sẽ nói thêm sau. Thế mà giáo sư dám đặt lại vấn đề, thụt lùi chừng mấy chục năm. Thật là một quái thai.

Chúng tôi kính nể giáo sư vì giáo sư là một trong những biên tập viên của cuốn Từ Điển Tiếng Việt, Hà Nội, 1988 và là tác giả một số bài về ngữ học. Nhưng về vấn đề "Ai Làm Ra Chữ Quốc Ngữ" của giáo sư thì chúng tôi không quá lời khi nói đó là một quái thai. Không quái thai mà sao giáo sư có thể viết và đặt Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh lên trên Quốc Âm của Nguyễn Trãi và lên trên Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là nguyên văn: "Nhìn riêng tiếng Việt thì Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi là một thắng lợi mở đầu rất lớn; Truyện Kiều của Nguyễn Du là một thắng lợi lớn hơn; Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh là một thắng lợi càng lớn hơn nữa" (Viện Ngôn Ngữ Học, Giữ Gìn Sự Trong Sáng Tiếng Việt Về Mặt Từ Ngữ), Hà Nội, 1981, bài của Giáo-sư Hoàng Tuệ, trang 66). Đời thuở nhà ai mà đem một tác phẩm thơ thế kỷ 15, một truyện thơ thế kỷ 19 đọ với lời tuyên ngôn chính trị giữa thế kỷ 20. Cái ngu xuẩn này cũng giống như cái ngu xuẩn của người đồng sự của ông, ông này cũng viết trong tác phẩm: "Tư Duy Cao Nhất Của Loài Người Hiện Nay là Chủ Nghĩa Mác-Lênin" (Giữ gìn, tr. 156, bài của Trần Văn Cơ). Sau đây là mấy ngu xuẩn, ngu dốt của giáo sư:

1.- Cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La tên gọi thông thường cho tới nay giáo sư không theo cách gọi này, cũng không theo các dịch giả trong cuốn phát hành năm 1991 ở Saigon là Từ Điển Annam-Lusitan-Latin mà giáo sư gọi là từ Điển Annam-Bồ Đào Nha-Latin là DALL (Dictionarum Annamiticum Lisitanum et Latinum). Sao không viết là TALL (Từ Điển Anam Lusitan Latinh) cho gọn và dễ nhớ, dễ hiểu. Thật là dốt lại thích nói chữ – chữ latinh, hay là giáo sư lập dị.

2.- Cái ngu xuẩn lại còn xuất hiện khi giáo sư viết: "Có giả thuyết cho rằng chữ Quốc Ngữ là công trình không phải duy nhất ai, đặc biệt của riêng De Rhodes, mà là của nhiều ngươi. Ngày nay, với lịch sử chữ Quốc Ngữ của Đỗ quân (Linh-mục Đỗ Quang Chính) thì không còn ai đưa ra giả thuyết đó nữa. Đã có thời kỳ, người ta chỉ biết Đắc Lộ, nhưng về sau sự thực đã trờ trờ ra đó rồi, sao giáo sư còn đưa ra cái ngu ngốc đó nữa để đánh lạc dư luận, gieo mối nghi ngờ. Giáo sư nhắc tới Đỗ quân một lần cố ý hạ bệ Đắc Lộ. Nhưng Đỗ quân chú ý nói vào năm 1632, D’Amaral đã viết tiếng Việt giỏi hơn Đắc Lộ, một giả thuyết và một khẳng định. Thế nhưng kết cuộc Đỗ quân công nhận chỗ đứng cao vời của Đắc Lộ như chúng tôi sẽ nói sau.

3.- Sao giáo sư ngu dốt khi trưng xuất xứ các bản văn. Giáo sư viết: "De Francis, 1977". Khi trưng xuất xứ thì phải viết rành mạch tên tác giả, tên tác phẩm, nơi ấn hành tác phẩm, năm ấn hành và trang sách. Như thế để độc giả kiểm soát và nghiên cứu thêm. Đàng này trưng câu nói của chính Đắc Lộ mà giáo sư lại viết "De Francis, 1977" thì làm sao cho độc giả tìm tòi được. Tôi nói cho giáo sư biết "Nghe người bản xứ nói nhất là đàn bà, như nghe chím hót" là câu của Đắc Lộ viết trong Hành Trình và Truyền Giáo (Voyages et Missions. Paris, 1854, tr. 87), cũng như lời trưng thứ hai của giáo sư viết, chúng tôi nói sau.

4.- Sao giáo sư dám viết "Thời gian De Rhodes ở Việt Nam tính chung chừng 6 năm". Trong lời tựa cuốn từ điển, Đắc Lộ nói là đã ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài 12 năm. Ông nói như vậy, bởi vì ông tính từ năm 1624 khi tới Đàng Trong cho đến năm 1630 khi bỏ Đàng Ngoài, cộng 6 năm nữa thành 12 năm. Nhưng nếu đi những hành trình, những lưu trú ở Ma Cao, ở Phi Luật Tân, những đi đi về về ở Đàng Trong, thì tất cả chỉ chừng trên dưới 8 năm rưỡi, chứ không phải 6 năm. Giáo sư căn cứ ở đâu mà nói xằng vậy? Giáo sư đọc lại Hành Trình và Truyền Giáo cho kỹ đi.

5.- Về người bản xứ đóng góp vào việc hình thành chữ Quốc Ngữ, giáo sư không đưa tên Raphael Rhodes là cậu bé người Đàng Trong đã dạy Đắc Lộ học tiếng Việt, và đồng thời cũng học tiếng Bồ và tiếng La Tinh với Đắc Lộ. Giáo sư còn muốn tráo lộn con cờ gì nữa. Giáo sư chê Đắc Lộ không viết tên gọi, tên họ những người đã giúp ông học ư? Tôi cho giáo sư biết là trong tác phẩm của mình, Đắc Lộ không viết tên thật Việt Nam của họ, mà chỉ viết ông hoàng nọ, ông chúa kia, bà hoàng nó, bà phi kia mà thôi. Trong Hành Trình ông chỉ vài lần nói tới Phêrô Lao, Nicolas Hảo, ông Nghè Bộ… Có thế thôi, sao giáo sư đòi hỏi những chi tiết không thiết yếu, giáo sư cốt làm giảm giá Đắc Lộ phải không? Sao giáo sư ngu xuẩn thế!

6.- Giáo sư lấy căn cứ vào đâu mà nói Đắc Lộ đã mất giấy tờ khi ông bị giam ở Jacquetra? Sao giáo sư ngu xuẩn cho rằng vì mất hết các giấy tờ nên khi về Roma trong vài năm Đắc Lộ đã phải viết lại các tác phẩm của mình. Cho dù giáo sư đưa giả thuyết đó ra thì cũng chỉ là cách làm rối quân cờ mà thôi. Tôi cho giáo sư biết rằng, việc mất giấy tờ ở Jacquetra đã được Đắc Lộ viết như sau: "Quan Tòa lấy cả sách nguyện và sách kinh nhật tụng của tôi, không để cho tôi sách vở, bản viết của tôi" (De Rhodes, Hành Trình Sđd., tr. 356). Về việc này, nhà học giả L. Cadière đã viết thư cho nhà cầm quyền ỏ Jacquetra để hỏi xem trong các văn khố, còn tàng trữ giấy tờ gì của Đắc Lộ không. Nhưng người ta đã trả lời không.

Nhưng giáo sư mới chỉ đọc có chương 4 phần 3 của Hành Trình mà không đọc chương 7, bởi vì trong chương 7 này Đắc Lộ nói các giấy tờ người ta đã trả lại ông. "Ông này còn bực mình hơn khi ông phải trả lại tôi một hộp nhỏ trong đó có mấy giấy tờ và một ít tiền người Bồ đã cho tôi mượn" (De Rhodes, Sđd., trang 372. Đắc Lộ chỉ việt ngắn gọn là "mấy giấy tờ" (quelques papiers).

Vấn đề này, cũng nên biết, khi các giáo sĩ ở Goa, ở Macao gửi các bản phúc trình về Roma, thì họ thường gửi làm hai chuyến, mỗi chuyến tầu về Âu Châu, một bản. Như vậy để nếu các bản bị mất vì tầu đắm hay bị hải tặc tịch thu thì ít ra còn một bản. Đó là những bản phúc trình trên dưới 50 trang. Còn những sách chừng 300 trang thì không hiểu họ làm thế nào. Riêng về Đắc Lộ, nếu ông đem theo các bản thảo của Ngữ Pháp của Từ Điển, của Phép Giảng, của Lịch Sử Đàng Ngoài (cuốn này chắc chắn đã được soạn vào năm 1636 ở Macao) thì thật là cả một nguy cơ. Cho nên chúng tôi đặt ra giả thuyết sau đây. Ông đã lấy tầu trở về Âu châu, thế nhưng tại sao được nửa đường ông đổi ý định, lấy tầu người Anh đi tới vùng Vịnh để rồi từ đây ông theo đường bộ mà về cho tới Địa Trung Hải). Ông sợ mất những bản thảo quí hóa đó hay sao, ông đi đường bộ để tránh trắc trở như đã xẩy ra ở Jacquetra hay sao?

Nói tóm lại, giấy tờ bị tịch thu thì đã được hoàn lại đủ. Giáo sư đừng đưa giả thuyết nữa, chỉ thò cái dốt của mình ra, hoặc có tà ý đánh lộn con bài mà thôi, và cũng không thể giấu nổi những người hiểu biết.

7.- Giáo sư lại còn mập mờ chủ ý chụp mũ cho Đắc Lộ về Âu Châu mộ lính đi xâm chiếm Đông Phương, bởi vì giáo sư dịch đoạn văn của Đắc Lộ như sau:

"Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cung cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, dưới quyền Jesus Christ". Câu này của Đắc Lộ, nhưng ông lại thêm lời trích dẫn là "De Francis 1977", như trên chúng tôi đã nói. Thực ra, đây là lời trích trong Hành Trình và Truyền Giáo (Sđd., tr. 435-436). Giáo sư không trích thêm một hai giòng nữa để hiểu chữ "soldats" ở đây không phải là binh lính mà là chiến sĩ. Từ Điển Pháp-Việt của Trương Vĩnh Ký (Petit Dictionnaire Francais-Annamite, Saigon,1920) dịch soldat là lính, binh lính, lính tráng. Pháp-Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, Minh Tân, Paris, 1936 thì dịch soldat là lính, bộ đội, chiến sĩ. Tới Từ diển Pháp-Việt của Tổ Chức Hợp Tác Văn Hóa và Kỹ Thuật, Paris, 1936 thì dịch soldat là lính, quân binh, nhưng cũng là chiến sĩ. Từ điển này còn trưng một thí dụ: "Les soldats de la liberté, là những chiến sĩ đấu tranh cho tự do". Như vậy, giáo sư lùi lại hơn nửa thế kỷ khi chỉ dịch theo Trương Vĩnh Ký mà không theo từ điển mới nhất 1981. Giáo sư chủ ý chụp mũ cho Đắc Lộ về Âu Châu mộ lính. Thực ra, lính đây là chiến sĩ, hơn nữa giáo sư cố tình bỏ chữ "quelques soldats" mấy chiến sĩ, nghĩa là mấy giám mục để đưa qua phương Đông phong chức linh-mục cho người dân bản xứ. Giáo sư không dịch thêm câu sau để hiểu ý nghĩa đó.

Giáo sư còn tỏ ra gán cho Đắc Lộ có mưu đồ xâm chiếm. Mà thực ra mưu đồ xâm chiếm chỉ xẩy ra hai thế kỷ sau, nghĩa là vào hậu bán thể kỷ 19 mà thôi. Như các đồng sự của giáo sư vào năm 1964, giáo sư lại có mưu tính chụp mũ cho Đắc Lộ…

8.- Sau cùng giáo sư vừa ngu dân vừa mị dân khi giáo sư viết: "Thời gian đã trôi qua, chuyện đã cũ. Nhưng không phải cũ thì thôi, cho qua đi. Vấn đề là sự thật lịch sử. Người Việt Nam ngày nay muốn biết rõ hơn về những chuyện cũ trong quá khứ của đất nước mình". Sao giáo sư ngu xuẩn đến the. Như chúng tôi đã nói chuyện cũ của đất nước như chữ Quốc Ngữ từ lâu đã lần lượt có những công cuộc học hỏi và cho tới Đỗ Quang Chính (Linh-mục, NMQ), sự thực đã được phanh-phui rõ ràng, đó là: "chữ Quốc Ngữ là sự nghiệp chung của cả một lớp giáo sĩ, bắt đầu từ Đàng Trong từ 1615, rồi tới Đàng Ngoài kể từ 1630 với D’Amaral, Barbosa". Đỗ quân đã dày công đi nghiên cứu ở các văn khố Âu Châu và Á Châu. Đỗ quân đã phân tích từng bản thảo này, bản viết tay kia kể từ 1620 tới 1626, từ 1631 tới 1648, để tới 1651. Hỏi rằng người của giáo sư đã làm được gì về vấn đề này. Sự thực đó, đáng lý ra giáo sư và người của giáo sư, nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ này, cho tái bản tác phẩm của Đỗ quân để cho đại đa số quần chúng biết tới. Thế nhưng giáo sư không làm, lại còn ngu xuẩn nói quanh co trôi kệ, xuyên tạc, ngây ngô, đặt ra vấn đề không tưởng "Ai làm ra chữ quốc ngữ" và giáo sư còn cắm sào đợi và còn mị dân, như chúng tôi đã nói. Giáo sư muốn cho người dân biết các sự việc quá khứ của mình, trong khi sự thật lịch sử đã được Đỗ quân trình bày rõ ràng, giáo sư vẫn làm thinh giả điếc.

Sau khi giải thích các bản viết tay, kể cả bản viết tay của D’Amaral năm 1632 và của Đắc Lộ năm 1636, thì Đỗ quân đã kết luận về Đắc Lộ như sau:

"Nhờ công lao của Đắc Lộ, năm 1651 đánh dấu một giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử chữ quốc ngữ. Ngày nay, nhắc đến lịch sử chữ chúng ta đang sử dụng, là phải nhớ tới công ơn Đắc Lộ. Tại Hà Nội, một bia kỷ niệm được dựng vào giữa năm 1941 và tại Sàigon một con đường mang tên Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) từ năm 1955 để tưởng nhớ đến công ơn Đắc Lộ (Đỗ Quang Chính, Sđd, tr. 90)".

Đỗ quân còn cho biết ở lời chú thích: "Khoảng năm 1957 chính quyền miền Bắc ra lệnh phá bia này, để dân chúng khỏi nhớ đến công ơn Đắc Lộ". Thực ra, năm 1983 khi về Hà Nội, tôi còn thấy mãi, tất cả đã biến mất nhường chỗ cho một đài kỷ niệm "quyết tử quân". Còn con đường Alexandre de Rhodes ở Saigon thì cộng sản Việt Nam đã cho bãi bỏ sau năm 1975.

Giáo sư hô hào sự thật lịch sử, thì sự thật lịch sử đó là đã có ba cuốn ấn hành ở Roma năm 1651 ký tên Alexandre de Rhodes. Đó là cuốn Ngữ Pháp Tiếng Việt viết bằng tiếng Latinh, dày 31 trang, cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La dày 904 trang và cuốn Phép Giảng Tám Ngày, Latinh Việt, dày 319 trang.

Ba cuốn đó và tác giả của chúng phải được vào trong từ điển Văn Học Việt Nam để nhân dân Việt Nam biết tới. Đó là đòi hỏi của sự thật lịch sử. Chúng ta không phải là những người ăn cháo đái bát. Sự thật lịch sử rành rành ra đó, lịch sử chữ quốc ngữ đã được Đỗ Quang Chính phân tích, trình bày tỉ mỉ, sâu sắc. Đầy đủ đến thế. Thế mà giáo sư còn đặt ra vấn đề: "Ai làm ra chữ Quốc Ngữ" ở cái năm kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ như đã nói ở trên. Thật là một quái thai của thời đại và chúng tôi không rút lời. Ngày 4-4-93 Nguyễn Khắc Xuyên – Ngày Nay, số 277, ngày 1-7-1993" (5).

NHẬN XÉT

Sự việc cô Hồ Thị Lạc Hồng viết bài "Ông Ngô Đình Diệm có Phải là Người Yêu Nước Chân Chính Hay Không?" và Giáo-sư Hoàng Tuệ viết bài "Ai Làm Ra Chữ Quốc Ngữ?" chỉ là một trong những sinh hoạt bình thường của một người trí thức muốn trình bày quan điểm và nhận xét của mình dựa theo sự hiểu biết đã học hỏi được cùng với kinh nghiệm của chính bản thân và của các bậc trưởng thương hay tiền bối đã truyền lại. Phương cách trình bày quan điểm và nhận xét của cô Hồng và Giáo-sư Tuệ rất là vô tư và khách quan. Điều này chứng tỏ họ là những người trí thức có căn bản hiểu biết về những vấn đề mà họ đề cập đến trong bài viết của họ. Cung cách trình bày ý kiến của họ rất là thành thực "biết đến đâu, tâu đến đó" và theo đúng phương pháp khoa học: "nói có sách, mách có chứng", chứ không hề "ăn óc nói mò" hay "võ đoán" như những người cuồng tín hay "nghiện đạo Vatican". Những người nghiện đạo Vatican này chỉ biết lập lại những gì đã được các đấng bề trên nhồi sọ cho từ trước. Cô Hồ Thị Lạc Hồng và Giáo-sư Hoàng Tuệ không có một lời nào bịa đặt ra để vu khống và chụp mũ những việc làm hoặc những tác nhân lịch sử hay những tác giả của những tác phẩm trong đó có những quan điểm hay ý kiến khác hẳn hay trái ngược với họ. Họ cũng không phịa ra những chuyện hoang tưởng hay bóp méo những sự thật lịch sử để tô vẽ cho một thế lực tôn giáo hay thế lực đương thời như bọn văn nô bồi bút hay sử nô vẫn thường làm. Ngôn từ và văn phong của họ thật lịch lãm và chững chạc. Nếu có nói đến những việc làm sai quấy hay thất nhân thất đức của những nhân vật trong đề tài thì họ cũng chỉ nói đến hành động xấu xa cùng những việc làm của nhân vật đó. Tuyệt nhiên, họ không hề đem chuyện đời tư của các nhân vật trong đề tài hay của tác giả bài viết mà họ đang tranh luận để bêu riếu. Họ cũng không hề sử dụng những ngôn từ mất dạy của những phường đá cá lăn dưa để sỉ vả và miệt thị những tác giả của những bài viết mà họ đang tranh luận. Qua hai bài viết của họ, chúng ta nhận thấy rằng họ đã ý thức được vai trò của người viết văn là phải thẳng thắn, mạnh bạo nói lên tất cả những gì đã biết, đã thâu thập được và những gì cảm thấy cần phải nói lên theo đúng với "lương tâm của người trí thức" hay "cái liêm sĩ của kẻ sĩ" như Nho giáo đã dạy "Uy vũ bất năng khuất". Đặc tính "uy vũ bất năng khuất" này được nhà thơ dân tộc Phùng Quán viết thành bài thơ để dạy cho những người cầm bút không được phép "uốn cong ngòi bút" vì bất cứ một lý do hay thế lực nào:

Người làm xiếc đi trên giây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đâu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Đây chính là những nét đặc thù của nền văn hóa tam giáo cổ truyền của dân tộc mà cô Hồ Thị Lạc Hồng và Giáo-sự Hoàng Tuệ đã tiếp nhận được qua truyền thống dân tộc và nếp sống dân chủ tự do ở Hoa Kỳ ngày nay (trường hợp cô Hồ Thị Lạc Hồng).

Là độc giả, đồng ý hay không đồng ý với những quan điểm và nhận xét của hai tác giả trên đây, chúng ta cũng phải tỏ ra là những người có tư cách hay có học nếu không muốn nói là trí thức. Nếu không đồng ý haycó ý kiến phản bác một điều gì trong lập luận của tác giả thì chúng ta phải đưa ra một lập luận khác được chứng minh bằng những dữ kiện (facts) có giá trị làm bằng chứng cùng với những lời lẽ tranh biện hợp lý hợp tình để đánh đổ lập luận của đối phương. Có như vậy thì mới xứng đáng là người trí thức. Nên nhớ cho rằng "văn tức là người" và "con người có văn hóa là sản phẩm của nền đạo lý mà người đó đã được tiếp nhận". Không ai phủ nhận được cho "ngôn từ, hành động, tư cách và văn phong của một cá nhân thuộc một giai cấp xã hội (hay nhóm chủng tộc) sẽ được người đời coi như là những nét đặc thù tiêu biểu cho cả giai cấp hay nhóm chủng tộc của cá nhân đó trong xã hội". Quan niệm này đã ăn sâu vào trí óc mọi người trong tất cả các giai tầng xã hội. Tương tự như vậy, những lời lẽ, phong cách ăn nói, việc làm, văn phong và cung cách xử thế của một nhà tu hành hay một người trí thức sẽ được người đời coi như là những nét đặc thù tiêu biểu cho tôn giáo hay đạo lý mà nhà tu hành hay người trí thức đó đã tiếp nhận và chịu ảnh hưởng.

Đọc xong bài viết "Ông Ngô Đình Diệm" của ông Đỗ Mười Một (làm nghề kéo xe ba gác) và bài viết "Gửi Giáo Sư Hoàng Tuệ…" của ông cựu Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên, vừa là tu sĩ Giatô giáo vừa là một nhà trí thức có bằng Tiến-sĩ thần học, chúng ta phải vô cùng ngạc nhiên về những ngôn từ, văn phong và phương cách trình bày quan điểm của hai tác giả này. Người viết xin miễn bàn đến bài viết của ông Đỗ Mười Một dù là ông ta có thái độ giận dữ, hung hãn và thiếu văn minh qua cung cách sử dụng những ngôn từ "không đẹp" cũng như đã sửa cả tên của tác giả từ "Hồ Thị Lạc Hồng" thành "Hồ Chí Lạc Lõng" và ghép họ Hồ của tác giả vào với họ "Hồ" của Bồ Tùng Linh với mục đích chụp mũ cho tác giả có liên hệ bà con họ hàng với ông Hồ Chí Minh để chửi rủa và miệt thị giòng họ Hồ là giòng họ chồn cáo. Người viết xin nhường phần nhận xét về tư cách của ông Đỗ Mười Một cho độc giả mà chỉ xin có một vài ý kiến về bài viết "Gửi Giáo Sư Hoàng Tuệ…." của Linh-mục Xuyên.

Là một nhà tu hành của Giáo Hội La Mã, lại có  bằng Tiến-sĩ thần học, tất nhiên ông Linh-mục được mọi người ở trên hoàn vũ này coi như là tiêu biểu cho nền đạo lý Gia Tô, nhất là khi ông ta lại viết bài phản bác lập luận của Giáo-sư Hoàng Tuệ để bênh vực và suy tôn ông Cố Đạo Alexandre de Rhodes, một vị thánh tổ truyền giáo của Giáo Hội La Mã đến Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ 17. Bài viết của Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên là một bài viết nhằm để phản bác những lập luận trong bài viết của Giáo-sư Hoàng Tuệ. Cả hai đều là những người trí thức, mỗi người lại tiêu biểu cho một nền đạo lý khác nhau và tranh đấu cho một lập trường riêng của mình. Ông Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên là hiện thân tiêu biểu cho nền đạo lý Gia-tô và tranh đấu cho quyền lợi của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican. Giáo Sư Hoàng Tuệ là hiện thân tiêu biểu cho nền đạo lý Khổng Mạnh và tranh đấu cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một dân tộc nạn nhân, đã từng quằn quại dưới ách thống trị bạo tàn của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp-Vatican mà ông cố đạo Alexander de Rhodes là người có công lớn đưa đến việc hai đế quốc này đem quân đến tiến chiếm và thống trị Việt Nam (6).

Vấn đề đặt ra là nếu không đồng ý về những dữ kiện lịch sử, quan điểm và nhận xét hay phê bình do giáo-sư Hoàng Tuệ đưa ra trong bài viết của ông Giáo-sư Tuệ thì Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên cứ việc phản bác bằng cách đưa ra những dữ kiện lịch sử và lý luận để phản bác và đánh đổ những lập luận của Giáo-sư Tuệ. Tại sao Linh-mục Xuyên lại không làm như vậy? Tại sao ông lại phải dùng đến 14 lần từ "ngu xuẩn và ngu dốt", 4 lần "một quái thai" để sỉ vả giao-sư Hoàng Tuệ?

Tìm hiểu nguyên nhân tại sao ông ta lại có thái độ giận dữ, hung hãnsử dụng ngôn từ mang nặng tính cách "đá cá lăn dưa" như vậy, chúng tôi thấy rằng ông đuối lý khi tranh luận với Giáo-sư Tuệ nhằm chạy tội cho ông cố đạo giả danh làm nhà truyền giao để thi hành điệp vụ tại Đông Dương. Sự kiện đuối lý của Linh-mục Xuyên đã lòi ra cho mọi người thấy vì rằng:

1.- Linh-mục Xuyên không dám ghi lại toàn bộ câu văn của Thomazi viết trong cuốn "Cuộc Xâm Chiếm Đông Dương" (La Conquête de l’Indochine, Payot, Paris, 1934, page 13) trong bài viết của ông, mà chỉ nói lướt qua rằng: "Người ta dùng câu văn này "để chụp mũ cho Đắc Lộ đã có mưu đồ xúi người Pháp xâm chiếm nước Việt Nam". Rồi Linh-mục Xuyên lại bảo người ta "thi nhau lập lại luận điều vu khống này". Phải chăng câu văn đó của Thomazi nói về thành tích hoạt động tình báo của ông cố đạo de Rhodes cho nên Linh-mục Xuyên mới không dám viết toàn bộ câu văn đó ra? Có thể Linh-mục Xuyên cũng biết rằng nếu ông viết nguyên văn câu văn đó ra thì độc giả sẽ nhìn thấy rõ chứng cớ hiển nhiên về tội ác xúi người Pháp xâm chiếm nước Việt Nam của Linh-mục Alexandre de Rhodes. Vì thế mà Linh-mục Xuyên mới không dám viết toàn bộ câu văn của Thomazi ra. Xin nói nhỏ cho Linh-mục Xuyên biết "sự thật lịch sử là sự thật lịch sử". Sự kiện ông Linh-mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam để thực thi điệp vụ tại Đông Dương và xúi giục chính quyền Pháp trong thời vua Louis XIV (1638-1715) mang quân đi đánh chiếm Việt Nam là một sự thật lịch sử. Đã là một sự thật lịch sử thì không phải chỉ có một mình sử gia Thomazi ghi vào trong cuốn La Conquête de l’Indochine, mà còn nhiều sử gia khác cũng ghi vào tác phẩm lịch sử của họ, trong đó có nhà viết sử Avro Manhattan. Đây là điều mà những người Gia-tô cuồng tín vì quá thiển cận nên mới không nhìn ra được. Trong cuốn Vietnam, Why Did We Go? (Chick, Chino (California), 1984, page 139), giáo sĩ Avro Mannhattan nói khá rõ về thành tích hoạt động gián điệp của nhà truyền giáo này mà chúng tôi đã ghi rõ trong Chương 13. Đây là một điểm đuối lý của Linh-mục Xuyên. Phải chăng câu văn đó của Thomazi nói về thành tích hoạt động tình báo của ông cố đạo de Rhodes cho nên Linh-mục Xuyên mới không dám viết nguyên văn câu văn đó ra?

2.- Nói về định nghĩa chữ soldat, ông phản bác Giáo-sư Hoàng Tuệ sử dụng từ "binh lính", và đòi phải sử dụng từ "chiến sĩ" bằng cách trưng ra mấy cuốn từ điển xuất bản về sau, gần đây hơn. Linh-mục Xuyên bảo "Giáo-sư (Tuệ lùi lại nửa thế kỷ khi chỉ dịch theo Trương Vĩnh Ký mà không theo từ điển mới nhất 1981". Vấn đề xin đặt ra với ông Linh-mục Xuyên, bản văn của ông cố đạo Alexandre de Rhodes viết vào giữa thế 17, tất nhiên cái nghĩa chữ soldat phải được dùng vào thời điểm nào gần nhất với thời điểm khi ông giáo sĩ Rhodes viết bản văn đó thì mới chính xác hơn chứ. Tại sao ông lại cho rằng cái nghĩa nào càng xa thời điểm với thời điểm viết bản văn này thì mới đúng hơn và đòi Giáo-sư Hoàng Tuệ phải làm như vậy? Thật là vô ly. Người viết cảm thấy vô cùng ngạc nhiên là tại sao Linh-mục Xuyên có bằng Tiến-sĩ thần học mà lại lý luận một các ngớ ngẩn như vậy? Đây là một cái đuối ly khác của ông do hậu quả của bao nhiêu năm trường bị nhồi sọ mà không được học tại những trường học áp dụng chính sách giáo dục khai phóng, không quen với việc sử dụng lý trí để phân tách các sự kiện. Vì vậy cho nên ông ta mới không nhìn thấy cái lối lý luận vô lý và ngược đời của ông ta.

Ngoài việc đuối lý trên đây, ông cựu Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên còn để lòi cái dốt lịch sử và thiếu khả năng thông minh để lý luận cho nên ông ta mới viết:

"Mà thực ra mưu đồ xâm chiếm (Việt Nam) chỉ xẩy ra hai thế kỷ sau, nghĩa là vào thế` kỷ 19 mà thôi. Như các đồng sự của giáo sư vào năm 1964, giáo sư lại có mưu tính chụp mũ cho Đắc Lộ…"

(Xin xem lời giải thích mưu đồ xâm chiếm Việt Nam của Giáo Hội La Mã và hoạt động tình báo Linh-mục Alexander de Rhodes ở Chương 7 trong tập sách này).

Vì đuối lý và dốt lịch sử, cựu Linh-mục Xuyên mới có thái độ hung hăng và giận dữ để rồi tuôn ra những ngôn từ "vô giáo dục" và hành động hung hãn như là một tên "côn đồ văn hóa" làm công viêc của một tên "đao phủ văn chương" thay thế cho những con rắn độc tòa án dị giáo của Giáo Hội trong thời tiền Cách Mạng Pháp 1789. Thật là không ngờ! Ngôn từ và văn phong của một Linh-mục Giatô, một người có bằng Tiến-sĩ thần học mà lại tồi tệ gấp ngàn lần ông Đỗ Mười Một, một người làm nghề kéo xe ba gác. Ngôn từ và văn phong của hai ông Đỗ Mười Một và Linh-mục Xuyên cho chúng ta thấy họ là những người cùng học một loại sách giáo khoa "Phép Giảng Tám Ngày" của giáo sĩ Alexander de Rhodes và cùng là sản phẩm của cùng một nền đạo lý. Dĩ nhiên là ông cựu Linh-mục Xuyên có bằng tiến sĩ thần học tất nhiên là thấm nhuần đạo lý Thiên La Đắc Lộ nhiều hơn và sâu đậm hơn bất kỳ người nào khác. Thì ra trong đám những người cuồng tín viết văn này, chức tước, địa vị và học vị càng cao thì càng mang nặng tính cách "đá cá lăn dưa" nhiều hơn. Chả trách nào ông Nguyễn Kha bảo rằng ông cựu Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên sử dụng loại "văn chương chợ cá" (7). Đây cũng là những nét độc đáo của nền đạo lý Thiên La Đắc Lộ hay đạo lý Gia Tô du nhập vào Việt Nam. Những con rắn độc tòa án dị giáo của Giáo Hội La Mã đã được cuốn Phép Giảng Tám Ngày của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và cuốn Kinh Nhựt Khóa của Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn in năm 1971 biến hóa thành những tên "côn đồ văn hóa" và "đao phủ văn chương" để tiếp tục gieo tai giáng họa cho những người khác tôn giáo, khác chính kiến với họ mà ngày xưa họ thường gán cho là "tà đạo", "phù thủy" và "chống Chúa".

Trước đây, trong cuốn VNĐNCHTT 1954-1963, chúng tôi đã dùng tới cả 60 trang giấy nói về tệ nạn này trong phần "Khổ Nạn Của Những Người Viết Văn Chân Chính". Nhưng tất cả chỉ nói về những khổ nạn do bạo lực của những kẻ nắm quyền chính trị và của một số tín đồ của một tôn giáo vì cuồng tín quá hóa thành hung bạo và ngu xuẩn mới tính đến việc khủng bố những người viết văn có quan niệm hay tư tưởng chính trị khác với quan niệm và tư tưởng chính trị của họ. Trong Phần IV của tập sách này, hai chương 13 và 14, chúng tôi có chủ ý đưa ra khía cạnh đạo lý để nhắc nhở cho những người có hành động được coi như là "côn đồ văn hóa" và "đao phủ văn chương" nhằm để nhắc nhở cho họ phải nhớ rằng trong một xã hội văn minh của thời đai vi tính và tin học ngày nay, dù sao thì trước mắt mọi người, họ được coi như là những người tiêu biểu cho cái tôn giáo mà họ đang sùng kính và cao rao với thiên hạ. Hy vọng làm như vậy thì lương tâm họ sống lại mà nhìn ra để biết thế nào là phải, thế nào là trái, thế nào là ý Chúa hầu có thể nhận ra được những việc làm sai trái đầy tội ác của Giáo Hội La Mã. Hy vọng làm như thì họ (những người Gia-tô cuồng tín) mới có thể nhìn ra Giáo Hội chỉ là một tổ chức lừa bịp tiếm danh Chúa, tiếm danh Thượng Đế để theo đưổi chính sách đế quốc với tham vọng nô lệ hóa nhân loại mà chính họ là những nạn nhân trước hết.

Thực ra, bộ máy điều khiển những tên "đao phủ văn chương" và " côn đồ văn hóa" đã hoạt động để thay thế cho những con rắn độc tòa án Giáo Hội khá lâu rồi. Chúng ta có thể nhìn thấy sự kiện này rõ nhất qua những văn phẩm của những người Gia-tô viết ra nhằm để vu khống và phỉ báng cụ Đỗ Mậu từ khi cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi được phát hành vào cuối năm 1986. Kể từ đó, tất cả bọn "côn đồ văn hóa" và "đao phủ văn chương" này được huy động làm việc thay thế cho những con những rắn độc tòa án dị giáo trong thời Trung Cổ. Có một điều mà bọn cuồng nô vô tô quốc này không biết là bản thân của chúng đã bị bịt mắt giống như những con ngựa dùng để kéo xe trong thành phố, cho nên chúng chỉ biết phát thanh (viết ra) theo tần số mà cái thế lực mệnh danh là thần thánh chỉ đạo của chúng đã nhấn nút. Chính vì thế mà chúng không thể nào đưa ra được những dữ kiện lịch sử để làm chất liệu cho những lý luận phản bác lại những luận cứ của cụ Đỗ Mậu đã đưa ra trong cuốn VNMLQHT (Xin xem lại Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Toàn Thư 1954-1963, tư xuất bản, 1999, Chương 10, trang 171-210). Vì bị bí hay đuối lý như vậy, chúng phải quay ra bới móc đời tư, đem những chuyện cá nhân không ăn nhập gì với đề tài, để bêu riếu tác giả bằng những ngôn từ của những phường "đá cá lăn dưa" để khỏa lấp cái thế đuối lý của họ, giống như Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên và Đỗ Mười Một đã sử dụng để sỉ vả Giáo-sư Hoàng Tuệ và cô Hồ Thị Lạc Hồng như chúng ta đã thấy trên đây trong tập sách này.

Những lập luận đưa ra trong cuốn VNMLQHT của cụ Đỗ Mậu đều có những dữ kiện lịch sử để chứng minh những việc làm bất chính của Giáo Hội La Mã và của chính quyền Ngô Đình Diệm. Sự kiện này đã làm cho những người muốn bênh vực và bào chữa cho bọn tội đồ này rơi vào tình trạng lúng túng và đuối lý. Đáng lý ra, những người Gia-tô viết bài và viết sách để đả phá những lập luận của cụ Đỗ Mậu phải hiểu biết lịch sử của Giáo Hội La Mã, phải hiểu biết lịch sử Âu Châu trong giai đoạn từ khi Hoàng Đế Constantine (280-337) liên kết với Giáo Chủ (sau này gọi là Giáo Hoàng) Silvester I (314-335) cho đến năm 1517 khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) công bố 95 điều nói về những việc làm bất chính của Giáo Hội và cần phải sửa đổi, phải hiểu rõ nguyên nhân tại sao Cách Mạng Pháp 1789 bùng nổ, rồi tịch thu tài sản của Giáo Hội, phải biết nguyên nhân tại sao mà nhân dân Pháp lại gọi các ông tu sĩ của Giáo Hội là bọn "quạ đen (les corbeaux noirs)", phải biết tại sao mà chính quyền Pháp đã ban hành hiến chương với những quy chế cho bọn "quạ đen" và bắt họ phải tuyên thệ trung thành với chính quyền cách mạng rồi mới được hành nghề thày cúng. Hơn nữa, khi muốn tranh luận một đề tài như vậy, họ phải đọc và thấu hiểu những sách sử nói về sự cấu kết giữa Giáo Hội La Mã và các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp trong các cuộc viễn chinh đánh chiếm các vùng đất ở ngoài Âu châu để làm thuộc địa khai thác và cưỡng bách các dân tộc nạn nhân theo đạo, v.v...

Tiếc rằng, họ đã chẳng bao giờ ngó con mắt đến tất cả những tài liệu trên đây cả. Tại sao lại như vậy? Lý do là ho đã bị nhồi sọ là phải tuyệt đối nghe lời các đấng bề trên của họ. Giáo Hội đã cấm, không cho họ đọc cách sách sử đó. Họ đã thành "những con người máy", hay những người mang căn bệnh "nghiện đạo Vatican". Một khi đã thành những người mang chứng bệnh "nghiện đạo Vatican" thì tất nhiên họ bị dị ứng đối với những sách sử đó. Nếu đọc, họ sẽ bị choáng váng mặt mày cho nên không tiếp thu được gì cả. Trong tình như vậy, mà lại lao vào việc tranh luận những đề tài lịch sử có liên hệ đến những việc làm bất chính và bạo ngược của Giáo Hội và của các chính quyền tay sai của Giáo Hội mà cái đầu của họ không những "đặc cán mai" (đặc sệt) mà lại còn mang khuyết tật thì bị đuối lý là cái chắc.

Không phải chỉ có cụ Đỗ Mậu mới là nạn nhân của những con rắn độc tòa án dị giáo đã lột xác biến thành những bọn "côn đồ" và "đao phủ" này. Nếu chúng ta chịu khó theo dõi báo chí và các đài truyền thanh do những tín đồ của Giáo Hội điều hành thì sẽ thấy những người như cụ Trần Văn Kha, sử gia Vũ Ngự Chiêu, Giáo-sư Trần Chung Ngọc, cựu Tướng Nguyễn Chánh Thi, ông Lê Trọng Văn, ông Nguyễn Kha, ông Hoàng Hà Thanh, Giáo-sư Hoàng Tuệ, cô Hồ Thị Lạc Hồng, người viết (Nguyễn Mạnh Quang) và bất kỳ người cầm bút nào dám nói hay viết lên những sự thật lịch sử có liên hệ đến những việc làm bất chính của Giáo Hội và bạo quyền Ngô Đình Diệm cũng đều trở thành nạn nhân của những con rắn độc tòa án dị giáo đã hóa thân thành bọn "côn đồ văn hóa" này vào bất kỳ ngày giờ nào.

CHU THÍCH

  1. Phạm Hữu Tạo "Cái Khố Của Jesus Trên Thập Giáo". Đồng Dương Thời Báo. số 69, ngày 30-7-1998.
  2. Hồ Thị Lạc Hồng. "Phải Chăng Ông Ngô Đình Diệm là Người Yêu Nước Chân Chính". Saigon Nhỏ Số 52, ngày 12/12/1997.
  3. Đỗ Mười Một. "Ông Ngô Đình Diệm". Saigon Nhỏ Số 52, ngày 12/12/1997.
  4. Lê Trọng Văn. Pétrus Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập. San Diego, CA: Tự xuất bản, 1996, trang 137-139.
  5. Lê Trọng Văn, Sđd., trang 141-147.
  6. Avro Manhattan. Vietnam Why Did We Go?. Chino, CA: Chick Publications, 1984, trang 139.
  7. Nhiều tác giả. Phê Bình Về Những Bài Phê Bình cuốn Đối Thoại Với Giáo Hoàng. Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1997, trang 79. Trong trang 79 này, có lời nhận xét của ông Nguyễn Kha về bài viết của ông Giáo-sư Dương Ngọc Dũng, nguyên văn như sau: "Văn phong của giáo sư làm cho tôi nhới tới vài câu nói "thời danh" của một số người:

1.- Ngươi không làm sáng danh Chúa, Chúa sẽ trét phân và mặt ngươi: Kinh thánh đã dẫn.

2.- Giáo sĩ Alexandre de Rhodes gọi vị sáng lập tôn giáo khác bằng "thằng" và đòi chém cho ngã: Cuốn Phép Giảng Tám Ngày, trang 83.

3.- Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) coi dân Do Thái ngang hàng với súc vật (beast): The Pope and The Jews in the Middle Ages.

4.- Giáo Hoàng đương kim John Paul II gọi những người Tin Lành là những con chó sói: Tuần Báo Newsweek, 2-12-1996.

5.- Tiến sĩ Thần-học Nguyễn Khắc Xuyên gọi giáo sư Hoàng Tuệ ngu, dốt đến 15 lần trong bài viết "Gởi Giáo-sư Hoàng Tuệ, Bàn Về Chữ Quốc Ngữ Trên Tờ Tuổi Trẻ, Ngay nay, Texas, 1993.

6.- Giáo-sư Dương Ngọc Dũng chê bai đủ hạng người: dốt, lòi cái dốt, ngu, ngiu dốt.

Thật là "Like father like son" (Cha nào con vậy), một loại ngôn ngữ và tâm linh thường được thấy trong chợ cá một thời văn hóa sơ khai".

 

 

Home


©  Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........