Giao Điểm giới thiệu cùng quý
độc giả một cây bút thân hữu – anh Đào Viên, qua hai
bài viết: 1.Bao dung và cởi mở 2. Nhân Quả
Website: Gia Ðình Hàng Không
Dân Sự Hải Ngoại www.geocities.com/hkds75/index.html
BAO DUNG VÀ CỞI
MỞ
Ðào Viên
Buổi
chiều hôm ấy là ngày 4 tháng 8, năm 1991, tại một nhà thờ nhỏ, vùng
Vogelnzang, gần thủ đô Amsterdam nước Hòa Lan, cha A.M.A. Sammy, một tu sĩ công
giáo thuộc giòng tu Jesuites, giảng đạo cho một bầy con chiêên, khoảng ba
chục người, vừa đàn ông vừa đàn bà. Họ ngồi khoanh châân trong tư thế
bán già hay kiết già trêên những bồ đoàn trước mặt cha Sammy, lúc ấy
trong bộ trang phục đại lễ, đang đứng sau một cái bàn dài trải khăn
trắng, trêên đó đã để sẵn một cái bình nước nho rượu thánh và một
cáùái đĩa bánh ngọt làm bánh thánh. Cha chấm dứt buổi lễ bằng cââu
: "Nhâân danh đức Chúa Cha, đức Chúa Con và đức Chúa Thánh thần..."
và tất cả mọi người cùng nói: "Amen".
Ngày hôm ấy, ngoài bài giảng một
đoạn trích trong Thánh Kinh, cha Sammy còn cho một thời pháp bình giảng một
cââu chuyện nổi tiếng của nhà Thiền. Cha Sammy kể: Ngàøi Huệ Khả, sau
khi được tổ Bồ đề Ðạt Ma nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức
tại sao tâm mình vẫn không được yên trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến
trước Tổ, ngài bạch: "Bạch Hòa Thượng, tâm con chẳng an, xin Hòa Thượng
dạy cho phép an tâm". Tổ Ðạt Ma nhìn thẳng vào mắt Huệ Khả mà bảo
: "Ðem tâm ra ta an cho". Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm thì không
thấy, bèn bạch Tổ: "Con tìm tâm không được". Tổ bảo: "Ta
đã an tâm cho ngươi rồi". Ngay đấy, ngài Huệ Khả biết được đường
vào cửa Thiền(1).
Sammy không phải là một tu sĩõ
công giáo thông thường như nhiều tu sĩõ công giáo khác. Tất nhiên ông trước
hết đã phải là một nhà tu thấm nhuần giáo lý của Chúa Ky Tô sau nhiều
năm tu tập tại các tu viện kín của giòng Jesuites, nổi tiếng có nhiều vị
đạo hạnh cao và thông kim bác cổ. Nhưng ông cũng đã đến với Phật Giáo
với một tấm lòng cởi mở, ngưỡng mộ chân thật của một người đã
hiểu rõ tinh thần bác ái Thiên Chúa. Ông đã từng học Thiền với Thiền
Sư Koun Yamada, thuộc truyền thống Tào Ðộng ở Nhật Bản. Trở về châu
Âu, ông tiếp tục phục vụ cho Giáo Hội công giáo, nhưng cũng mở những
lớp dậy Thiền cho những ai muốn học. Trong những dịp như trên, ông cũng
giảng giải những triết lý cao siêu của Thiền Môn Ðại Thừa. Những triết
lý này, mới chỉ cách đây ba bốn trăm năm, cũng những tu sĩ công giáo
Jesuites như ông là các nhà truyền giáo Francis Xavier (1506-1552 được phong
thánh năm 1662), Matteo Ricci (1552-1610), Ippolito Desideri, coi như là lời lẽ của
Ma Quỷ.
Thời gian là ngày 10 tháng 4 năm
1999. Không gian là ngôi thánh đường công giáo có tiếng Saint Francis Xavier,
nằm ngay tại trung tâm Manhattan thành phố Nữu Ước, mang tên người tu sĩ
Jesuite đã được phong thánh nói trên. Cha Scott Brendan thong thả bước xuống
bục, từ từ đi đến chỗ ngồi của mình sát tường ngôi chánh điện nhà
thờ, sau khi đã giảng song bài giảng Taste and See , của James Moore, Jr.. Biết
đến lượt mình, người phụ giáo của cha Brendan đứng giậy, bước ra
trước bục, cất tiếng hát bài thánh ca Taste and see the goodness of the Lord.
Tiếng hát vang lên trong ngôi thánh đường. Hai họ tham dự lễ cưới ngồi
đông đủ phía dưới, cũng như cô dâu chú rể và bốn cô cậu phù dâu
phù rể ngồi phía trên, chăm chú nghe lời ca cao vút như để cảm nhận thêm
lời giảng của cha Scott Brendan.
Vừa khi chấm dứt bài hát, và người
phụ giáo thong thả bước về chỗ ngồi của mình, thì một bà cụ già Việt
Nam, đầu chít khăn nhung, mình mặc một áo choàng mầu khói hương khoác
ngoài lễ phục may bằng gấm đỏ, quần đen, chân đi hài đỏ, chậm chạp
đứng lên, ra khỏi chỗ ngồi, lọ mọ tiến về phía ban thờ, với sự
giúp đỡ của một người đàn bà trung niên. Hai người đó là bà và dì
của cô dâu, từ California lên Nữu Ước tham dự đám cưới cháu gái. Tất
cả mọi người trong giáo đường đều nín thở nhìn theo một bà cụ già
90 tuổi lê từng bước trên đôi chân run rẩy, bước lên mấy bực, để
tiến đến một ban thờ Phật đã được xắp đặt sẵn, với một bình
hoa nghìn vẻ rạng rỡ, cặp nến lung linh, hương trầm nghi ngút.. Một bức
tượng Phật ngồi trên toà sen, bằng gỗ mun, cao lớn, được đặt ngay giữa
ban thờ, làm tăng vẻ trang nghiêm của buổi lễ. Thời gian như ngưng lại,
nhường bước cho một kiếp nhân sinh đang chậm chạp ra khỏi cuộc đời.
Lên đến nơi, bà cụ quay lại nói
với cử tọa bằng một giọng tuy yếu nhưng rất rõng rạc. Ðại ý cụ
nói là hôm nay là ngày cưới của hai cháu, bà muốn tụng một phẩm kinh Cầu
An Phật Giáo và chúc cho hai cháu thật nhiều hạnh phúc. Người đàn bà
đi theo dịch lại sang Anh Ngữ cho cử tọa mà phần lớn là người Hoa KÏỳ.
Sau ba hồi chuông thánh thót, bà cụ bắt đầu tụng niệm. Khởi đầu là
bài Dâng Hương, rồi đến bài Tán Phật, bài Ðảnh Lễ. Tiếng mõ đều
đặn, thỉnh thoảng có chen lẫn tiếng chuông thánh thót, vang lên trong
ngôi Thánh Ðường im lắng. Gia đình nhà gái ngồi dưới cũng tụng nhịp
nhàng theo tiếng mõ gõ đều đặn. Khi sang đến bài Chú Ðại Bi và bài
Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh thì nhịp tụng kinh nhanh hẳn lên, tiếng mõ
vang lên hơn, như dục dã chúng sinh hãy mau mau nhìn sâu vào Tâm Phật có sẵn
trong mỗi người, rũ sạch mọi dục vọng, ra khỏi màn Vô Minh, để sớm
quay về bờ Giác. Phẩm kinh Cầu An được tụng song trong khoảng mươi mười
lăm phút, và bà cụ 90 tuổi lại lọ mọ trở về chỗ ngồi. Lễ cưới lại
được tiếp tục với cha Brendan lên gïiảng bản kinh The Beatitudes trong
sách Matthew.
Ðây là một đám cưới được tổ
chức theo nghi lễ Thiên Chúa giáo trong một nhà thờ Công giáo, chen lẫn với
truyền thống Phật giáo cho một đôi uyên ương mà Tân lang là một tín đồ
Công giáo thuần thành và Tân Giai nhân là một Phật tử chính thống (2).
Cũng như A.M.A Sammy, cha Scott Brendan
không phải là một tu sĩ Công Giáo thông thường. Cha có thể đã là một
người Thiên Chúa Giáo đã đạt đến cốt tủy của Thánh Linh Thiên Chúa
(the Holy Spirit) của tôn giáo này để trở thành một Truly Happy Christian như
Thầy Thích Nhất Hạnh đã nói trong cuốn Living Buddha, Living Christ (3) để
rồi có thể cảm thông được tinh thần Phật giáo trong một Phật tử như
cô dâu người Việt.
Dưới đây là một đoạn trích
khác trong cuốn Living Buddha, Living Christ của Thầy: Năm trước (tức là năm
1994, thầy Nhất Hạnh viết sách này năm 1995), tôi gặp một tu sĩ công
giáo tại Florence (Y¨ đại lợi). Ông ta ngỏ ý muốn học hỏi thêm về Phật
giáo. Tôi có nói với ông ta hãy chia sẻ với tôi điều ông ta hiểu biết
về Thánh Linh và được ông ta trả lời: "Thánh Linh là năng lượng mà
Thiên Chúa đã gửi cho chúng ta". Câu trả lời này đã làm cho tôi rất
sung sướng vì nó đã xác nhận điều tôi hiểu là con đường tốt nhất
để đi đến Chúa Ba Ngôi (the Trinity) là qua cửa Thánh Linh... Ðối với
tôi, sự Tỉnh Thức (trong đạo Phật) cũng tương tự như Thánh Linh. Cả
hai đều có thể làm cho con người hết khổ đau ...Ðến với hiểu biết
và tình thương, là làm cho hết khổ đau... Thánh Linh đã xuống với Chúa
Jesus như con bồ câu trắng, tràn ngập lòng Ngài và Ngài là hiện thân của
Thánh Linh. Ngài để tay vào đâu là khổ đau tan biến. Với Thánh Linh, khả
năng chữa lành mọi khổ đau của Ngài đã làm chuyển đổi lòng người
...Tôi có bảo người tu sĩ đó rằng tất cả chúng ta ai cũng có cái
nhâân Thánh Linh đó trong mỗi chúng ta. Cái nhân ấy là khả năng làm bớt
khổ đau, làm chuyển đổi, là lòng yêu thương mọi người. Khi chúng ta đạt
tới được cái nhân đó là chúng ta đạt tới được đức Chúa Cha và đức
Chúa Con rồi.
Thầy Nhất Hạnh cũng không phải
là một nhà tu hành Phật Giáo thông thường. Người đã đến với Thiên
Chúa giáo với một tinh thần hiểu biết sâu xa, một lòng từ bi hỉ xả rộng
lớn của một Thiền sư đã đạt tới một cảnh giác cao siêu của Phật
Ðạo để không còn phân biệt đối đãi . Thầy đã viết: Khi chúng ta đã
đạt tới được cái Tâm cao cả nhất trong chúng ta, thì chúng ta cũng đã
trở thành Phật, tâm hồn chan hòa Tinh Thần Thiên Chúa, và chúng ta trở
nên bao dung vô cùng, cởi mở vô cùng, với một hiểu biết sâu xa vô
cùng.
Những nhà tu hành trên đang làm một
công việc, trong một kích thước rất hạn hẹp - do đó kết quả rất
khiêm tốn - mà tất cả mọi người trong chúng ta đều mong mỏi: tìm hiểu
và chân thành kính trọng những giá trị của tôn giáo bạn để đi đến
sự hòa đồng tôn giáo. Tôn giáo, nếu quả đã là nguyên nhân của những
đối nghịch, nhiều khi đẫm máu, giữa các đoàn thể, các dân tộc trong
giòng lịch sử nhân loại, thì cũng đã từng là những động lực phát
triển nâng cao giá trị con người để tạo ra những nền văn minh rực rỡ
của loài người. Con người, sau bao nhiêu thế kỷ áp bức nhau, tàn sát
nhau nhân danh tôn giáo, đã trở nên khôn ngoan hơn để thấy rằng không thể
nhân danh bất cứ ai để áp đặt lòng tin của mình lên kẻ khác được và
các tôn giáo phải chung sống với nhau trong hòa bình.
Nếu nhìn sâu vào vấn đề, ta có
thể thấy rằng có hai loại nguyên nhâân đã gây ra những mâu thuẫn đối
nghịch giữa các tôn giáo. Loại nguyên nhân thứ nhất là do tính chất đa
dạng của các tôn giáo của loài người. Tôn giáo khác nhau, có những tín
lý khác nhau, từ đó những tập tục khác nhau, đưa đến những hệ thống
giá trị, văn hóa khác nhau. Loại nguyên nhân thứ hai phức tạp hơn vì có
liên quan tới những khía cạnh chính trị, kinh tế, và những khía cạnh
khác, được nẩy sinh ra khi tôn giáo được hình thành như một cơ cấu có
tổ chức, và sinh hoạt trong một môi trường chính trị, kinh tế, xã hội.
Ðể giải quyết những mââu thuẫn
giữa các tôn giáo vì loại nguyên nhân thứ nhất, điều phải làm là mở
lòng bao dung mà đón nhận khác biệt. Hãy nhìn những khác biệt với tinh
thần vô phân biệt trí : khác biệt bởi vì đó là một khác biệt, không
đồng ý, không bài bác, đơn giản và dễ dàng như vậy. Nếu không nhìn
thấy cái hay cái đẹp để thưởng thức, để ngưỡng mộ hay ca tụng thì
cũng không nên cố tình tìm ra những cái dở cái xấu để chê bai, để rè
bỉu hay nói xấu.
Nếu ta nhìn rộng rãi hơn, xa hơn
ra khỏi cái cộng đồng bé nhỏ của người Việt di cư - mà trong đó mâu
thuẫn tôn giáo vẫn còn âm ỉ, tàn dư của một định mệnh lịch sử khi
người Pháp áp đặt ách thống trị cả gần 100 năm lên dân ta và hơn 20
năm nội chiến tàn khốc - người ta đã thấy nhiều khích lệ. Mọi người
vẫn còn nhớ những cố gắng của Ngài Dalai Lama qua những cuộc tiếp súc
với các vị lãnh đạo tôn giáo thế giới tại Rome (Y¨), Lourdes (Pháp), tại
Jerusalem (Do Thái) và Thổ Nhĩ Kỳ. Hình ảnh một vị giáo chủ đơn giản
khiêm cung nhưng oai nghi đầy lòng Từ Bi Bác A¨i đã làm cả thế giới ngưỡng
mộ và đã khiến họ nhìn Phật Giáo với một nhãn quan khác hẳn thế kỷ
trước. Tư tưởng bao dung của thầy Nhất Hạnh trong cuốn Living Buddha,
Living Christ đã được giới Thiên Chúa Tin Lành rất tán thưởng (4). Thomas
Merton, một giáo sĩ Cơ đốc La Mã, người Hoa Kỳ, tu dòng khổ hạnh
Trappist, rất nổi tiếng như là người đã đem tư tưởng Thiền môn vào
giới Thiên Chúa giáo Hoa Kỳ, đã tích cực hoạt động để đem hai tôn
giáo (Thiên Chúa giáo và Phật giáo) lại gần nhau, nói chuyện với nhau.
Thomas Merton đã đi sang A¨ Châu, gặp các vị lãnh đạo Phật giáo như các
ngài Walpola Rahula (Tiểu Thừa) Chogyam Trumpa, Chatral Rinpoche, Dalai Lama, D.T.
Suzuki để làm công việc trên. Ảnh hưởng của Thomas Merton sau khi ông chết
(Bangkok, 1968) đã đưa đến một cuộc họp, mệnh danh Monastic Interreligious
Dialog do dòng Cơ Ðốc Benedictine tổ chức năm 1996 tại tu viện Gethsemani
(Kentucky), nơi T. Merton đã tu ngày trước. Cuộc gặp gỡ quy tụ trên 200 vị
thuộc các tôn giáo, môn pháái khác nhau Công giáo La Mã, Phật giáo Tây Tạng,
Thiền tông, Tịnh độ tông, Phật giáo Nguyên Thủy, từ ngoại quốc tói cũng
như ngay từ Hoa Kỳ (như các vị Joseph Golstein, Sharon Salzberg, Judith
Simmer-Brown, Norman Fisher...) đã đánh dấu một không khí cởi mở mới và một
thay đổi lớn lao trong suy tưởng của mọi người.
Trong những cuộc gặp gỡ trao đổi
một cách chân thành kinh nghiệm tín lý, giữa những người Thiên Chúa
giáo chân chính và người Phật tử thực sự, không ai thấy lòng tin sâu
xa của mình bị thương tổn hay mất mát, ngược lại có phần tăng trưởng
đằng khác. Robert E. Kennedy, giáo sĩ Jesuit, giáo sư Thần học, sang Nhật học
Thiền từ 1970, đã minh chứng trong cuốn Zen Spirit, Christian Spirit: The Place
of Zen in Christian Life Phật giáo và Thiên chúa giáo có thể soi sáng cho nhau
thế nào. Sylvia Boorstein, tiến sĩ Tâm Lý học, người Do Thái, học Thiền
Minh Sát, dạy Thiền cho người Do Thái, đã tin tưởng ở Do Thái giáo hơn,
khi cùng là một Phật tử ("I am a prayerful Jew because I am a Buddhist")
(5)
Ðối với những nguyên nhân loại
thứ hai gây nên những đối nghịch tôn giáo, có tính cách cơ chế
(institutional), vượt quá tầm tay cá nhân thì sự giải quyết khó khăn hơn
rất nhiều. Những nhà lãnh đạo tôn giáo cũng chỉ là một cơ phận - dù
có là cơ phận quyết định đi chăng nữa - của một tổ chức, một cơ
chế với rất nhiều quan hệ chằng chịt, bị ảnh hưởng bởi, hay chính
cũng gây ra, những biến động chính trị, kinh tế không lường trước
được. Các tôn giáo một khi đã được hình thành như một cơ chế, sẽ
không còn là một tôn giáo thuần khiết nữa. Những thông số chính trị,
kinh tế, những súc động vì lẽ sống quốc gia, dân tộc, nòi giống, mầu
da, những ngược đãi áp bức trong quá khứ, như được ghi trong những
trang sử nặng nghiệp báo loài người, đã đan vào da thịt của các cơ chế
tôn giáo, khiến cho việc tháo gỡ các đối nghịch trở nên khó khăn phức
tạp vô cùng. Thời đại của Thánh Chiến, của phong trào Thực dân tìm
Thuộc địa đi đôi với chính sách cưỡng bách tôn giáo với chiêu bài
khai hóa văn minh đã không còn nữa. Thế nhưng, âm hưởng của những áp bức,
chèn ép bất công trong quá khứ vẫn còn, những jihah chính trị đầy mùi
tôn giáo, những phiên tòa xử kẻ phản đạo, vẫn tiếp diễn xẩy ra tại
Trung Ðông, Phi Luật Tân, Nam Dương Quần đảo, và Bắc Phi. Mối hận thù
triền miên giữa người Palestine và dân Do Thái, bên ngoài là một vấn đề
chính trị nhưng trong lòng người dân hẳn phải có những mâu thuẫn tôn
giáo ghim sâu vào đã từ cả ngàn năm trước.
Những bậc thiện tri thức của thế
giới sẽ phải tìm ra lời giải cho bài toán rắc rối này. Một ý kiến
đưa ra là phải tổ chức xã hội trong đó có sự tách biệt rõ rệt giữa
các cơ chế chính quyền và các tổ chức tôn giáo. Hỗn hợp chính trị/tôn
giáo không phải là một điều tốt. Thế tục hóa các cơ chế quốc gia,
như được áp dụng tại một số quốc gia tân tiến trong đó có nhiều
truyền thống tôn giáo song hành, có thể gíúp nhiều trong việc tránh những
rắc rối vì bất đồng tín lý. Tất nhiên đây, chỉ là một phần của
bài toán. Người ta, nhất là các bậc lãnh đạo tôn giáo, còn phải làm
thêm nhiều nữa.
Nếu người ta tin vào sự khôn
ngoan sáng suốt sẵn có của loài người thì một ngày nào đó, không xa,
khi mà tinh thần bao dung tôn giáo, bàng bạc trong đạo Phật, khi mà tư tưởng
vượt biên giới tín ngưỡng của các ngài Dalai Lama, Thích Nhất Hạnh,
Thomas Merton, A.M.A Sammy, Scott Brendan và nhiều vị khác, được thấm nhuần
vào con người của những thế hệ sau, thì không những các mâu thuẫn tôn
giáo cơ thể tránh được mà các vết thương gây ra vì bất đồng tín lý
cũng sẽ được hàn gắn./.
Ðào Viên
- (Tháng 3, năm 2001)
- (1) The Awakening of the West - Stephen Batchlor 1994
- (2) Tiếng Hải Triều trong Giáo Ðường Im Lắng -
Hoa Sen số 38 (10/99)
- (3) When you are a truly happy Christian, you are also a
Buddhist; and vice versa. Living Buddha, Living Christ - T. Nhất Hạnh 1995
- (4) Christian Century số 113, Oct 1996 - Book Review- Leo
D. Lefebure
- (5) Thats Funny, You Dont Look Buddhist - Sylvia Boorstein
1995
Home | Top Page