-
Khóc
Cố Đại Tướng Dương Văn Minh
Hoành Linh Đỗ Mậu
Hôm nay, ngày 18 tháng chín năm 2001,
nhân đại lễ tưởng niệm cho cố Đại Tướng Dương Văn Minh tại chùa
Việt Nam, tôi được phép đến đây để khóc than thương tiếc một vị
anh hùng đã tạ thế. Vâng! Một vị anh hùng dân tộc, mà cũng là một bậc
đàn anh của tôi trong quân đội. Đó là cố đại tướng Dương Văn Minh.
Đại tướng Dương Văn Minh đã ra
người thiên cổ ngày 6-8-2001 tại miền Nam Cali.
Sự ra đi vĩnh viễn không chỉ là
một niềm đau riêng của gia đình đại tướng mà còn là một mất mát lớn
lao cho đại đa số người Việt trong cũng như ngoài nước.
Cuộc đời của đại tướng
Dương Văn Minh gắn liền với vận nước trong suốt nửa thế kỷ cận đại.
Những quyết định của đại tướng qua các mốc lịch sử: năm 1955, năm
1963 và cuối cùng năm 1975 đều xuất phát từ tấm lòng từ bi của một
người Việt Nam yêu thương đất nước quê hương, yêu thương đồng bào,
yêu thương chúng sinh. Lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt Nam
mãi mãi ghi ơn đại tướng và những đồng chí của ông.
Đó là một Thông Điệp của một
số trí thức thân cận với đại tướng gởi cho chiến hữu hải ngoại
để cùng nhau nguyện cầu cho người quá cố.
Riêng Hoành Linh Đỗ Mậu tôi tuy
không có lời thề Đào Viên Kết Nghĩa với cố đại tướng nhưng
cơ trời vận nước xui khiến nên ông và tôi trong cả ba mốc lịch sử
1955, 1963, 1975 đều có những liên hệ gắn bó, những cấu kết để cùng
nhau mưu đồ Đại Nghĩa giúp nước giúp đạo, giúp dân thoát vòng trầm
luân khổ nhục.
Năm 1955, đại úy Nguyễn Chánh Thi
và thiếu tá Đỗ Mậu học bổ túc quân sự tại Hà-nội được chuyển về
Saigon để trường học giải tán.
Trong lúc chờ đợi nhà trường làm
lễ mãn khóa và Bộ Tổng Tham Mưu làm lệnh phân phối về các đơn vị; tôi
và Thi đều ăn ở nhà thiếu úy Nguyễn Hữu Hạnh, vốn là đàn em thân
tín của trung tá Dương Văn Minh. Ông Minh lúc bấy giờ là chỉ huy Phân Khu
Saigon-Chợlớn kiêm quân trấn trưởng, ông Minh là bạn thân của Đốc Phủ
Nguyễn Ngọc Thơ và đại tá bác sĩ Trần Văn Đỗ, giám đốc Quân Y, Bộ
Quốc Phòng. Cả ba ông đều là những nhân vật ngầm ủng hộ cho thủ tướng
Ngô Đình Diệm. Tôi nhờ Hạnh đưa đến gặp trung tá Minh để xin phép
ông và nhờ ông che chở tôi trong hoạt động tuyên truyền lôi kéo lớp sĩ
quan có tinh thần quốc gia tách rời khỏi hàng ngũ "Con Ó" tổ chức
hậu thuẫn tướng Nguyễn Văn Hinh. Hoạt động đó không ngờ cũng đóng
góp lợi ích cho cuộc hành quân chống Pháp và dẹp Bình Xuyên của đại tá
Dương Văn Minh mấy tháng về sau. Chiến thắng Bình Xuyên, ông Diệm được
Hoa Kỳ ủng hộ quyết liệt hơn, uy tín, tên tuổi ông Diệm vang lừng khắp
thế giới, Dương Văn Minh trở nên ỏAnh hùng Rừng Sắtõ và được thăng
lên thiều tướng. Còn tôi được Bộ Tổng Tham Mưu đưa về Nha Trang phụ
tá cho đại tá Nguyễn Ngọc Lễ, chỉ huy trưởng Phân Khu Duyên Hải.
Tuy nhiên, trong gần một năm tiếp
theo ông Minh về miền Tây, tôi ở bốn tỉnh phía nam Trung Việt, vẫn hoạt
động để củng cố địa vị cho ông Diệm. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, biết
tôi từ ngày chúng tôi găp nhau ở Paris, biết rõ những hoạt động của tôi
ủng hộ ông Diệm. Biết rõ những hoạt động của tôi ở miền nam Trung
Việt, nơi mà đảng Đại Việt của ông hoạt động nên sau khi đọc hồi
ký ỏViệt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôiõ, ông đã biên thư ca ngợi tôi với
lời lẽ vô cùng ưu ái được tôi ghi vào trang bìa sau, khi hồi ký được
tôi tái bản. Trong bức thư dài của ông, ông xác nhận tôi là người đã
củng cố địa vị thủ tướng cho ông Diệm.
Nói về mốc lịch sử năm 1963, tức
là cuộc Cách Mạng 1.11.1963, tôi là một thành phần đắc lực nhưng vì
hoàn cảnh đặc biệt của tôi vả lại Nha An Ninh Quân Đội do tôi chỉ
huy, đa số nhân viên là Cần Lao Công Giáo nên tôi phải hành động rất kín
đáo, rất khôn khéo.
Khi cuộc tranh đấu của Phật giáo
lên đến cao điểm, khi nhìn thấy đa số tướng tá bắt đầu tỏ ra bất
mãn, nếu tôi đề nghị với ông Diệm Nhu bắt giam các tướng tá đang âm
mưu đảo chánh, đặc biệt là bốn tướng Minh, Đôn, Khánh, Khiêm thì tôi
được thưởng mọi mặt thì còn đâu Cách Mạng, còn đâu đảo chánh?
Lúc đầu dù đươc tướng Đôn giới
thiệu, nhưng tướng Minh vẫn dè dặt, nghi ngờ đến khi ông biết chắc chắn
nửa đêm tôi đến nhà tướng Đính dùng kế của Vương Tư Đồ, tướng
Minh mới tin vào quyết tâm lật đổ nhà Ngô của tôi để sau này trong Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng 12 người, ông chấp thuận việc đề cử tôi
làm ỏỦy viên chính trịõ mà ông là chủ tịch của Hội Đồng.
Với tư cách Chủ Tịch Hội Đồng
Cách Mạng ông đã đưa ra hai quyết định mà chỉ có thời gian và chánh
tình quốc tế mới chứng minh được ông là một lãnh tụ sáng suốt, biết
nhìn xa trông rộng. Đó là việc ông ra lệnh hạ sát hai ông Diệm Nhu và
quyết định hủy bỏ ỏQuốc sách ấp chiến lượcõ vì chương trình này
là những chủ trương vô cùng thâm độc. Anh em nhà Ngô và người Công
giáo Việt Nam lấy lý do chống Cộng sản để xây dựng chương trình, nhưng
mục đích thầm kín là để triệt hạ nền văn hóa dân tộc, xóa bỏ đạo
thờ cúng ông bà, xóa bỏ đời sống xã hội theo truyền thống cổ truyền
cha ông để lại, xóa bỏ tất cả để mở mang nước Chúa, để Công
giáo hoá miền Nam và đưa Ngô Đình Thục lên làm Hồng Y giáo chủ vv. . .
Nói về mốc lịch sử thứ ba là
Quốc Trưởng Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng đoàn quân chiến thắng của
Hànội ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì tôi không có một liên hệ chính trị
nào. Nhưng về phương diện tinh thần thì tôi với ông chịu chung số phận
nạn nhân của lịch sử và là tội đồ của khối Công giáo Cần Lao và nửa
khối phe phái, tay chân nhà Ngô. Nhóm người này, sau ngày 30-4-1975 di cư ra
hải ngoại được các nước Âu Mỹ cho định cư, được các tôn giáo địa
phương cùng gốc gác hết lòng yểm trợ, họ trở nên một lực lượng chính
trị nhất trí, hung hãn nuôi ý đồ trả thù thời thế. Về tôn giáo họ
tìm mọi cách, dù là phương tiện bất lương, trò hề để mua chuộc, để
dụ dỗ những người Lương nhẹ dạ bỏ nền tam giáo cổ truyền để chạy
theo Công Giáo La Mã hay Tin Lành.
Những công tác nổi bật nhất của
họ tại hải ngoại là phát động và lãnh đạo phong trào chống Cộng sản,
là tổ chức Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm, là thành lập Hội Đồng
Liên Tôn. Mục đích tối hậu của họ là làm bàn tay nối dài cho Vatican
đề lật đổ chế độ cầm quyền hiện nay tại Việt Nam, như Vatican đã
làm ở Ba Lan vv. . .
Nhờ nhiều thế lợi, họ có hậu
thuẫn, có mọi thứ truyền thông. Để cô lập mọi đối thủ, họ mở
chiến dịch bôi bẩn, hạ nhục, vu khống những vị lãnh đạo Phật giáo
đặc biệt là tướng Dương Văn Minh, Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn. Họ không
ngần ngại gán cho các vị đó là Cộng sản, là phản quốc, phản chủ,
phản thầy!
Ngoài ra cũng liên hệ tinh thần với
đại tướng Dương Văn Minh trong cái mốc thứ ba là việc tôi cho ra đời
hồi ký "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi", và "Tâm Thư Đỗ Mậu"
đề cập đến những tội ác của nhà Ngô và của giáo hội Công Giáo về
những hoạt động cứu dân cứu nước của chúng tôi. Sách được rất
nhiều độc giả, báo chí ca ngợi là sách để đời vv. . . Tên tuổi đại
tướng và tôi đã đi vào lịch sử, sống mãi với non sông. Nhưng than ôi!
Ngày nay huynh trưởng Dương Văn Minh đã từ giã cõi đời, mãi mãi ra đi
để lại biết bao thương tiếc cho mọi người!
Ô hô! Ôi thôi! Bác Dương thôi đã
thôi rồi, nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Âm dương đôi ngả, Bác về
cõi Phật, tôi còn chốn ta bà trần ai! Bác Dương ơi, Bác Dương ơi! Lệ
rơi giọt ngắn giọt dài, thương tiếc bác khóc hoài khôn nguôi! Bác Dương
ơi! Bác Dương ơi!
Khi còn giữa chốn trần ai, mặc
dù suốt mấy chục năm trời, hạng người cuồng tín vọng ngoại, mất gốc,
bôi đen lương tâm, bất chấp sự thật, dùng luận điệu kẻ côn đồ ngã
ba Ông Tạ, Ngã Ba Chú Ía, dùng chiến thuật xuyên tạc, vu khống, ngậm
máu phun người, múa gậy vườn hoang để nhục mạ chúng tôi. Nhưng với
thái độ quân tử, cao thượng, Bác vẫn im hơi lặng tiếng, không một lời
đối đáp, biện bạch, phân trần, Bác tin tưởng vào sự phê phán công
minh của lịch sử, của đồng bào mọi giới.
Thì đây, hôm nay, dưới bóng Phật
đài, vớI tấm lòng thành đến khóc Bác, đàn em ngậm ngùi kể lể với
Bác một số trong hàng ngàn lời lẽ tốt đẹp mà đồng bào mọi giới đã
dành cho cuốc cách mạng 1.11.1963 lật đổ chế độ bạo tàn cuả anh em
ông Diệm và hành động tuyên bố đầu hàng quân đội chiến thắng của
Bác tháng Tư năm 1975.
Đại tá Trần Văn Kha, một cựu
sĩ quan cao cấp, một cư sĩ Phật giáo đã từng chứng kiến đầy đủ nền
cai trị hà khắc, độc đoán 9 năm của nhà Ngô, chứng kiến đầy đủ diễn
tiến cuộc cách mạng 1.11.1963, lại là một học giả, một nhà viết sử,
một nhà nghiên cứu tôn giáo chính trị, đã viết nhiều tác phẩm nổi tiếng.
Trong buổi lễ kỷ niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức mỗi năm do chùa Việt
Nam của thầy Pháp Châu tổ chức dưới sự chủ tọa của Hòa thượng Thích
Mãn Giác, đại tá đọc thuyết trình về cuộc tự thiêu năm 1963, tuyên dương
các vị tướng đó là anh hùng vì không sợ chết dám hy sinh cho đại
nghĩa trước một nhà Ngô tàn bạo thâm độc.
Tuy nhiên buồn cười thay và chua
xót thay, đã rất lâu rồi từ năm 1975-1976 tại hải ngoại, chùa chiền chạy
theo Liên Tôn, chống Cộng hung hãn mà không chùa nào làm lễ tưởng niệm
hàng năm Bồ Tát Thích Quảng Đức, một vị thánh của Phật giáo Việt
Nam mà sự tự thiêu của Ngài đã làm rung động lương tâm đồng bào Việt
Nam và nhân loại mà cũng là ngọn lửa thiêng nung nấu tâm can những tướng
lãnh và quân đội của ông Diệm vùng lên làm cuộc cách mạng 1.11.1963 lật
đổ nhà Ngô.
Ký giả Mỹ Neil Sheehan, từng theo
dõi cuộc chiến tranh Việt Nam và nổi tiếng với hai tác phẩm đồ sộ
"The Pentagon Papers" và "A Bright Shinning Lie" đã đưa ra một
nhận xét sát thực tế để ca ngợi cuộc Đảo Chánh nhà Ngô ngày
1.11.1963. Ông viết: "Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt
Nam, dân chúng Saigon tự phát hoan hô binh sĩ Việt Nam Cọng Hòa. Các thiếu
nữ tặng hoa và soda, các ông bà già mang trà và đồ ăn tới các công
viên và trường học nơi có binh sĩ đóng. . ." Lời nhận xét của Neil
Sheehan còn hàm ý việc quân đội lật đổ nhà Ngô là hành động chính
nghĩa, là được lòng dân còn chống lại quân đội giải phóng của cụ Hồ
là sai lầm nếu không muốn nói là phản dân tộc, cho nên suốt 30 năm chiến
tranh quân đội miền Nam chết rất nhiều mà không được dân chúng hoan
hô. Quan điểm này cũng giống như của học giả Hồ Sĩ Khuê trong bài :
"Đầu Hàng" sau nầy.
Charlie Nguyễn tức Nguyễn Chấn
tín đồ Công giáo Bùi Chu Phát Diệm, cùng với thân phụ đều là cựu tu
sĩ. Cựu trung tá Thẩm phán Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Chấn mặc dù sau
tháng Tư năm 1975 đã bị đi cải tạo 9, 10 năm nhưng không căm thù chế độ
Cộng sản mà lại ca tụng cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, ca tụng cuộc
chiến thắng Điện Biên Phủ và hết lời tôn vinh cách mạng 1.11.1963,
trong tác phẩm "Công Giáo Bên Bờ Vực Thẳm", cuốn sách vào hàng
"Best Seller" và đang gây bàn tán sôi nổi trong cũng như ngoài nước.
Chỉ trích dẫn một đoạn ngắn sau đây cũng đủ thấy Nguyễn Chấn có một
kiến thức thâm sâu, một trình độ chính trị vững chắc và biểu lộ
phong cách trí thức của một người Việt Nam nặng lòng với tổ quốc, với
tình tự dân tộc, một tín đồ công giáo biết nhìn xa thấy rộng, biết
ai bạn ai thù :
"... Nhất là nếu không có cuộc
cách mạng 1.11.1963 thì Tổ Quốc Việt Nam có thể đã bị xóa bỏ vĩnh viễn
... Có nhận thức được điều này chúng ta mới cảm thầy hú hồn hú
vía vì dân tộc Việt Nam ta quả đã được cứu thoát khỏi đại họa diệt
vong trong đường tơ kẽ tóc vào ngày 1.11.1963..."
Huynh trưởng Dương Văn Minh ơi ! Những
phân tách, nhận định của trí thức Nguyễn Chấn còn giá trị gấp trăm
lần hơn tấm Bảo Quốc Huân Chương bằng vàng dành cho các chiến sĩ lật
đổ nhà Ngô vì đã chận đứng âm mưu Công giáo hóa Việt Nam, của
Vatican, của Hồng Y Francis Spellman và của giáo hội Công Giáo Việt Nam.
Trong thời Phật giáo tranh đấu
năm 1963, ngoài sự hy sinh của nhiều tăng ni, Phật tử, nam nữ sinh viên. .
. còn có sự tự vận của nhà văn và là nhà cách mạng Nhất Linh Nguyễn
Tường Tam mà báo chí Quốc Tế đã ví von là cái chết của ông cũng như
cái đinh nêm chặt chiếc hòm chôn vùi Ngô Đình Diệm.
Trước khi ra hầu tòa vì bị nhà
Ngô nghi ngờ dính dáng vào vụ đảo chánh hụt của Nhẩy Dù 11.11.1960,
ông viết lời trối trăn để lại hậu thế trước khi tự vận như sau:
"Đời tôi để lịch sử xử.
Tôi không chịu để ai xử cả. Sự việc đem các đảng phái quốc gia ra
xét xử là một trọng tội với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào
tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng
Đức đã tự thiêu để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự
do."
Nhà Ngô đã dùng mọi biện pháp độc
đoán để đồng bào và sinh viên trí thức không thể dự đám tang của
Nguyễn Tường Tam nhưng mỗi khi xe tang đi qua phố nào là dân chúng hai bên
phố tự động tháp tùng biến thành đám tang của ông thành một cuộc biểu
tình tuần hành vĩ đại ít thấy tại Saigon.
Chế độ Diệm vừa bị lật đổ
mấy ngày là ba nhà báo tên tuổi nhất tại Saigon lúc bầy giờ là các
ông Từ Chung, Chu Tử và học giả Hiếu Chân ra tuyên ngôn với lời lẽ rất
nặng nề "Mang danh là những kẻ cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân
Chủ. . . vậy mà trong thời gian vừa qua vì cơm áo, khiếp nhược, đốn hèn
chúng ta đã nhắm mắt làm ngơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội sự thật,
phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện
bất cứ lẽ gì để bào chữa, chúng ta cũng không thể chối cãi được tội
lỗi của chúng ta đối với đồng bào lịch sử. . . Cách mạng 1.11.1963
là cơ hội duy nhất để chúng ta thoát ra khỏi cảnh huống bồi bút, phi cầm
phi thú, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người đã tới. .
."
Một nhân sĩ miền Trung, một cán bộ
cao cấp lão thành của Việt Nam Quộc dân Đảng, cụ Lê Nguyên Long đã viết
trên tạp chí Khai Phóng (Los Angeles, California) bài : "Bất đắc dĩ khơi
lại đống tro tàn" có đoạn "Trúc Nam Sơn viết không hết tội
nhà Ngô, nước sông rửa không hết tội nhà Ngô."
Sở dĩ những nhà văn nhà cách mạng
trên đây đã phải dung thứ ngôn từ bất khoan dung để kết án nhà Ngô
vì họ thấy chính nhà Ngô và bè lũ đã làm cho miền Nam thất bại, chạy
ra Hải ngoại rồi mà vẫn múa may quay cuồng bênh vực nhà Ngô mà tổ chức
"Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm" là một chứng cớ.
Huynh trưởng ơi ! Chỉ vài lời
phê phán trên đây của những chứng nhân lịch sử cũng đủ chứng minh cuộc
lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm do chúng ta thực hiện là một biến cố
lịch sử trọn vẹn chính nghiã quốc gia rồi.
Bây giờ tôi xin bước qua những lời
phê phán vô cùng tốt đẹp đối với cuốc đầu hàng ngày 30 tháng tư
năm 1975 của cố đại tướng Dương Văn Minh.
Rất nhiều bài phân tách nghiên cứu
trên sách báo của nhiều nhà chính trị, nhiều sử gia, quân nhân, ký giả
vv. . . từ luật sư Phạm Kim Vinh, sử gia Nguyễn Khắc Ngữ, cựu quân nhân
Phạm Hữu Tạo, chủ nhiệm Đông Dương Thời Báo. . . đến các ký giả
ngoại quốc như ký giả Pháp Larteguy, ký giả Mỹ Marina Olivier vv... đều cùng
một luận điệu tuyên dương cố đại tướng là một người thương nước
thương dân mới chịu làm một bại tướng để đâu hàng đoàn quân chiến
thắng. Vào giờ phút chót của cuộc chiến ông đủ phương tiện để ra
đi bình yên nhưng ông chịu ở lại với quê hương với đồng bào để chịu
nhục tuyên bố đầu hàng, Đầu hàng để cuộc chiến huynh đệ tương tàn
30 năm khỏi kéo dài vô ích, đầu hàng để thành phố Sai gon Chợ lớn, một
hòn ngọc Viễn Đông, một thủ đô bảo tồn rất nhiều di tích, nhiều kỷ
niệm lịch sử của đất nước thân yêu khỏi trở thành Biển Lửa, để
miền Nam khỏi trở thành Biển Máu. Hỏi những kẻ bỏ chạy bằng cách
này cách khác đem theo vô số tiền bạc, ra hải ngoại còn to mồm chưởi
bới Dương Văn Minh: "Ai là người có công, ai có tội ?"弯p>
Dưới đây tôi chỉ đưa ra lời nhận
xét nghiêm túc và chân chính của vài nhân vật đặc biệt làm tiêu biểu.
Trước hết là học giả kiêm
chính trị gia Hố Sĩ Khuê. Đặc biệt vì ông từng là cố vấn chính trị
cho chính khách Ngô Đình Diệm từ 1947 đến 1955, trước khi ông Diệm làm
thủ tướng ngự trị tại dinh Độc Lập. Ông Hồ Sĩ Khuê từng là giáo sư
trường Providence nổi tiếng tại Huế, ngôi trường do giám mục Ngô Đình
Thục làm hiệu trưởng. Ông được ông Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn
quý mến tin tưởng. Ông từng ăn ở cận kề với ông Diệm tại Saigon từ
năm 1947 cho đến năm 1950 trước khi ông Diệm cùng ông Thục lên đường
xuất ngoại. Ông cộng tác với tờ báo Thời Cuộc nổi tiếng do Đinh Xuân
Tiếu làm chủ nhiệm và tạp chí Tinh Thần do nhóm bác sĩ Trần Văn Đỗ
chủ trương. Ông thường thay ông Diệm để tiếp các chính khách cũng như
đi thảo luận chính trị với các lãnh tụ Hòa Hảo, Cao Đài, nhóm chính
khách thân Pháp vv. . .
Năm 1954 khi ông Diệm đã có dấu
hiệu được Mỹ, Pháp, Bảo Đại và lẽ tất nhiên có cả thế lực
Vatican đưa về làm thủ tướng toàn quyền dân sự và quân sự, ông Hồ Sĩ
Khuê được mời tham dự cùng với tổ chức tay chân thân tín của nhà
Ngô vào ủy ban "Dự Thảo Kế Hoạch" để hướng dẫn chính trị
cho ông Diệm khi ông Diệm cầm quyền. Ông Khuê gặp tôi cùng họp trong ủy
ban đó dù khi đó tôi mới là đại úy. Cứ đọc tác phẩm nổi tiếng
"Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Mặt Trận Giải Phóng" của học giả
Hồ Sĩ Khuê đủ biết ý thức chính trị cao thâm của tác giả, đủ biết
giá trị lời phê phán của ông về họ Ngô, về thời cuộc, về Dương
Văn Minh, về Nguyễn Văn Thiệu và Khối Công Giáo Cần Lao như thế nào !
Về Dương Văn Minh ông Hồ Sĩ Khuê
dành riêng một bài rất dài tên là "Đầu Hàng" với nhiều nghiên
cứu sâu sắc và trung thực, tôi chỉ rút ngắn lại một đoạn như sau đây:
". . .Với những kẻ hô hào phục
hồi tinh thần Ngô Đình Diệm thì Dương Văn Minh, Đỗ Mậu thoát sao khỏi
là kẻ phản chủ phản thầy."
Nhưng đối với nhân dân miền Nam
trong đó có tôi (Hồ Sĩ Khuê) thì lại khác. Đối với một võ tướng
như Dương Văn Minh, không thuộc loại chạy trốn như Thiệu, Khiêm thì
"đầu hàng" bao giờ cũng là một ô nhục.
"Nhưng Dương Văn Minh đầu hàng
là để tránh một Biển Lửa cho thủ đô, hiên ngang dũng cảm như khi ông
cầm quân chiến thắng Rừng sát. Trong cuộc đầu hàng nầy người sống
ở miền Nam đã thương hại cụ Hương chỉ muốn làm kẻ sĩ, mà biết ơn
tướng Dương Văn Minh."
Hình như ông Dương Văn Minh đang sống
ở Pháp, Hồ Sĩ Khuê viết bài này để hướng về ông, trân trọng ngỏ một
lời khiêm tốn biết ơn ông.
Từ khi ông Diệm cầm quyền, ông
Khuê được các ông Nhu, Cẩn thiết tha mời vào Saigon tham dự chính phủ
để cận kề ông Diệm, cố vấn ông Diệm, nhưng ông Khuê từ chối vẫn
ở lại Huế tiếp tục nghề dậy học và viết báo. Có người hỏi ông
lý do tại sao lại bỏ một cơ hội làm quan? Ông trả lời "Vì ông Diệm
không theo lời khuyên nhủ của tôi, khi ra hải ngoại chẳng hạn, như đặt
một văn phòng chính trị ở Bangkok hay Hồng Kông mà lại đến sống tại
Mỹ rồi khi về nước mới mấy tháng làm thủ tướng mà đã lộ ra cung
cách một Quan Toàn Quyền Đông Dương, vẫn quan liêu, phong kiến, không quảng
giao, không chiêu hiền đãi sĩ, nên tôi không cộng tác." Sau tháng tư
năm 1975 ông ra ngoại quốc, không hoạt động gì, chỉ viết báo viết
sách cho qua ngày mà thôi.
Sau nhân vật đặc biệt Hồ Sĩ Khuê,
tôi muốn đề cập đến nhân vật đặc biệt thứ hai, đó là cựu trung
tá Nhẩy dù Bùi Đức Lạc, nghe nói đang sống tại San Jose. Đặc biệt vì
một cựu sĩ quan cấp tá của một đơn vị chiến đấu chống Cộng sản
lâu ngày như ông mà lại ca ngợi và biết ơn sự đầu hàng Cộng sản của
đại tướng Dương Văn Minh. Hai lập trường mâu thuẫn như nước với lửa.
Trong bài nghiên cứu công phu,
nghiêm túc dưới đề mục: "Tại sao Hoa Kỳ tham chiến rồi rút lui khỏi
Việt Nam?" Ông Bùi Đức Lạc đã đưa ra lời kết luận cảm động
nhưng sắc bén, Bài báo được đăng trên tờ Diễn Đàn và Saigon Nhỏ,
ông Lạc viết:
". . . Xin thay lời biện luận bằng
mẩu chuyện thân tình với những anh em còn đượm tình bằng hữu. . .
". . . Hoa Kỳ rút lui không phải
là phản bội đồng minh của mình. Cuộc chiếnViệt Nam đã chấm dứt và
chúng ta tạm kết luận được là Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam và rút
kui khỏi Việt Nam vì mục đích duy nhất là ngăn chặn không cho Cộng Sản
Trung Hoa tràn xuống Đông Nam Á.
"Hàng ngàn chữ NẾU đặt ra. Nếu
như chúng ta, các lực lượng quốc gia biết đoàn kết, không cấu xé nhau,
không thanh toán nhau, NẾU như chúng ta có lãnh tụ biết lấy quốc gia làm
trọng, NẾU như chúng ta có một hạ tầng cơ sở vững chắc, NẾU như chúng
ta không bị tham nhũng hoành hành làm tê liệt hậu phương cho đến tiền
tuyến... thì ngày nay chúng ta cũng như Nam hàn rồi. Không biết có đúng như
vậy không?
"Bạn ơi! Phải nhìn cho rõ từng
vấn đề một, đừng bao giờ pha trộn tình cảm vào việc xét đoán tình
hình nó mới trung thực được.
"Khi đại tướng Dương Văn
Minh đầu hàng Cộng Sản tại Saigon ngày 30 tháng Tư năm 1975, một số đông
thóa mạ ông là hèn nhát nhưng thử hỏi nếu ông cho lệnh tử chiến thì
Saigon sẽ tan nát, hàng chục ngàn người tan xác, biết bao nhiêu sinh linh
vô tội phải lìa đời thảm khốc để rồi nhận lãnh mối nhục như vậy.
Đoan quyết rằng không ai cứu chữa được nước cờ bí nầy.
"Tất cả lỗi lầm chung cuối
cùng trút lên đầu một người chúng ta có thấy bất công hay không? Xin
trao tặng đại tướng Dương Văn Minh một bông hồng danh dự của người
viết." Bùi Đức Lạc.
Huynh trưởng ơi !! Tôi chưa quen biết,
gặp gỡ ông Bùi Đức Lạc, lại nhờ kinh nghiệm dĩ vãng đấu tranh chính
trị cách mạng, đã từng là cha đẻ của khẩu hiệu "Huynh đệ chi
binh" từ năm 1955 được chỉ huy Phân Khu Duyên hải, hàng tuần mở những
cuộc học tập chính trị và văn hóa cho binh sĩ dưới quyền vv. . . từng
theo dõi hoạt động của Nha Chiến Tranh Tâm Lý, tôi thấy rằng tướng tá
quân đội quốc gia chống Cộng rất ít người có ý thức chính trị, có
ý thức thời cuộc, ít người nhìn được bí ẩn chính trị, bí ẩn lịch
sử, chỉ nặng về chiến công, đánh mau đánh mạnh, giết được nhiều
địch thì được gọi là tướng tài. Từ ngày ra hải ngoại tôi cũng đọc
được nhiều tài liệu nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng tôi
thấy bài nghiên cứu của cựu trung tá Bùi Đức Lạc thật sự có giá trị
cao. Điều đáng nói nhất là ông ta nhìn ra được cái hậu trường các biến
cố suốt 30 năm chiến tranh, biết được bộ mặt thật của miền Nam chống
Công, biết được thực chất của phe bạn cũng như phe thù của miền Nam.
Bài báo nầy đáng được ghi vào quân sử để hậu thế khỏi bị sách
báo của bọn cuồng tín, mất gốc lừa đảo.
Để đáp lại lời ca tụng và biết
ơn đại tướng Dương văn Minh, tôi xin thay mặt huynh trưởng đáp lại
ông Bùi Đức Lạc lời "ngưỡng mộ". Càng ngưỡng mộ hơn nữa là
trong khi đa số cựu binh sĩ, cựu công chức và cán bộ của các chế độ
cũ của miền Nam ra hải ngoại chống Cộng sản hung hãn, có nhiều người
còn nặng lời nhục mạ đại tướng Dương văn Minh thì ông Bùi Đức Lạc
dám lội ngược dòng dư luận viết lách với phong thái và lương tâm của
một con người yêu nước, sáng suốt, thức thời không sợ áp lực dư luận.
Nhân vật đặc biệt thứ ba là
Hoà Thượng Thích Mãn Giác, Đặc biệt trước hết là một cao tăng về Đạo,
một nhà văn hóa lớn, một giáo sư Đại Học của nước Việt Năm, sau nữa
ngài đã hiện diện với những chức vụ cao trong giáo hội suốt triều đại
nhà Ngô, suốt giai đoạn đấu tranh của Phật giáo và sau cách mạng
1.11.1963. Điểm đặc biệt là khi Ngài đại diện cho Phật giáo tại vùng
năm tỉnh Cao Nguyên, Ngài đã cùng với tướng Tôn Thất Đính, tư lệnh Quân
Khu Hai và đại biểu chính phủ trung ương đi quan sát những vụ lộng
hành của các linh mục và lính đạo trong các dinh điền...Tại hải ngoại
trong lúc những nhà sư khác hoạt động chính trị, lo chạy theo Liên Tôn
và lo làm tiền để xây chùa cho lớn thì Hòa thượng Mãn Giác chỉ lo Phật
sự, hàng năm làm lễ kỷ niệm cho các vị tôn sư đặc biệt tham dự, chủ
lễ buổi kỷ niệm Hòa Thượng Quảng Đức, một vị bồ tát, một vị
thánh mà suốt lịch sử Phật giáo lớn, chưa có một nhà sư nào hy sinh
cho dân tộc và Đạo Pháp như Ngài. Nhiều Phật tử có cảm tưởng nhiều
nhà sư ra hải ngoại vật chất quá dư thừa, nên không nhớ đến sự tủi
nhục, đau khổ của Phật giáo dưới thời Ngô Đình Diệm như Hòa Thượng
đã nhớ nữa.
Sự mất mát Đại tướng Dương
Văn Minh là một niềm đau lớn cho Phật giáo, cho dân tộc Việt Nam nên
Hòa Thượng Mãn Giác đã tỏ ra chua xót cảm xúc.
Trước cái tang của Đại tướng
chẳng những ông phúng điếu, đăng báo chia buồn tham dự đám tang, Hòa Thượng
còn nhắc lại lời của Hoà Thượng Thiện Hoa trước phút lâm chung:
"Phật giáo đã chịu ơn đại tướng Dương Văn Minh."
Trên báo chí, trong các tang lễ mà
Hòa Thượng thường đứng chủ lễ phát tang với những lời phát biểu
vô cùng xúc động, gây cảm xúc ngậm ngùi và làm cho quan khách hiện diện
không ai cầm được nước mắt:
Ngài tuyên bố: "Chúng tôi vô
cùng xúc động khi nhận được tin cựu đại tướng Dương Văn Minh đã từ
giã cõi trần. Đại tướng đã sống một cuốc đời xứng đáng và đủ
tài, ân phước, nhưng trong sâu thẳm của lòng chúng tôi vẫn mang nặng một
niềm biết ơn chưa trọn vẹn. Đại tướng cũng với các đồng sự thiết
cốt của mình đưa tay giải vây ngục tù cho ỏtăng ni Phật tử Việt Nam
vào năm 1963 lịch sử."
"Tưởng nhớ đại tướng cũng
là tưởng nhớ bước trầm luân của đất nước mà ở những giờ phút
nguy nan nhất đại tướng vẫn là người làm ơn cứu độ, che chở cho
sinh dân khỏi đắm sâu vào chết chóc.
"Thay mặt các thành viên cũ
trong Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất 1964 - 1976, đại diện Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam Hoa Kỳ và Tăng Ni Phật Tử, chúng tôi thành tâm chia buồn
cùng gia đình cố đại tướng, trước mất mát lớn lao nầy. Đồng nguyện
chư Phật tiếp dẫn chân linh cố đại tướng siêu sanh Phật địa."
Sa môn Thích Mãn Giác.
Thật là lời châu ngọc hàng hàng
gấm thêu ! Chúng tôi xin đảnh lễ Hòa Thượng.
* * *
Huynh trưởng Dương Văn Minh ơi !
Chỉ chừng nấy lời phê phán của
những bậc cao minh quảng bác cũng đủ là công trình một bức Hoành Phi Đại
Tự nạm vàng ghi vào lịch sử dân tộc, đánh tan mọi hiểu lầm xuyên tạc,
vu khống, mọi ân oán hận thù, đồng thời cũng là công trình của một bản
tuyên dưông sự nghiệp cứu dân và tấm lòng yêu thương tổ quốc của chúng
ta trong những giai đoạn cực kỳ phức tạp rối rắm, trong giai đoạn phân
ly, nội chiến mà ba cái mốc lịch sử 1955, 1963 và 1975 đã ghi lại.
Huynh trưởng ơi !
Một võ tướng mà phong cách sự
nghiệp được như huynh trưởng là sống làm tướng chết làm thần, nay
huynh trưởng đã lên cõi Niết Bàn thì không còn là "sinh vi tướng tử
vi thần nữa" mà đã là bước lên địa vị một Bồ Tát Dương Văn
Minh!
Hãy đợi đàn em với huynh trưởng
ơi !
Một nhà văn hóa xuất thân từ Viện
Đại Học Vạn hạnh đã viết trên tạp chí Phật giáo Việt Nam tại Los
Angeles rằng:
"Thời nhà Trần dũng tướng Phạm
Ngũ Lão đã bảo vệ giang sơn vạn năm với ngọn giáo cầm ngang:
- Tam triều sự nghiệp dư biên tại,
- Vạn cổ giang sơn nhất giáo hoành.
"Thì nay dũng tướng Đỗ Mậu
dùng ngọn bút trí tuệ tuyệt vời bảo vệ nền văn hoá truyền thống
dân tộc."
Giáo sư Trần Chung Ngọc mở đầu
cuốn khảo luận ỏCông Giáo Chính Sửõ bằng lời cảm tạ:
"Tác giả xin cảm tạ cụ
Hoành Linh Đỗ Mậu, lão tướng khai pháo giải hoặc Gia Tô và là nguồn cảm
hứng cho thế hệ đàn em trong tinh thần từ bi vô úy của người dân Việt."
Còn rất nhiều nhà văn hóa, giáo sư,
sử gia khác đã viết sách, viết báo hay gởi thư đến tận nhà ca ngợi,
khuyến khích đàn em cố gắng hoạt động thêm nữa để bảo tồn nền
văn hóa dân tộc, nền tam giáo và truyền thống đặc thù của Tổ Tiên
Ông Bà để lại mà bọn mất gốc, bọn cuồng tín đang tìm mọi cách để
chống phá, để triệt hạ, để chúng dụ dỗ những người Lương ngây thơ
chất phác theo đạo của chúng, cái đạo ác ôn côn đồ, cái đạo đạp
đổ lư hương bát nước, bàn thờ cha mẹ tổ tiên ông bà. Đàn em phải
chu toàn cái nhiệm vụ cao cả đó.
Tuy nhiên đàn em nay cũng đã 84 tuổi
rồi, huynh trưởng hãy đợi đàn em với. Một ngày đẹp trời nào đó, chốn
Non Bồng Nước Nhược, nơi Phật địa chúng ta sẽ gặp nhau, sẽ cười
vang lên, mừng đất nước quê hương ngày nay Độc lập, Thống Nhất,
Thanh Bình. Tôn giáo văn hoá dân tộc trăm hoa rộ nở huy hoàng. Cảnh trí
non sông tô bồi cẩm tú, kinh tế phồn vinh thịnh vượng, đồng bào lạc
nghiệp an cư, đại đa số quốc gia khắp thế giới năm châu bắt tay giao
thương kết bạn vv. . . và vv. .. chỉ năm bẩy năm nữa thôi Việt Nam ta sẽ
là Con Rồng Á Đông. Đàn em tin chắc như vậy !
Thành quả đó là nhờ lòng yêu nước
vô biên và ý chí chiến đấu không ngừng của người Việt dân tộc.
Ngàn năm đô hộ Tàu, trăm năm đô hộ Tây, ba mươi năm nội chiến từng
ngày, Việt Nam vẫn anh hùng một cõi, cả thế giới đều khâm phục.
Thành quả đó là nhờ tài lãnh đạo
của nhà cách mạng lão thành mà tạp chí Times của Hoa Kỳ liệt vào hàng
một trong hai mươi nhà lãnh đạo tài ba nhất thế giới.
Thành quả đó là nhờ tài điều
binh khiển tướng của vị nguyên soái cầm quân được Hội Đồng Hoàng
Gia Anh và 100 vị tướng lão thành khắp thế giới họp bầu lên một trong
muời Danh Tướng Đông Tây Kim Cổ.
Thành quả đó huynh trưởng và đàn
em cũng được hưởng một phần vinh dự nhờ sự đóng góp khiêm tốn của
chúng ta trong cuốc cách mạng 1.11.1963 và vụ đầu hàng ngày 30 tháng Tư
năm 1975 như ghi nhận của những chứng nhân lịch sử.
Hãy ngưỡng cao đầu lên Huynh trưởng
ơi ! Chúng ta có quyền tự hào là người Việt dân tộc, là con cháu quốc
tổ Hùng Vương !
Đến đây: Câu tâm sự lời khóc
than cũng đã dài dòng mà tuổi già giọt lệ như sương, đàn em mượn đôi
câu đối quê mùa mộc mạc phát xuất từ tấm lòng thành cuốn theo mùi trầm
hương nghi ngút trước Phật đài, nguyện cầu chân linh Huynh trưởng tiêu
diêu miền Cực lạc:
"Thu 63 trời Nam điên đảo, lập chí anh hùng, quyết
diệt Ngô triều dứt bạo trị, dân Nam tạc dạ nghìn thu.
Hạ 75 Đất
Việt ngửa nghiêng, chịu làm bại tướng để cứu Saigon khỏi Biển Lửa,
sử Việt ghi nhớ muôn đời."
Nam Mô A Di Đà Phật!
Hoành Linh Đỗ Mậu
Home