-
- Một cái nhìn đơn giản, bất cập về
văn hoá chính trị
- Hoa Kỳ và tri thức luận của K.
Popper
- (Trao đổi với anh Trực Ngôn)
Đỗ Minh Tuấn
Đọc bài viết công phu của anh Trực
Ngôn, tôi rất cảm kích trước thái độ tận tình dạy bảo của anh với
người trong nước như tôi, với một động cơ cao cả là chữờa những
cách nhìn cách hiểu đơn giản dẫn đến những quyết sách sai lầm do ngộ
nhận về một dân tộc, một đảng phái, một cá nhân. Càng đáng quý hơn,
khi một trí thức sống ở Châu Âu có một cái nhìn khẳng định mạnh mẽ
gần như một chiều với nền văn hoá chính trị của Hoa Kỳ, khác hẳn
truyền thống đối thoại và phê phán của những trí thức Âu Châu khác
mà tôi được biết.
Bài viết của anh đã cung cấp cho
tôi một số tri thức mới về ngoại giao và chính trị Hoa Kỳ, song rất
tiếc những tri thức ở lát cắt chính trị học, đạo đức học ấy lại
dường như chệch hướng, không thực hiện được chức năng đối thoại
với những vấn đề mà tôi đặt ra ở lắt cắt văn hoá học và tri thức
luận. Vì thế, bài víết của anh nhiều tính chất độc thoại tri thức
xen kẽ đối thoại lẻ vơí chủ nghĩa Mác Lê nin, ĐCSVN và chế độ trong
nước.
Những nhà thông thái thường rất
giống các ảo thuật gia, từ một câu văn, một câu thơ nhỏ bé như cái
đinh, họ có thể lôi ra một bầy chim, một quả bóng, một lá cờ... Những
người bình thường như chúng ta nếu muốn làm như họ, cùng lắm chỉ có
thể treo lên cái đinh đó những bộ áo quần tri thức có kích cỡ khác
nhau, từ quần áo lót, áo the đến complet, chẳng ăn nhập gì vớí nhau và
với cái đinh nhưng cũng có thể tự an ủi rằng mình không đơn giản như
người khác. Bài viết của anh Trực Ngôn gợi cho tôi thấy cái cảnh ngộ
những ý tứ của mình chỉ là cái đinh để anh treo vào đó những tri thức
về ngoại giao và chính trị Hoa Kỳ mà sự liệt kê có thể là bất tận
.
I- Những đối thoại và răn dạy lạc
đề
Lạc đề 1- Ám ảnh chính trị học.
Đánh đồng dân tộc và thể chế
Tôi viết:" Người tri thức
theo hình dung của Hoàng Ngọc Tuấn y hệt những người cá nhân chủ nghĩa
kiểu Mỹ mang ý chí người hùng làm theo ý mình hăm hở mở biên cương,
đi tiên phong khai phá các vùng đất mới, không vướng bận quá khứ, nghi
kỵ mọi thể chế cứng nhắc. Nguồn gốc của mô hình người trí thức
kiểu Mỹ này là do anh lấy chất liệu chủ yếu từ các ý tưởng của các
học giả Mỹ. Do đặc điểm lịch sử của mình, nước Mỹ luôn luôn hướng
tới tương lai, hướng tới cái mới, do đó họ có xu hướng đạp lên những
huyền thoại của các dân tộc khác, coi là những huyền thoại kiệt quệ
nếu những huyền thoại này cản đường họ hướng tới tương lai ."
Đây là một mệnh đề nhận diện
bản chất văn hoá của mẫu hình người trí thức do anh Hoàng Ngọc Tuấn
đưa ra, ngụ ý nói rằng mẫu hình người trí thức đó tương đồng với
mẫu hình người Mỹ vói những phẩm chất tâm lý văn hoá trong cấu trúc
nhân cách đặc thù. Nước Mỹ trong văn cảnh này phải hiểu là dân tộc
Mỹ. Thế nhưng, anh Trực Ngôn lại nhìn một vấn đề văn hoá học, dân tộc
học từ góc nhìn chính trị học, đánh đồng người Mỹ với chính quyền
Mỹ, hiểu cụm từ "mở biên cương" theo nghĩa đen là bành trướng
về đất đai và quân sự, từ đó thao thao bất tuyệt những tri thức về
chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Về những tri thức mà anh đưa ra tôi sẽ
bàn ở phần sau, nhưng cứ cho là những điều đó đúng đi, thì chính quyền
Mỹ đâu có thể là dân tộc Mỹ. Thứ nhất, chính quyền với đường lối
ngoạỳi giao của nó không phải lúc nào cũng trùng với ý dân và với
tâm lý văn hoá dân tộc. Thứ hai, các chính quyền khác nhau có chính sách
đối ngoại khác nhau. Thứ ba, tinh thần mở biên cương của người Mỹ không
phải chỉ thể hiện trong chính sách đối ngoại của nhà nước, mà thể
hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của toàn dân. Theo số liệu điều
tra ở Mỹ 55% số người được hỏi cho rằng hoat động của chính phủ
chủ yếu được định hướng bởi các nhóm lợi ích cơ bản, 39% cho rằng
chính phủ hành động vì lợi ích chung (1), 2,5 % tuyên bố rằng họ tự
hào hơn tất cả về thiết chế chính trị của nước mình, và cũng chỉ
có 2,5 % tự hào với chính sách đối ngoại của chính phủ Mỹ (2). Như vậy,
chính sách đối ngoại đâu có phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng và văn
hoá của người dân Mỹ.
Hiểu tinh thần mở biên cương
trong tâm lý dân tộc thành ra tham vọng lấn chiếm dất đai và chủ quyền
lãnh thổ của các thể chế chính trị, rồi lại đem chính sách đối ngoại
của chính quyền để chứng minh người Mỹ không có tham vọng - như vậy
là hai lần lạc đề mà thực chất là nhầm lẫn trói voi bỏ rọ, xử lý
một vấn đề văn hoá học bằng những thao tác chính trị học.
Lạc đề 2- Ám ảnh đạo đức học.
Đối thoại với vấn đề tưởng tượng
Trong dòng lập luận bác bỏ nhận
định trên của tôi, anh Trực Ngôn viết: "Phải chăng người Mỹ
"cá nhân chủ nghĩa"? Đúng, vì người Mỹ có một triết lý: cá
nhân có giàu có, phát triển thì dân tộc mới giàu, mới phát triển; dân
có giàu có, phát triển, thì nước mới mạnh. Tuy nhiên nên cẩn thận,
không thể vì đó mà cho rằng người Mỹ không có tinh thần tương thân, tương
trợ..." Rồi sau đó, anh say sưa dành cả ngàn chữ chứng minh người Mỹ
là có tinh thần tương thân tương ái, độ lương và hay làm từ thiện.
Tôi có nói rằng cá nhân chủ nghĩa là xấu đâu, tôi cũng có nói người
Mỹ không giàu lòng từ thiện và độ lượng đâu. Tự nhiên anh tạo ra một
vấn đề rồi lại đối thoại với vấn đề mình nghĩ ra đó, chẳng ăn
nhập gì đến những ý tưởng của tôi. Chẳng khác gì khi bàn vềợ những
ý của anh nói về nền dân chủ Mỹ, tôi nổi hứng phịa ra một vấn đề
khác rồi lôi anh theo. Đại loại, tôi có thể viết như anh viết thế này:
"Vâng , tôi thừa nhận nước Mỹ là tự do dân chủ, tuy nhiên nên cẩn
thận, đừng vì thế mà tưởng rằng nước A, B, C không dân chủ đâu
nhé". Sau đó dẫờn chứng tràng giang đại hải các tri thức chứng
minh nền dân chủ của các nước A, B, C (!)
Thực chất của sự lạc đề này
là xử lý một vấn đề dân tộc học, văn hoá học từ mặc cảm đạo
đức học. Lối mở rộng bất thường vô tiềạn khoáng hậỳu này rất
đặc trưng cho cách nói "chuyện khề khà của các bác nông dân".
Thỉnh thoảng anh còn dừng lại "mắng mỏ" ĐCSVN và trí thức Việt
Nam gợi lên hình ảnh bác nông dân đang nói chuyện say sưa với khách tự
nhiên dừng lại bắn một điếu thuốc lào và mắng con không cho lợn gà
ăn. Rất gần gũi, chân tình, nhưng nhiều khi làm khách khó xử phân vân
quá! Nhiều lúc nghe anh "trữ tình ngoại đề" tôi cứ băn khoăn:
Không biết mình là con người cụ thể bằng xương bằng thịt hay chỉ là
một cái bị đựng các khái niệm "Chủ nghĩa Mác-Lênin","ĐCSVN",
"Trí thức Việt Nam" thôi ?!
Lạc đề 3- Góc nhìn chính trị
xã hội với Popper và Gramsi
Tôi viết: "Đây là mô hình
trí thức giả định của Karl Popper. Mô hình trí thức này lấy sự phủ
định quá khứ, tạo nên một mô hình giả thuyết để tạo lập tri thức
mới ." Đây là một nhận xét từ góc độ tri thức luận. Nhưng anh Trực
Ngôn lại lôi Popper về địa hạt chính trị để nhìn nhận triết gia này
chủ yếu từ góc độ chính trị xã hội, trong quá trình lập luận lại bộc
lộ sự đơn giản hoá và ngộ nhận về lý thuyết của ông mà tôi sẽ
phân tích ở phần sau. Sau đó, anh còn lôi cả Gramsi vào cho vui, nói về
ông ta mất cả một trang mặc dù bài viết của tôi chẳng nói gì đến
Gramsi cả.
Lạc đề này có bản chất là xử
lý một vấn đề tri thức luận như một vấn đề chính trị xã hội,
nhìn một triết gia như một nhà hoạt động xã hội, thậm chí có lúc chỉ
như một đảng viên.
II- Hiểu và biết. Những ngộ nhận
và đơn giản hoá
Bây giờ, xin được bàn về những
ý kiến của anh xem thực chất nó chính xác phức tạp hơn ý kiến của
tôi hay là ngược lại
Trước hết, cần thống nhất với
nhau rằng, khi trình bày, tìm hiểu một học thuyết, một nền chính trị,
một kiểu văn hoá chính trị v.v... ta cần nắm được bản chất tư tưởng
văn hoá của nó, tinh thần và cấu trúc của nó, nếu không ta sẽ rơi vào
tình trạng lịệt kê vô bờ bến các hiện tượng bề ngoài, lấy cái thứ
yếu, cái bề nổi thay thế cái chính yếu, cái bề sâu, nhấn mạnh những
mặt có lợi cho luận điểm của mình làm sai lệch tinh thần nội dung học
thuyết, thậm chí cắt nghĩa sai các hiện tượng, các thể chế, các học
thuyết như sẽ phân tích dưới đây.
1- Sự vắng mặt chiến lược bá
chủ hoàn cầu của Z. Brzezinxki
Anh Trực Ngôn đưa ra nhiều tư liệu
về đường lối ngoại giao và thể chế chính trị Hoa Kỳ, nhưng dường
như các tư liệu này không được gọi ra từ nhu cầu của vấn đềợ, gắn
kết với nhau bởi một logic nền tảng trong chiều sâu mà hầu như chỉ là
những tri thức đồng dạng, quần tụ quanh một ý chí, một khát vọng, một
kết luận của người viết. Do đó, những tư liệu dẫn ra vừa thiếu vừa
thừa. Chẳng hạn, khi dẫn ra các trường phái ngoại giao của Hoa Kỳ để
chứng minh người Mỹ không có tinh thần hăm hở mở biên cương, anh Trực
Ngôn đã không dẫn Brzezinski, một người chống cộng khét tiếng đã đề
xuất đường lối ngoại giao bá chủ toàn cầu nhằm ngăn cản các cường
quốc Âu Á phát triển, để Mỹ trở thành siêu cường toàn cầu đầu tiên
và cũng có thể là siêu cường toàn cầạu cuối cùng. Trong cuốn
"Bàn cờ lớn" (3) Z. Brzezinxki đã đề xuất chiến lược mở biên
cương "triển khai sức mạnh Mỹ ra nước ngoài " để dọn đường
cho Mỹ tiến đến ngôi vị bá chủ hoàn cầu. Sau khi phân tích các đế quốc
thắng lợi nhờ gây ảnh hưởng văn hoá như La Mã, Trung Hoa, Anh, Pháp, Tay
Ban Nha, Hà Lan, Brzezinxki chỉ ra khả năng bá chủ toàn cầu của Mỹ vượt
trội tất cả các nước khác trên bốn lĩnh vực của quyền lực thế giới
là quân sự, kinh tế, công nghệ và văn hoá , trong đó "về văn hoá,
dù hơi thô thiển, văn hoá Mỹ vẫn có sức quyến rũ vô song "(...)
" Thống trị bằng văn hoá là một khía cạnh chưa được đánh giá
dúng về quyền lực toàn cầu của Mỹ. Dù người ta có đánh giá thế
nào về những giá trị thẩm mỹ của nó thì văn hoá đại chúng Mỹ cũng
có sức quyến rũ kỳ diệu, đặc biệt đối với thanh niên thế giới. Sức
hấp dẫn của nó có thể bắt nguồn từ chủ nghĩa khoái lạc của lối sống
mà nó truyền đạt, nhưng sức quyến rũ có tính toàn cầu của nó thì
không thể bác bỏ "(...)Việc Mỹ nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa
dân chủ chính trị và phát triển kinh tế đang chuyển đi một bứ c thông
điệp mang tư tưỏng đơn giản là: "thành công cá nhân đề cao quyền
tự do đồng thời tạo ra nhiều của cải". Sự hoà trộn có kết quả
chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa vị kỷ là sự kết hợp hiệu nghiệm
đầy sức thuyết phục... Đó là một học thuyết thu hút những kẻ năng
động, những kẻ có tham vọng và những kẻ có sức cạnh tranh
cao"(trang 34). Brzezĩnki đã bày mưu tính kế, cố vấn các đối sách với
các nước cụ thể, các đối thủ cụ thể để kìm nén các nước này, mở
rộng ảnh hưởng toàn diện của Mỹ trên toàn thế giới. Không chỉ
Brzezinxki, G.J. Inkenbery cũng vạch rõ thực chất của bá chủ toàn cầu:
"Bá chủ có nghĩa là nó được xoay quanh nước Mỹ và phản ánh những
cơ cấu chính trị, những nguyên tắc tổ chức kiểu Mỹ"(4)
Anh Trực Ngôn đã không đẫn ra những
đường lối ngoại giao có tham vọng mở biên cương Mỹ trên phạm vi toàn
cầu này. Trên thực tế, toàn cầu hoá đang được nhìn như một sự mở
rộng biên giới Mỹ. Trong bài viết "Mỹ hoá toàn cầu hay toàn cầu
hoá nước Mỹ", Jean-Marie Gue'henno, Chủ tịch Hội đồng Quản lý của
Viện nghiên cứu Quốc phòng cao cấp (IHEDN) của Pháp đã cho rằng toàn cầu
hoá đánh dấu sự chiến thắng lâu bền của nước Mỹ, là quá trình mở
rộng "giấc mơ Mỹ" ra toàn hành tinh.Song người Mỹ càng đánh
giá cao công cuộc toàn cầu hoá bao nhiêu thì nó càng bị bác bỏ bấy
nhiêu bởi những xã hội mà ký ức (la mémoire) chứ không phải khế ước
(le contrat) là cơ sở của bản sắc và sự cố kết xã hội. Ông viết :
"Vì cả thế giới đang Mỹ hoá,
liệu chính sách "đối ngoại" của Hoa Kỳ có buộc phải trở
thành sự mở rộng đơn giản chính sách đối nội của nó chứ không phải
là sự biểu hiện của mối quan tâm quốc gia cho rằng trước mắt Mỹ cần
phải có những quốc gia khác có bản sắc riêng và có vai trò của mình
trong cuộc chơi cổ điển của các cường quốc ? Khái niệm hệ thống quốc
tế còn có nưã không? " Ông giải thích tính "áp đặt"" mở
rộng biên cương " của Hoa Kỳ cũng như "chủ nghĩa ngoại lệ
" của người Mỹ là do họ tin rằng "nước Mỹ sẽ dóng góp một
cách hiệu quả hơn cho sự tiến bộ của thế giới bằng cách duy trì
tính mẫu mực của mình chứ không tham gia vào những thoả hiệp không
hoàn hảo . Cái niềm tin đó giải thích cho tính đặc thù trong thái độ của
Mỹ đối với toàn cầu hoá: trước hết nó không coi đây là sự biểu hiện
sức mạnh của nó mà là sự mở rộng tự nhiên và chính đáng cái mô
hình mà nó đã tạo ra. Chắc chắn với nhiều người Mỹ thì toàn cầu
hoá là một " biên giới mới ", mà trong thế giới của nền kinh tế
ảo, nó kéo dài và lặp lại ở cấp hành tinh những gì trước đây là
kinh nghiệm của Hoa Kỳ..."(5)
Có lẽ anh Trực Ngôn không hiểu bản
chất văn hoá tôn giáo của tinh thần mở biên cương, nên có ý coi can thiệp
và bành trướng ảnh hưởng kiểu Mỹ là một cái gì đó cần dấu giếm
hay biện hộ. Về điều này, tôi sẽ đề cập đến ở mục 3 .
2- Đơn giản hoá và nhấn mạnh
sai lệch quan điểm của Huntington
- Khi trình bày quan điểm về sự đụng độ giữa
các nền văn minh cuả Huntington anh Trực Ngôn viết:
- "Huntington bác bỏ hoàn toàn quan niệm lịch sử
lạc quan của Fukuyama. Ông đưa ra 2 luận cứ:
a) Thế giới khô cứng của Chiến
tranh Lạnh, với những cơ cấu địa lý chính trị, dựa trên ý thức hệ
và vũ khí hạt nhân, nay được thay thế bằng một thế giới bất định
và nguy hiểm, vì hiện tượng toàn cầu hóa, vì làn sóng di dân, vì những
đòi hỏi nhân quyền và quyền tự quyết của các dân tộc, vì những đòi
hỏi đặc thù về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa.
b) Sự phát triển mau lẹ nhưng dựa
trên một căn bản không vững chắc về tài chánh, ngân hàng của những nước
Đông Nam Á và châu Á Thái Bình Dương, cộng thêm với tinh thần tôn giáo
cực đoan của đạo Hồi.
Đó là những yếu tố có thể
đưa tới những thay đổi bất ngờ và nguy hiểm trên thế giới. Từ đó
Huntington đưa ra tiên đoán: Tiến trình lịch sử thế giới, sau những
tranh chấp quốc gia vào thế kỷ thứ XIX, và tranh chấp ý thức hệ vào thế
kỷ XX, sẽ có thể đi đến tranh chấp giữa những nền văn minh vào thế
kỷ XXI. Đây cũng là một tiên đoán lâu dài, chắc nó cũng khó tránh khỏi
võ đoán. Tuy nhiên Huntington đã tiên đoán về khũng khoảng kinh tế Á
châu; diều này đã đúng và đã xẩy ra vào năm 1997, hiện nay rất có thể
lại tái diễn".
Đoạn văn trên đây biểu hiện một
cách nhìn đơn giản hoá và chưa chính xác về quan điểm của Huntington
như sau:
1- S.P. Huntington dùng chữ "
Clash " (xung đột) chứ không dùng chữ "Compete " (cạnh tranh )
như anh Trực Ngôn đã dùng. Xung đột là sự va đập do trái chiều, khác
lý tưởng, khác chuẩn mực giá trị và quyên lợi... còn cạnh tranh chủ yếu
là những nỗ lực vượt lên đối thủ, có thể cạnh tranh giữa những người
cùng văn hoá, cùng mục đích lớn, cùng chiều hướng...
2- Hungtington không chỉ đưa ra
"một tiên đoán lâu dài" về thế kỷ 21, mà trên cơ sở tổng kết,
hệ thống hoá những xung đột trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20,
Huntington đưa ra một cách giải mã của mình về lịch sử đương đại, dùng
chuẩn thức (paradigm) "văn minh" thay thế chuẩn thức "chiến
tranh lạnh" với mục đích xây dựng một mô hình mới giúp chúng ta sắp
đặt và lý giải những bước phát triển trung tâm trong chính trị thế giới.
Huntington cho rằng, như Kun đã chỉ ra, các sự kiện khác thường, ngoại lệ
không bóp méo một chuẩn thức. Một chuẩn thức chỉ bị bác bỏ khi người
ta tạo ra dược một chuẩn thức thay thế giải thích được những thực
tế cốt yéu hơn bằng các khái niệm đơn giản hơn tương đương hay đơn
giản hơn (ở một mức độ trừu tượng trí tuệ có thể so sánh được,
một lý luận tổng hợp hơn luôn cho phép giải thích nhiều hiện tượng
hơn là một lý luận hạn chế hơn). Huntington cũng nói rõ, ông chọn chuẩn
thức "văn minh " vì chuẩn thức này có ý nghĩa với nước Mỹ
hơn cả trong thời điểm nước Mỹ dang suy sụp. Sự thống nhất của nước
Mỹ trong lịch sử dựa trên các nền tảng sinh đôi là văn hoá châu Âu
và nền dân chủ chính trị. Tinh tuý của tín điều Mỹ là các quyền
bình đẳng cho cá nhân và các nhóm dân nhập cư, vô gia cư. Nhưng sau đỉnh
cao của phong trào quyền công dân do Martin Luther King con lãnh đạo trong những
năm 50-60, quyền bình đẳng này chuyển sang quyền đặc biệt cho người da
đen và các nhóm khác, đi ngược lại các nguyên tắc đã thống nhất nước
Mỹ, tạo ra một sự phân biệt chủng tộc mới, làm nảy sinh "chủ
nghĩa đa văn hoá " của một nhóm trí thức đòi viết lại lịch sử
Hoa kỳ từ quan điểm của các nhóm phi châu Âu, thậm chí đòi nâng các
lãnh đạo của nhóm thiểu số lên tầm quan trọng ngang với những người
cha sáng lập ra nước Mỹ. Huntington lo ngại nếu nước Mỹ theo đà đó trở
thành một nước đa văn hoá và ngập trong những cuộc dụng độ văn minh
thì sẽ không còn nước Mỹ. Đó là chiều sâu suy tư của Huntington khi
đưa ra chuẩn thức văn minh để lý giải những xung đột hiên tại và
tiên đoán những diễn biến tương lai.
2- Về tương lai, Huntington không cảnh
báo một chiều như anh Trực Ngôn đã víết , mà tiên đoán mấy chiều hướng
: Phương Tây phải đối đầu với phần còn lại của thế giới. Trong khả
năng này lại phân ra các khả năng khác nhau :1) Các nước phi phương Tây sẽ
tách biệt ra khỏi sự chi phối của phương Tây 2) Các nước phi phương Tây
hoà nhập với phương Tây và chấp nhận những giá trị và thể chế của
nó và 3) Các nước phi phương Tây cố gắng cân bằng với phương Tây, hịện
đại hoá nhưng không phương Tây hoá. Như vậy là trong tiến đoán của
Huntington, trong tương lai không chỉ có cạnh tranh một chiều giữa các nền
văn minh, mà còn có sự chuyển hoá sang nhau, dung hoà hợp tác với nhau
trên cơ sở tôn trọng văn hoá của nhau trong đó phương Tây phải thay đổi
cách nhìn đối với vai trò và sức mạnh của phần còn lại của thế giới.
3- Về nguyên nhân dẫ đến xung đột
văn minh, anh Trực Ngôn cũng trình bày đơn giản hoá và không đầy đủ, bỏ
qua hẳn những nội dung quan trọng mà Huntington nhấn mạnh đó là
- Quá trình hiện đại hoá kinh tế
và biến đổi xã hội trên toàn thé giới phá vỡ tính đồng nhất truyền
thống của con người, làm xuất hiện những khoảng trống mà các phong
trào tôn giáo phải lấp vào, tạo nên hiện tượng phi thế tục hoá thế
giới như là hiện tượng xã hội nổi bật ở cuối thế kỷ 20. Như vậy
Huntington không có cái nhìn thù địch một chiều với đạo Hồi mà hiểu
được căn nguyên sự cực đoan của nó và nhìn thấy bản chất sự cực
đoan đó trong sự khắt khe của bản thân tôn giáo và sự vận động quyết
liệt theo hướng phi thế tục hoá của nó như là một phản ứng với những
mất thăng bằng của phát triển và cả với những áp đặt của phương Tây.
- Sự phát triển của tự ý thức
văn minh được quyết định bởi vai trò hai mặt của phương Tây. Một mặt
phương Tây đứng trên đỉnh cao quyền lực của mình, nhưng mặt khác và
có thể là vì vậy, trong các nền văn minh phi phương Tây đang diễn ra hiện
tượng trở về cội nguồn. Mặt khác, toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và
sự bùng nổ truyền thông với mạng internet đã làm thế giới trở nên
bé đi, tác động qua lại giữa các nền văn minh tăng lên làm tăng tự
ý thức văn minh và nhận biết các nền văn minh khác. Huntington cho rằng người
Mỹ phản ứng trước sự đầu tư của Nhật bệnh hoạn hơn nhiều so với
những khoản đầu tư ở mức lớn hơn của Canada và các nước châu Âu.
Như vậy là Huntington có cái nhìn rất
khách quan khoa học, nhấn mạnh đến cả trách nhiệm của Mỹ và phương Tây
trong khi đó cách trình bày tóm tắt của anh Trực Ngôn lại chỉ nhấn mạnh
trách nhiệm của các nước Châu Á và các nước Hồi giáo. Không ai nghĩ rằng
anh không biết những điều Huntington đã viết mà tôi trình bày lại, nhưng
cách tóm tắt của anh đã vô tình làm sai lệch Huntington bằng sự nhấn mạnh
một chiều một số cạnh khía mà Huntington có nói. Ở đây, ta lại bắt gặp
cách trình bày một nửa sự thật của anh Trực Ngôn khi anh trình bày cặn
kẽ nhiều trường phái, nhiều tư tưởng đối ngoạỳi của trí thức Mỹ
nhưng lại lờ đi hoặc trình bày quá sơ lược những chiến lược ngoại
giáo đé quốc như của Brzezinxki.
3- Bất cập về bản chất Thanh
giáo của thể chế dân chủ Mỹ
Khi bàn về thể chế chính trị Mỹ,
người ta không thể không nhắc đến vai trò của Đạo Tin Lành mà
Tocqueville và sau đó là M. Weber đã từng khẳng định sự gắn bó mật thiết
của đạo này với sự hình thành nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa và các
truyền thống chính trị HoaKỳ. Tocqueville cho rằng nền dân chủ không thể
có nếu không có tôn giáo vì " tôn giáo biết lợi dụng các bản năng
dân chủ" (6). Billy Graham, một mục sư lưu động rất "ăn khách"
của thời hiện đại cũng cho rằng nền tự do Mỹ cộng với tôn giáo sẽ
làm cho mọi người tự do, hạnh phúc và giàu có. Tư tưởng chủ quyền nhân
dân cũng đặt vững trên quan niệạm về khế ước xã hội của những người
Thanh giáo với nguyên tắc phổ biến về quan hệ của con người với Chúa
Trời và với nhau. Mặt khác, cũng chính quan niệm Thanh giáo về con người
mang bản tính tội lỗi không hoàn hảo đã khiến các nhà sáng lập ra nước
Mỹ trong tư cách những tín đồ tin vào tôi tổ tông có ý định bảo vệ
bộ máy nhà nước khỏi sự lạm quyền bằng các thể chế mà anh Trực
Ngôn gọi là đề phòng sự độc tài của đám đông.
Có lẽ do không nhìn thấy hoặc
không đánh giá đúng sự chi phối xuyên suốt của bản chất Thanh giáo
này trong văn hoá chính trị Hoa Kỳ, nên anh Trực Ngôn đã có những cắt
nghĩa chưa thoả đáng:
1- Trong tư tưởng Thanh giáo, con người
cá nhân trực tiếp đối diện với Thượng đế, không có ai làm trung gian
ở giữa. Con người đứng trước Thượng đế đơn độc như nó đơn độc
đứng trước đồng loại, trước thế giới mà nó sống, trước xã hội
mà nó thừa nhận với điều kiện nó phải có quyền tham gia vào mọi quyết
định. Sự thành đạt của cá nhân là do nó đựơc Thượng đế quan tâm
cứu vớt. Mặt khác, tư tưởng Thanh giáo cũng củng cố trong người Mỹ
niềm tin rằng nước Mỹ ra đời sau cùng là một ân huệ lớn nhất mà Thượng
đế tặng cho thế giới, người Mỹ mang sứ mệnh bảo vệ tự do, cứu vớt
nhân loại mà Thượng đế đã chọn nước Mỹ để giao phó.Vì nước Mỹ
đã là của Chúa thì người Mỹ cũng phải chiếm lấy các nơi khác trên
thế giới để mang về cho Chúa, dù có phải Mỹ hoá những nơi này thì đó
cũng là đem những ân sủng của Chúa đến cho nhân loại. Vì thế, người
Mỹ can thiệp "mở biên cương" cũng chân thành, hồn nhiên và tự
tin như khi họ làm từ thiện, họ thể hiện tình tương thân tương ái.
Không có sự tách rời, phân chia và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa cá nhân,
thái độ can thiệp và những hoạt động tương trợ, từ thiện vì có một
niềm tin Thanh giáo, một Thượng đế Tin lành là nền tảng chung, là bản
chất chung. Trong bản chất Thanh giáo này, người Mỹ có thể coi như những
người hồn nhiên nhất và thiện chí nhất thế giới , họ thực tâm muốn
chia sẻ với người khác cái mà họ coi là tốt nhất. (Còn trên thực tế
có chuyện " Đường đến địa ngục được lát bằng những thiện
chí " lại là chuyện khác mà người Mỹ có lúc ngây thơ không nhìn thấy).
Có lẽ do không hiểu bản chất Thanh giáo này nên anh Trực Ngôn vẫn có
cái nhìn chia cắt và đầy mặc cảm đạo đức học với chủ nghĩa cá
nhân, chủ nghĩa can thiệp và tinh thần tương trợ của người Mỹ, từ đó
cố chứng minh người Mỹ không có đường lối đối ngoại can thiệp bành
trướng mở rộng biên cương và có ý biện hộ cho chủ nghĩa cá nhân từ
góc độ kinh tế luận. Anh viết: "Phải chăng người Mỹ cá nhân chủ
nghĩa? Đúng, vì người Mỹ có một triết lý: cá nhân có giàu có, phát
triển thì dân tộc mới giàu, mới phát triển; dân có giàu có, phát triển,
thì nước mới mạnh. Tuy nhiên nên cẩn thận, không thể vì đó mà cho rằng
người Mỹ không có tinh thần tương thân, tương trợ". Bản chất của
sự bất cập này là thiếu một nhãn quan triết học và văn hoá học.
2- Khi lý giải về cơ sở tư tưỏng
của thể chế chính trị Hoa Kỳ, anh Trực Ngôn cũng không nhìn thấy cơ sở
Thanh giáo thống nhất xuyên suốt các hành vi và cấu trúc của thể chế
này. Anh viết :
"Những nhà lập quốc Mỹ như
Washington, Adams, Jefferson, B. Franklin v.v... khi họ soạn thảo Tuyên Ngôn Độc
lập và Bản Hiến Pháp, họ có một triết lý và cái nhìn về con người,
xã hội và chính quyền một cách rất rõ ràng :
"Chúng tôi cho rằng tự nó đã
hiển nhiên, những chân lý sau đây: tất cả mọi người sinh ra đều bình
đẳng; họ được Đấng Tối Cao ban cho những quyền bất khả nhượng;
trong những quyền này có quyền sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh
phúc. Chính quyền do con người lập nên để bảo đảm những quyền này,
và mục đích chính của chính quyền là do từ người dân. Một khi một
hình thức chính quyền nào có hại cho mục đích này, người dân có quyền
thay đổi hay hủy bỏ nó và lập nên một chính quyền mới, dựa trên những
nguyên tắc và tổ chức nó dưới hình thức thuận lợi nhất ngõ hầu
mang lại cho họ an ninh và hạnh phúc ." (Tuyên Ngôn Độc Lập - dựa trên
bản dịch ra tiếng Pháp của Thomas Jefferson).
Hơn thế nữa, họ có một cái
nhìn rất rõ ràng về con người, nguồn gốc của mọi điều tốt; nhưng
đồng thời cũng là nguồn gốc của mọi tật xấu (l'homme est mi-ange et
mi-bête = con người là nửa thần thánh và nửa thú vật ). Vì vậy theo họ,
cần một khung cảnh xã hội, một chính quyền, một thể chế vừa giúp
con người phát triển được tối đa những đức tính của mình và cũng
đồng thời ngăn chặn tối đa khả thế nó có thể làm việc xấu, như việc
lợi dụng tự do của mình để tiếm đoạt tự do của kẻ khác, việc lạm
dụng quyền hành."
Tại sao lại viết "Hơn thế nữa,
họ có một cái nhìn rất rõ ràng về con người.." như anh Trực Ngôn
đã viết, khi cả hai quan niệm về quyền con người và hạn chế của con
người đềợu có cùờng bản chất Thanh giáo? Nếu cụm từ đó chưa đủ
là bằng chứng để chứng tỏ anh không nhìn thấy bản chất Thanh giáo thống
nhất trong quan niệm về con người của người Mỹ, thì doạn văn dưới
đây đã khẳng định rõ nhận thức của anh Trực Ngôn :
"Thật ra theo tinh thần của những
người soạn ra bản hiến pháp này, mà trong đó người chính là Kranklin
và Thomas Jefferson, một người thì thích văn hóa Đức - Anh (Anglo - Saxon ),
người khác thì thích văn hóa Pháp, họ muốn tránh cảnh độc tài đám đông.
Trong thời gian Cách Mạng Pháp 1789 ở cao điểm, thì 2 ông đang ở Paris, chính
2 ông đứng ra giàn xếp một giải pháp hòa giải giữa vua Louĩs XVI và Đại
diện Thứ Dân; nhưng không thành ( như tôi đã có dịp đề cập trong bài
trước ), 2 ông đã tận mắt nhìn những hành động quá lố của đám đông
hăng say; hơn thế nữa 2 ông là nhà trí thức uyên bác, không thể nào
không đọc những bài bình luận về Cuộc Cách Mạng Pháp của Goethe, đại
thi sĩ, đại văn hào Đức, cùng thời với 2 ông. Goethe viết: "Độc tài
đám đông đã lật đổ độc tài giai cấp. Vậy sau này, ai là người lật
đổ độc tài đám đông? " (La dictature de masse a renversé la dictature de
classe. Et après, qui va renverser la dictature de masse?) Thể thức bầu cử tổng
thống 2 vòng ở Hoa Kỳ là để tránh độc tài đám đông, dùng đám đông
để ép thiểu số, nhân danh đám đông để làm những chuyện bậy. Đó
là điều nhìn xa của Franklin và Jefferson vậy."
Rõ ràng, anh Trực Ngôn cho rằng
các nhà sáng lập ra nước Mỹ đã học từ tư tưởng và thực tiễn Châu
Âu, từ cách mạng Pháp và thơ Goethe cách tổ chức xã hội để chống lại
sự độc tài của đám đông chứ không phải sáng tạo ra thể chế dân chủ
Mỹ từ những xác tín tôn giáo của họ về con người mắc tội tổ tông.
4- Về thuyết tri thức giả định
của Karl Popper
Anh Trực Ngôn viết: "Thật ra
mô hình giả thuyết là mô hình của tất cả những nhà khoa học, từ khoa
học thực nghiệm đến khoa học nhân văn: đưa ra một giả thuyết, kiểm
chứng giả thuyết này nhiều lần trong phòng thí nghiệm hay ở ngoài đời,
nếu thấy ứng nghiệm đúng vào giả thuyết, thì giả thuyết thành định
luật. Nhưng giả thuyết này, ngày hôm nay, đúng; ngày mai, có thể sai. Vì
vậy một nhà khoa học đã nói : "Khoa học là mồ chôn những giả thuyết".
Đó là tinh thần của tất cả mọi nhà khoa học chân chính, trong đó có
K. Popper, chứ không phải là sự phủ định quá khứ."
Trong ý kiến trên, anh Trực Ngôn đã
tỏ ra không nhìn vấn đề ở cấp độ tri thức luận nên thực tế đã
đơn giản hoá thuyết tri thức giả định của Karl Popper, không nhìn thấy
bản chất triết học của nó là chủ nghĩa duy lý phê phán với tư cách
là phản đề của chủ nghĩa thực chứng mới. Các nhà khoa học theo thuyết
thực chứng mới cũng tạo dựng những giả thuyết và kiểm chứng chúng,
nhưng họ có một thái độ tri thức luận hoàn toàn ngược với Popper
trong quan niệm về tiến trình nghiên cứu, thí nghiệm, đặt giả thuyết và
kiểm chứng. Sự khác nhau của chủ nghĩa thực chứng mới và chủ nghĩa
thực chứng phê phán nằm ở những vấn đề :quan niệm khác nhau về vai
trò của các phương tiện tượng trưng ký hiệu trong tư duy khoa học, mối
quan hệ giữa các mô hình, bộ máy khái niệm và cơ sở trực quan của
khoa học, bản chất và chức năng của quá trình toán học hoá và hình thức
hoá tri thức khoa học. Các nhà thực chứng mới tiêu biểu là Slich, Carnap,
Neurath, Bridgman, Moritse... đã hình thành quan điểm đối lập khoa học với
triết học, chỉ thừa nhận tri thức khoa học chuyên ngành là tri thức duy
nhất có thể có, các vấn đề triết học chỉ là những tri thức giả mạo,
vô nghĩa, được tạo dựng bởi các khái niệm giả danh mà nội dung của
chúng là không thể kiểm chứng. Đối tượng của triết học theo họ phải
là ngôn ngữ, trước hết là ngôn ngữ khoa học trong tư cách là phương tiện
biểu hiện tri thức. Chức năng của triết học chỉ là hoạt động phân
tích các tri thức và khả năng biểu hiện của nó qua ngôn ngữ. Trong khi
đó, chủ nghĩa duy lý phê phán của Popper đã bác bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm
hẹp hòi của những nhà thực chứng mới dẫn tới sự đối lập triết học
với khoa học của họ. Popper khẳng định quá trình tiến hoá tri thức chỉ
là trường hợp ngẫu nhiên của quá trình tiến hóa chung của thế giới,
chỉ là lịch sử của những quy ước nhận thức luận chủ quan không gắn
gì với hiện thực khách quan.Ông đề ra thuyết ba thế giới khẳng định
sự độc lập không thể quy về nhau của thế giới tâm linh, thế giói vật
lý cũng như thế giới khách quan. Ba thế giới theo quan niệm của Popper là
: 1-Thế giới vật lý 2- Thế giới các trạng thái ý thức và 3-Thế giới
các nội dung khách quan của tư duy, bao gồm các tư tưởng khoa học, các
hình tượng nghệ thuật, thơ ca, các hệ thống lý thuyết chân thực và giả
định, các cuộc thảo luận học thuật v.v... Thế giới thứ ba này có đặc
tính khách quan, tự trị với chủ thể và với thé giới thứ hai. Chính tư
tưởng về tính tự trị của thế giới thứ ba này là cái phân biệt
chân lý tương đối kiểu Popper với nhiều quan niệm chân lý tương đối
khác. Quy học thuyết về tri thức giả định, và tri thức luận tiến hoá
của K. Popper thành tư tưởng về chân lý tương đối như anh Trực Ngôn
là đơn giản hoá Popper .
Khi nói đến phủ định quá khứ
trong văn cảnh gắn với những trich dẫn trong bài viết của anh Hoàng Ngọc
Tuấn là muốn nói đến quá khứ nhận thức luận, theo nghĩa là phủ định
những mô hình tri thức cũ bằng mô hình tri thức mới, chứ không phải
nói đến quá khứ lịch sử, quá khứ nói chung.
5- Mâu thuẫn trong quan niệm về
hiểu biết và chiêm nghiệm
Khi nói về Gramsi, anh Trực Ngôn đề
cao chiêm nghiêm hơn tri thức. Anh viết :
"Có lẽ trong thời gian ngồi
tù 11 năm, có lẽ sách vở cũng có ít, ông chiêm nghiệm nhiều hơn. Từ đó
ông nhận ra rằng Marx chỉ nói đến sự hiểu biết qua suy nghĩ (la réflexion),
sách vở, khoa học, kỹ thuật; mà không đề cập đến sự hiểu biết qua
chiêm nghiệm (la méditation), sự hiểu biết của Marx chỉ là sự hiểu biết
qua suy nghĩ, mà theo Gramsci, chân lý được phát hiện qua chiêm nghiệm nhiều
hơn là qua suy nghĩ. Thật vậy, các vị giáo chủ phát hiện chân lý qua
chiêm nghiệm nhiều hơn là qua tri thức cả bồ sách. Trước khi chết, tư
tưởng của Gramsci có tính cách quay về siêu hình và tôn giáo, điều mà một
số trí thức cộng sản hiện nay cố tình dấu diếm. Chẳng hạn như quan
niệm của ông về sự phát hiện ra chân lý qua chiêm nghiệm.
Nói đến sự hiểu biết qua chiêm
nghiệm và sự hiểu biết qua suy nghĩ, chúng ta không thể không nói tới
Lão Tử, và gần với chúng ta hơn, ở Việt Nam, Lý Đông A.
Những câu: "Tri nhân giả hữu
trí. Tự tri giả minh. Thắng nhân giả hũu lực. Tự thắng giả cường
" (Lão Tử) (Biết người là có trí. Tự biết mình là sáng suốt. Thắng
người là có sức. Tự thắng mình là mạnh. " hay " Nuôi tâm là
thiên tài. Nuôi trí là nhân tài. Nuôi thân là nô tài" ( Lý Đông A).
"Tự hiểu mình là sáng suốt ", " Tự thắng mình là mạnh
" và " Nuôi tâm là thiên tài " ; đó là những hiểu biết
chiêm nghiệm vậy "
Chiêm nghiệm là nhu cầu tự
thân của một trình độ tâm linh chứ không phải là sự xoay sở của trí
tuệ do không có sách vở. Nhiều người có đầy đủ sách vở nhưng vẫn
chiêm nghiệm, trái lại, đa số người bình thường không có sách vở họ
có những hoạt động tinh thần đạt tới trình độ chiêm nghiệm đâu?Anh
Trực Ngôn thô sơ hoá cội nguồn và bản chất của chiêm nghiệm, mặt
khác, trong khi đề cao về lý thuyết nhận thức chiêm nghiệm, anh lại giễu
cợt những hệ quả thực tế của lối nhận thức trong hệ chiêm nghiệm
mà anh ca ngợi:
"Ngày xưa, chúng ta coi thường
người Tây phương, cho đó là "Bạch Quỉ ", mặc dầu có lời cảnh
cáo của trạng Trình Nguyễn bỉnh Khiêm ( 1491 - 1585 ) : "Người phương
Đoài nó cũng nhiều tài ". Phương Đoài đây là phương Tây. Từ thái
độ coi thường, nhận xét "Bạch Quỉ " hời hợt đó, chúng ta
không chịu học người, thua kém họ, bại trận với họ, đưa đến bị
đô hộ."
Lý Đông A với mấy câu châm ngôn
xử thế kia cũng có chút minh triết nhưng còn sơ sài, Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm chiêm nghiệm bằng thuật toán cao cấp và phức tạp hơn nhiều.
Do bất cập về nhận thức luận Phương Đông anh Trực Ngôn tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm có tư tưởng về phương Đoài khác với tư tưỏng phổ biến
vè bạch quỷ của người xưa. Thực ra, Sấm Trạng Trình và tư tưởng về
Bạch quỷ có cùng cơ sở là một hệ thống triết toán và logic không-thời
vô cùng phức tạp không thể bàn sâu trong bài này. Trong hệ thống đó Phương
Tây thuộc quẻ Đoài, hành Kim, màu trắng khắc với phương Đông thuộc
hành Mộc màu xanh. Người phương Đông ở vị thế bị khắc, bị xâm hại
nên có tư tưỏng về bạch quỷ.
Đề cao sự chiêm nghiệm của
Gramsi, nhưng với Hồ Chí Minh và với nhiều trí thức Việt Nam, anh Trực
Ngôn lại dùng chuẩn tri thức để đo, chê họ không có đủ tri thức về
phương Tây, về Quốc tế cộng sản v.v... Vậy ra chỉ có ông Gramsi là cộng
sản Tây được quyền chiêm nghiệm và được anh Trực Ngôn ca ngợi vì đã
biết đến chiêm nghiệm chậm hơn các cụ tổ Phương Đông của ta mấy
ngàn năm, còn các lãnh tụ các trí thức Việt Nam thành công nhờ trực
giác thiên tài và nhờ chiêm nghiệm sâu sắc thì lại bị anh Trực Ngôn tước
quyền chiêm nghiệm. Thật chẳng khác gì ca ngợi nhãn lồng Hưng Yên đóng
hộp, chê nhãn chín cây. May mà nhờ có ông Gramsi mũi lõ phát ngôn về
chiêm nghiệm thì Lão Tử, Lý Đông A mới được ăn theo, được nhắc đến,
chứ không thì các vị này cũng thuộc loại không biết gì vè văn hoá phương
Tây.
Trong bài viết của anh Trực Ngôn
còn khá nhiều điều có thể trao đổi nữa, như vấn đề nước người
ta tiến, nước ta thụt lùi, vấn đề thời hạn quyền lực ở Việt nam và
ở Mỹ, vấn đề người Mỹ ghét các thể chế cứng nhắc và không vướng
bận quá khứ v.v... nhưng bài viết đã quá dài nên tôi xin dừng lại ở
đây.
Nhìn tổng quát, bài viết của anh
Trực Ngôn bộc lộ một cái nhìn đơn giản hoá, không khách quan hoặc
không toàn diện với vấn đề mà ta đang thảo luận. Với cái nhìn phiến
diện và thiên lệch như thế với ngay cả những vấn đề đã rành rành
trên giấy như đã phân tích, nên khi anh dừng lại giữa mạch văn để gặt
lúa non lý luận," trữ tình ngoại đề" lên lớp giễu cợt chính
thể trong nước, trí thức trong nước thì sự lên lớp tưởng là có cơ sở
lý luận đó chỉ là một phản ứng... thật khó nói nó là cái gì, nhưng
buồn cười lắm. Tôi cho rằng, các vị cộng đồng viết bài tấn công Diễn
đàn này vì các vị ấy sợ sự phê phán gắn với cơ sở lý luận sẽ
có thể bị phanh phui đúng sai, không có lợi bằng cứ chửi chay, chửi
không chứng minh như Chí Phèo. Không chứng minh có thể là chưa chứng minh
hoặc không thèm chứng minh, rất khó bắt bẻ. Còn chứng minh lập luận rồi
mới rút ra lời phê phán hay chửi bới thì vừa mất công lạị vừa có
thể bị phản công. Nghĩa là lý luận học thuật rất có hại cho những
ai thích tuyên truyền chửi bới và coi chính trị chỉ là chửi bới suông
.
Nếu lý luận học thuật khách quan
chính xác và thuyết phục thì những đề xuất, những liên hệ thực tế
với hiện tình đất nước mới đắc dịa, khiến cho người nghe tâm phục
khẩu phục. Vai trò cuả học thuật, của Diễn đàn này xét đến cùng rất
thiết thực cho đất nước mà chỉ những người thiển cận mới không
nhìn thấy. /.
- Đỗ Minh Tuấn
- Hà nội 29-7-2001
Chú thích
- [1] Xem "Pupblic Opinion", September/Octocber
1988, trang 23,30
- [2] Xem: GA.Almond, S.VVerba -" The Civic Culture:
Political Attitudes and Democracy in Five Nations".
- [3] Z. Brzezinxki-" Bàn cờ lớn"- NXB Chính
trị quốc gia, Hanoi 1999.
- [4] Dẫn theo "Bàn cờ lớn", trang 37.
- [5] Jean-Marie Guehenno -"Américanisation de
l'A'mérique?"- Politique etrangère, No 1, 1999, trang 7-20.
- [6] Trích theo Jean-Pierre Fichou -"Văn minh Hoa Kỳ"-
NXB Thế giới - 1998, trang 95.
