-
đọc "Tổ quốc ăn năn" của Nguyễn Gia Kiểng
Nguyễn Văn
Tuấn
Vài lời giới thiệu
:
Cuốn
sách “Tổ quốc ăn năn” của Nguyễn Gia Kiểng đã theo thời gian gần một
năm qua mà chìm lắng. Sự chìm lắng buồn bã đó hẳn nhiên phải có lý
do. Những kẻ chủ xướng xuất bản (nhóm Thông Luận) và những người phụ
họa (các chính khách theo mùa ở hải ngoại, các hội đoàn, các đảng phái,
các nhân vật cơ hội ... ) đã nhìn thấy được một hiện tượng bất
thuận từ dư luận về cuốn sách. Nếu sự lý giải này đúng, điều đó
chứng tỏ trước khi phát hành, NGK và nhóm Thông Luận đã có một tính
toán chính trị: thuận thì làm tới, không thuận thì rút lui cố thủ. Chỉ
tiếc những kẻ phụ họa không đủ trí tuệ phải nhận sự bẽ bàng.
Mạng lưới GĐ trong thời gian qua
đã đăng tải ba bài viết chính về cuốn sách này: Với bác sĩ Trần Xuân
Ninh mổ xẻ chi li từng chi tiết, với Nhật Tiến qua cách đặt vấn đề
nhẹ nhàng, khéo léo của một nhà văn, trong khi Vũ Huy Quang dùng phân tích
sắc cạnh để khẳng định : đa nguyên của Thông luận là để mở đường
cho độc thần Vatican, những kẻ đang thi hành sứ mệnh này không có thẩm
quyền gì để đòi hỏi ai phải ăn năn cả!. Chắc hẳn với những kinh
nghiệm hoạt động chính trị trong gần hai thập niên qua, với những tiếp
xúc, trao đổi với ba giới người: trên, dưới và đồng chí, NGK chẳng
bao giờ nao núng với những lời ‘buộc’ như vậy, trái lại qua những
bài điểm sách, phê bình đã bồi đắp thêm cho NGK những vốn liếng mới.
NGK không ngại những kẻ ‘xoi mói’ tim óc mình, cũng như ông cũng chẳng
e dè đa số những người Phật tử vốn là nạn nhân ‘vật chất và tinh
thần’ của chế độ đã đánh mất nhân nghĩa như Ngô Đình Diệm, không
bao giờ chấp nhận những kẻ hoạt động chính trị có hơi hám của Giáo
hội Ca-tô. Nhưng NGK ngại nhất là những kẻ đã bắt mạch đúng và đưa
giải pháp trước tầm nhìn chiến lược. Bởi tầm nhìn ấy là tầm nhìn
được nhận từ sự chỉ đạo, một chiến lược văn hóa.
Bài điểm sách của tác giả Nguyễn
Văn Tuấn có lẽ đã đáp ứng được hai yếu tố đó, bởi anh đã không
chỉ dừng lại ở một vấn đề nhỏ như đọc một cuốn sách; từ cuốn
sách anh đã đưa ra một hệ luận rộng hơn: Có cần phải thay đổi văn hóa
Việt Nam?, một sự đáp lễ cho ‘tầm nhìn chiến lược’ từ xa, và cũng
là một hệ luận cơ bản nhất trong vấn đề phát triển kinh tế và xây
dựng đất nước hiện nay. Giao Điểm sẽ lần lượt giới thiệu bạn đọc
trong những ngày tới.

Người
Việt chúng ta bước vào một thế kỷ mới với một số điểm đáng tự
hào nhưng với nhiều nỗi băn khoăn. Đất nước thoát khỏi cái nhục bị
đô hộ bởi ngoại bang. Người Việt đã làm nên kỳ tích qua những chiến
thắng vẻ vang mà thế giới phải kinh ngạc và khâm phục. Những thế lực
hùng mạnh vào bậc nhất nhì thế giới phải cuốn cờ, rời khỏi Việt
Nam. Sau bao nhiêu năm chiến tranh triền miên, chia cách, đất nước được
hoàn toàn thống nhất, và ở một phương diện nào đó, có thể nói là độc
lập. Nhưng niềm tự hào của chúng ta hình như chỉ dừng lại ở đó: ở
những chiến công quân sự, qua lòng kiên trì đấu tranh và sự hy sinh to lớn.
Mặt khác, chúng ta bước vào một
thiên niên kỷ mới với rất nhiều điều không mấy gì đáng tự hào:
trình độ dân trí chưa cao; kinh tế lạc hậu, nghèo nàn; và nhất là thu
nhập bình quân còn quá thấp. Cả nước Việt Nam với gần 80 triệu dân,
nhưng chỉ có khoảng 1 triệu người có trình độ cao đẳng hay đại học
trở lên. Gần 74% lực lượng lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp,
và 93% trong số này chưa bao giờ qua trường lớp về canh tác nông nghiệp.
Nhưng điều đáng quan tâm nhất là, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới,
trong năm 1997, Việt Nam đứng hạng thứ 186 trong tổng số 200 nước về
thu nhập (GDP) bình quân đầu người, và đứng hạng 167 nếu tính theo sức
mua của thu nhập (PPP). Thu nhập bình quân đầu người ở nước ta chỉ bằng
1 phần 10 thu nhập của Thái Lan. Nói một cách khác, Việt Nam đang là một
trong những nước lạc hậu nhất và nghèo nhất thế giới. Có thể nói rằng
đây là một nỗi nhục lớn của người Việt.
Có lẽ xuất phát từ hành trình
đi tìm câu trả lời cho cái nhục lớn này, trong vài năm gần đây, một số
nhà trí thức trong và ngoài nước đã bắt đầu đánh giá lại văn hóa
và con người Việt Nam, định tính lại những cái gọi là "chiến
công hiển hách" của tiền nhân, và xem xét kỹ những quán tính được
lưu truyền qua nhiều năm. Cách đây không lâu, một nhà trí thức lớn ở
trong nước có viết một bài luận văn ngắn mang tựa đề hết sức cảm
tính, "Rửa nhục", kêu gọi thanh niên và giới trí thức
trong nước phải rửa cho được cái nhục lớn: Việt Nam vẫn còn là một
trong những nước nông nghiệp tiền tư bản chủ nghĩa, đứng hàng ngũ mười
nước nghèo nhất thế giới.
Nhưng trong những người xét lại
đó, hình như chưa có ai làm một cách có hệ thống như Nguyễn Gia Kiểng
với Tổ quốc ăn năn (TQĂN). Những ai theo dõi hoạt động chính trị
ở hải ngoại đều không lạ gì ông Nguyễn Gia Kiểng, một trong những
thành viên chủ chốt thuộc tổ chức chính trị mang tên "Nhóm Thông Luận"
mà sau này đổi thành "Tập hợp Dân chủ Đa nguyên". Người ta
cũng không lạ gì với những ý kiến khác biệt, có khi độc đáo, của
ông đã từng gây ra nhiều tranh luận gay gắt. Nói như thế để cho độc
giả biết trước rằng, TQĂN, tác phẩm mới nhất của ông, chắc chắn sẽ
gây ra nhiều tranh luận sắp tới.
Được quảng cáo rầm rộ trên hệ
thống truyền thông Việt ngữ hải ngoại, TQĂN đã thu hút chú ý của nhiều
người Việt có quan tâm đến chính trị, xã hội Việt Nam. Cho tới nay, phần
lớn những bài điểm sách hay nhận xét, nói chung, đều rất tích cực. Những
nhân vật như Vũ Thư Hiên, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Văn Huy, Đoàn Xuân
Kiên, Trần Bình Nam, Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Hữu
Chung, v.v… đều có những lời khen rất nồng nhiệt. Có người cho rằng
TQĂN là một luận án chính trị của Nguyễn Gia Kiểng, với "lối suy
luận độc đáo, can đảm trí thức, và lòng yêu nước" [1], tác giả
đã làm cho chúng ta phải duyệt xét lại "toàn bộ những định kiến
lịch sử" [2], và những lời khen này được in trong những trang cuối
của sách. Nhưng cũng có vài tác giả (như Phạm Xuân Đài, Vương Hữu Bột,
Không Không) cảm thấy hoài nghi về, và có tác giả không đồng ý kiến với
(như Nhật Tiến), những nhận định trong TQĂN [3]. Vậy cuốn sách viết về
gì và tại sao nó lại thu hút như thế. Trong bài này, tôi sẽ điểm qua những
điểm chính của cuốn sách và cống hiến bạn đọc một vài nhận xét
cá nhân về cuốn sách. Phải nói ngay rằng một số vấn đề nêu lên
trong TQĂN tôi sẽ không bàn tới trong bài viết, không hẳn vì tôi đồng
ý với tác giả, mà sự thực là những vấn đề đó nằm ngoài sự hiểu
biết của tôi.
Đọc
"Tổ quốc ăn năn"
Thực ra, phần lớn nội dung của
cuốn sách chẳng liên quan gì đến cái ý niệm "Tổ quốc ăn năn"
mà tác giả lấy làm tên cuốn sách. Nhưng phần tiêu đề của cuốn sách
tóm lược tương đối đầy đủ cái nội dung chung mà tác giả muốn nói:
"Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một
thiên niên kỷ mới." Thực vậy, TQĂN là một tập hợp những ý kiến
và nhận định về con người và văn hóa Việt Nam, những vấn đề
đương đại của Việt Nam, và những phương án phát triển đất nước. Sách
gồm 78 chương, được bố cục thành 5 phần: Đất nước và con người,
Đoạn đường đã qua, Vì đâu đến nỗi, Vài trang bị cho tương
lai, và Vươn mình lớn dậy. Một phần lớn những ý kiến này đã
được Nguyễn Gia Kiểng trình bày trước đây hoặc trên Tạp chí Thông Luận,
hoặc qua các tạp chí Việt ngữ khác. Nói một cách khác, chỉ có một phần
nhỏ trong sách là mới, còn lại phần lớn là ... không có gì mới.
Phần Một của cuốn sách là một
tiểu luận mà tôi nghĩ là nó nên được đặt tên là "Đất nước
Việt Nam nghèo nàn, và người Việt xấu xí" thì chính xác hơn.
Trong đó, Nguyễn Gia Kiểng đưa ra một số dữ kiện cho thấy Việt Nam không
phải là đất nước của "Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu"
như nhiều người lầm tưởng. Sự thực là: (a) Việt Nam là một nước
thuộc miền nhiệt đới, và các xứ vùng nhiệt đới thường kém phát triển
hay có tốc độ phát triển thấp hơn các nước vùng hàn đới; (b) rừng của
Việt Nam đã và đang bị tàn phá khủng khiếp, không phải do thiên tai, mà
là do chính người dân thiếu ý thức về môi trường, đến nỗi ngày nay
ở Việt Nam hết chim và không còn tiếng chim; (c) bờ biển của Việt Nam,
tuy dài (hơn 3200 cây số) và có tiềm năng lớn, nhưng chưa được khai thác
đầy đủ; (d) nông nghiệp của Việt Nam chỉ đảm bảo cho khoảng 10 triệu
dân mà thôi; và (e) dân số càng ngày càng đông, trong khi đó đất đai thì
bất biến, và điều này dẫn đến tình trạng mật độ dân số quá cao,
gần gấp đôi Trung Quốc. Nói chung, Nguyễn Gia Kiểng miêu tả một nước
Việt Nam nhỏ bé, nghèo về tài nguyên, khủng hoảng về môi trường, và
quá tải.
Còn con người Việt Nam? Hơn 60 năm
trước đây, cụ Đào Duy Anh đã có những nhận xét như sau: "Về tính
chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy
ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức ký ức thì phát đạt lắm,
mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý. Phần
nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học,
thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. ... Tính khí cũng
hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề
ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc" [4]. Nhiều người cảm
thấy khó chịu với nhận xét trên của cụ, nhưng có lẽ vì kính nể cụ,
nên ít ai dám lên tiếng phản đối. Nhưng xem ra, cái chân dung của người
Việt Nam mà Nguyễn Gia Kiểng phát họa còn xấu xí hơn thế rất nhiều:
"Người Việt Nam không thông minh hơn ai, có sáng dạ thực nhưng là
sáng dạ bắt chước chứ không phải để phát minh. Người Việt có tâm
lý tồi kém, không làm việc tập thể được. Người Việt hiếu học,
nhưng hiếu học để lấy bằng cấp chứ không phải để lấy kiến thức.
Người Việt thiếu tự hào dân tộc và lại đố kỵ, ghen ghét nhau. Người
Việt tôn thờ bạo lực và ác độc đối với nhau. Người Việt không có
óc phương pháp. Người Việt không biết truyền thông, không biết đọc,
không biết viết" (trang 109), thậm chí "không biết nói"
(trang 107).
Bàn luận xong phần đất nước và
con người Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng quay sang đặt lại một số vấn đề
liên quan đến sử liệu Việt Nam. Trong 124 trang sách, tác giả đưa người
đọc lên chuyến tàu lịch sử Việt Nam, và ngòi bút của tác giả, nói
theo lời của ông, cũng không "nhân nhượng". Với nhận xét về
con người Việt Nam "không biết truyền thông, không biết đọc, không
biết viết" (hay nói chung là dốt), người ta không ngạc nhiên khi
đọc một nhận xét mang tính thách thức khác, rằng: "Người Việt
Nam [cũng] không biết rõ lịch sử của mình", và không có ý niệm
về quốc gia.
Vậy lịch sử Việt Nam có gì cần
xét lại? Trước hết, Nguyễn Gia Kiểng đặt vấn đề huyền sử "Con
rồng cháu tiên", và có ý cho rằng cái huyền sử này nó làm
cho người Việt không chịu suy nghĩ về quá trình lập quốc của mình.
Trong thực tế, quá trình lập quốc của Việt Nam là một sự biến đổi
không ngừng, và trong tiến trình đó, nhiều sắc tộc được hình thành.
Do đó, tác giả đặt câu hỏi tại sao chúng ta không xem Phạm Hùng và Chế
Bồng Nga như là vua chúa Việt Nam?
Ý頮iệm
về "quốc gia" chỉ thể hiện rõ sau Bình Ngô Đại Cáo của
Nguyễn Trãi (lúc đó là thế kỷ 15). Còn Hịch tướng sĩ của Trần
Hưng Đạo kêu gọi quân tướng chiến đấu cho vua, chứ không phải cho đất
nước, và vì thế không thể xem là một văn bản chứng minh sự hiện hữu
của quốc gia. Do đó, tính chính xác của cụm từ "Bốn ngìn năm
văn hiến" mà hầu như người Việt nào cũng nằm lòng và ghi nhận
cần nên xét lại.
Hỏi một người Việt trung bình:
"Trong lịch sử Việt Nam, triều đại nào được xem là hoàng kim?"
Xác suất 95 phần trăm câu trả lời sẽ là thời đại Nhà Lý và Nhà Trần.
Nguyễn Gia Kiểng dẫn chứng một số dữ kiện cho thấy câu trả lời [tưởng
như là chân lý đó] không đúng. Thực tế là trong hai thời đại đó, Việt
Nam bị tụt hậu rất nhiều. Nhà Lý cai trị được 216 năm, nhưng gần 70
năm là chiến tranh. Nhà Trần cai trị được 175 năm, mà trong đó có đến
85 năm là loạn lạc, chiến tranh. Nhà Trần còn để lại một vết nhơ
trong lịch sử, đó là loạn luân, anh em con cháu cứ lấy nhau bừa bãi, chẳng
ra thể thống, đạo lý gì cả. Nhà Trần còn khinh khi Phật giáo hơn cả
Nhà nước Cộng sản ngày nay.
Hồ Quí Ly, một nhân vật được
nhiều nhà sử học xem là một nhà cải cách, nhưng qua mô tả của Nguyễn
Gia Kiểng, ông chỉ là một người bội bạc với đất nước Việt Nam. Hồ
Quí Ly làm khổ dân, rồi làm mất nước. Ngược lại, một nhân vật lịch
sử khác, Lê Chiêu Thống, thường bị gắn với cái nhãn hiệu "Cõng rắn
cắn gà nhà" lại được Nguyễn Gia Kiểng phát họa như là một người
yêu nước.
Trong các nhân vật lịch sử, Nguyễn
Gia Kiểng dành ra nhiều chữ nhất (26 trang) để mổ xẻ trường hợp Quang
Trung Nguyễn Huệ, một thần tượng của giới trẻ trong bao thế hệ. Theo
tác giả, Nguyễn Huệ và anh (Nguyễn Nhạc) và em ông ta (Nguyễn Lữ) xuất
thân là những người ăn cướp. Sau khi đã có đàn em và thực lực, Nguyễn
Huệ bắt đồng đảng gọi mình là "Đức Ông Tám", một danh xưng
mà Nguyễn Gia Kiểng cho là "xấc xược", là "đặc tính của
đám thảo khấu" (Trang 159). Có lẽ vì xuất thân là tướng cướp,
Nguyễn Huệ còn là một con người bạo tàn, sẵn sàng đánh bất cứ ai, kể
cả anh ruột mình. Nguyễn Huệ cũng chẳng có khả năng nhìn xa, hiểu rộng
như nhiều nhà sử học mô tả.
Còn những chiến công của Nguyễn
Huệ, theo Nguyễn Gia Kiểng, toàn là thổi phòng, không đúng với sự thật.
Chẳng hạn như trong trận Đống Đa, tác giả dùng số liệu của một nhà
sử học Đài Loan, để cho thấy rằng tổng số quân Thanh lúc đó chỉ khoảng
6000 người, chứ không phải 200,000 người như sử Việt Nam viết. Ngoài
ra, Nhà Thanh lúc đó không có ý định đánh chiếm Việt Nam! Phía Tây Sơn,
số quân tham chiến trận này cũng chỉ 600 người.
Người Việt cướp đất của
Cambodia? Không, theo Nguyễn Gia Kiểng, người Việt Nam không cướp đất của
người Khmer. Người Việt có mặt và sau này làm chủ vùng Thủy Chân Lạp
chỉ là một cuộc Nam tiến, "một sự bành trướng trong hòa bình"
(Trang 211), hay nói một cách thi vị là "dắt dìu nhau vào đến Cà
Mau". Nhận xét về người Việt xâm lược và hiếu chiến chỉ là một
thành kiến, chứ không có cơ sở khoa học. Người Khmer rất hung bạo ngay
cả với chính dân họ; do đó, không nên coi những cuộc tàn sát người Việt
ở Cambodia có động cơ hận thù dân tộc.
Nguyễn Gia Kiểng trình bày sự ngu
dốt của vua quan Nhà Nguyễn, và cho thấy người Việt đã thua người Pháp
một cách nhục nhã. Khi đánh chiếm Hà Nội, Pháp chỉ dùng có 170 quân và
bắt sống Nguyễn Tri Phương, hay lần hai dùng 500 quân và Hoàng Diệu không
kháng cự mà tự tử. Để đánh chiếm Hải Dương, người Pháp chỉ cần
15 lính! Nhục nhã hơn là họ chỉ dùng có 7 người lính để đánh chiếm
Ninh Bình! Tại sao Việt Nam lại thua nhục nhã như thế? Tại vì, theo Nguyễn
Gia Kiểng, chỉ đơn giản người Việt lúc đó không có tinh thần quốc
gia! (Hình như cụ Phan Chu Trinh đã từng đề cập đến những dữ kiện này
từ đầu thế kỷ 20!)
Sang thế kỷ 20, đánh giá vai trò của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng viết: "Đảng cộng sản
cũng khiến Việt Nam một thời được cả thế giới biết đến và nể phục
như một dân tộc anh hùng bất khuất đã chống trả một cách thắng lợi
với hai cường quốc lớn Mỹ và Pháp. Nó cũng là phong trào đầu tiên đánh
bại Hoa Kỳ. Mỗi người Việt Nam, kể cả những người chống cộng và
đã thực sự đứng trong hàng ngũ đối địch với cộng sản, sẽ lầm nếu
phủ nhận những chiến công này. Phủ nhận chúng cũng như người Ai Cập
phủ nhận các kim tự tháp hay như người Trung Hoa phủ nhận Vạn Lý Trường
Thành." (Trang 232).
Và "[Đảng Cộng sản] sau những
đập phá lúc ban đầu do bản chất cách mạng của nó, đã làm nhiều cố
gắng xây dựng đúng. Nó đã nâng cao phần nào cuộc sống của người dân,
mặc dù dân số Việt Nam tiếp tục tăng nhanh. Nó cũng thúc đẩy nhiều công
trình nghiên cứu có ích, và nó đã dành cho người dân một chỗ đứng có
phẩm giá hơn hẳn các chế độ quân chủ tại Việt Nam trước đó. Nếu
chúng ta không tự giới hạn trong cuộc tương tranh quốc-cộng mà cố gắng
nhìn cả chiều dài của lịch sử thì chế độ cộng sản phải được
coi là chế độ hay nhất mà chúng ta đã có từ trước đến nay trong những
chế độ đã cai trị toàn bộ Việ Nam (không kể chế độ Việt Nam Cộng
Hòa, một công thức canh tân được đề ra để đối đầu với công thức
cộng sản, nhưng đã thất bại sau 27 năm tồn tại và chưa bao giờ kiểm
soát được toàn bộ lãnh thổ và dân số Việt Nam." (trang 232-3).
Tuy nhiên, Nguyễn Gia Kiểng còn nhận
định rằng chế độ cộng sản còn tình cờ làm được những việc mà
các chế độ trước không làm được, đó là: tiêu diệt căn bệnh tâm thần
tôn sùng bằng cấp của người Việt; biến người Việt thành một dân tộc
từ chương, công chức thành một dân tộc ham buôn bán và kinh doanh, một
đặc tính cần có để phát triển kinh tế; loại bỏ ảnh hưởng của tôn
giáo trong chính quyền; và cũng vô tình tạo ra một lực lượng người Việt
hải ngoại.
Trong Phần Ba của sách, Nguyễn Gia
Kiểng cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì đâu đến nỗi?.
Theo cách phân tích ví von của tác giả, một hệ thống tin học có vấn đề
chỉ vì hai lý do: một là phần cứng (hardware) dở, và hai là phần mềm
(software) tồi. Tương tự, một đất nước không phát triển được và
trì trệ chỉ vì con người của đất nước đó tồi, hoặc/và văn hóa nước
đó tồi. Điều làm tôi ngạc nhiên là dù ở phần Một tác giả vẽ ra một
dân tộc Việt ngu dốt, nhưng ở đây, tác giả lại cho rằng "Những
con người của ta không tồi, chúng ta khá thông minh và chúng ta cũng rất
chăm làm" (trang 370). Do đó, theo tác giả, vấn đề là ở chỗ
văn hóa: văn hóa Việt Nam tồi. Và, Việt Nam chỉ khá nếu cái văn hóa tồi
này phải được thay đổi.
Nguyễn Gia Kiểng dành ra tới 34
trang giấy để đánh giá Khổng Tử và phân tích Khổng giáo, cái văn hóa
mà theo tác giả, đã nhào nặn ra con người Việt Nam. Đây là những ý kiến
mà tác giả đã từng phát biểu và gây ra nhiều tranh cãi trước đây.
Theo Nguyễn Gia Kiểng, Khổng Tử là một người không có tài trí gì đặc
biệt, nghèo nàn về tình cảm, kém về tư tưởng và nhận thức xã hội.
Ông cũng chẳng chứng tỏ là người có lòng nhân đạo; ngược lại, ông
mạt sát những người thứ dân khốn khổ một cách thô bạo: "Người
quân tử mà có đạo thì yêu người; kẻ tiểu nhân mà có đạo thì dẽ
sai". Người đời sau cho rằng Khổng Tử là người có đức lớn,
nhưng "Đức" ở đây chỉ là làm theo đúng nghi lễ, không phải
có lòng tốt, vì ông chưa từng giúp ai cả. Ngoài ra, ông còn tỏ ra là người
đạo đức giả: ông cũng mê nữ sắc, nhưng luôn khuyên học trò phải
luôn luôn hành xử như là người "quân tử".
Ảnh hưởng Khổng giáo ở Việt
Nam cực kỳ tai hại: nó làm cho người dân trở nên thủ cựu, chỉ lặp lại
những gì đã làm, mà không sáng tạo; nó là mầm móng cho độc quyền; làm
cho người Việt sùng bái người xưa một cách bệnh hoạn; biến người Việt
thành một dân tộc thích logic bạo lực; nó phủ nhận tri thức mới, và
do đó, bài bác việc mở mang tri thức. Tâm lí tôn sùng bạo lực trong con
người Việt Nam giải thích tại sao những phong trào chống cộng ở hải
ngoại của những người như Hoàng Cơ Minh và Võ Đại Tôn đã nhận được
sự ủng hộ của quần chúng hải ngoại: "Sở dĩ người ta ủng hộ
ông [Hoàng Cơ Minh] là vì ông đã có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực,
và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó"
(trang 98).
Tác giả kết tội Khổng giáo đã
là nguyên nhân làm cho người Việt Nam [và các dân tộc chịu ảnh hưởng
của Khổng Giáo khác như Trung Quốc và Hàn Quốc] là những dân tộc vô lễ
nhất thế giới. Người Việt Nam và Trung Quốc đối xử với người trên,
kẻ thắng thì khúm núm, nhưng lại thô lỗ với người dưới, kẻ bại.
Không những vô lễ mà còn rất đểu cáng, vô nhân đạo và mọi rợ với
người phụ nữ. Nguyễn Gia Kiểng cũng không tha người đàn ông Việt Nam,
mà theo ông là "một trong những người chồng thô bỉ nhất thế giới"
(trang 295-6).
Tác giả cũng qui tội cho Khổng giáo
đã làm cho nền văn học nghệ thuật của ta không phát triển như các nước
khác. Về nghệ thuật múa, Nguyễn Gia Kiểng cho rằng ta đội sổ, thua các
dân tộc láng giềng như Khmer và Lào. Về điêu khắc? Người Việt khéo
tay, nhưng chưa có sáng tác ra công trình nào có giá trị nghệ thuật cao cả.
Còn âm nhạc Việt Nam cũng nghèo nàn nốt! Văn học của ta không đến nổi
tệ, mà cũng chẳng có gì đặc biệt, xuất chúng. Thơ văn Việt Nam chỉ
xuất hiện từ đời Lý (Thế kỷ 11). Trong giai đoạn Lý-Trần, các tác
gia Việt Nam sáng tác được khoảng 600 bài thơ văn đủ loại. Đó là một
con số rất khiêm tốn, vì tính trung bình, mỗi năm chỉ sáng tác được 4
bài, hay 1 ngày chỉ sáng tác được 1 chữ! Tác phẩm cũng không có gì đặc
biệt. Người ta thường hay nhắc đến Chu Văn An, nhưng những gì ông để
lại cũng không có gì sâu sắc lắm.
Theo tác giả, văn học chỉ phát
triển sau thế kỷ 18, và nở rộ vào thế kỷ 19. Và, đòn bẩy cho phát
triển này là sự ra đời của chữ Nôm. Nguyễn Gia Kiểng chỉ ra rằng ở
các quốc gia Tây phương, như Pháp chẳng hạn, chỉ phát triển văn học một
khi họ từ bỏ tiếng Latin. Ở Việt Nam cũng thế, chúng ta chỉ có những
tác phẩm lớn của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Huy Tự, Phan Huy Chú, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh
Trinh, Dương Khuê, v.v.… chỉ sau khi chúng ta từ bỏ chữ Hán và dùng chữ
Nôm.
Tuy nhiên, văn hóa nghệ thuật Việt
Nam chỉ là một thứ "văn hóa nghệ thuật nghỉ ngơi, nhàn dư, chứ
không phải là văn hóa nghệ thuật nhức nhối và khai phá". Nguyễn
Gia Kiểng cho rằng Nguyễn Du chẳng có "cảm hứng và tư tưởng của
chính mình mà chỉ hòa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường
của Trung Quốc, và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người
này" (Trang 259). Nguyễn Gia Kiểng còn đi xa hơn: so sánh thơ của
Nguyễn Du với những bài thơ xuất bản ở khu Little Saigon (California), và
cho rằng thơ của Tiên Điền tiên sinh đọc rất khó hiểu và thiếu tính
hấp dẫn!
Ngoài Khổng giáo, Nguyễn Gia Kiểng
đưa ra hai lý do khác làm cho văn học nghệ thuật ta không phát triển, và
hai lí do này có chung một mẫu số: thiếu tự do. Trong suốt 2000 năm sau công
nguyên, ta bị đô hộ hơn 1000 năm; trong thời gian đó, ta không có tự do
và điều đó cũng đồng nghĩa với thiếu sáng tạo.
Ngoài ra, chúng ta không trân trọng
tiếng Việt. Ông thuật lại một câu chuyện về ông Nguyễn Văn Thiệu,
nguyên tổng thống ở miền Nam trước 1975, viết một văn bản chính trị
chỉ 3 trang giấy mà đã phạm phải cả trăm lỗi chính tả, và cách hành
văn không ai hiểu nổi. Các tướng lãnh và công chức cao cấp ở miền Nam
ngày xưa cũng thích dùng hay chen chút ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng
Pháp, trong giao tiếp hàng ngày. Nguyễn Gia Kiểng tuyên bố thẳng thừng:
Chúng ta rất vô lễ với tiếng Việt.
Nguyễn Gia Kiểng lý giải về Khổng
giáo không phải đứng trên quan điểm học thuật, mà là quan điểm chính
trị. Tác giả khéo léo dẫn dắt người đọc đến những sự tương đồng
giữa Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản. Theo tác giả, "Chế độ
cộng sản là một giai đoạn chuyển tiếp lô-gích từ chế độ quân chủ
Khổng giáo sang một chế độ dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản"
(trang 236), và cũng không quên nhắc nhở người đọc rằng dù chủ
nghĩa cộng sản được xuất phát từ Âu châu, nhưng "chỉ là một
cải tiến của Khổng giáo" (trang 236). Bởi vì Khổng giáo phù hợp
với chủ nghĩa cộng sản, nên Đảng cộng sản đã được dân chúng hưởng
ứng và đã thành công. Tác giả kết luận: "Cộng sản không phải
là một tai họa từ trên trời rơi xuống, nó tự chính chúng ta mà ra. Đó
là một di sản lịch sử mà chúng ta phải nhìn nhận và quản lý đúng đắn
để thoát khỏi" (trang 237).
Trong phần Bốn, sau khi nhận định
những sai lầm, tai họa, vấn đề của đất nước, và điểm qua kinh nghiệm
phát triển của các nước Á, Âu và Mỹ châu, Nguyễn Gia Kiểng đề ra mười
"định luật" chung cho phát triển xã hội. Có thể tóm gọn 10 định
luật đó như sau: (1) Phát triển chủ yếu là một vấn đề tâm lý và văn
hóa, tức liên quan đến con người; (2) Dân chủ là nguyên nhân tạo ra
phát triển và cũng là môi trường của phát triển; (3) Phát triển đòi hỏi
một đồng thuận dân tộc trong một dự án tương lai chung, phù hợp với
quyền lợi của mỗi cá nhân; (4) Phát triển đòi hỏi kinh tế phải được
tự do vận hành theo qui luật tự nhiên của thị trường thay vì bị gò
bó trong một kế hoạch; (5) Các thủ tục hành chính phải được giảm tới
mức tối thiểu cần thiết; (6) Phát triển lành mạnh đòi hỏi hủy bỏ mọi
đặc quyền đặc lợi, mọi thế lực ngoài qui định luật pháp, mọi
thành kiến và giáo điều, mọi phân biệt và ngăn cách; (7) Tự do là tâm
hồn, động cơ và sức mạnh của xã hội; (8) Mọi mâu thuẫn trong xã hội
phải được giải quyết qua đối thoại và thỏa hiệp; (9) Thương mại phải
được coi là động cơ của mọi tiến bộ khoa học, kỹ thuật, văn hóa
và đạo đức; và (10) Mọi luật và qui định phải phù hợp với trình độ
hiểu biết của dân chúng và liên tục thích nghi với bối cảnh xã hội,
nhưng luôn luôn phải giản dị, dễ hiểu, dễ tuân thủ cho mọi người và
được áp dụng triệt để.
Phần cuối của cuốn sách (Vươn
mình lớn dậy) gồm ba chương, trong đó tác giả đưa ra một vài nhận
định về quá trình phát triển/tụt hậu của các nước Phi châu, và muốn
dùng nó như là một lời cảnh báo nếu Việt Nam không học, không lấy
kinh nghiệm của các nước này, thì Việt Nam có nguy cơ bị tan rã, thậm
chí có nguy cơ bị xóa tên trên bản đồ thế giới! Tác giả nhận định
rằng tinh thần quốc gia dân tộc của chúng ta đã xuống rất thấp, trong
khi đó thì trong nước "Hiện tình của chúng ta là một đảng cầm
quyền đã cai trị đất nước một cách thô bạo trong một nửa thế kỷ,
đã thất bại trên mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, đã
gây vô số tội ác mà không hề gặp một chống đối qui mô nào. Phải
nhìn nhận rằng trên thế giới này khó mà tìm ra một dân tộc bạc nhược
như vậy" (trang 567). Tác giả vẽ ra một bối cảnh trong tương lai
của Việt Nam, mà trong đó chính quyền cộng sản sẽ tan vỡ, nhưng một lực
lượng chính trị xứng đáng khác chưa thành hình, thì hỗn loạn sẽ xảy
ra. Theo tác giả, chỉ cần 1000 người có đạo đức, lý tưởng, quyết tâm,
trình độ hiểu biết để làm một lực lượng hành động thì có thể đánh
bại đảng cộng sản Việt Nam! Nhưng tác giả không bàn đến là ở trong
nước chính quyền có tự thay đổi hay không.
Điều thú vị nhất trong phần này
là những đánh giá của tác giả về "tổ quốc" qua các chế độ.
Theo tác giả, văn hóa Khổng giáo là vô tổ quốc, bởi vì đất nước chỉ
là tài sản của vua chúa. Chẳng hạn như các vị tướng ngày xưa kêu gọi
dân chúng đi chiến đấu, hi sinh là chiến đấu và hi sinh cho vua, chứ
không phải cho tổ quốc. Qua thế kỷ 20, tổ quốc của những người cộng
sản là đao phủ, chiến tranh, chết chóc; là đánh tư sản; là tống khứ
con cái "ngụy quân, ngụy quyền" ra khỏi nhà trường; là lùa dân
đi vùng kinh tế mới; là lật lọng, đểu cáng. Tổ quốc của những người
gọi là "quốc gia" là những ông bà lớn bảnh bao thỏa mãn; là những
giấy phép nhập cảng; là những trương mục ngân hàng; những đợt bắt
quân dịch; những thương phế binh ăn xin ngoài đường nếu thấp cổ bé họng,
hay di cắm dùi chiếm đất nếu có quyền thế và băng đảng; là những người
mẹ, người vợ, xanh xao, đói khát chầu chực lãnh phần tiền tử tuất của
chồng con ... Nói tóm lại, theo Nguyễn Gia Kiểng, cái ý niệm "tố quốc"
của người Việt rất ư là khác thường, chỉ toàn những tập đoàn tàn
ác, thô bỉ.
Vì thế, Nguyễn Gia Kiểng đề ra một
ý niệm hấp dẫn là "Tổ quốc ăn năn". Ở đây, tác giả tỏ
ra khá cảm tính, và tha thiết với những hai bài luận văn "Tổ quốc
ăn năn" và "Gửi vào giấc mộng, nhắn ra cuộc đời" của mình.
Tác giả có một niềm tin sắt đá nếu người Việt cùng nắm tay nhau và
phấn đấu, Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạng hơn và xứng đáng với
tầm vóc dân tộc hơn.
Một vài
nhận xét
Đọc đến đây chắc độc giả của
bài điểm sách này sẽ hỏi Nguyễn Gia Kiểng có ý gì mà lại lúc thì
chê trách người Việt, nhưng có lúc lại tha thiết với tổ quốc như thế,
và nhất là tại sao tổ quốc phải "ăn năn"? Trong một bài phỏng
vấn, Nguyễn Gia Kiểng trả lời: "Cho đến nay, chúng ta vẫn quan niệm
tổ quốc là thiêng liêng, tối cao, được quyền đòi hỏi chúng ta, nhưng
không hề có trách nhiệm nào cả và do đó không thể bị trách cứ trong bất
cứ trường hợp nào. Tổ quốc ăn năn là tổ quốc được quan niệm lại".
Thực ra, chẳng riêng gì người Việt Nam quan niệm như thế, ngay cả người
Mỹ cũng cho tổ quốc là thiêng liêng, người dân chỉ hiến dâng cho tổ
quốc, chứ không phải ngược lại. Người Mỹ rất thích câu nói nổi tiếng
của cố Tổng thống John F. Kennedy: "Hãy hỏi bạn có thể làm gì
cho tổ quốc, đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn". Nhưng
"tổ quốc" là gì? Tác giả tỏ vẻ lúng túng, và giải thích một
cách loanh quanh: tổ quốc cũng như đất nước, non sông, nhưng
mang tính tình cảm, và nhấn mạnh hơn về lịch sử và di sản văn hóa. Như
vậy, "tổ quốc ăn năn" ở đây, hiểu theo cách định nghĩa của
tác giả, là lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam phải ăn năn! Với cách
hiểu và giải thích đó, tôi thấy không ổn chút nào với cụm từ "Tổ
quốc ăn năn". Đó là chuyện từ ngữ, chuyện quan trọng hơn là Nguyễn
Gia Kiểng muốn xét lại các vấn đề lịch sử, và văn hóa Việt Nam.
Nhưng muốn xét lại hay đánh giá lại
một vấn đề, điều cần thiết trước nhất là cái chuẩn. Ở đây, Nguyễn
Gia Kiểng tỏ ra tùy thuộc vào các ý tưởng và quan niệm của thế kỷ 20
để bàn những sự kiện xảy ra vào nhiều thế kỷ trước. Tôi nghĩ không
có vấn đề gì trong cách làm việc này nếu nó nhằm mục đích rút kinh
nghiệm, nhưng nếu dùng nó để đánh giá đúng/sai thì tôi e là không công
bằng. Chẳng hạn như ngày xưa, Trần Hưng Đạo viết trong Hịch tướng
sĩ những câu văn đầy cảm tính như "Ta thường tới bữa quên
ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận
chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù …" mà huy
động được quân lính ra trận, nhưng ngày nay nếu chúng ta đọc lại chắc
sẽ có người cho ông là một người thích bạo động và man rợ. Ngay cả
cái đẹp còn tùy thuộc vào thời gian. Hơn nửa thế kỷ về trước, Hoài
Thanh không thấy cái hay trong thơ của Bích Khê, và khựng lại trước thơ
của Nhóm Xuân thu Nhã tập, có lẽ không phải vì ông dở, mà bị giới hạn
bởi kiến thức và thông tin thời đó. Thành ra, đem thơ của Nguyễn Du mà
so với thơ của phố Bolsa thì quả là không những kịch cỡm mà còn không
công bằng cho cụ Nguyễn Du.
Nelson Mandela và đồng nghiệp của
ông trong đảng ANC (African National Congress), khi còn trong giai đoạn đấu
tranh vũ trang và chính trị với chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid
ở Nam Phi, không ít báo chí phương Tây không ngớt cho rằng đảng ANC do
ông cầm đầu là "bọn khủng bố", "bọn cướp". Nhưng
khi lên nắm chính quyền, họ là những người được thế giới công nhận
như những người đại diện cho quốc gia Nam Phi. Trường hợp của ông
Yasser Arafat và Mặt trận Giải phóng Palestine cũng thế: lúc còn "cơ hàn"
là những tay khủng bố, lúc thành công là những người của chính quyền
Palestine. Thời Tam quốc, Tào Tháo cũng từng bị mang tiếng là gian hùng,
là cướp ngôi vua, nhưng sau này lại là một ông vua không phải thuộc loại
tồi. Nói chung, việc phân định cái ranh giới giữa nổi loạn vì chính
nghĩa và cướp bóc vì lợi ích chung là một vấn đề phức tạp. Giả
thuyết Nguyễn Huệ xuất thân là một tướng cướp không nói lên cái
khía cạnh quan trọng hơn là động cơ gì làm ông một tướng cướp, và
khó mà so sánh "cướp" thời đó với "cướp" thời nay. Có
phải thời đó là một thời kỳ loạn lạc (so với thời bình ngày nay)? Nếu
đứng lên làm loạn với mưu lược và chiến lược để đánh giặc Thanh,
và đánh trận nào cũng thắng, thì có lẽ ta cần nhiều "tướng cướp"
như Nguyễn Huệ hơn nữa!
Những nhận xét của Nguyễn Gia Kiểng
về đất nước và con người Việt Nam có gì mới không? Đối với nhiều
ngừơi, câu trả lời có lẽ là có, nhưng thực ra, những nhận xét của
Nguyễn Gia Kiểng không mới. Ở trong nước, giới trí thức, nhất là giới
trí thức Hà Nội, đã từng nói khá nhiều về những đặc tính không mấy
hay ho của người Việt, và nền văn hóa yếu kém của Việt Nam. Tính vô
chính phủ, thói khôn vặt, thói tạm bợ, thói vay mượn, thói dối trá,
thói hư danh, thói huyênh hoang, thói ham bằng cấp, thói đạo đức giả
trong con người Việt đã từng được nói đến, và nói đến nhiều lần.
Cách đây hơn 30 năm, Giáo sư Nguyễn Hồng Phong ở Hà Nội từng viết một
cuốn sách bàn về "Tính cách dân tộc", và tác phẩm này đã
gặp nhiều phản đối. Hơn sáu mươi năm về trước, ông Nguyễn Văn
Vĩnh, từng viết trên tờ "Đông Dương tạp chí" về những
thói hư tật xấu của người Việt. Rồi sau này, một loạt những bài viết
về tính cách người Việt cũng được đem ra mổ xẻ. Ngày nay, Nguyễn Gia
Kiểng cũng muốn làm theo cách của những người đó và Nhà văn Lỗ Tấn
(ở Trung Quốc) và Bá Dương (ở Đài Loan) để cố tình quất vào lòng tự
ái của đồng bào mình để đánh thức họ ra khỏi cái bệnh trầm kha chỉ
quen tự ru ngủ bằng những lời khen thuận nhĩ. Nhưng tôi phải thú nhận
rằng cái con người Việt Nam mà Nguyễn Gia Kiểng phát họa, dù đã được
cường điệu hóa và châm biếm chút ít, rất gần gũi và dễ dàng nhận
diện ở mọi nơi chốn ngày nay, nhất là ở hải ngoại.
Nhưng vấn đề tôi muốn nói ở đây
là có nên dựa những thói hư tật xấu của một số người để kết luận
về bản chất của một dân tộc hay không? Tôi không phải là một
nhà dân tộc học, nhưng cái lương năng bình dân của tôi có thể trả lời
là "không". Một chữ "không" dứt khoát. Tôi đồ rằng dân
tộc nào cũng có một vài thói hư tật xấu. Sự khác biệt trong tính cách
của mỗi dân tộc, mỗi vùng, mỗi thời đại là thực tế, nhưng nó rất
tương đối và chẳng phải là bất di bất dịch. Chẳng hạn như đọc một
số hồi ký du lịch của các nhà buôn nước ngoài đến Phố Hiến vào thế
kỷ 17 và 18, người ta sẽ thấy họ nhận xét rằng "Người ở đây
có thói ăn cắp vặt". Rồi vào đầu thế kỷ 20, nhận xét ấy thấy
được lặp lại ở một vài thiên khảo cứu của các nhà cai trị thực
dân, rồi được nhắc lại trong sách của một vài học giả Việt Nam và
đến nay vẫn có người còn chia sẻ sự đồng tình với nhận xét ấy như
là một chân lý! Nhưng đó chỉ là một trong những tật xấu của con người
nói chung chứ không phải là "hằng số" biểu hiện tính cách của
một dân tộc. Những thói hư tật xấu, những cái đi ngược với
"tính bản thiện" không thuộc về tính cách của một dân tộc,
mà chủ yếu là do dân trí.
Nhưng nhận xét có khi lại là hàm
số của kinh nghiệm cá nhân. Christophor Bori, một người Ý Đại Lợi, từng
đến xứ Đàng Trong vào đầu thế kỷ 17, và có những nhận xét sau đây:
"Về mầu da thì người Đàng Trong không khác người Tàu ... về nét
mặt thì cũng giống người Tàu, mũi tẹt, mắt bé ... họ không quá lùn như
người Nhật, không quá cao như người Tàu. Nhưng về thân hình vạm vỡ
thì họ vượt cả hai, về can đảm thì hơn người Tàu, chỉ có người Nhật
là hơn họ về một điểm độc nhất là coi thường mạng sống trong gian
nguy và chiến trận... Người Đàng Trong dịu dàng hơn, lịch thiệp hơn khi
đàm đạo …. Tất cả các nước phương Đông đều cho người Âu là những
kẻ xa lạ... thế nhưng trái lại ở xứ Đàng Trong họ đua nhau đến gần
chúng ta, trao đổi với chúng ta trăm nghìn thứ, họ mời chúng ta ăn cơm với
họ. Tóm lại họ rất xã giao, lịch sự và thân mật với chúng ta ... Từ
tính tình rất trọng khách và cách ăn ở giản dị đó mà họ rất đoàn
kết với nhau, rất hiểu biết nhau, đối xử với nhau rất thành thật, rất
trong sáng, như thể tất cả đều là anh em với nhau, cùng ăn uống và
cùng chung sống một nhà, mặc dầu trước đó chưa bao giờ họ thấy nhau,
biết nhau. Họ coi là một nết xấu, nếu ai ăn món gì dù rất nhỏ mọn
mà không chia sẻ cho bạn, bẻ cho mỗi người một miếng. Họ có tính quảng
đại, hay bố thí cho người nghèo, họ có thói quen không bao giờ từ chối,
không cho kẻ xin bố thí. Họ nghĩ là sẽ không làm đủ bổn phận nếu từ
chối, họ coi như bị ràng buộc bởi phép công bằng. Do đó có lần mấy
người ngoại quốc bị đắm tàu và được cứu tại một cảng Đàng
Trong. Họ không biết tiếng để xin người ta cho thức ăn để sống, họ
chỉ cần học một chữ thôi cũng đủ, đó là chữ "đói", có nghĩa
là "tôi đói". Bởi vì vừa nghe thấy người ngoại quốc than thở
như vậy và đi qua các cửa nhà người dân mà kêu đói thì tất cả đều
động lòng thương và cho họ ăn, đến nỗi chỉ trong một thời gian ngắn
họ thu được rất nhiều thức ăn dự trữ, đến khi Chúa cấp cho họ một
chiếc tàu để trở về quê quán thì chẳng ai muốn đi vì họ quyến luyến
một lãnh thổ ở đó họ gặp được những người rộng rãi cho họ các
thứ để sống mà không đòi hỏi gì."
Tôi cảm thấy đồng ý với những
nhận xét của Nguyễn Gia Kiểng về sự kém cỏi của nền văn hóa Việt
Nam. Quả là chúng ta chưa có cống hiến gì lớn cho nhân loại, dù là văn
học, âm nhạc, hội họa, khoa học, tư tưởng … Xã hội ta có trọng văn
chương, nhưng cũng ít khi nào tôn sùng ai là thi bá, và ngay cả các nhà thơ,
nhà văn thời trước thế kỷ 20 cũng chỉ là những người "nghiệp
dư". Nhưng đây có phải là vì người Việt kém sáng tạo, hay vì hoàn
cảnh/môi trường làm cho người Việt kém sáng tạo. Tôi có lý do để
nghiêng về giả thuyết thứ hai hơn, bởi vì phần lớn người Việt làm
nghề nông, văn hóa của Việt Nam là văn hóa nông nghiệp định cư, không
có nhu cầu giao chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị.
Do đó, tôi chỉ đồng ý một phần với tác giả rằng vì thiếu tự do
mà ta không sáng tạo. Một khi có nhu cầu, và được đặt trong một môi
trường thuận tiện, người Việt cũng tỏ ra khá sáng tạo và khai phá. Những
gương thành công của người Việt ở hải ngoại là một ví dụ.
Những nhận xét liên quan đến sự
giới hạn về tài nguyên và mối đe dọa của sự mất cân bằng sinh thái
môi trường cũng không phải là mới. Tôi đã từng đọc không biết bao
nhiêu bài báo, kể cả báo khoa học, trong nước liên tiếp lên tiếng về
tình trạng dân số và xuống cấp môi trường. Do đó, có thể nói những
gì Nguyễn Gia Kiểng đề cập đến trong vấn đề này cũng không có gì mới.
Có mới chăng là cường điệu của ngôn ngữ làm cho người đọc cảm thấy
… tuyệt vọng, không còn thuốc chữa. Có điều khá ngạc nhiên là tác giả
không bàn gì đến những đề nghị của ông và mối liên quan đến sự toàn
cầu hóa kinh tế hiện nay. Tác giả cũng không chú tâm bàn vấn đề kinh tế
tri thức, một đề tài nóng hiện nay cho các nước đang phát triển như Việt
Nam.
Câu hỏi của Nguyễn Gia Kiểng tại
sao ta không công nhận Chế Bồng Nga như một vị vua của Việt Nam rất thú
vị, nhưng cũng không mới. Nếu tôi nhớ không lầm, giới sử học ở
trong nước cũng từng đặt câu hỏi tại sao không ghi nhận Triệu Đà và
con cháu ông ta vào hàng vua chúa của Việt Nam?
Còn vấn đề ý niệm quốc gia mà
Nguyễn Gia Kiểng đưa ra cũng đáng bàn. Theo tác giả thì ý niệm quốc gia
chỉ có sau Bình Ngô đại cáo (thế kỷ 15) của Nguyễn Trải. Điều
này có thể xem lại. Theo tôi, Nam quốc sơn hà (năm 1077) của Lý Thường
Kiệt cũng thể hiện ý niệm "quốc gia" đấy. Giới sử học Việt
Nam cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.
Mười "định luật" về phát
triển quốc gia do Nguyễn Gia Kiểng phát biểu, nói đúng hơn là mười
"quan sát", cũng là những điều khó ai có thể cãi lại, vì chúng
toàn là những điều "phải đạo". Nhưng quan sát cuối cùng (tức
là, luật pháp và qui định phải giản dị, dễ hiểu, nhưng phải phù hợp
với trình độ hiểu biết của dân chúng) có thể là một vấn đề cho Việt
Nam. Trình độ hiểu biết của người dân Việt Nam nói chung là thấp. Cộng
vào đó là cái truyền thống trọng tình cảm đã chi phối mọi ứng xử
trong xã hội, làm cho người Việt thiếu tinh thần tôn trọng luật pháp. Vấn
đề đặt ra ở đây là giáo dục. Thực vậy, nhìn qua các nước đang
phát triển mạnh trong vùng Á châu, và nhất là các nước đã phát triển
trên thế giới, ai cũng thấy một mẫu số chung là các nước này rất
chú trọng đến giáo dục và đào tạo. Thành ra, một quan sát (hay "định
luật" theo Nguyễn Gia Kiểng) mà tôi nghĩ cần thiết cho phát triển là
nâng cao trình độ dân trí qua giáo dục.
Nhưng dù sao nó cũng là những quan
sát mới, và tác giả đã có công đúc kết kinh nghiệm phát triển từ
các quốc gia khác. Mười quan sát này còn thể hiện khả năng xử lý
thông tin khá nhuần nhuyễn của Nguyễn Gia Kiểng. Tuy nhiên, chẳng ai biết
phải bàn gì, vì chưa ai biết nó đúng hay sai. Một lý thuyết có thể rất
hấp dẫn, nhưng khi đưa vào thực tế lại sai và cho ra kết quả tiêu cực.
Nhưng những đề nghị mà Nguyễn Gia Kiểng đưa ra chỉ để đọc, chứ thực
tế thì chính Nguyễn Gia Kiểng và người Việt ở hải ngoại có ít cơ hội
– nếu không muốn nói là không có cơ hội – để thực thi, khi mà chính
quyền vẫn còn nằm trong tay của người cộng sản.
Nguyễn Gia Kiểng tự nhận là một
người "chống cộng" (trang 325). Nhưng ông không phải là người chống
cộng một cách cực đoan. Không như nhiều người chống cộng cực đoan lúc
nào cũng sẵn sàng ác-quỷ-hóa mọi việc làm của người cộng sản, Nguyễn
Gia Kiểng bình tĩnh phân tích và chỉ ra được cái công và cái tội của
người cộng sản, nhưng cũng đồng thời chỉ ra được ưu và khuyết điểm
của chính phủ quốc gia ở miền Nam trước 1975. Nhưng rất tiếc là tác
giả không cho biết cụ thể những cái sai trái của chính phủ miền Nam trước
đây như thế nào. Những cụm từ chung chung như "buôn lậu",
"cấm dùi", "cướp đất" … có thể thích hợp với một
bài báo đưa tin, nhưng không thể chấp nhận được trong một cuốn sách,
nhất là một cuốn sách mang tiếng "chính luận" được.
Tuy nhiên, dù tác giả hứa với người
đọc là sẽ đưa ra những nhận xét "không nhân nhượng" (đã làm
việc nghiêm túc khoa học, thì tại sao lại có "nhân nhượng" hay
không ở đây?), nhưng có lẽ xuất thân là một người chống cộng, tác
giả đã có lúc có những nhận xét thiếu khách quan, khiếm diện. Chẳng hạn
như Nguyễn Gia Kiểng tuyên bố một câu quan trọng, nhưng một cách vô chứng
cớ, rằng cộng sản đã gây ra chết chóc cho 4 triệu (?) người Việt Nam,
mà không cho biết tại sao và với lý do gì người cộng sản phải chịu
trách nhiệm về con số tử vong này. Tôi nghĩ công bằng mà nói, chính phủ
quốc gia ở miền Nam cũng phải chịu phần nào trách nhiệm, nhất là những
cái chết của người dân trong đồng quê. Đó là chưa kể đến những cuộc
tàn sát tập thể người Việt Nam do người Mỹ gây ra, dù cố ý hay vô
ý. Nhưng qui nạp một con số cho một chính quyền nào đó thì thật là
khó. Làm sao để qui trách nhiệm cho triều đình Việt Nam hay Trung Quốc về
những cái chết trong các trận đánh trên sông Bạch Đằng, hay Đống Đa?
Câu trả lời thật là khó, khó về phương pháp và lý luận. Có thể nói,
ở đây, Nguyễn Gia Kiểng tiếp thu và nhìn vấn đề quá đơn giản và có
vẻ quá thiên vị. (Thực ra, theo tài liệu của Ngô Vĩnh Long [5], con số 4
triệu là bao gồm cả tử vong, bị thương, và mất tích trong thời gian
1965-1975. Con số người Việt bị chết trong thời gian này được ước đoán
sơ bộ là khoảng 1,921,000).
Điều đáng quí, tuy nhiên, là tác
giả cho người đọc thấy ông là một người không theo đường mòn, ham
thích khai phá, đặt câu hỏi, một mẫu người "xét lại". Tôi cứ
hình dung ra một Paul Erdos [6] trong con người Nguyễn Gia Kiểng, bất cứ lúc
nào cũng đặt vấn đề, đặt câu hỏi. Nhưng khác với Erdos, phương pháp
suy luận của Nguyễn Gia Kiểng có vấn đề. Trong mỗi đề tài, Nguyễn
Gia Kiểng đặt vấn đề, dẫn chứng dữ kiện (sẽ nói sau về khía cạnh
này), và kết luận. Đó là một phương pháp làm việc mang tính tiêu chuẩn.
Tác giả thích dùng cụm từ "chứng minh", và tỏ ra đắc ý với
những "chứng minh" của mình. Tuy nhiên, tôi nghi rằng tác giả hiểu
sai cụm từ này, và sự hiểu sai này có ý nghĩa quan trọng. Sự thực là:
không ai có thể chứng minh một giả thuyết cả. Thành ra, tôi
ngạc nhiên khi thấy tác giả thách thức người đọc "chứng minh"
rằng ông Hồ Chí Minh là một người yêu nước. Thực ra, người ta có thể
trưng bày dữ kiện hay bằng chứng hoặc nhất quán, hoặc không nhất quán
với cái giả thuyết ông Hồ yêu nước; nhưng người ta không thể chứng
minh được ông có yêu nước hay không. Tương tự, Nguyễn Gia Kiểng sẽ không
bao giờ chứng minh được rằng Nguyễn Huệ là một người hung bạo hay
thiếu tầm nhìn xa, hoặc Khổng Tử là một người thiếu nhân hậu.
Vấn đề
dữ kiện
TQĂN thể hiện một tham vọng của
Nguyễn Gia Kiểng muốn bàn những vấn đề lớn như đánh giá lại lịch sử,
tiếp thu bài học từ kinh nghiệm lịch sử và các nước khác, và đề ra
phương án phát triển cho tương lai … nhưng sách chỉ gói gọn trong 597
trang (không kể 14 trang cho lời nói đầu, giới thiệu, và cảm tạ). Tức
là, tính trung bình mỗi chương chỉ chiếm khoảng 5-6 trang giấy khổ 13.5
cm x 21.0 cm. Điều này dẫn đến một hậu quả hiển nhiên là nhiều chương
và đề tài chỉ được bàn một cách thiếu chiều sâu, thiếu khoa học
tính, thậm chí hời hợt. Một số nhà bình luận gọi cuốn sách là một
"chính luận" (chắc là phải hiểu như một "luận án chính trị"),
nhưng tôi lại không nghĩ như thế, bởi vì một lý do đơn giản: nó không
phải là một luận án. Trong TQĂN, người đọc sẽ không tìm gặp những
phương pháp cách làm việc mang tính hàn lâm của một luận án, không tìm
thấy nguồn gốc của những số liệu và dữ kiện mà Nguyễn Gia Kiểng đã
dùng làm cơ sở cho ý kiến của mình. Nguyễn Gia Kiểng, cũng như phần đông
các tác gia Việt Nam khác, không buồn cung cấp một bảng chú dẫn (index) về
tên của những nhân vật hay tổ chức được đề cập trong sách để người
đọc có thể tham khảo dễ dàng! Một cuốn sách của một tác giả có
trình độ đại học, được in vào thế kỷ 21, ở Tây phương, mà lại
thiếu những phần cực kỳ căn bản như thế thì quả là khó tha thứ.
Nguyễn Gia Kiểng biết và ghi nhận
những thiếu sót này, và đã "rào trước đón sau" ngay trong lời
nói đầu rằng: "Cuốn sách này là một cuốn sách để thảo luận
ý kiến, với mục đích đề xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo
luận. Vì thế tác giả tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương"
(trang XXII). Tôi rất ngạc nhiên về phát biểu này, vì một người từng
được hấp thụ nền giáo dục Tây phương ở bậc đại học mà lại tỏ
ra quá dễ dãi như thế! Nguyễn Gia Kiểng bàn về những vấn đề lớn và
mang ý nghĩa quan trọng, như đề nghị xét lại lịch sử hiểu lại lịch
sử Việt Nam, đánh giá lại văn hóa Việt, nhìn lại con người Việt, v.v…
nhưng lại không đưa ra bằng chứng khoa học hay đáng tin cậy nào cả!
Tác giả còn cam đoan với độc giả rằng: "Các số liệu được
đưa ra thường là những con số có ý nghĩa quan trọng đặc biệt vì thế
độc giả có thể tin là chúng đã được kiểm chứng một cách thận trọng"
(trang XXII).
Làm sao người đọc có thể đặt
niềm tin vào những tài liệu mà tác giả dùng là chính xác và khoa học?
Tôi có lý do để đặt một câu hỏi như thế. Chẳng hạn như Nguyễn Gia
Kiểng dùng một truyện ngắn trong "Tướng về hưu", một tiểu
thuyết nổi tiếng của Nguyễn Huy Thiệp, để làm bằng chứng cho sự thô
bạo trong kế hoạch hạn chế sinh đẻ ở Việt Nam! Lấy một câu chuyện
hư cấu trong tiểu thuyết để làm dữ kiện trong một luận văn chính trị
quả là một việc làm độc đáo. Chưa hết, tác giả còn trích tài liệu
từ một cuốn sách giáo khoa về địa lý để làm cơ sở cho nhận xét rằng
tỷ lệ tử vong trong dân số Việt Nam đã tăng lên 10% giữa 1979 và 1986. Sự
thực qua điều tra dân số cho thấy tuổi thọ trung bình dân số Việt Nam
liên tục tăng từ 32 tuổi vào năm 1945, lên 63 tuổi trong dầu thập niên
1980, đến 65 tuổi năm 1989, và 68 tuổi năm 1998. Sự tăng trưởng tuổi thọ
này là một kết quả của giảm thiểu tỷ lệ tử vong. Tỷ lệ tử vong
ở Việt Nam đã và đang giảm. Tuổi thọ tăng có nghĩa là tỷ lệ người
cao tuổi tăng. Chỉ riêng trong thời gian 1999 và 1989, người cao tuổi (60 tuổi
trở lên) trong dân số Việt Nam tăng 24%, trong khi đó tổng dân số tăng chỉ
1.7% hàng năm; tức là tỷ lệ người cao tuổi trong dân số tăng nhanh hơn
dân số. Tuổi thọ trung bình của Việt Nam tương đương hoặc cao hơn so với
các nước trong vùng Đông Nam Á. Trong thời gian từ 1989 đến 1998, tỷ lệ
tử vong trong dân số, mà đặc biệt là trong trẻ em dưới 1 tuổi, giảm
khoảng 15%. Dù hệ thống y tế của Việt Nam hiện này còn tồn tại rất
nhiều vấn đề, nhưng đó là một tiến bộ đáng kể, mà ngay cả Liên Hiệp
Quốc cũng ghi nhận. (Tưởng cần nói thêm rằng việc lấy tài liệu từ
sách giáo khoa ở Việt Nam là một việc làm "nguy hiểm", vì những
ai từng theo dõi Việt Nam đều biết sách giáo khoa trung học ở trong nước
có chứa nhiều dữ kiện sai. Việc chọn dữ kiện đáng tin cậy cũng là một
kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu!)
Làm sao người đọc biết được tác
giả đã kiểm chứng những số liệu này một cách cẩn thận, khi mà nhiều
khi tác giả chỉ dựa vào những mẩu chuyện cá nhân của người thân hay
bạn bè và từ đó khái quát hóa cho cả một cộng đồng, dân tộc? Có
khi người đọc phải ngậm ngùi cho Nguyễn Gia Kiểng quả là không may mắn
vì gặp quá nhiều người có nhiều tật xấu như thế, và lại nhớ toàn
những người xấu, tật xấu. Điều làm tôi ngạc nhiên là dù chỉ dựa
vào kinh nghiệm cá nhân, nhưng Nguyễn Gia Kiểng đã đưa ra một vài nhận
xét cực kỳ … liều. Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy Nguyễn Gia Kiểng viết
rằng: "Cũng rất ít người Sài Gòn biết rằng nông thôn miền Tây
Nam Phần có một quan hệ nam nữ tự do vào bậc nhất thế giới. Ở đây
rất ít đàn ông nào chỉ có một vợ - con số trung bình là ba - và cũng
khó kiếm ra một người đàn bà nào chỉ có một chồng" (trang 26).
Tôi đọc đoạn này cả chục lần, và tự hỏi mình có hiểu sai ý tác giả
hay không. Hi vọng là tôi biết đọc và không hiểu sai ý tác giả. Theo
tôi biết, Nguyễn Gia Kiểng từng sống và làm việc một thời gian ngắn
ở tỉnh Kiên Giang; nhưng tôi nghĩ cái quãng thời gian đó không đủ cho tác
giả đúc kết thành một cái nhìn chính xác và đầy đủ được về con
người ở miền Tây Nam bộ nói chung được. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền
Tây Nam bộ, và vì công việc, đã từng "lăn lộn" và lặn lội
trong vô số làng ấp thuộc vùng này, tuy chưa đủ để kết luận gì nhiều,
nhưng chắc chắn là đủ để có thể cho rằng câu phát biểu trên của
Nguyễn Gia Kiểng là sai với một xác suất 99.9%!
Sự thực là nông dân miền Tây Nam
bộ rất thủ cựu, và dứt khoát là không có quan hệ nam nữ tự do như tác
giả nói. Thống kê dân số Việt Nam cho thấy điều đó: tỷ lệ ly dị
ở vùng đất này thấp nhất nước. Tôi có một người cháu trai, mấy năm
trước đây, dang díu với người yêu, và khi câu chuyện đổ bể, bố mẹ
cháu (tức em họ tôi) phải làm lễ thành hôn cho hai cháu. Lễ thành hôn chỉ
được cử hành vào ban đêm, và rước dâu chỉ được đi cửa sau, chứ
không được đi cửa chính. Tôi đã từng đi qua vùng U Minh, Kiên An, Kiên
Bình, Kiên Lương, Long Xuyên, Châu Đốc, Đồng Tháp, Cà Mau, Đảo Phú Quốc
… nhưng chưa từng biết một người đàn ông nào đang sống với hai bà vợ
(chứ nói gì đến ba vợ), và càng ít biết người đàn bà nào có hai chồng.
Phải là một người đàn ông can đảm lắm mới dám sống với hai vợ! Nếu
quả có thì chắc cũng là những trường hợp cực kỳ hiếm. Một người
đàn bà ly dị ở nông thôn thật khó mà có một tương lai tốt, vì dèm
pha của láng giềng và dư luận công chúng. Tôi có thể nói: nông dân ở
Đồng bằng sông Cửu Long rất đáng yêu, nhưng bảo thủ, và chắc chắn
là không tự do tình dục vào bậc nhất thế giới. Tôi mong Nguyễn Gia Kiểng
cho mọi người xem dữ kiện mà ông ta dùng làm cơ sở cho câu phát biểu
trên.
Không những liều mà Nguyễn Gia Kiểng
còn tỏ ra cực kỳ tự tin về những ý kiến của mình. Tác giả khẳng định:
"Kinh nghiệm của tôi tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng đủ để cho phép
tôi khẳng định về môn kinh tế chính trị nó rất dễ. Một người bình
thường với trình độ tú tài, hơn một chút nữa càng hay, nếu tự tin
và quyết tâm có thể nắm vững những kiến thức cơ bản của môn kinh tế
chính trị trong vòng một năm, dĩ nhiên với điều kiện là có được sách
tốt hoặc thầy tốt" (trang 462). Các nhà nghiên cứu kinh tế chính
trị chắc phải rất hổ thẹn với nhận xét này: té ra, ngành học của họ
chẳng có gì phức tạp cả! Cần gì phải tốn ngân sách để đào tạo
cao học hay tiến sĩ cho bộ môn này! Sự tự tin này thường thấy ở những
sinh viên mới vào học toán thống kê hiện đại, họ chẳng cần phải chứng
minh, phải giải những bài toán rối reng, những phương trình dài lê thê,
mà chỉ cần bấm vài phiếm trên máy vi tính là có ngay đáp số. Và, như
thế, họ nghĩ là họ đã làm chủ được môn học! Đó là một sự tự
tin đáng yêu. Nhưng sau khi nghiền ngẫm, suy nghiệm cả đời, có lẽ họ sẽ
thốt lên như Giáo sư C. R. Rao từng nói sau hơn nửa thế kỷ hành nghề, rằng:
"Bây giờ tôi mới hiểu những bài toán này có ý nghĩa gì!"
Giáo sư Rao là một người rất thông minh.
Cũng có khi tác giả đưa ra bằng
chứng, nhưng nguồn gốc lại rất đáng nghi ngờ. Chẳng hạn như khi đánh
giá Nguyễn Huệ và trận Đống Đa, Nguyễn Gia Kiểng căn cứ vào tài liệu
của một sử gia Đài Loan. Giới sử học quốc tế không còn lạ gì những
thành kiến của những sử gia gốc Trung Quốc. Sách sử Trung Quốc vẫn khăng
khăng cho rằng Việt Nam và Hàn Quốc là một phần của lãnh thổ Trung Quốc!
Dù có bao nhiêu bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam trên hai hòn đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, mà sử gia Trung Quốc có bao giờ đọc đâu! Có nhiều
tài liệu cho thấy Trống Đồng là một sáng chế của người Việt, nhưng
sử gia Trung Quốc vẫn một mực khẳng định một cách mù quáng là của họ!
Với những "thành tích" như thế của sử gia người Trung Quốc, tôi
rất ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Gia Kiểng dùng sử kiện của họ như là
một "bằng chứng". Tất nhiên, tôi cũng không phủ nhận là sử của
ta cũng có vấn đề về chính xác. Nhưng sự thiếu sót của ta không đồng
nghĩa với sự giá trị hóa dữ kiện của người khác.
Tôi có cảm giác Nguyễn Gia Kiểng
khá dễ dàng chấp nhận dữ kiện của người khác, nhưng rất sẵn sàng
phủ nhận dữ kiện của Việt Nam và người Việt. Chẳng hạn như Nguyễn
Gia Kiểng tỏ vẻ chấp nhận cái luận cứ cho rằng dân tộc Việt có nguồn
gốc từ Trung Hoa: "… cuộc Nam tiến của người Trung Hoa đến Quảng
Đông, Quảng Tây thì khựng lại vì gặp bức tường núi gần 100 cây số.
Chỉ có một số ít người vượt được núi, hợp với thổ dân mà tạo
ra nước Văn Lang" (trang 122). Thật vậy sao? Thật ra, đó là một
cách hiểu cổ điển. Ngày nay, một số nghiên cứu di truyền học, dùng kỹ
thuật sinh học phân tử (molecular biology) đã cho chúng ta nhiều dữ kiện
đáng suy nghĩ lại. Trong một bài báo khoa học quan trọng được công bố
trên Tạp chí của Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Mỹ (một tạp chí khoa
học rất uy tín trên thế giới) , một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại
học Texas (Mỹ) và Viện Nghiên cứu Di truyền học Trung Quốc cho thấy nguồn
gốc của người Trung Hoa (và cả người Đông Á) rất có thể là do người
từ Đông Nam Á di dân lên [7], chứ không phải ở Bắc di dân xuống Nam!
Cố nhiên, chúng ta cũng nên biết rằng một trong những cái nôi xưa nhất
của người Đông Nam Á là di tích ở Hoà Bình. Như vậy, cho rằng dân tộc
Việt là xuất phát phát từ người Trung Quốc có thể là một ngộ nhận.
Lại có khi tác giả phát biểu một
câu quan trọng nhưng lại hứa là dữ kiện sẽ được nghiên cứu sau!
("Đảng Cộng sản đã làm chết 4 triệu người qua 30 năm chiến
tranh (con số sẽ được khảo sát một cách chính xác), nhưng đã nắm được
quyền và thống nhất đất nước.") Có nơi, tác giả viết như là
đi guốc trong lòng người khác: "Ông [Phạm Văn] Đồng chêm tiếng
Pháp vì ông thích tiếng Pháp, cho rằng nói 'tiếng Tây' là sang"
(trang 14). Người đọc sẽ phải hỏi làm sao Nguyển Gia Kiểng biết ông Phạm
Văn Đồng thích tiếng Pháp, và nghĩ như thế, khi mà hai người chưa bao giờ
gặp nhau? (Thực ra, hồi còn ở Việt Nam, tôi đọc khá nhiều bài viết
và bài nói chuyện của ông Phạm Văn Đồng, nhưng chưa thấy bài nào ông
ta dùng tiếng Pháp. Tất nhiên, điều đó không nói lên là ông ta thích hay
không thích tiếng Pháp) Tôi cho rằng cách làm việc này (đánh giá trước,
bằng chứng sau, và "nhét chữ vào miệng người khác") là một
cách làm việc thiếu tri thức thành thật (intellectual dishonesty). Tôi quả
thất vọng với cách làm việc này của tác giả.
Có thể nói sự thiếu thốn tài liệu,
thiếu trưng dẫn dữ kiện, hay dùng dữ kiện bừa bãi là một điểm yếu
đáng kể của TQĂN. Nếu cuốn sách là một bài báo dài thì cũng không có
gì đáng nói, nhưng đã nhận là một luận văn chính trị thì sự thiếu
sót này khó mà tha thứ được. Kể ra, đây cũng là một mâu thuẫn của
tác giả, bởi vì trong phần viết về Khổng Tử, Nguyễn Gia Kiểng phê
bình Khổng Tử một cách gay gắt là chỉ phát biểu như đinh đóng cột
mà chẳng chứng minh hay trưng bày tài liệu gì cả, trong khi chính tác giả
cũng chẳng làm khác gì hơn người mình chê trách!
Văn
chương xác định
Quả vậy, tôi cảm thấy rất ái
ngại cho Nguyễn Gia Kiểng khi ông dùng toàn những thể xác định và chắc
nịch trong những câu phát biểu có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn như tác
giả tuyên bố: "Người chồng Việt Nam là một trong những người
chồng thô bỉ nhất thế giới", hay "Việt Nam không còn chim",
hay "Người Việt không có óc phương pháp. Người Việt không biết
truyền thông, không biết đọc, không biết viết", v.v…. Tức là,
những câu phát biểu không chừa một khoảng trống nào cho sự nghi vấn,
không mang một tính tương đối nào cả, mà hoàn toàn xác định. Nếu quả
đúng như những câu văn trên thì đất nước Việt Nam quả rất khốn nạn.
Có đúng là, chẳng hạn như, Việt Nam không còn chim? (Nguyễn Gia Kiểng lặp
đi lặp lại cái giả thuyết Việt Nam không còn chim ít nhất là ba lần.)
Không còn cả một trăm con, hay dăm ba con chim? Cố nhiên, Nguyễn Gia Kiểng
biết, cũng như nhiều người biết, những câu tuyên bố mang tính khẳng định
đó không chính xác. Tôi đoán rằng chủ ý của Nguyễn Gia Kiểng là muốn
khiêu khích người đọc tranh luận. Không có gì sai quấy trong cái ý định
đó, nhưng tôi hi vọng tác giả sẽ rộng mở tấm lòng mình để đón nhận
phê bình, và nhất là tha thứ cho người phê bình khỏi cái nhãn hiệu
"không biết đọc, không biết viết".
Có đúng là người Việt Nam nào cũng
dốt, không biết đọc, không biết viết? Dĩ nhiên là không đúng. Cả nước
hiện đang có khoảng 112,000 người (tức khoảng 0.14%) mù chữ. Tài liệu của
Liên hiệp quốc cho thấy trong vùng Đông Nam Á, Việt Nam có tỷ lệ trẻ
em đi học đúng tuổi cao nhất (khoảng 96%). Trên trường quốc tế, học
sinh Việt Nam cũng không phải thuộc loại tồi hay dốt. Ngược lại là đằng
khác. Hàng năm, các đội tuyển học sinh cấp trung học của Việt Nam đem
về cho nước nhiều huy chương vàng, bạc, đồng trong các kỳ thi quốc tế.
Trong khoảng 30 năm qua, Việt Nam liên tục là một trong mười nước dẫn
đầu (trong tổng số khoảng 260 nước trên thế giới) về các kỳ thi vô
địch toán quốc tế. Riêng ở Á châu, các đội thi tuyển toán của Việt
Nam liên tiếp đứng đầu trong nhiều năm, tạo nên tiếng vang và sự kính
nể của các nước trong vùng. Việt Nam cũng là một nước đứng đầu
trong các kỳ thi vô địch về tin học, sinh học, vật lý, và hóa học. Về
tin học, Việt Nam được xếp hạng thứ 15 trong số khoảng 200 nước trên
thế giới tham dự, và hạng 4 ở Á châu, và hạng nhất trong khối ASEAN.
Ở hải ngoại, những tấm gương thành công sáng chói trong học đường,
khoa bảng của thanh niên gốc Việt là một danh sách dài. Tất nhiên, tôi
không lấy những thành tích đó để kết luận rằng dân Việt Nam ta thông
minh, nhưng tôi thấy thật là khó mà kết luận rằng dân Việt Nam dốt. Tôi
nghĩ rằng nói "dân Việt Nam thiếu thông tin" thì có lẽ chính xác
hơn, chứ cho rằng dân Việt Nam "không biết đọc, không biết viết"
thì tôi e rằng không công bằng chút nào, nếu không muốn nói là sai. Càng
thiếu tính thuyết phục khi cái nhận xét như đinh đóng cột đó lại chỉ
dựa vào lỗi lầm của một vài cá nhân.
Thực ra, nếu dùng cách biện chứng
của Nguyễn Gia Kiểng, tôi đoán người ta cũng có thể nói dân Mỹ, dân
Úc, dân Anh, v.v… cũng dốt nốt. Ở Úc chẳng hạn, theo một kiểm tra ngẫu
nhiên khoảng 70% sinh viên sư phạm môn toán (những người thầy tương lai
dạy toán) làm một bài toán lớp 9 không rành. Tôi cũng từng có kinh nghiệm
ở Mỹ khi một số sinh viên y khoa năm thứ ba không biết tính tích phân
và thể tích! Ở các nước như Mỹ, Anh và Úc, không những sinh viên đại
học thiếu trình độ Anh văn, mà ngay cả các giáo sư, khoa học gia, bác sĩ
… cũng viết sai chính tả và văn phạm tiếng Anh hàng ngày. Trong giới
chính trị gia, không riêng gì ông Nguyễn Văn Thiệu viết sai chính tả, hay
sai văn phạm; ở Mỹ, ông George W. Bush (đương kim tổng thống) và Dan
Quayle (cựu phó tổng thống) cũng viết sai chính tả và văn phạm Anh văn.
Nhà vật lý lừng danh Albert Einstein nổi tiếng là một người viết sai
văn phạm tiếng Anh; Nhà toán học trứ danh, Paul Erdos, cũng từng viết tiếng
Anh sai be bét. Nhưng nếu dùng những dữ kiện ngẫu nhiên đó để kết luận
dân Mỹ không biết viết, hay dốt thì quả là quá sai. Có thể các nhà
chính trị, nhà báo thường dùng cách nói thậm xưng như thế, nhưng một
người làm khoa học (dù là khoa học kém chính xác như khoa học xã hội)
mà phát biểu như thế thì quả là đáng trách.
Câu tuyên bố người chồng Việt
Nam là thô bỉ cũng chẳng có cơ sở gì đáng tin cậy. Nói rằng người chồng
Việt Nam không ga-lăng thì còn có một số người ghi nhận (chứ không hẳn
là "chấp nhận"), chứ thô bạo chắc chắn không phải là bản
tính của người đàn ông. Thực ra, phê phán một đặc tính nào đó rất
khó khăn, vì nó còn tùy thuộc vào văn hóa ứng xử của một dân tộc. Chẳng
hạn như trẻ em Việt Nam không dám nhìn thẳng mặt người lớn tuổi đối
điện là biểu hiện lòng tôn kính đối với người đó, nhưng đối với
người Tây phương, đó là một hành vi mang tính xấu, thiếu thành thật!
Do đó, dựa theo tiêu chuẩn của Việt Nam, chưa chắc người đàn ông Việt
Nam thiếu gă-lăng. Còn chuyện bạo hành gia đình không chỉ xảy ra trong người
Việt, mà xác suất nó còn cao hơn trong các gia đình người da trắng như
Úc và Mỹ chẳng hạn. Vả lại, bạo hành gia đình là một vấn đề tâm
sinh lý phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường sống, áp lực
xã hội, thậm chí di truyền. Khó mà dựa vào dăm ba câu chuyện cá nhân để
kết luận rằng người đàn ông Việt Nam là thô bạo. Chắc chắn là trong
cộng đồng, có người chồng Việt tồi, nhưng tôi nghi ngờ rằng đây là
con số ít. Và số ít không thể đại điện cho đa số được. Nói chung,
cái tốt và cái xấu như hai mặt của một tấm huy chương, nhưng khái
quát hóa nó thành một giá trị vĩnh viễn là điều khó có thực.
Ý kiến
cá nhân?
Tác giả cho rằng cuốn sách chỉ
là ý kiến cá nhân, nhưng tôi có lý do không đồng ý với sự tự nhận
xét này. Cộng đồng người Việt hải ngoại từng biết đến Nguyễn Gia
Kiểng và Nhóm Thông Luận như là những người chủ trương "Hoà hợp,
hòa giải dân tộc", và đã từng tranh luận không mệt mỏi cho đường
lối đó. Gần đây, Nhóm Thông Luận công bố "Dự án Chính trị
Dân chủ Đa nguyên Thành công Thế kỷ 21" mà trong đó, họ trình
bày những nhận định về lịch sử, và định hướng phát triển Việt
Nam trong thiên niên kỷ mới. Phần lớn những nhận định và định hướng
trong Đề án này được đề cập và lý giải một cách chi tiết hơn trong
TQĂN. Như vậy có thể coi TQĂN là một tập tài liệu bổ xung cho Dự
án chính trị của Nhóm Thông Luận, chứ không đơn thuần là "ý kiến
cá nhân" như tác giả viết trong phần mở đầu.
Nói chung, có thể nói rằng trong TQĂN,
mỗi câu phát biểu đều có thể đặt trong vòng nghi vấn, và mọi
"xét lại" đều cần phải xem lại.
Văn chương
khiêu khích
Về văn chương, so với những cuốn
sách cùng thể loại viết bằng tiếng Việt, cuốn TQĂN là một cuốn sách
được trình bày cẩn thận, và gần như không có lỗi chính tả nào. Nó
chứng tỏ tác giả có suy nghĩ và quan tâm đến người đọc. Thêm vào đó
là văn chương của Nguyễn Gia Kiểng, tuy có chịu ảnh hưởng khá nhiều lối
viết của Tây phương, nhưng rất trong sáng. Điều này cũng không ngạc
nhiên, vì tác giả là một người làm việc trong khoa học kỹ thuật, và từng
được đào tạo ở Pháp. Có người cho rằng đây là "một cuốn
sách có thể dùng làm chuẩn cho thể văn chính luận tiếng Việt và, một
phần nào, cho tiếng Việt nói chung" [8]. Tôi không đủ trình độ
để đánh giá tính chính xác của nhận xét này, nhưng ở một vài chỗ,
Nguyễn Gia Kiểng sử dụng thủ pháp vạch trần, không ỡm ờ, không mang
thói kệch cỡm, mà người đọc có khi phải nhăn mặt khó chịu: "Mày
đụ cho nó đã cái lồn mày, rồi mày đẻ con mày để cho tao nuôi, gạo
đâu tao nuôi" (trang 110). Rất ít người Việt nào dám viết một
cách "hiện thực" như thế! Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ mỗi tác giả
có một cách nói, và người đọc, một khi đã quyết định đến với tác
giả, thì cũng nên sẵn sàng rộng lòng chịu đựng cái thế giới chữ nghĩa
của tác giả.
Có thể nói văn chương của Nguyễn
Gia Kiểng là "văn chương khiêu khích" (dù có lẽ tác giả không chịu
nhận là mình khiêu khích). Sự khiêu khích đã trở thành một nhãn hiệu
(trademark) của Nguyễn Gia Kiểng, và trong TQĂN, nó được nâng lên thành một
nghệ thuật: nghệ thuật đặt vấn đề bằng khiêu khích.
Tuy nhiên, Nguyễn Gia Kiểng kêu gọi
người Việt phải trân trọng tiếng Việt, vì theo tác giả, chúng ta (người
Việt) đã "rất vô lẽ với tiếng Việt". Về điều này, tôi tin
chắc là không ai phản đối tác giả. Nguyễn Gia Kiểng chê trách ông Nguyễn
Văn Thiệu, Phạm Văn Đồng, và một số quan chức cao cấp trong chính quyền
miền Nam trước 1975 thích dùng tiếng Tây trong giao tiếp hàng ngày và thậm
chí trong công văn. Nhưng tôi thấy tác giả cũng mâu thuẫn, vì trong TQĂN,
chính tác giả cũng thỉnh thoảng chêm tiếng Anh/Pháp. Nguyễn Gia Kiểng cũng
dùng chữ "Sông Mê Kông" (thay vì Sông Cửu Long), hệ số thông minh
(I.Q.) (trang 56), ils ne s'aiment pas (trang 71), Job (trang 102), Happy
end (thay vì "happy ending", trang 111), máy truyền hình "digital",
"computer" (trang 48), laissez-faire (trang 466), thậm chí
"Sic"! Có lúc tác giả còn đánh vần sai, chẳng hạn như ethic
mà đáng lẽ phải là ethics, và moral mà đúng ra phải là morality
(trang 294). Tôi hi vọng là tác giả không có hai tiêu chuẩn (một cho mình
và một cho người khác).
Một góp
sức có ý nghĩa
Vậy TQĂN nên được tiếp nhận
như thế nào? Vứt đi? Ai nỡ làm thế! Tôi nghĩ nếu ta bỏ qua những lỗi
lầm khó tránh khỏi đó (mà ngay cả chính tác giả cũng thú nhận là có
thể có), để chú trọng vào những vấn đề nhức nhối mà tác giả muốn
ta bàn thảo, thì ai cũng thấy tàng ẩn phía sau những lời phê phán không
khoan nhượng, những câu văn chua chát là một thái độ đứng đắn, là
cái trăn trở của một người Việt còn quan tâm đến vận mệnh của nước
nhà và dân tộc. Tôi xem TQĂN như là một cái bóng của thực tế; những
thông tin, ý kiến, và quan sát của tác giả – dù đúng hay sai – đều có
ích, không phải chúng cho ta một sự thực, nhưng chúng cho thấy sự chủ
quan và nhận thức của tác giả. Vì thế, nếu Nguyễn Gia Kiểng đặt lại
các vấn đề lịch sử, thì người đọc cũng có lý do để chất vấn, để
mổ xẻ, để không đồng ý với những nhận xét vừa táo bạo vừa khiêu
khích [quá đáng] của tác giả.
Tóm lại, Tổ quốc ăn năn là
tập hợp những ý kiến mang tính xét lại của Nguyễn Gia Kiểng và có lẽ
cũng là của Nhóm Thông Luận về đất nước, con người, văn hóa, và lịch
sử Việt Nam, và một số định hướng cho phát triển đất nước trong
thiên niên kỷ mới. Những điểm mạnh của cuốn sách là lối nhận xét
thẳng thắn về các vấn đề mà đối với nhiều người là những đề tài
"cấm kỵ", và đặc biệt là tác giả không chỉ phê phán suông
(như nhiều người khác từng làm) mà còn đề ra phương án để khắc phục
những khiếm khuyết ông nêu ra. Tuy nhiên, khía cạnh yếu của cuốn sách
là vấn đề phi-hàn-lâm, thiếu dẫn chứng cụ thể cho những phát biểu
quan trọng, và có khi thiếu khách quan. Đối với nhiều người, lối hành
văn khiêu khích của tác giả cũng có thể kể là một điểm yếu.
Việt Nam là một đất nước mang số
phận nhược tiểu và luôn đầy những khóc cười. Là người Việt, ai
cũng mong cho một Việt Nam hoàn chỉnh, nhưng cái mong muốn ấy cần có sự
góp sức của nhiều người. Dù có thiếu sót, tôi nghĩ những ai từng hỏi
"vì sao Việt Nam đến nỗi" có thể tìm thấy một vài câu trả lời
trong TQĂN, và như thế, Nguyễn Gia Kiểng đã làm công việc "góp sức"
ấy. Tôi chỉ hi vọng là tác giả có thực tâm góp sức. Nếu người đọc
không cảm thấy thuyết phục hay không đồng ý với những câu trả lời
hay nhận xét trong sách, thì nó cũng làm cho người đọc phải suy nghĩ. Và,
như thế, Nguyễn Gia Kiểng chắc cũng hài lòng.
Chú thích:
[1] Nhận xét của Giáo sư Nguyễn Mạnh
Hùng.
[2] Nhận xét của ông Nguyễn Ngọc
Bích, học giả, nhà báo.
[3] Xin xem thêm trong Thế Kỷ 21, số
144, tháng 4, năm 2001.
[4] Trích "Việt Nam Văn Hóa Sử
Cương" của Đào Duy Anh. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh tái bản
năm 1992. Trang 24-25.
[5] Ngô Vĩnh Long, trong bài
"Vietnamese Perspectives," đăng trong Encyclopedia of the Vietnam War,do
Stanley Kutler Biên soạn (New York: Scribner’s, 1996), viết: "The war in
Vietnam primarily—and most heavily—affected the Vietnamese people, north and south.
The number of casualties — civilian and military — was enormous. According to
conservative estimates, about 4 million Vietnamese on all sides were killed, wounded, or
missing during the 1965-1975 period alone. The Pentagon’s final estimate of civilian
casualties for the South, a nation of about 18 million in 1972, was as high as 1,225,000
for the period between 1965 and 1972. A U.S. Senate subcommittee report estimated
1,350,000 civilian casualties, including 415,000 killed, for the same period. "Enemy
soldiers" killed were at least 850,000, according to both estimates. A substantial
number of these "enemy soldiers," however, were civilians whom the U.S. military
defined as "enemy" because they were within free-fire zones, areas controlled by
the National Liberation Front (NLF). Estimates of casualties suffered by the Republic of
Vietnam Armed Forces ran from 300,000 to 500,000. During the "post-war" of
1973-1975, another half a million Vietnamese were killed and wounded — 340,000 of them
were civilians —according to the U.S. and South Vietnamese estimates."
[6] Paul Erdưs (1913-1996) là một
trong những nhà toán học vĩ đại thuộc thế kỷ 20. Ông sinh ở Hungary, nhưng
có gốc Do Thái, là tác giả của hơn 1500 công trình nghiên cứu toán. Ông
là một người dành suốt cuộc đời cho toán học, lang thang hết trường
đại học này đến viện nghiên cứu nọ không phải để ngắm cảnh, mà
để tìm những bài toán khó, đặt ra những vấn đề toán học để ... giải.
[7] Bài báo của Giáo sư J. Y. Chu và
đồng nghiệp mang tựa đề "Genetic relationship of populations in
China", đăng trên Proceedings of the National Academy of Science (USA)
1998; số 95, trang 11763-11768. Trong bài báo quan trọng này, tác giả viết
"The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestors of the
populations currently residing in East Asia entered from Southeast Asia."
[8] Nhận xét của ông Nguyễn Văn
Huy, chuyên viên dân tộc học, nhà văn, nhà báo.
Home | Go top page | Đối thoại