>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Những vấn đề còn tồn đọng của lịch sử dân tộc

Kính gởi quý độc giả khắp nơi: Trong thời gian vừa qua, trang nhà Giao Điểm nhận được hàng trăm lá thư của đồng bào Việt khắp nơi - trong nước và trên trên thế giới kêu gọi chúng tôi tranh đấu với chính phủ Việt Nam điều nghiên và xử lý một cách công bằng tất cả những bất động sản, tự viện, chùa chiền v.v... khắp mọi nơi trên đất nước đã  bị chính phủ đô hộ Pháp... và Giáo hội Công giáo Việt Nam thuộc Rôma đã dùng quyền thống trị bất chánh, chiếm đoạt các cơ ngơi trên để xây dựng Nhà thờ, Tu viện và trường học tư... cho họ từ các năm  cuối thế kỷ 19 đến các thập niên cuối thế kỷ 20 phải hoàn trả hoặc bồi thường cho nhân dân Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng. Chúng tôi suy nghĩ rằng tất cả những cơ ngơi này là tài sản văn hóa chung của dân tộc và những nguyện vọng, đòi hỏi trên rất chính đáng. Trước khi tiến hành việc đáp ứng nguyện vọng này, chúng tôi cần nghiên cứu thêm các khía cạnh lịch sử và pháp lý của sự việc, yêu cầu đồng bào mọi giới khắp nơi gởi về các tư liệu, văn kiện pháp lý, hình ảnh... liên hệ cho chúng tôi, đồng thời trang nhà GĐ sẽ mở một mục đặc biệt: “Những vấn đề còn tồn đọng của lịch sử dân tộc” để nhận tất cả ý kiến, tham luận, mổ xẻ thêm về vấn đề này. Mở đầu là bài “Sự thật về đức Mẹ La-vang” của Đức Cố Lê. Trân trọng kính mời. GĐ.

across.gif (195 bytes)  Xem hình Báo Ân Tự ở Hà Nội bị Pháp phá huỷ vào năm 1892

SỰ THẬT VỀ “ĐỨC MẸ LA-VANG”
 
Đức Cố Lê sưu-tầm

LỜI GIỚI THIỆU:

            Nhân dịp kỷ niệm “200 Năm Đức Mẹ Hiện Ra Tại La- Vang (1798-1998)”, các nhân vật tên tuổi Ky-Tô-Giáo Việt Nam và ngoại quốc đã đặc biệt viết và trích những bài tiêu biểu tổng lược sự tích ấy để làm tài liệu căn bản cho lịch sử của “biến cố” nói trên.  Chúng tôi xin trích đăng lại sau đây, để độc giả khắp nơi thưởng lãm.

PHẦN I: NGUỒN GỐC HAI TIẾNG “LA VANG”

A. TÀI LIỆU:

            Báo “Thằng Mõ” (918 S First St, San Jose, CA 95110, USA), số 832 ra ngày 28-3-98, có đăng bài “Tinh Thần La Vang” của Trần Văn Trí.  Một trong các tiểu mục của bài này là “Tên La Vang”:

            Trong hạt Dinh Cát có một họ đạo tên là Cổ Vưu được thành-lập từ thế-kỷ 17, nay còn gọi là xứ Trí Bưu.  Người dân sống bằng nghề “làm củi” (chính-yếu là chặt những cây nhỏ dùng để nấu bếp).  Theo linh-mục Stanislaô Nguyễn Văn Ngọc, đặc-điểm trong vùng là đồng-bào Công Giáo và không-Công-Giáo đoàn-kết mật-thiết với nhau.  Từ thế-kỷ 16, dân đi làm rú, còn gọi là “đi củi”.  Họ phá một sở rẫy giữa rú xanh cách Cổ Vưu độ 7 cây số để trồng khoai sắn và cấy lúa.  Người dân đặt tên vùng đó là La Vang.

            Đức giám-mục Hồ Ngọc Cẩn cho biết:  “Ban đêm, phường La Vang không có sự thinh lặng.   Đêm nào người ta cũng la lối om sòm.  Họ đánh mõ, đánh thùng rộn ràng, để đuổi các thú dữ như heo rừng, voi, cọp từ rú xanh ra phá khoai, sắn, lúa, nên người ta gọi là phường La Vang.” (Lm Lê Văn Thành: Đức Mẹ La Vang, 1955, tr. 15-16).

            Nhưng giải-thích sau đây của linh-mục Philipphê Lê Thiện Bá, gốc Cổ Vưu, có cơ-sở hơn:  “Trong sổ bộ lập từ đời nhà Lê, nơi đó, tức sở rẫy của dân Trí Bưu, gọi là phường Lá Vằng, vì có nhiều cây lá vằng, một thứ cây có hột đen ăn được và lá là vị thuốc mà phụ-nữ xứ Dinh Cát dùng để uống sau khi sinh đẻ.   Về sau người dân đọc Lá Vằng ra La Vang, và nơi Đức Mẹ hiện ra được gọi là linh-địa

La Vang.” (Lm Stanislaô Nguyễn Văn Ngọc: Linh-Địa La Vang, tr. 32-34 và Lm Hồng Phúc: Đức Mẹ La Vang, tr. 30-31).

B.  NHẬN-XÉT:   

            La Vang đã trở thành một “linh-địa” và các nhà viết sử, chủ-yếu là các tu-sĩ Ky-Tô-Giáo, không thể không tìm hiểu và viết về nó, kể cả nguồn gốc của địa danh này.  Nhưng ở đây lại có hai lời giải-thích khác nhau của các tu-sĩ: một bên là giám mục Hồ Ngọc Cẩn do linh muc Lê Văn Thành kể lại (“La Vang”); một bên là các linh mục Nguyễn Văn Ngọc và Hồng Phúc (“Lá Vằng”).

                        a)  Bản thân các tài liệu:

            1-  Tài liệu của Lm Lê Văn Thành được xuất bản năm 1955 (vào đầu thời kỳ chấp chính của tổng thống Ky-Tô-Giáo Ngô Đình Diệm, và căn cứ vào lời của Gm Hồ Ngọc Cẩn (“La Vang”).

            2-  Tài liệu của Lm Nguyễn Văn Ngọc được xuất bản năm 1978 (ba năm sau khi CSVN đã chiếm Miền Nam) và căn-cứ vào lời của Lm Lê Thiện Bá, người được xem là gốc Cổ Vưu (“Lá Vằng”).

            3-  Tài liệu của Lm Hồng Phúc được xuất bản năm 1997 (sau khi CSVN đã “đổi mới” và Giáo Hội Ky-Tô-Giáo đã chuẩn-bị cho đại hội La Vang vào năm 1998) (“Lá Vằng”).

                        b)  Thắc mắc:

            1-  Báo “Saigon USA” (345 E Santa Clara St, #108, San Jose, CA 95113, USA), số 97 ra ngày 14-9-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang”, trong đó có đoạn:  “... dưới thời hai Cha Sở: Bonin (Ninh) và Cadière (Cả).  Cha này đã công tác rất nhiều trong việc kiến thiết Linh Địa La Vang lúc ban đầu” (năm 1903).  Đó là vào đầu thế kỷ 20, gần với sự tích Đức Mẹ La Vang hơn các tác giả kể trên.  Lm Cadière là một người Pháp  thông thạo về Việt Nam (hiểu biết và có thể giải thích nhiều điều, kể cả các điển tích lịch sử Trung Hoa và ẩn dụ văn học trong Truyện Kiều của Nguyễn Du), là một nhân vật nổi bật trong Hội Ái Hữu Cố Đô Huế cũng như Trường Viễn-Đông Bác-Cổ.  Hơn nữa, ông đã từng là Cha Xứ Cổ Vưu (Trí Bưu) coi cả La Vang.  Tại sao Lm Cadière không hề nói gì về nguồn gốc hay ý-nghĩa của hai tiếng La Vang?

            2-  Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn (theo Nguyễn Lý Tưởng trong “Linh Địa La Vang”, là một nhà thông thái, gốc Quảng Trị là Tỉnh của La Vang) đã được đồng bào cả trong lẫn ngoài Ky Tô Giáo biết đến.  Sau khi cố Ngô Đình Diệm chấp-chính (1954-1963), chính quyền họ Ngô nói chung và giáo hội Ky-Tô-Giáo Việt Nam nói riêng đã nhắm ít nhất là hai chủ đích: giúp cho tổng-giám-mục Ngô Đình Thục (anh của Diệm) được phong hồng y; và phát-triển tầm quan trọng của La Vang, vì một cảnh trí Đức Mẹ hiện ra chắc hẳn sẽ làm cho quốc-gia sở tại nổi tiếng khắp thế giới về mặt tôn giáo và lôi cuốn đông-đảo du khách cũng như tín đồ hành hương.  Do đó, lời giải thích của Gm Hồ Ngọc Cẩn hồi đó hẳn là đáng tin cậy nhất (La Vang là la lối om sòm), mà Lm Lê Văn Thành trích dẫn và xuất bản năm 1955.  Tại sao suốt nhiều năm trời, kể cả sau khi họ Ngô không còn, không hề có ai, nhất là trong giới tu sĩ Ky Tô Giáo, thí dụ giám mục Lê Hữu Từ, đưa ra một lời giải thích nào khác hơn?

            3-  Thế thì Lm Lê Thiện Bá, được xem là gốc Cổ Vưu, làm gì, ở đâu, trong lúc lời giải-thích của Gm Hồ Ngọc Cẩn đã được công-bố từ năm 1955, mà mãi đến năm 1978 (23 năm sau), và 3 năm sau khi CSVN đã chiếm Miền Nam, mới lên tiếng cãi lại rằng La Vang là Lá Vằng?

            4-  La Vang hay Lá Vằng thật ra không thành vấn-đề, mà vấn đề chính là:  Một “tài-liệu” của một giáo phẩm cao cấp Ky Tô Giáo xuất bản năm 1955 (giữa thế-kỷ 20 tiến-bộ này) mà đã bị một số tu-sĩ cùng một giáo-hội (thí-dụ Lm Hồng-Phúc) phản bác, cho là không đúng sự thật; vậy thì làm sao tin được các “tài-liệu” khác của những người cùng giáo hội ấy viết ra, từ một thế kỷ chậm tiến trước đó, lui về cho đến thế kỷ 16 xa xưa?

PHẦN II: MỨC ĐỘ KHẢ TÍN CỦA LINH MỤC HỒNG PHÚC

A.  TÀI-LIỆU:

            Báo “Mẹ Việt Nam” (67 E Hedding St, San Jose, CA 95112, USA), số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Đốt Lò Hương Cũ: Cụ Ngô-Đình-Diệm và La Vang” của Lm Hồng Phúc.

            1)  Lm Hồng Phúc viết:  “Tập sách “Đức Mẹ La-Vang và Giáo-Hội Việt Nam”...  Bản thảo của tập sách bị thất-lạc.  Cha Giuse Lê-Văn-Thành đã thu-thập lại được một ít tài-liệu, nhờ linh-mục Hồng Phúc ấn-loát gấp 10.000 quyển gởi ra trước kiệu Đại Hội lần thứ 12, tháng 8-1955.   Cuối tháng 7, tôi nhận được điện-tín của ngài cho biết máy bay không nhận chở ra Huế.   Tôi về viếng Mẹ La-Vang xin Mẹ giúp.  Chúng tôi cùng với một cha bạn quen với họ Ngô, vào xin yết-kiến Tổng-Thống.  Văn-phòng Phủ Tổng-Thống cho biết là Tổng Thống rất bận.  Họ nói với chúng tôi:  Đúng 5 giờ, Tổng Thống có thói quen ra thở không-khí trời vài phút...  Tôi nói ngay sự việc và xin Tổng Thống giúp...”

            Độc giả không cần nhớ lại lịch sử, vì Lm Hồng Phúc đã viết trong một đoạn trước đó của cùng bài ấy:  “Từ khi lên làm Tổng Thống (tháng 10-1955), mỗi lần có dịp ra Quảng Trị việc đầu tiên là tới La Vang cầu khẩn với Đức Mẹ”.

            Việc chuyên-chở sách đạo và đại-hội La Vang xảy ra vào tháng 8-1955, vào thời gian ấy Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng của chính phủ Bảo Đại (Diệm phải đợi đến ngày 23 tháng 10-1955 mới lật đổ Bảo Đại để lên làm Tổng Thống), thế mà Lm Hồng Phúc đã gọi Diệm là Tổng-Thống thay vì sự thật là Thủ Tướng.

            2)  Lm Hồng Phúc cũng viết:  “Ngày 16-8-1961 Cụ đến kính viếng Đức Mẹ”.  Nhưng ông lại ghi chú dưới bức ảnh Ngô Đình Diệm đang bước trên các bực cấp của nhà thờ La Vang, đăng cạnh đó: “Tổng-Thống Ngô Đình Diệm trong ngày Đại Lễ Đức Mẹ La Vang 15-8-1961".

            Tổng Thống đến dự Đại Hội vào ngày lễ chính, thế mà Lm Hồng Phúc không nhớ chính xác là vào ngày nào, và cũng không thấy là mình đã ghi hai ngày khác nhau trong cùng một bài viết.

            3)  Trong một đoạn khác, Lm Hồng Phúc viết: “Những lần Cụ đến Dòng Chúa Cứu-Thế...  Ra đi có cận-vệ, quân cảnh, còi hụ...”.

            Lm Hồng Phúc rõ ràng không nhớ rằng vào thời ấy lực lượng hộ tống Thủ Tướng, sau đó là Tổng Thống, Ngô Đình Diệm là Cảnh Sát, Công An, và Hiến Binh, chứ không phải là Quân Cảnh.

B.  NHẬN XÉT:

            Linh mục Hồng Phúc là một trong các tác giả viết về đề tài La Vang, nhưng ông không có trí nhớ sáng suốt.  Ông không nhớ được những gì xảy ra lâu hơn, và chỉ chọn nhận những gì mà ông thích hơn.  Thế thì làm sao mà những bài viết của ông là đúng sự thật và đáng tin cậy?  Hại thay, không phải chỉ có một mình Lm Hồng Phúc là như thế đó.

PHẦN III: NHỮNG SỰ VIỆC SAU ĐÂY XẢY RA VÀO THỜI ĐIỂM NÀO?

I.  Phong Trào Văn Thân Yểm Trợ Thành Công Cho Nguyễn Huệ Lên Ngôi Vua?

A.  TÀI LIỆU:

            Báo “L’Observatore Romano”, cơ quan truyền thông chính thức của Tòa Thánh Vatican ở La Mã, số ra ngày 12/19-8-98, có đăng bài “Ky-Tô-Hữu Việt Nam Sùng Kính Đức Mẹ La Vang: Sự Tích Đức Mẹ Hiện Đến Với Giáo Dân Trong Rừng La Vang Ở Việt Nam”, trong đó có đoạn:

            Vào cuối thế kỷ 18, lãnh-thổ Việt Nam bị chia thành 2 vương-quốc: Đàng Ngoài thuộc quyền chúa Trịnh đóng đô ở Hà Nội; và Đàng Trong thuộc quyền chúa Nguyễn đóng đô ở Huế.  Các chúa trong Nam muốn đánh ra Bắc nên nhờ người Pháp giúp đỡ.  Nhưng có một nhóm trí thức, gọi là Văn Thân, chống lại sự can thiệp của người Pháp và đã thành công trong việc giúp vua Quang Trung lên ngôi.  Ông này chiếm được miền Bắc, nhưng từ-trần sớm, để lại ngai vàng cho con là vua Cảnh-Thịnh, tuổi mới lên mười...

B.  NHẬN XÉT:

            Theo “Việt Nam Sử-Lược” của Trần Trọng Kim, Tập II, Chương X (Tình-Thế Nước Nam Từ Năm Giáp-Tuất Về Sau), thì:

            Đoạn I.  Văn-Thân nổi loạn ở Nghệ An.  Tháng giêng năm Giáp-tuất (1874), là năm Tự Đức thứ 27, đất Nghệ An có hai người tú tài là Trần Tấn và Đặng Như Mai hội tập cả các văn-thân trong hạt rồi làm một bài hịch gọi là “Bình Tây, Sát Tả”, đại lược nói rằng: “Triều-đình dẫu hòa với Tây mặc lòng, sĩ phu nước Nam vẫn không chịu, vậy trước nhất xin giết hết giáo-dân, rồi sau đánh đuổi người Tây cho hết...”  Bọn Văn Thân cả thảy độ non ba nghìn người, kéo nhau đi đốt phá những làng có đạo...

            Và, trong cùng sách, cùng Tập, Chương XV (Việc Đánh Dẹp Ở Trung-Kỳ Và Bắc-Kỳ):

            Đoạn 8.  Ông Phan-Đình-Phùng mở đồn điền ở Vũ Quang, Hà Tĩnh, rồi cho người đi sang Tàu, sang Tiêm, học đúc súng đúc đạn, để đợi ngày khởi sự.   Sau ông ấy đứng đầu đảng văn thân để chống cự với quân Pháp... (1893-1895)

            Qua bài viết này, báo “L’Observatore Romano”, tiếng nói có thẩm quyền cao nhất của Ky Tô Giáo, đã tự chứng tỏ là không biết đúng về lịch sử Việt Nam, nhất là về những sự việc liên hệ mà họ kể lại.  Chỉ vì vua Cảnh Thịnh ngược đãi tín đồ Ky Tô Giáo, mà hội Văn Thân thì cũng làm như thế, cho nên tờ báo nói trên kết hợp cả hai phía lại thành cùng một nhóm, mặc dù hai lực lượng ấy hiện hữu vào hai thế kỷ khác nhau.  Thật ra, dưới thời các vua Quang Trung và Cảnh Thịnh, vào cuối thế-kỷ 18, không có Văn Thân.  Nhóm kháng Pháp này chỉ mới bắt đầu thành hình sau khi quân Pháp đã chiếm lấy nhiều phần đất của Việt Nam, dưới thời vua Tự Đức, và sau khi nước Pháp đã đặt nền đô hộ trên nước Việt Nam dưới thời vua Thành Thái, vào cuối thế kỷ 19.

            Sự kiện lịch sử mà bị viết sai như thế thì làm thế nào mà đúng sự thật trong những chuyện khác, như chuyện Đức Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang?

II.  Các Cuộc Bách Hại Ky-Tô-Giáo Tại Việt-Nam Thật Sự Bắt Đầu Xảy Ra Vào Thời Điểm Nào?

A.  TÀI LIỆU:

            1-  Theo báo “L’Observatore Romano” thì: “Vào tháng 8-1798, triều-thần của vua Cảnh-Thịnh ra lệnh đàn áp Thiên Chúa Giáo.  Giáo dân cùng với gia đình chạy trốn vào vùng La Vang.  Một hôm, Đức Mẹ hiện ra với họ lần đầu, có bồng Đức Chúa Hài Đồng trong tay, có hai thiên-thần vây quanh,  hứa sẽ che-chở và cứu vớt họ.  Sau đó còn có những lần hiện ra tiếp theo...”

            2-  Vào ngày 19-6-1998, giáo-hoàng John Paul II có nói:  “Kể từ 1533, nghĩa là từ khi Thiên Chúa Giáo bắt đầu truyền sang Đông Nam Á-Châu, trừ vài thời kỳ yên ổn, Giáo-Hội Việt Nam đã bị ngược đãi suốt 3 thế kỷ...”  Trước đó, linh mục Pierro Gheddo, tác giả “Cây Thập-Tự và Cây Bồ-Đề”, đã viết trong cuốn sách ấy:  “Thí-dụ, tại Bắc Kỳ, các cuộc trấn áp dữ dội đã bắt đầu vào các năm 1696, 1713, 1721, 1778, v.v...”

B. NHẬN XÉT:

            1-  Lm Pierro Gheddo thì viết rằng các sự kỳ thị  trở nên khắc nghiệt vào năm 1696; báo “L’Observatore Romano” thì viết rằng tàn ác nhất là vào năm 1798 nên Đức Mẹ phải hiện đến để “che chở” các tín đồ Ky Tô Giáo tỵ-nạn tại La Vang; và giáo-hoàng John Paul II thì nói rằng các sự ngược đãi ấy (dù có một số thời kỳ lắng yên) đã băt đầu từ năm 1533.  Nhưng, để tìm hiểu các cuộc đàn-áp ấy thật-sự xảy ra vào thời gian nào (từ 1533 đến 1696), ta hãy tra cứu các sách lịch sử và các tài liệu khác nữa đã được phổ biến công khai.

            2-  Tác giả Ky Tô Giáo Nguyễn Văn Thông đã viết chi tiết cụ thể về các cuộc giết hại giáo dân, nhưng chỉ kể năm 1630 là năm giết đạo gay gắt đầu tiên.  Sử gia không-Công-Giáo Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử-Lược, trái lại, đã kể những vụ cấm đạo xảy ra sớm hơn trước đó rất nhiều:

            Năm Bính thân (1596) đời ông Nguyễn Hoàng có người giáo-sĩ Tây Ban Nha tên là Diego Adverte vào giảng đạo ở trong Nam trước hết cả.  Nhưng lúc bấy giờ lại có mấy chiếc tàu Tây Ban Nha cùng đến, chúa Nguyễn sợ có ý quấy nhiễu gì chăng, bèn đuổi đi...  Năm Bính dần (1626) đời vua Lê Thần Tông, giáo-sĩ là Baldinoti vào giảng đạo ở ngoài Bắc, bị chúa Trịnh không cho, phải bỏ đi...  Năm Tân vị (1631) ở trong Nam, chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan cấm không cho người Tây vào giảng đạo ở trong nước...  Năm giáp-thìn (1644) chúa Hiền ở Miền Nam bắt giết những người  đi giảng đạo ở Đà Nẵng...  Năm quí-mão ở ngoài Bắc chúa Trịnh là Trịnh Tạc bắt đuổi các giáo-sĩ và cấm không cho người mình theo đạo Gia-Tô...  Năm bính-tí (1696) đời vua Lê Hi Tông, Trịnh Cán bắt đốt phá hết cả những sách đạo và nhà đạo ở các nơi và đuổi những người giảng đạo ra ngoài nước...

            3-  Rốt cuộc, ta không tìm thấy tài-liệu về việc ngược-đãi (dù không gay-gắt) Ky Tô Giáo vào 60 năm đầu tiên, từ khởi đầu giảng đạo vào năm 1533 cho đến năm 1596 (là năm chúa Nguyễn Hoàng đuổi giáo-sĩ và tàu chiến Tây Ban Nha, mặc dù không bắt và không gây thiệt-hại gì cho họ cả), chưa kể các thời-kỳ yên-ổn khác về sau.  Thế thì việc giảng đạo Ky Tô tại Việt Nam quả đã không bị trở-ngại suốt sáu thập-niên đầu tiên.  Ai nấy đều biết tại sao sau đó nó đã trở nên cay đắng.  Cho nên, đáng lẽ Vatican không nên tảng lờ về 60 năm êm thắm đầu tiên, mà lại mập mờ gán cho Việt Nam là vốn kỳ-thị tôn-giáo từ đầu.

III. La-Vang Được Chọn Làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn Quốc Từ Bao Giờ?

A.  TÀI-LIỆU:

            1-  Báo “Mẹ Việt-Nam”, số đặc-biệt 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” của Nguyễn Lý Tưởng, với đoạn kết-luận như sau: “Hội-Đồng Giám-Mục (Việt Nam) họp ngày 01-05-1980 đã chấp-thuận chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc”.

            2- Trong bài báo của Vatican đăng trên “L’Observatore Romano” kể trên, có đoạn: “Qua Bức Thư Chung (của Hội-Đồng Giám-Mục Nam Việt-Nam) đề ngày 8-8-61, La Vang đã được công-nhận là Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.  Sau ngày 30-4-75, tất cả giám-mục của Việt Nam, họp tại Hà Nội ngày 1-5-80, đã long-trọng chấp-thuận việc tiếp-tục chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc...”

B.  NHẬN-XÉT:

            “L’Observatore Romano” viết đúng hơn Nguyễn Lý Tưởng, vì khắp Việt Nam chỉ có một La Vang, và La Vang đã được chọn làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc vào ngày 8-8-61, cho nên các giám-mục trước kia ở Miền Bắc mà nay họp chung với các ông lâu nay ở Miền Nam thì chỉ làm có một việc hình-thức là đồng-thuận với một việc đã rồi, mà trong thâm-tâm họ đã đồng-thuận từ 8-8-61.

            Bài viết của Nguyễn Lý Tưởng rất dài, gồm nhiều chi-tiết, nhiều mặt, nhưng thiếu chính-xác về điểm nói trên:  Hội-Đồng Giám-Mục họp tại Hà Nội ngày 1-05-80 không phải chấp-thuận chọn La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc (như thể đây mới là lần đầu tiên) mà là chấp-thuận việc tiếp-tục chọn La Vang (là một việc đã được chấp-thuận và có giá-trị thi-hành từ năm 1961 rồi).

IV.  Nhà-Thờ La-Vang Đã Được Nâng Lên Hàng Vương-Cung Thánh-Đường?

A.  TÀI-LIỆU:

            Trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”,   số 832 ra ngày 28-3-98, tác-giả Trần Văn Trí viết: “Đền thờ Đức-Mẹ La Vang là Vương-Cung Thánh-Đường đã được xức dầu Thánh ngày 22-8-61 theo sắc-chỉ Tòa Thánh dưới thời Đức Giáo-Hoàng Gioan...”

B.  NHẬN-XÉT:

            Trong bài “Ky-Tô-Hữu Việt Nam Sùng Kính Đức-Mẹ La Vang” đăng trên báo “L’Observatore Romano” nói trên, có đoạn:  “Vào ngày 22-8-61, nhà thờ La Vang đã được giáo-hoàng John XXIII nâng lên hàng Tiểu-Vương-Cung Thánh-Đường.”

            La Vang chưa phải là một Vương-Cung Thánh-Đường như  Trần Văn Trí viết.  Hệ-thống tổ-chức của Giáo-Hội Ky-Tô-Giáo không cho phép lẫn-lộn giữa giám-mục và tổng-giám-mục, v.v..., do đó, không thể lẫn-lộn giữa Tiểu Vương-Cung với Vương-Cung.  Sự sai lầm của Trần Văn Trí, cũng như của các người khác, quả đã góp phần gia-tăng mối nghi-ngờ về sự chính-xác của vấn-đề La Vang.

V. Người tử đạo đầu tiên tại Việt Nam là ai, vào thời điểm nào?

A. TÀI-LIỆU:

            1-   Báo “L’Observatore Romano” ra ngày 27-6-98 có đăng lời của giáo-hoàng John Paul II:  “... Linh-mục Vincent Liem, thuộc dòng Đa-Minh, đã tử-đạo vào năm 1773; ông là người tử-đạo đầu tiên trong số 96 người tử-đạo có quốc-tịch Việt Nam...”

            2-   Báo “Thằng Mõ”, số 852 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Sự Kiện La Vang: Trang Sử Tử Đạo” của Nguyễn Văn Thông, trong đó có đoạn:

            “Năm 1630, thời-gian giáo-sĩ Đắc Lộ truyền đạo ở Đàng Ngoài, có Phan Sinh... không chịu bỏ đạo... bị đao phủ bổ đầu làm đôi.  Phan Sinh là vị tử đạo đầu tiên ở Đàng Ngoài và trên toàn cõi Đại Việt”.

B. NHẬN XÉT:

            Trong bài viết (đầy những sai lầm) nói trên, trước khi kể đến trường-hợp tử-đạo của Phan Sinh, Nguyễn Văn Thông đã viết:   “Về các sử-liệu liên-hệ, chúng ta có khá nhiều để đối-chiếu một số cách trình-bày thiên-vị... với các sử-liệu như thư viết tay, sổ-sách ghi tên giáo-hữu..., những bản phúc-trình của từng khu-vực truyền-giáo gởi về Bộ Truyền-Giáo ở Roma, ở Paris, ở các nhà dòng Tên, dòng Đa Minh... có chi-nhánh ở Macao, Penang, Nhật, Phi Luật Tân, Thái Lan... đã bổ-túc cho ta biết những sự-kiện khách-quan và xác-thực hơn.   Dưới đây chỉ là đôi ba nét lấy ra từ trang sử tử-đạo của Giáo-Hội Công-Giáo Việt Nam...”

            Thế mà, trong lúc báo “L’Observatore Romano” của Tòa Thánh Vatican đăng lời của giáo-hoàng John Paul II nói rằng “Lm Vincent Liem là người Việt Nam đầu tiên tử-đạo vào năm 1773", thì Nguyễn Văn Thông lại xác-quyết trên báo “Thằng Mõ” rằng “Phan Sinh là người đầu tiên trên toàn cõi Việt Nam tử-đạo vào năm 1630".

            Cũng thế, người nào tử-đạo đầu tiên, vào ngày tháng nào, không phải là vấn-đề chính; mà vấn-đề chính là: “tài-liệu” nào, tác-giả nào, là “thật-sự” chính-xác; và khi mà đã có nhiều trái nghịch với nhau như thế, thì liệu những điều nói ra, viết ra, như đã trích trên, có đáng được sự tin-cậy của mọi người hay không?

PHẦN IV: ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG NHƯ THẾ NÀO?

A  TÀI-LIỆU:

            1)  Báo “L’Observatore Romano” của Vatican, ra ngày 12-8-98, có đăng bài “Sự-Tích Đức-Mẹ Hiện Ra Tại Rừng La-Vang Ở Việt-Nam” trong đó có đoạn:

            “... Cùng với gia-đình, các Ky Tô Hữu vào trốn trong rừng La Vang, cách xa nhà họ chừng 60 cây số.  Họ họp hằng ngày dưới một cây lớn và đọc kinh lần chuỗi vinh-danh Đức Mẹ.  Một hôm, Đức Mẹ với hai thiên-thần vây quanh và bồng Chúa Hài-Đồng trong tay, hiện ra với họ lần đầu tiên, hứa sẽ bảo-vệ và an-ủi họ.  Sau đó, còn có những lần hiện ra tiếp theo...”

            2)  Báo “Églises d’Asie” (EDA), số 270 ra ngày 1-9-98, có đăng bài “Ky Tô Hữu Hành-Hương Tại La-Vang”, trong đó có đoạn:

            ... Việc hành-hương tại La Vang bắt nguồn từ cuối thế-kỷ 18.  Năm 1798, dưới triều Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh đã ban-hành một cuộc đàn-áp rất khắc-nghiệt khiến cho giáo-dân phải chạy trốn vào  trong một thung-lũng, tập-trung cầu-nguyện ở một khoảng đất trống lẻ-loi giữa rừng dày đặc nằm về hướng Tây của Tỉnh Quảng-Trị.  Họ họp nhau quanh một bức tượng Đức Mẹ đặt trên cành của một cây đa lớn, xin đước đấng mà họ gọi là “Mẹ” an-ủi và ban cho sức mạnh.  Vào cuối thế-kỷ 19, một nhà thờ được dựng lên chỗ đó...

            3)  Báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, có đăng bài “Tinh-Thần La Vang” của Trần Văn Trí, trong đó có đoạn:

            ... Lm Ng. V. Ngọc kể: “Trong lúc lánh nạn tại đây, ban đêm họ họp nhau cầu-nguyện và lần chuỗi.  Bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp-đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây đa đại-thụ, mà họ nhận biết ngay là Đức Mẹ, có bồng Chúa Hài-Đồng, hai bên có hai thiên-thần cầm đèn chầu...

            4)  Báo “Mẹ Việt-Nam” số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” của Nguyễn Lý Tưởng, trong đó có đoạn:

            ... Tương-truyền Đức Mẹ đã hiện ra tại gốc cây đa cổ-thụ.  Dân làm rừng thường đến đó van-vái, về sau họ nghe nói có một Bà linh thiêng hiện ra tại đây nên họ đã đắp một cái nền dưới gốc cây đa, gọi là nền vọng, và rào chung quanh.

            5)  Báo “Saigon USA”, số 97 ra ngày 14-9-98, có đăng bài “Linh-Địa La Vang” trong đó có đoạn:

            ... Cây đa đại-thụ: Theo cổ-truyền ngày xưa Đức Mẹ đã hiện ra gần gốc nó, nay không còn tăm dạng gì...

            ... LM Giuse Nguyễn Xuân Cảnh (Kim Long) đã ở Phó tại Cổ Vưu dưới thời hai Cha Sở: Bonin (Ninh) và Cadière (Cả)...

            ... Đến sau Cha Cadière (Cả) đã sắm một bàn kiệu...

B. NHẬN XÉT:

            1)  Báo “L’Observatore Romano” là cơ-quan chính-thức của Vatican, có uy-tín và khả-tín nhất, trên tất cả, đã đơn-giản kể lại việc “Đức Mẹ” hiện ra lần đầu như thế nào trước giáo-dân tại La Vang: không nói cụ-thể xuất-hiện ở vị-trí nào so với cây đa đại-thu, và cũng không đề-cập đến áo choàng cùng với đèn chầu.

            2)  Thư tin song-ngữ “Églises d’Asie” của các Hội Truyền-Giáo Ngoại-Quốc tại Paris, chuyên về Á Châu, cũng có tầm-vóc quốc-tế, đã không đề-cập đến việc “Đức Mẹ xuất-hiện” mà chỉ mô-tả cảnh tín-đồ Ky Tô Giáo hội họp để cầu-nguyện ở đó, với “bức tượng” của Đức Mẹ, và nói rõ là tượng ấy được đặt trên cành cây -  những chi-tiết không thấy có trong các “tài-liệu” khác.  Không có Chúa Hải-Đồng và hai thiên-thần, là những chi-tiết được xem là quan-trọng nhất trong lần hiện ra đầu tiên.

            3)  Trần Văn Trí trên báo “Thằng Mõ”, căn-cứ vào Lm Nguyễn Văn Ngọc, thì xác-nhận rằng Đức Mẹ hiện ra lần đầu (“bỗng nhiên họ thấy”) không phải trên cành, mà là gần (bên cạnh) cây đa.

            4)  Nguyễn Lý Tưởng trên báo “Mẹ Việt-Nam” thì khẳng-định rằng dân La Vang đã tụ họp ở đó để cầu nguyện trước khi họ nghe nói rằng xưa kia có một Bà Linh-Thiêng xuất-hiện ở đó, và do nghe nói như thế họ mới đắp cái “nền vọng” dưới gốc cây đa.  Ngoài ra, bài viết không đề-cập đến Chúa Hài-Đồng và hai thiên-thần, là những chi-tiết tiêu-biểu cho sự-tích này.

            5)  Báo “Saigon USA” thì đề-quyết rằng Đức Mẹ hiện ra gần gốc cây đa.   Bài viết rất dài, tỷ-mỷ, nhưng lại không đả-động gì đến Chúa Hài Đồng và hai thiên-thần, đáng lẽ phải được kể ra, nếu có, vì đó là những điểm chính quan-trọng hơn mọi nét tả linh-tinh khác.

C. Ý-KIẾN:

            1)  Theo báo “Églises d’Asie” thì (từ đời Cảnh Thịnh) mãi đến cuối thế-kỷ 19 mới có một nhà thờ được dựng lên.  Nhưng theo Nguyễn Lý Tưởng trong “Linh-Địa La Vang” trên báo “Mẹ Việt-Nam” số 102 thì ngay từ “khoảng đầu đời Minh Mạng (1820-1840= đầu thế-kỷ 19) ba làng đồng-thuận nhường chỗ đó lại cho bên Công Giáo... và cha xứ đã cho sửa-sang nơi đó thành một nhà thờ bằng tranh.  Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên tại La Vang.”

            2)  Các tác-giả viết về “sự xuất-hiện của Đức-Mẹ tại La Vang”, vì muốn tô vẽ thêm cho sự-tích tăng phần khả-tín mà lại chỉ căn-cứ vào cổ-truyền, lời đồn (nghe nói), đồng-thời dựa vào ấn-tượng và tưởng-tượng cá-nhân, một chiều, cho nên thiếu cơ-sở trung-thực, khiến mâu-thuẫn nhau, làm cho người đọc thấy sự bịa đặt rõ ràng.

            3)  Khi mà chính sự hiểu biết của giám-mục tên tuổi Hồ Ngọc Cẩn còn bị Lm Lê Thiện Bá (cả hai đều có gốc-gác Quảng Trị bác bỏ, và cứ như thế, thì làm sao mà người đọc có thể tin được các tác-giả khác trong cùng đề-tài, khi mà chính họ không hề đích-thân hoặc trực-tiếp tiếp-cận với các sự-việc hoặc bằng-chứng chính-xác về sự-việc lúc đang xảy ra của sự-tích “lịch-sử” này?

            4)  Tóm lại, ngay chính báo “L’Observatore Romano” cũng đã đưa ra kết-luận, liền sau đoạn viết về sự xuất-hiện của Đức Mẹ tại La Vang:  “Tiếc thay, hiện nay không còn một tài-liệu viết nào viết về những lần Đức Mẹ hiện ra: những tài-liệu ấy có lẽ được lưu-trữ ở Huế và đã bị tiêu-hủy trong hai cuộc chiến địa-phương, năm 1833 dưới thời Minh Mạng, và năm 1861 dưới thời Tự Đức”* (hơn một thế-kỷ trước khi có lễ “kỷ-niệm 200 năm” này, là dịp để các tác-giả kể trên tha-hồ đặt điều, phịa chuyện)

CHÚ-THÍCH 1:

            Nguyễn Lý Tưởng trong bài “Linh-Địa La Vang” trên báo “Mẹ Việt-Nam” đã viết:  “Lm Stanilas Nguyễn Văn Ngọc đã trích dẫn một đoạn trong bức thư của Lm Lôrensô Lâu, ở vùng Dinh Cát (Quảng Trị) đề ngày 17-2-1691 gởi về Roma”:  Như thế rõ-ràng là các báo-cáo từ vùng Dinh Cát (gồm có La Vang) đã được gởi về thấu tận Roma từ hơn một thế-kỷ (1691-1798) trước khi có vụ gọi là “Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La Vang; và Trần Văn Trí trong bài “Tinh-Thần La Vang” trên báo “Thằng Mõ” cũng đã viết:  “ Vài Nét Lịch-Sử Về La-Vang: 1717-1739: xảy ra một số xáo trộn mà Tòa Thánh phải trực-tiếp can-thiệp...”   Đây cũng là một bằng-chứng nữa rằng Roma đã theo dõi sít-sao tình-hình cộng-đồng Ky Tô Giáo tại La Vang hơn năm thập-niên trước vụ gọi là Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang.  Tất-nhiên,   ai nấy đều thấy: sở-dĩ hiện nay không có tài-liệu viết về vụ này lưu-trữ tại Vatican, chỉ vì một lý-do quá đơn-giản: Đức Mẹ Không Hề Hiện Ra Tại La Vang.

CHÚ-THÍCH 2:

            Nguyễn Lý Tưởng còn viết:  “Năm 1886 Đức Giám-Mục Caspar ở Huế mới quyết-định xây nhà thờ bằng gạch... phải mất 15 năm mới hoàn-thành.   Đại-Hội Đức-Mẹ La Vang lần thứ I và khánh-thành nhà thờ vào các ngày 6, 7 và 8 tháng 8 năm 1901"  Vậy thì trong suốt thời-kỳ 15 năm này (88 năm sau vụ gọi là “Hiện Ra”, và ít nhất là 25 năm sau lần “tài-liệu bị tiêu-hủy dưới thời Tự Đức” vào năm 1861) tại sao không có người nào tìm ra được một tài-liệu nào khả-tín, nếu có, về sự xuất-hiện của Đức Mẹ tại La Vang?

            Vấn-đề bây giờ là: những chi-tiết mới được thêm-thắt trong các bài viết dẫn trên, nếu không được phanh-phui ra, hẳn là sẽ bị sử-dụng như là “tài liệu căn bản”, “bằng-chứng lịch-sử” để tiếp-tục đầu-độc các thế-hệ con cháu của chúng ta trong tương-lai.

PHẦN V: CÓ AI TẬN MẮT TRÔNG THẤY  ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG?

I.  “Nhà Chùa Thành Nhà Chúa” Trong Hoàn-Cảnh Nào?

A.  TÀI-LIỆU:

            Trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, Trần Văn Trí viết:

            Vào đầu thế-kỷ 19, tiếng đồn về Đức Bà linh thiêng lan rộng khắp nơi.  Trong những năm đầu 1820-1840, các người Công Giáo thuộc các làng Ba Trừ, Cổ Thành và Thạch Hãn có chung nhau xây một ngôi chùa ngay tại nơi Đức Mẹ hiện ra, gọi là chùa Ba Làng.  Nhưng sau đó họ bàn tính lại với nhau và đồng thuận rằng Đức Bà hiện ra là “bên giáo”, nên họ đã nhường ngôi chùa lại cho bên Công Giáo và các gia-đình Công Giáo tu sửa “ngôi chùa thành nhà Chúa” (Lm Hồng Phúc: Đức Mẹ La-Vang, tr. 35).

B.  NHẬN XÉT:

            1-   Ta hãy tìm hiểu xem “ngôi chùa đã trở thành nhà Chúa” trong tình-hình nào.  Báo  “Thằng Mõ”, số  852  ra ngày 15-8-98, có  đăng  bài “Sựוֹiện La Vang: Trang Sử Tử-Đạo” của Nguyễn Văn Thông, trong đó có đoạn:

            Giám-mục Tabert ghi lại rằng, giáo-hội Miền Nam, khi vua Minh Mạng ra chỉ-dụ cấm đạo, đã có hàng trăm giáo-hữu bị bắt giam tù, bị tra-tấn và bị án lưu-đày hoặc xử-tử...

a. Trong năm 1932, Chỉ-huy-trưởng đoàn quân hộ-vệ cho vua Minh Mạng là Tống Viết Bường cùng với những sĩ-quan và binh-sĩ cấp dưới bị bó-buộc ký giấy xuất-giáo.  Ông Bường và 12 người không chịu ký.  Họ bị truyền phải mang gông và đánh đòn...    Đầu roi chì quất xuống xé thịt văng ra...  Trước cực-hình dã-man ấy, sáu binh-sĩ không chịu nổi...  Ông Bường và sáu người khác chịu tù ngục và tra-tấn cho tới cùng rồi bị mang đi chém đầu vào tối ngày 23-10-1833 ở Thợ Đúc, Huế (Bùi Đức Sinh: Giáo-Hội Công Giáo ở VN, tập III, trg 46-47).

b.Ngày 8-9-1935, giáo-sĩ Marchand bị bắt tại Gia Định, bị đóng cũi như một con vật mang về Huế cùng với Lê Văn Viên 7 tuổi, con của Lê Văn Khôi...  Giáo-sĩ bị khép tội cùng với Lê Văn Khôi làm loạn chống lại triều-đình Minh Mạng...  Lí-hình liền lấy kìm trong lò lửa kẹp mạnh vào hông giáo-sĩ, thịt cháy xèo bốc khói...  Ngài và ba người bị khép tội đồng-lõa cùng với em Viên phải án lăng-trì.  Họ bị lột hết quần áo, bị trói vào cáng điệu đến pháp-trường ở nhà thờ họ Thợ Đúc...  Lí-hình lấy kìm kẹp từng miếng thịt lôi ra cho một lí-hình khác cầm dao phay cắt miếng thịt ấy.  Chúng bắt đầu bằng việc cắt dương-vật của người tử-tội trước, rồi đến hai miếng thịt vú, hai miếng bả vai, cắt hai tay, hai bên đùi rồi hai bắp vế... cho đến khi còn lại bộ xương dính những sợi thịt đỏ lòm.  Sau đó lí-hình chặt đầu vị giáo-sĩ... tháo giây trói cho xác ngã sấp xuống đất, lấy búa chặt thành bốn khúc theo bề ngang rồi bổ mỗi khúc làm đôi theo bề dọc...  Đầu của giáo-sĩ Marchand được mang đi các tỉnh treo ở chợ, sau đó bỏ vào cối mà xay (Phan Phát Huờn: Louvet: La Cochinchine Religieuse, QII, trg. 92) và nhiều vụ khác.

            2-  Thời-kỳ 1820-1840 mà Trần Văn Trí kể trên, rơi đúng vào chính triều-đại Minh Mạng, giai-đoạn bách-hại Ky Tô Giáo khắc-nghiệt như thế.   Và sử-gia Trần Trọng Kim đã viết trong “Việt Nam Sử-Lược”:  “Lúc bấy giờ không phải là một mình vua Thánh Tổ ghét đạo mà thôi, phần nhiều những quan-lại cũng đều một ý cả cho nên sự cấm đạo lại càng nghiệt thêm.”  Lê Văn Khôi và đồng-đảng hùng mạnh đến độ chiếm được 6 tỉnh miệt trong chỉ trong một tháng, và cố-thủ thành Gia-Định suốt 3 năm trời, ở tận miền Nam xa vời; thế mà Minh Mạng cũng đã dẹp tan và trừng-trị khủng-khiếp như trên.  Vậy thì một nhóm giáo-dân Ky Tô Giáo tay không, ẩn trốn cách kinh-đô và ảnh-hưởng của nhà vua chỉ trong 60 cây số, làm sao không bị phát-hiện*, mà còn công-khai tu sửa ngôi chùa thành nhà Chúa, trong khi các cuộc giết đạo vẫn còn tiếp-diễn thêm 40-60 năm nữa (cho đến khi Pháp đến vào thập-niên 1880)?

CHÚ-THÍCH 1: 

            Lưu ý: “Tiếng đồn về Đức Bà linh thiêng lan rộng khắp nơi”, và dân La Vang (gồm cả người không-Công-Giáo) thì sống bằng nghề đốn củi đem bán cho các làng bên ngoài La Vang.

CHÚ-THÍCH 2:

            Giám-mục Tabert viết về các sự việc xảy ra trong khoảng 1820-1840 trong một nước Việt Nam đã được thống-nhất từ hơn hai mươi năm trước (năm 1802) mà vẫn mô-tả đó là Miền Nam.  Tabert lại còn không nhớ địa-danh Phường Đúc mà gọi nó là Thơ Đúc.  Làm sao tin được bài viết của Gm này.

            3-  Nếu Đức Mẹ thực-sự hiện ra tại La Vang năm 1798, tại sao giáo-dân phải đợi cho đến 22-42 năm sau (1820-1840) mới nghe tiếng đồn, mới xây ngôi chùa, rồi sau mới bàn với nhau rằng Bà linh-thiêng* hiện ra là “bên** giáo”?  Hơn nữa, chính họ là “dân Ky Tô Giáo từ 3 làng Ba Trừ, Cổ Thành và Thạch Hãn” đã xây ngôi chùa  ấy, tại sao họ không nói hẳn, thí-dụ, đến nay thì chúng ta đã có thể chính-thức công-nhận nó là nhà Chúa, vì Bà hiện ra đích-thực là Đức Mẹ Maria, và báo cho bên không-Công-Giáo biết như thế, chứ cần gì phải chờ về sau mới bàn (giữa dân Công Giáo) với nhau rằng Bà ấy là của bên ta?  Tóm lại, tất cả chỉ thuần-túy là tin đồn, và không có ai tận mắt trông thấy Đức Mẹ hiện ra ở La Vang.

* CHÚ-THÍCH 1:  Bên Phật-Giáo cũng có một Bà: Đức Phật Bà Quán-Thế-Âm.

** CHÚ-THÍCH 2:  Từ ngữ “bên” cho thấy là có ít nhất 2 bên liên-can trong hiện-vụ, và cách dùng chữ lương-thiện như thế chứng-tỏ là bên không-Công-Giáo cũng đã có nhìn-nhận ngôi chùa là của bên Phật Giáo.

II. Trong Trường Hợp Nào Người Ta Bắt Đầu Nghe Nói Đến Việc Đức Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang?

A. TÀI-LIỆU:

            Trong bài “Linh-Địa La Vang” đăng trên báo “Mẹ Việt-Nam”, số 102 ra ngày 15-8-98, Nguyễn Lý Tưởng viết:

            1-  Năm 1797, nhân khi thủy-quân của Nguyễn Ánh tiến ra tận cửa bể Tư Dung (cửa Tư Hiền) thuộc tỉnh Thừa Thiên, thì Lê Văn Lợi, một vị quan của Tây Sơn đã đề-nghị vua ra lệnh bắt hết người Công Giáo và các linh-mục, lấy lý-do dân theo đạo ủng-hộ Nguyễn Phúc Ánh...  Vua Cảnh-Thịnh đã ra mật-lệnh cho các địa-phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục, không để sót người nào...  Đức giám-mục Jean De Labartelle lúc đó đang trốn tránh ở làng Di Luân...   Tin đó được loan truyền ra trong giới Công Giáo và dân theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa bèn chạy vào miền núi La Vang để ẩn núp.  Và chính trong thời-gian đó Đức Mẹ đã hiện ra với họ.

            2-  Tương-truyền Đức Mẹ đã hiện ra tại gốc cây đạ cổ-thụ.  Dân làm nghề rừng thường đến đó van vái, về sau họ nghe nói có một Bà linh thiêng hiện ra tại đây nên họ đã đắp một cái nền dưới gốc cây đa gọi là nền vọng và rào chung quanh.  Khoảng đầu đời Minh Mạng, 1820, dân ba làng Thạch Hãn, Ba Trừ và Cổ Thành chung nhau làm một ngôi miếu nơi đó, về sau họ nghe nói ngày xưa có một Bà bên đạo hiện ra ở chỗ đó nên cả ba làng đồng thuận nhường chỗ đó lại cho dân bên đạo Công Giáo.  Giáo-dân thời đó đã đem việc này trình cho vị linh-mục ở xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) và cha xứ* đã cho sửa-sang nơi đó thành một nhà thờ bằng tranh.  Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên tại La Vang.

            3-  Vua Đồng-Khánh lên ngôi (1885), chủ-trương tìm kiếm hòa-bình...  Cũng trong thời-điểm này, cha xứ Trí Bưu (Cổ Vưu) đã hỏi những giáo-hữu lớn tuổi trong giáo-xứ khi đến giờ lâm-chung, chịu phép giải tội và xức dầu thánh*, rằng: “Con phải thề nói sự thật, con có nghe cha mẹ, ông bà trước kia nói gì về sự-tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang không?”  Tất cả những người đó đều trả lời: “Có” và “chuyện xảy ra đã gần 100 năm rồi.”  Đức Mẹ đã hiện ra trước đó khoảng 100 năm, nghĩa là vào thời Tây Sơn.  Bằng-chứng là năm 1886 Đức Cha Caspar (Lộc) ở Huế đã quyết-định xây đền thờ kính Đức Mẹ hiện ra, theo cha mẹ, ông bà kể lại, cách nay cả trăm năm, tức là vào cuối thế-kỷ 18, thời Tây Sơn.

B.  NHẬN XÉT:

            1-   Pigneau vừa là giám-mục (cao cấp) vừa là người Pháp (ngoại quốc), lại giúp kẻ thù là Nguyễn Phúc Ánh và lãnh-đạo các tín-đồ tại địa-phương; thế mà vua Cảnh-Thịnh lại nhắm vào các giáo-dân trước cả các kẻ cầm đầu?  Giám-mục Jean De Labartelle có mặt tại làng Di Luân, Quảng-Trị, tỉnh của La Vang, thế mà không hề viết gì làm chứng về vụ gọi là Đức Mẹ hiên ra ngay vào lúc đó tại La Vang?

            2-  Lạ-lùng hơn nữa là ngay chính các giáo-dân từ 3 làng Trí Bưu (vâng, Trí Bưu tức Cổ Vưu), Thạch Hãn và Hạnh Hoa, là những  tín-đồ Ky Tô Giáo đã chạy đến tị-nạn tại La Vang và được kể là đã thấy Đức Mẹ hiện ra hứa che chở họ ngay chính vào lúc Đức Mẹ hiện ra (năm 1798), thì lại không lập dù chỉ là một cái bàn để thờ Đức Mẹ; mà phải chờ đến hơn hai mươi năm về sau (1820-1840) để các cư-dân thuộc nhiều tín-ngưỡng khác nhau của 2 làng khác, Ba Trừ và Cổ Thành, cùng với Thạch Hãn (còn dân 2 làng Trí Bưu và Hạnh Hoa thì không tham-gia) đứng ra làm một ngôi chùa (dù cho có bài viết là ngôi miếu), để thờ một Bà mà họ thấy là không phải Đức Bà của Ky Tô Giáo, cho đến về sau họ nghe nói rằng đó là Đức Mẹ họ mới nhường lại cho bên Công Giáo:  Không ai nghĩ rằng giáo-dân các làng Trí Bưu và Hạnh Hoa vong-ân đối với Đức Mẹ, nhưng về lý-do tại sao họ không dự phần xây chùa, hiển-nhiên là vì mặc dù chính họ là tín-đồ Ky Tô Giáo họ vẫn không tin ngay từ lần đầu (1798) rằng Bà hiện ra là Đức Mẹ Maria.

CHÚ-THÍCH 1:  Có đáng tin không, dưới triều Minh Mạng, khi sự cấm đạo ngày càng gắt-gao, hằng trăm giáo-dân đã bị bắt, giê-su (kể cả giáo-sĩ Marchand ở  tít từ trong Gia Định), mà vẫn còn có một cha xứ hiện-diện bên ngoài vùng ẩn-nấp La Vang, để các tín-đồ từ trong đó ra tiếp-xúc báo-cáo tình-hình?

CHÚ-THÍCH 2:  Có đáng tin không, khi có cha xứ Trí Bưu (gồm cả La Vang, là nơi ẩn-trú của giáo-dân từ 3 làng nói trên và từ nhiều vùng khác nữa, thí dụ “cách đó 60 cây số” nghĩa là từ Huế) mà  cha xứ ấy không nghe biết gì về tin đồn truyền ra từ 1798 cho đến hơn hai thập-niên về sau (1820-1840) về việc có Bà linh-thiêng hiện ra cách đó chỉ 4 cây số, cho đến khi dân đến báo là đã “đồng thuận nhường chỗ đó lại cho bên Công Giáo”?

            3-  Người đọc thấy ngay là cha xứ Trí Bưu đã lợi-dụng giờ phút lâm-chung của người già-cả, muốn “hồn được lên thiên-đường”, mà sợ không được cha xứ cho lên, nên bắt họ phải theo là có nghe ông bà cha me trước kia kể lại, chuyện đã xưa gần trăm năm...  Chỉ cần có một tiếng “Có!” giản-dị, không cần chi-tiết gì cả.  Tại sao việc này không được thực-hiện trước năm 1885, khi mà trước đó giáo-dân La Vang đã có thể công-khai biến nhà chùa thành nhà Chúa (1820-1840), suốt 40-60 năm qua?  Và tại sao cha xứ không hỏi các giáo-dân mạnh-khỏe trẻ-trung?  Tôi chắc lý-do là vì “sáng-kiến” mới được nảy-sinh vào năm 1885 (Đồng-Khánh lên ngôi), họ tính là không còn ai đủ già để biết và để cãi lại sự việc cho là xảy ra đã gần trăm năm.

CHÚ-THÍCH:  Cha xứ bắt thề như thế là để căn-cứ vào đó mà lập hồ-sơ về chuyện hiện ra, và sở-dĩ thế là vì từ trước 1885 không hề có một hồ-sơ tài-liệu nào cả về chuyện Đức Mẹ Hiện Ra, dù cho sau này người ta nói là hiện ra vào năm 1798, nhường ngôi chùa lại cho bên Công Giáo vào khoảng 1820-1840.  Và tại sao lại không có một tài-liệu nào, khi mà ít nhất là một bức thư của linh-mục Lôrensô Lâu về việc viếng thăm Cổ Vưu (Trí Bưu) đã được gửi về La Mã từ thời 1691, và khi mà Tòa Thánh Vatican đã có thể trực-tiếp giải-quyết chuyện nội-bộ La Vang từ thời 1717-1739?

            Xin thưa:  là vì thật ra không hề có việc Đức Mẹ (của Ky Tô Giáo) hiện ra tại La Vang.

            Vậy thì Tòa Thánh, qua báo “L’Observatore Romano”, quả đã thành-thật và thẳng-thắn khi xác-quyết rằng  “Tiếc thay, hiện nay không có một tài-liệu nào lưu-trữ về việc Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang” mặc dù họ vẫn chống-chế cho rằng các tài-liệu ấy đã bị tiêu-hủy dưới thời Minh Mạng, Tự Đức:  Họ giả-vờ coi như không có ai có thể gửi gì ra khỏi xứ Huế và nước Việt Nam trong suốt 35 năm trường (1798-1833), đồng-thời tảng-lờ tình-trạng người Pháp đô-hộ Việt Nam (1884-1945) và tưởng như các phần-tử thực-dân Ky Tô Giáo này không biết phụng-vụ Đức Mẹ ngay tại thuộc-địa của mình, nhất là sau khi đã có những vụ hiện ra tại Lourdes ở Pháp năm 1858 và tại Fatima ở Bồ Đào Nha năm 1917?

            4-  Ta cũng gặp được một óc tưởng tượng khác người: Trong khi các bài viết khác nói rằng mãi đến 1820-1840 giáo-dân Ky Tô Giáo tại La Vang mới nghe tiếng đồn về việc Đức Mẹ hiện ra ngày xưa, thì Trần Văn Trí trong bài “Tinh-Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ” số 832 lại viết:  “Bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây đa đại thụ, mà họ nhận biết ngay là Đức Mẹ.”

            Những “nhân-chứng” ấy nhận biết tại chỗ rằng đó chính là Đức Mẹ, trong lúc giám-mục Jean De Labartelle có mặt tại tỉnh địa-phương, thế mà không có một chứng-tích nào, tài-liệu viết nào về sự-kiện ấy được lưu hồ-sơ.  Chỉ nội một chi-tiết đó đã đủ để vô-hiệu-hóa tất cả các chi-tiết khác về vụ hiện ra.

            5-  Ta lại có thêm một nguồn ngoại-sử quý-báu, không phải là về Đức Mẹ mà là về Cây Đa: linh-mục Pierro Gheddo viết về sự-tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang cũng như các sự ngược đãi Ky Tô Giáo tại Việt Nam, đã đặt nhan đề cho sách của mình là “The Cross and the Bo-Tree” (Cây Thập-Giá và Cây Bồ-Đề).

            Lm Pierro Gheddo quả đã thực-tế gọi hẳn cây đại-thụ là cây bồ-đề thay vì cây đa.  Cây Bồ Đề thông-thường là cây của Đức Phật, của nhà chùa; và lẽ tất-nhiên Đức Mẹ Maria của Ky Tô Giáo không bao giờ muốn đến gần, nói gì dùng nó làm điểm tiếp-cận để xuất-hiện trước tín-đồ của mình.

            6-  Tóm lại, người đọc có thể kết-luận rằng:  trong ngót  một thế-kỷ rưỡi (từ 1798 đến 1945), cả thực-dân Pháp lẫn các chức-sắc Ky Tô Giáo thuộc nhiều quốc-tịch đã rất lương-thiện, vì họ không công-nhận có sự hiện ra của Đức Mẹ tại La Vang, bởi lẽ chuyện đó là vô căn-cứ.  Và chỉ đến khi giáo-dân Ngô Đình Diệm lên làm thủ-tướng, rồi tổng-thống, của Việt Nam (1954-1963) chuyện này mới được nêu lên.

            Trần Văn Trí trong “Tinh Thần La Vang” đăng trên báo “Thằng Mõ”, số 832 ra ngày 28-3-98, viết: “Hội-Đô஧ Giám-Mục Việt-Nam trong phiên họp ngày 13-4-61 đã cho đền thờ Đức-Mẹ La Vang làm Đền Thờ Toàn-Quốc Dâng Kính Trái Tim Vô-Nhiễm Đức Mẹ và nhận Linh-Địa La Vang làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.”  (Báo “L’Observatore Romano” ra ngày 12/19-8-98 thì viết rằng : “Trong bức thư chung ngày 8-8-61 của các giám-mục Việt Nam, La Vang được chọn làm Trung-Tâm Thánh-Mẫu Toàn-Quốc.”:  13-4-61 hay là 8-8-61?)  Ngày 22-8-61, giáo-hoàng John XXIII nâng đền thờ La Vang lên hàng Tiểu Vương-Cung Thánh-Đường.

            Rõ-ràng lập-trường của Vatican trong vụ này là chỉ dựa vào báo-cáo và đề-nghị của các thừa-sai tại địa-phương, mà giai-đoạn này thì họ chịu hoàn-toàn ảnh-hưởng của tổng-thống Ngô Đình Diệm và tổng-giám-mục Ngô Đình Thục của Miền Nam Việt Nam.

            Cũng như trong các bài viết khác, tất cả chỉ là nghe nói, tiếng đồn, tương-truyền, và mỗi lần lại mỗi khác nhau và mâu-thuẫn nhau.

            Dù sao, cây đa ở đây hẳn thuộc về bên không-Công-Giáo, dù là hồi đó hay là bây giờ; và dân La Vang đến đó cầu-nguyện là dân đa-tín, tin thờ nhiều thần (kể cả ma quỷ, là những hình bóng chập-chờn thỉnh-thoảng hiện ra nơi các cây đa), rất lâu trước khi có dân Ky Tô Giáo đến đó tị-nạn rồi sau mới nghe tiếng đồn về Bà linh-thiêng...

PHẦN VI: LINH-MỤC TRẦN HỮU THANH MUỐN GÌ?

I.  Chính-Đề:

Đức-Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang Vào Lúc Nào, Trong Hoàn-cảnh Nào?

A. TÀI-LIỆU:

            1-  Theo L’Osservatore Romano, “tháng 8-1798, triều-thần của vua Cảnh-Thịnh ra lệnh đàn-áp Ky Tô Giáo.  Giáo-dân cùng với gia-đình chạy trốn vào rừng La Vang...  Một hôm, Đức Mẹ hiện ra.”

            2-  Theo Nguyễn Lý Tưởng, “vua Cảnh-Thịnh đã ra mật lệnh cho các địa-phương hẹn đến tháng 5-1798 sẽ bắt và giết tất cả giáo-dân cũng như linh-mục, không để sót người nào...  Dân theo đạo ở các làng Trí Bưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa bèn chạy vào miền núi vùng La Vang để ẩn núp.  Chính trong thời-gian đó, Đức Mẹ đã hiện ra với họ.”

            3-  Theo Trần Văn Trí, “năm 1798, đời Cảnh-Thịnh, giáo-dân phải trốn tránh vì những lệnh bắt giáo-sĩ, thu ảnh-tượng, rỡ nhà thờ, đàn áp giáo-dân... là năm Đức Mẹ hiện ra ở La Vang.”

B.  NHẬN XÉT:

            Không kể sự khác nhau giữa tháng 5 và tháng 8 năm 1798, và nhiều người (chứ không phải là tất cả) giáo-dân phải trốn-tránh, ta hãy căn-cứ vào bài thuyết-giảng của tổng-giám-mục Nguyễn Văn Thuận tại Anaheim Convention Center hôm 22-2-98 “mỗi lần Đức Mẹ hiện ra nơi nào là để báo trước một biến cố  sắp-sửa xảy đến cho nhân-loại” để tạm đồng-ý rằng:

ĐỨC-MẸ HIỆN RA TẠI LA-VANG VÀO THÁNG 8-1798 DƯỚI TRIỀU VUA CẢNH-THỊNH LÀ LÚC  GIÁO DÂN VIỆT NAM BỊ ĐÀN ÁP KHỐC LIỆT NHẤT.

- Đó là Chính-Đề.

II. Phản-Đề:

Quan-Điểm Của Linh-Mục Trần Hữu Thanh

            Báo “Mẹ Việt-Nam”, số 102 ra ngày 15-8-98, có đăng bài “Thử Xác-Định Thời-Điểm Và Hoàn-Cảnh Sự Việc Đức Mẹ Hiện Ra Ở La Vang” của linh-mục Trần Hữu Thanh, trong đó có đoạn:

            Ba anh em Tây Sơn biết rõ Đức Giám-Mục Pigneau ủng-hộ Nguyễn Phúc Ánh, hại mình; và các thừa-sai, linh-mục bản-quốc đều ngả về phía Nguyễn Phúc Ánh; nhưng chắc-chắn là vì chính-trị cao, không muốn gây thêm thù, và giữ tình đoàn-kết quốc-dân, họ không ngược-đãi các thừa-sai, trái lại còn ban cho nhiều ân-huệ (CGDT, tr. 18,19) và để người Công-Giáo tự-do.

            Mặc dù có kể ra hai vụ cấm đạo, nhưng Lm Trần Hữu Thanh khẳng-định rằng các anh em Tây Sơn nói chung, vua Cảnh-Thịnh nói riêng, và đặc-biệt là cuộc bắt-bớ đạo vào năm 1798, thật ra không có quá ác như nhiều người nghĩ.  Bài viết của Trần Hữu Thanh chú-trọng nghiên-cứu phân-tích thời-điểm và hoàn-cảnh của việc Đức Mẹ Hiện Ra Tại La Vang.

I.  THỜI-ĐIỂM:

A.  TÀI-LIỆU:

            Lm Trần Hữu Thanh viết:  “Việc bố ráp ở Huế xảy ra ngày 7-8-1798.  Sắc-chỉ bắt đạo được ban-hành 10 ngày sau, là vào ngày 17-8-1798.  Cơn bách-hại kéo dài độ một tháng, là từ khoảng 17-8-1798 đến 17-9-1798.”

B.  NHẬN XÉT:

            Dù đã bắt đầu viết rằng “Đức Mẹ hiện ra ngày tháng năm nào? Không sử-sách nào ghi chép rõ!” linh-mục Trần Hữu Thanh vẫn kết-luận:  “Như thế ta có thể xác-định việc Đức Mẹ hiện ra tại La Vang là vào khoảng 17-8 đến 17-9-1798.  Ta không thể xác-định chính-xác hơn ngày giờ Đức Mẹ hiện ra, nhưng xác-định được tháng năm và khung-cảnh Đức Mẹ hiện ra...”

            Thế là linh-mục Thanh đã xác-định được cả ngày Đức Mẹ hiện ra (trong lúc các nhân-vật khác không xác-định được).