-
- GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ĐỐI DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ
HIỆN ĐẠI
- Minh Chi
DÀN BÀI VÀ NỘI DUNG CHÍNH
I. Khoảng cách giữa Đạo Phật
lý thuyết và Đạo Phật trong thực tế.
II. Đổi mới hình thức và phương
pháp giáo dục.
a/ Thân giáo là quan trọng hàng đầu.
b/ Mở rộng đội ngũ giáo dục
c/ Dùng rộng rãi tiếng Việt
III. Nội dung giáo dục hướng nội,
coi trọng môn tâm lý học Duy Thức.
IV.Giáo dục tinh thần nghiên cứu
khoa học-đề cao vai trò của lý trí. Chú ý môn lô gíc Nhân minh học. Các
vấn đề thần tiên, ma quỷ và quyền năng thần thông.
Kết luận: Đạo Phật đề cao niềm tin-nhưng
trước hết là niềm tin ở con người, có thể tự mình giác ngộ và giải
thoát theo con đường Phật vạch ra.
I. Khoảng cách lớn
giữa Đạo Phật lý thuyết và Đạo Phật trong thực tế
Bất cứ người nào có nghiên cứu
Phật học, có kiến thức về giáo lý Đạo Phật như được ghi trong ba tạng
kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt Đạo
Phật trong kinh điển –mà tôi gọi là Đạo Phật lý thuyết –với Đạo
Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế.
Đạo Phật lý thuyết là Đạo Phật
lý tưởng. Quãng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên
và tất yếu. Bởi lẽ, nếu k có quãng cách đó giữa Đạo Phật lý tưởng
và Đạo Phật thực tế, thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi,
và cõi đất nào đã là cõi Phật rồi.
Vì vậy, khi suy nghĩ và nói tới
quãng cách đó qua các sự kiện thực tế, tôi k có mục đích gì khác là
tự nhắc nhủ mình và nhắc nhủ mọi người luôn luôn có ý thức về
quãng cách đó và phấn đấu hết sức mình để thu hẹp quãng cách đó.
Chính với tinh thần và thái độ
như vậy mà tôi xin có một vài suy nghĩ về một sự đổi mới phương pháp,
hình thức và nội dung của giáo dục Phật giáo trong thời đại hiện nay.
II. Đổi mới về hình
thức và phương pháp giáo dục Phật giáo
a/ Trong giáo dục Phật giáo, thân
giáo là quan trọng hàng đầu.
Điều này, ai cũng biết cho nên
không cần nói nhiều. Cái khó là chúng ta không làm, không muốn làm hay là
không làm được.
Tôi cho rằng, một trong những nguyên
nhân khiến cho Đạo không truyền bá được vào đời, khiến cho giáo dục
Phật giáo có hiệu quả hạn chế là vì chúng ta coi nhẹ thân giáo, tức
là những người làm chức năng giáo dục Phật giáo, phải thực hành hằng
ngày, hằng giây phút những giá trị cao cả của đạo Phật trong cuộc sống
của mình.
b/ Mở rộng đội ngũ giáo dục:
Cho đến nay, chúng ta thường hạn chế
số người làm chức năng giáo dục trong Tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật
giáo trong các buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường Phật học
cơ bản và cao cấp. Một quan điểm hẹp hòi như vậy làm giảm sút hiệu
quả của giáo dục Phật giáo rất nhiều. Tất cả là những người không
kể là xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào chân lý của những giá trị
triết lý đạo đức của đạo Phật và sống theo đúng những giá trị đó,
đều mặc nhiên trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, bằng thân
giáo, bằng mọi hành vi và lời nói của mình. Mọi người hãy có ý thức
đầy đủ về điều này, và không nên nghe những người nói rằng truyền
giáo, giáo dục thì phải nói cho hùng hồn, điệu bộ cho oai vệ. Suy nghĩ
như vậy sẽ lầm to, và rất có hại cho sự nghiệp truyền bá của đạo
Phật.
Thành Thái Tông, một ông vua Phật tử
đời Trần, viết cuốn Khóa Hư Lục rằng:
"Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn,
hưu xuất gia tại gia, bất câu Tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bản vô nam
nữ, hà tu trước tướng?"
Dịch: "Không phân biệt là sống
giữa đời hay sống ẩn dậy trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất
gia, Tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm. Vốn không nam nữ, sao lại còn chấp
tướng?"
Có thể nói đạo lý bình đẳng của
Phật không có phân biệt đối đãi xuất gia và tại gia, nam và nữ, già
và trẻ. Tất cả mọi người đều sẵn có mầm giác ngộ ở trong mình, tức
Phật tánh cho nên đều có thể thành Phật. Đạo lý bình đẳng này thấy
rõ trong một số kinh Đại thừa như Kinh Duy Ma Cật, Kinh Thắng Man đã được
dịch ra tiếng Việt. Duy Ma Cật là một trưởng lão có gia đình, nhưng trình
độ giác ngộ của ông ngang hàng với Bồ tát Văn Thù. Phu nhân Thắng Man,
trong kinh Thắng Man, cũng có một vị trí cao tương tự. Trong kinh Pháp Hoa
ở chương 26, một Long Nữ mới 8 tuổi, nhờ nghe Ngài Văn Thù thuyết pháp
mà trở thành đại Bồ tát, và trong nháy mắt, dùng phép thần thông biến
ngay thành nam giới rồi thành Phật. Những truyện như vậy có thể không
được Phật giáo Theravada (Nam tông) chấp nhận, nhưng đứng về tinh thần
mà nói, chúng nói lên được truyền thống bình đẳng và phá chấp của
đạo Phật, và truyền thống này có ngay từ thời đức Phật còn tại thế.
Phật giáo Việt Nam từng có ni sư Diệu
Nhân đời Lý là một Thiền sư nổi tiếng thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, có Trần Thái Tông và Tuệ Trung đều là những cư sĩ và là nhà
Phật học xuất sắc đời Trần. Học trò của hai vị này gồm cả Tăng
sĩ và cư sĩ. Một học trò xuất sắc của Tuệ Trung chính là Trần Nhân
Tông, là Tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm đời Trần. Một học trò
thứ hai của Tuệ Trung là Pháp Loa, là vị Tổ thứ hai của phái Thiền
Trúc Lâm và là người đứng ra san định bản thảo Tuệ Trung Thượng Sĩ
Ngữ Lục, đã được cư sĩ Trúc Thiên dịch ra Việt văn. Trong thời hiện
đại, chúng ta có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, là một nhà Phật học lớn,
nhiều Tăng sĩ vốn là học trò của ông, nay giữ nhiều vị trí chủ chốt
trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ở nước Phật giáo nào cũng vậy,
cư sĩ bao giờ cũng chiếm số đông, họ lại là người có kiến thức thế
tục khá rộng, nếu họ có thêm kiến thức nội điển nữa thì họ sẽ
trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, những nhà truyền giáo rất tốt,
rất có hiệu quả. Tăng sĩ vốn số lượng ít hơn, tất nhiên cũng làm chức
năng giáo dục và truyền giáo, nhưng trước hết họ là những người duy
trì kỷ cương xuất thế của đạo, và điều này cũng rất là quan trọng
trong cuộc sống văn minh vật chất và thế tục hiện nay. Nói tóm lại, phải
thu hút rộng rãi từng lớp cư sĩ vào đội ngũ giáo dục và truyền giáo
của đạo Phật. Đó là một trong những biện pháp chủ chốt để rút ngắn
lại quãng cách giữa đạo Phật lý thuyết và đạo Phật trong thực tế,
trong đời sống.
c/ Dùng rộng rãi tiếng dân tộc tức
là tiếng Việt trong công tác giáo dục và truyền giáo. Bớt dùng chữ
Hán, nhất là đối với các kinh nhật tụng. Các bản Việt dịch của đại
tạng kinh Việt Nam phải được nhuận văn thế nào cho đông đảo Phật tử
đọc mà hiểu được, và áp dụng được nội dung vào đời sống hằng
ngày, vấn đề này quá rõ, cho nên tôi không nói nhiều.
III. Giáo dục hướng nội
và đặc biệt coi trọng môn Duy Thức học
Về nội dung giáo dục, phải rất
chú trọng môn tâm lý học Phật giáo, tức là môn Duy Thức học. Cho nên
đến nay, ở các nước phát triển của phương Tây, người ta chú trọng
nghiên cứu thế giới bên ngoài, hơn là nội tâm con người. Nói thế giới
bên ngoài, bao gồm cả xã hội và thiên nhiên. Do đó mà các ngành khoa học
tự nhiên ở phương Tây rất phát triển, tạo ra nhiều thành tựu thần kỳ
trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, dẫn tới một sự tăng
trưởng vũ bão của lực lượng sản xuất. Thành công đó của khoa học kỹ
thuật phương Tây không thể phủ nhận được. Thế nhưng, trong các ngành
khoa học xã hội thì chỉ có ngành xã hội học (sociology) là phát triển tương
đối. Ngay Mác, khi dẫn chứng một điểm trong luận cương của Phơ Bách cũng
khẳng định con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Nhưng trên
thực tế, theo quan điểm của triết học và tôn giáo phương Đông, đặc
biệt là Phật giáo, thì nội tâm con người là cả một thế giới mênh
mông, sâu thẳm, mà mãi tới thế kỷ XX Sigmund Freud mới sơ bộ phát hiện
ra, và trên cơ sở đó xây dựng môn phân tâm học nổi tiếng của ông.
Chúng ta biết là để trình bày môn
phân bâm học, là môn học rất mới mẻ đối với người phương Tây,
Freud đã phải sáng tạo ra cả một pho ngữ vựng phân tâm học, ới những
danh từ, động từ và hình dung từ rất lạ tai... Thế nhưng môn tâm lý học
Phật giáo, cụ thể là môn Duy Thức học Phật giáo so với môn phân tâm học
của Freud, đã phân tích nội tâm của con người sâu sắc và chi tiết hơn
nhiều, khiến cho những học trò danh tiếng của Freud như Fromm, Jung đã
theo nghiên cứu Phật học và trở thành môn đệ của Thiền sư Nhật Bản
Suzuki (xem Thiền và phân tâm học–các bản Anh và Việt văn).
Vì coi thường đời sống nội tâm,
không chịu nghiên cứu cho nên, ở các nước công nghiệp rất phát triển
của phương Tây, con người có thể có rất nhiều tiền, và đầy đủ mọi
tiện nghi của đời sống vật chất nhưng lại thiếu sự bình tĩnh nội tâm
cho nên cũng không có hạnh phúc. Một người Mỹ là nhà báo nói: "Về
vật lý học, chúng ta đang ở thời đại nguyên tử, về mặt tâm lý học,
chúng ta đang ở thời đại đồ đá." Một hình ảnh khacsa, có sức
gợi cảm mạnh hơn, là hình ảnh của một con người, một chân thì buộc
vào một chiếc máy bay phản lực, còn chân kia thì buộc vào một chiếc xe
bò kéo!
Sự mất thăng băng giữa tâm lý học
(hết sức lạc hậu) và các môn khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật
lý học (hết sức phát triển) giữa nội tâm tán loạn, hôn mê vì dục vọng
va ngoại cảnh đầy cám dỗ, kích thích và diễn biến cực kỳ nhanh chóng
(thời đại hiện nay là thời đại của tốc độ) là nguyên nhân của bao
nhiêu tai nạn khủng khiếp, bao nhiêu hiện tượng bạo lực, bạo hành, khủng
bố thật không sao hiểu được, đang diễn ra hiện nay, có thể nói là hằng
ngày. Những chuyện giết người hàng loạt một cách dã man, không phải chỉ
xảy ra ở những nước lạc hậu, kém văn hóa như ở Campuchia thời Pôn pốt,
ở Ruanda và Burundi tại Phi Châu hiện nay mà ngay ở trung tâm Châu Âu, ở nước
Nam tư cũ, ở Nga tại Tchesnia, ở Mỹ (Okalahoma) và ở Nhật trong các vụ
đầu độc dưới tàu điện ngầm. Nghĩa là những nước rất văn minh. Phải
chăng nên gọi họ là những nước văn minh dã man!
Đúng như Einstein dự đoán, nhân loại
là con người điên. Khoa hoc kỹ thuật trao cho người điên đó cái búa,
và bây giờ, người điên đó đang dùng cái búa đập phá lung tung.
Duy Thức và Trung Quán là hai đỉnh
cao của Phật giáo Đại thừa. Hai môn học này bổ xung cho nhau, thay vì
mâu thuẫn và chống đối với nhau như một vài người lầm tưởng. Nếu
môn học Trung Quán chú ý nhiều tới sự phân tích lô gíc và tư duy biện
chứng, do đó rất thích hợp với các phương pháp khoa học hiện đại, thì
môn Duy thức học lại chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với tu tập
thiền định. Không phải không có lý do mà tông Duy Thức còn mang tên Du
Già tông. Du Già hay Yoga là một tên gọi khác của Thiền định, nhưng ý
nghĩa của nó có phần rộng hơn.
Giảng môn Duy Thức học mà không biết
kết hợp với tu tập Thiền định thì sẽ biến thành môn học có tính
kinh viện và sách vở. Chính trong những giời phút ngồi thiền và thực
hành thiền quán hay nội quán, mà hành giả quán thấy mọi sự kiện ngoại
cảnh và nội tâm một cách minh bạch rõ ràng, đúng như chúng tồn tại.
VI. Giáo dục về tinh thần và phương
pháp nghiên cứu khoa học, đề cao tính lý trí trong giáo dục Phật giáo,
chống mọi hình thức giáo điều, cũng như mê tín và cuồng tín
Thời đại hiện nay là thời đại của
khoa học và dân chủ. Phương pháp giáo dục Phật giáo, nếu đi ngược lại
hai tinh thần khoa học và dân chủ, nhất định sẽ kém hiệu quả, thậm
chí đem lại hậu quả ngược với ý muốn dự định của chúng ta. Nghĩa
là tuyên truyền đạo Phật mà trở lại phản tuyên truyền đạo Phật, biến
đạo Phật thành một trò cười cho số đông.
Gần đây, có người thường nhấn mạnh
tính phi lý, tính trái thường của những câu Thiền. Đúng là có một số
câu Thiền hay la có những hành vi của một số Thiền sư là khó hiểu, thậm
chí không hiểu được, đại loại như câu của phái Thiền Lâm Tế: "Gặp
Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ" v.v... Tôi không dám phê bình
những câu, những lời thiền như vậy, mà tôi tin là chỉ có giá trị
giáo dục nhất định, trong những trường hợp cá biệt nhất định giữa
Thiền sư và thiền sinh, giữa thầy và trò. Những câu kiểu như vậy không
có một giá trị giáo dục phổ biến.
Đạo Phật khác với các tôn giáo thần
khải, không bao giờ phủ định lý trí như là chuẩn mức đáng tin cậy của
chân lý. Con người là một động vật có lý trí. Tất nhiên, con người còn
có tình cảm và ý chí. Nhưng ở nơi con người, tình cảm và ý chí phải
được soi sáng và hướng dẫn bởi lý trí. Với lý trí, con người phải
học lập luận một cách lô gíc chặt chẽ, sử sụng thông thạo các thao
tác như suy lý, diễn dịch và quy nạp. Do đó, môn lô gíc học phải được
đưa vào dạy ở các trường Phật học cơ bản và cao cấp. Đó là điều
hiện nay chúng ta chưa làm, thậm chí ngay cả đối với trường Phật học
cao cấp, chứ đừng nói gì ở các trường Phật học cơ bản. Khi nói và
viết, khi suy tư, con người phải biết lập luận một cách lô gíc chặt
chẽ, nghĩa là có lý có lẽ, chứ không thể suy nghĩ lung tung, viết và
nói lung tung, thậm chí cả trong khi giảng dạy.
Nhà Bác học Einstein nói: "Tôn
giáo mà không có khoa học sẽ là tôn giáo mù, khoa học mà không có tôn
giáo thì sẽ là khoa học què".
Khi Einstein nói tôn giáo mà không có
khoa học là tôn giáo mù, theo tôi là Einstein muốn nói tôn giáo không phải
chỉ là lĩnh vực của đức tin thuần tuý, yêu cầu không được bàn cãi,
suy tư, hoài nghi. Tuyệt đối không phải như vậy. Chính kiểu lập luận
như vậy biến tín đồ thành một đám người mù, nhắm mắt làm theo chỉ
thị của những người tự xưng là đạo sư, hay là vô thượng sư của họ,
nhưng trên thực tế, đôi khi chỉ là những phần tử cơ hội, có thể
không từ một tội ác nào mà không làm, như đạo sư của Giáo pháp Aum
ở Nhật, đã cho đầu độc hàng loạt người vô tội, hay là như một số
giáo phái ở Mỹ, tổ chức những vụ tự sát tập thể...
Đạo Phật ngay từ đầu đề cao vai
trò của trí tuệ thay vì niềm tin mù quáng. Phật từng nói tiếp thu giáo
pháp của Phật mà không hiểu cũng không khác gì một cái thìa đựng mật,
nhưng không thể biết mùi vị của mật là gì. Phật lại nói "chớ
có tiếp thu giáo pháp của Ta chỉ vì kính nể Ta, trái lại hãy thử thách
nó như là lửa thử vàng vậy."
Đạo Phật không bao giờ có những lời
tuyên bố vô lý như vậy: "Điều này có thể tin được vì rằng
quá ư vô lý, điều này là đúng vì không có khả năng xảy ra." Những
điều đó, Lô gíc học Phật giáo tức Nhân minh học gọi là thế gian tương
vi. Đạo Phật khuyến khích mọi người hãy lập luận một cách lô gíc, dựa
trên những sự kiện thực tế của cuộc sống hằng ngày. Một lần, Phật
nói với một người Bà-la-môn: "Có những người Bà-la-môn và Sa
môn nói rằng ngày là đêm và đêm là ngày. Nhưng Ta, này Bà-la-môn, Ta nói
đêm là đêm và ngày là ngày."
Phải chăng, nói như vậy, Phật muốn
khuyên chúng ta không hứng thú gì với những câu nói trái thường của Thiền
tông hiện nay.
Hiện nay, có một số ít người, kể
cả một số trí thức,thích kể những chuyện lạ về cõi âm, và cũng thích
bàn về những quyền năng siêu nhiên, như bay trên không, đi trên nước, một
thân biến thành nhiều thân, hô phong hoán vũ, sai khiến quỷ thần.
Trong phương pháp giáo dục Phật
giáo, chúng ta xử lý những vấn đề đó như thế nào?
Trước hết, đạo Phật thừa nhận
có nhiều cõi sống khác nhau với cõi người. Có những cõi sống cao cấp
hơn cõi người, mà sách Phật thường gọi chung là Chư Thiên. Có những
cõi Trời ở xa, thậm chí rất xa cõi người trên trái đất này, nhưng
cũng có những cõi Trời ở tương đối gần. Lại có những cõi sống thấp
hơn cõi người, như cõi sống của loài vật, cõi quỷ đói và cõi địa
ngục. Đạo Phật cũng thừa nhận, con người sau khi chết, mang một cái
thân tam thời gọi thân trung ấm, làm bằng loại vật chất tế nhị, cho
nên mắt người không thấy được. Các thân trung ấm sống tối đa 49 ngày,
rồi theo nghiệp mà tái sanh hoặc trở lại làm người hay la qua một cõi sống
khác hoặc thấp hơn hoặc cao hơn cõi người. Đó là một mặt của vấn
đề. Tức là đạo Phật thừa nhận có những chúng sanh khác với con người,
những cõi sống khác với cõi người. Còn gọi họ, và cõi sống của họ
bằng tên gọi gì thì chỉ là vấn đề quy ước mà thôi.
Nhưng một số vấn đề khác mà đạo
Phật rất nhấn mạnh, chúng sanh ở các cõi sống khác nhau, do nghiệp khác
nhau, giác quan khác nhau cho nên cũng không có quan hệ trực tiếp với nhau
gì (trong các cõi sống khác, có lẽ chỉ có loài vật (animal) là có quan hệ
trực tiếp với cõi người hơn cả). Phúc hay hoạ đến cho con người là
do con người tạo nghiệp tương xứng, chứ không phải do quỷ thần. Cho
nên, điều người phải làm, không phải là cúng bái quỷ thần để được
ban phước hay tránh họa. Họa hay phước đều do người chứ không phải
do quỷ thần. Nếu chúng ta hằng ngày làm điều thiện, nói thiện, nghĩ
thiện, nghĩa là thường xuyên làm việc thiện thì chính quỷ thần cũng kính
nể ta, bảo vệ ta. Còn nếu chúng ta hằng ngày làm ác, nói ác, nghĩ ác,
thì chúng ta sẽ mang họa, không chóng thì chầy, không có quỷ thần nào cứu
vớt chúng ta được. Đó là thuyết nghiệp của đạo Phật, một thuyết rất
khoa học và công bằng.
Theo tinh thần của đạo Phật, thì
không những quỷ thần không thể can thiệp vào quy luật nghiệp báo, mà
các con người đối đãi với nhau cũng vậy. Người thiện thật sự sống
thiện, nay cũng như xưa thì người ác muốn hại cũng không làm gì được.
Người ác, muốn hại người thiện cũng như thằng ngu ngửa mặt lên trời
mà phun nước bọt, hay là đi ngược gió mà tung bụi... người thiện sống
giữa đời ác độc, cũng như một bàn tay không thương tích nhúng vào một
bát thuốc độc, không có quan hệ gì hết.
Còn về vấn đề thần thông và quyền
năng siêu nhiên, đạo Phật cho rằng đó là sản phẩm phụ của công phu
thiền định, là một cái gì tự nhiên đến với người tu tập thiền định,
trong đạo Phật cũng như ở các đạo khác. Thế nhưng, trong các loại thần
thông, thì loại thần thông mà Phật đề cao nhất là "Giáo hóa thần
thông", hay là nếu nói theo từ ngữ thông thường là "giáo dục
thần thông". Phật nói đó mới là thần thông thật sự, biến con
người ác thành con người thiện, con người ngu thành người có trí, người
dữ thành người hiền...Còn các loại thần thông khác như bay trên không,
đi trên nước, chui xuống đất, ... đức Phật đều xem như những trò ảo
thuật mà đức Phật khuyên học trò mình không nên làm.
Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của
tình thương rộng lớn. Đạo Phật đem lại cho mọi người nhiệt tình sống
cuộc sống đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống trong
sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung...Đạo Phật cũng như bản thân được
Phật luôn khuyên mọi người hãy tin ở sức mình, hãy tin ở mình, hãy tự
thắp đuốc lên mà đi... "Chớ có vội tin vì đó là truyền thống
do nhiều thế hệ để lại, chớ tin vì đó là tin đồn, được nhiều
người nói tới, chớ có tin vì đó là điều đã viết thành sách bởi một
nhà hiền triết cổ xưa, chớ có tin vì đó là điều anh thích thú, cho là
tân kỳ, và nghĩ rằng đó phải là do Thần hay một nhân vật kỳ diệu
truyền đạt lại. Chỉ sau khi quan sát và phân tích, thấy rằng đó là điều
hợp với lý trí, đem lại sự tốt lành, có lợi cho bản thân anh và cho mọi
người, thì hãy chấp nhận điều đó và sống theo điều đó" (Tăng
Chi I. Kinh Kalama–Các vị ở Kesaputta)
Đó quả là một lời dạy đầy minh
triết. Nếu tất cả mọi người đều vâng theo lời dạy minh triết đó,
sống tỉnh táo, luôn luôn quan sát và phân tích, dựa vững vàng vào các dữ
kiện thực tế của đời sống, kể cả đời sống nội tâm, thì lịch sử
nhân loại kể cả quá khư và hiện tại, sẽ giảm bớt bao nhiêu tội ác,
tang tóc và đau thương, bao nhiêu máu bớt chảy, bao nhiên nước mắt đỡ
tuôn rơi, bao nhiêu quả tim đỡ tan nát...
Có người nói đạo Phật là tôn
giáo của niềm tin nhưng không phải là niềm tin ở Thượng Đế mà là niềm
tin ở con người, ở lý trí của con người biết phán xét phải trái, ở
trái tim của con người biết yêu thương đồng loại, ở ý chí của con người
vươn tới cái tối thiện.
Đạo Phật là như vậy, và toàn bộ
giáo dục Phật giáo trong thời đại hiện đại phải đổi mới như vậy,
nhằm mục đích như vậy, theo hướng như vậy. Đó sẽ là đạo Phật của
tương lai, của thế kỷ 21.
Xin cảm ơi quý vị!
