-
Giao Điểm cống hiến
bạn đọc trọn bộ phần IV trong tác phẩm "VN Đệ Nhất Cộng hòa
Tòan thư 1954-1963" của sử gia Nguyễn Mạnh Quang. Mở đầu là 2 chương
15 và 16.
- PHẦN IV
- MỘT NGUỒN GỐC
- GÂY RA KHỔ NẠN CHO NHỮNG NGƯỜI
VIẾT SỬ CHÂN CHÍNH
Nguyễn Mạnh
Quang
- Tác giả và gia đình
Trong Phần IV này, chúng tôi xin
trình bày một nguồn gốc gây ra khổ nạn cho những người muốn viết lên
sự thật trong quá khứ. Phần này gồm có:
- Chương 15: Nền Đạo Lý Thiên La Đắc Lộ
- Chương 16: Chủ Đích của Chính Sách Ngoại Viện
Của Hoa Kỳ
- Chương 17: Con Thuyền Quyền Lực Ở Miền Nam Việt
Nam
- Chương 18: Hoa Kỳ Lo Lắng Và Săn Sóc Cho Ông Ngô
Đình Diệm
- Chương 19: Tội Ác Lạm Quyền Ăn Chặn Tiền Viện
Trợ, Hà Hiếp Và Bóc Lột Nhân Dân
- Chương 20: Cây Muốn Lặng Gió Chẳng Muốn Đừng
- Chương 21: Hai Quan Niệm Căn Bản Khác Nhau
- Chương 22: Những Hệ Lụy Của Hai Quan Niệm Căn
Bản Khác Nhau...
-
- CHƯƠNG 15
- NỀN ĐẠO LÝ ĐẮC LỘ
Danh xưng "Đạo Lý Đắc Lộ"
là do sự rút gọn của nhóm chữ "Đạo Lý Thiên Chúa La Mã Đắc Lộ"
hay "Thiên La Đắc Lộ". Danh xưng này có thể là quá mới đối
với nhiều người. Vì vậy người viết xin trình bày để quý vị có ý
niệm rõ ràng về nền đạo lý này. Cũng xin nói rõ hai chữ Đắc Lộ là
do những người tín đồ của Giáo Hội La Mã phiên âm cái tên của ông cố
đạo Alexandre de Rhodes sang tiếng Việt mà ra. Như đã trình bày đầy đủ
ở phần LỜI PHI LỘ, ông Alexandre de Rhodes là một điệp viên thượng
thăng được Giáo Hội La Mã phái đến Việt Nam với danh xưng là nhà truyền
giáo để thi hành điệp vụ thâu thập các tin tức tình báo chiến lược
gửi về bộ tham mưu của Tòa Thánh Vatican và chính quyền Pháp để điều
nghiên, chuẩn bị cho việc xuất quân chinh phục các xứ Đông Dương. Trong
chương này, chúng tôi xin giới hạn, chỉ trình bày để độc giả hiểu rõ
nền đạo lý Thiên La Đắc Lộ. Nói cho gọn, ta có thể gọi nền đạo lý
này là nền đạo lý Đắc Lộ. Nền đạo lý Đắc Lộ là hệ quả của
nhiều lần biến đổi và được thêm thắt nhiều tín điều vào hệ thống
lý thuyết tín ngưỡng của Do Thái giáo (Judaism). Nếu gọi mỗi lần biến
đổi là một thế hệ thì nền đạo lý Đắc Lộ là thế hệ thứ 4 và nền
đạo lý Do Thái là thế hệ thứ nhất. Chúng tôi xin lần lượt trình bày
sơ lược những biến đổi này.
THẾ HỆ THỨ NHẤT:
ĐẠO LÝ DO THÁI
Khởi đầu là nền đạo lý Do
Thái (đạo Do Thái) dựa trên bộ Cựu Ước Kinh và chỉ thờ có một ông
Thượng Đế theo quan niệm của người Do Thái. Nói theo toán học, ta có đẳng
thức:
Đạo Do Thái = Chỉ thờ có một
ông Thượng Đế Do Thái + Cựu Ước Kinh
Theo sách sử, tôn giáo này xuất hiện
vào khoảng năm 1266 trước Tây Lịch, khi ông Moses dẫn đoàn người Do Thái
của ông quy cố hương Đất Hứa. Đến thế kỷ thứ 1 trước Tây Lịch,
khi Đế Quốc La Mã thống trị nước Do Thái thì có nhiều tu sĩ của đạo
Do Thái là bọn Pharisiêu, lợi dụng uy tín sẵn có, làm nhiều điều bất
chính, bất nhân, bất nghĩa thất đức để thỏa mãn tham vọng "tình,
tiền, quyền thế và danh vọng". Vì chạy theo dục vọng hèn hạ
trên đây, họ nhẫn tâm làm tay sai cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược La Mã.
Nhờ vậy mà họ được chính quyền Đế Quốc La Mã chiều chuộng và
bênh vực, coi như thành phần đáng tin cậy nhất và được ưu đãi nhất
trong xã hội Do Thái thời bấy giờ. Sự kiện này giống y như tình trạng
của bọn Linh-mục Trần Lục, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đình Khả, Ngô
Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Petrus Trương Vĩnh Ký, Huyện Sĩ, Nguyễn Hữu Hào
và những người Gia-tô lấy cớ bảo vệ đức tin mà nhẫn tâm "bán nước"
cho chính quyền Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp-Vatican từ năm
1862-1954 tại Việt Nam. Nhìn thấy rõ bộ mặt thật gian ác của bọn lưu
manh mượn áo tu hành đội lốt tôn giáo này, ông Jesus, lúc bấy giờ mới
30 tuổi, liền bỏ nghề thợ mộc, từ giã cha mẹ đi kêu gọi mọi người
hãy nghe lời ông lên án bọn Pharisiêu là những quân giả nhân giả nghĩa,
đội lốt tôn giáo để lừa bịp đồng bào, bán rẻ quê hương cho quân cướp
ngoại thù. Lời lẽ kêu gọi của ông có lẽ không rõ ràng như vậy,
nhưng cũng đủ làm cho chính quyền Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược La Mã
và bọn Do Thái gian Pharisiêu căm giận và thù ghét ông. Vì thế cho nên họ
mới kiếm cớ tìm cách bắt ông, kết tội ông là thành phần nguy hiểm,
phá rối an ninh và xử tử ông cùng với mấy tên tội đồ đạo tặc.
THẾ HỆ THỨ
HAI: ĐẠO LÝ KITÔ DO THÁI
Ông Jesus bị chính quyền Đế Quốc
Thực Dân Xâm Lược La Mã đồng mưu bọn Do Thái gian Pharisiêu xử tử vào
năm 33. Vì quá xúc động trước cái chết thảm thương của ông Jesus,
thân xác bị đóng đinh trên cây thập tự, cho nên, nhiều người, nhất là
các đệ tử thân cận của ông như các ông Luke, Mathiew, John và Mark ghi lại
những mẩu chuyện giữa họ với ông Jesus và những lời ông Jesus thường
nói với họ lúc sinh tiền. Họ coi đó như là những kỷ vật thiêng liêng
đối với họ. Việc làm này y hệt như ông Tăng Tử ghi lại những mẩu
chuyện giữa Đức Khổng Tử và các môn sinh của Ngài, và sau này gom lại
thành cuốn Luận Ngữ.
Quá xúc động trước cái chết
quá thảm thương của ông Jesus, họ nghĩ đến lời nói trong Cựu Ước
Kinh nói rằng sẽ có một người đầu thai xuống thế chịu khổ nạn cứu
rỗi cho loài người thoát khỏi tội tổ tông, rồi họ tin rằng ông Jesus
đích thực là người được Thượng Đế sai xuống trần gian chịu khổ hình
để cứu chuộc cho nhân loại. Sau đó, họ thêm chữ Christ vào tên Jesus của
ông, gọi ông là Chúa Jesus và lập giáo đường thờ ông giống như người
Việt Nam lập đền thờ các vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Phạm
Ngũ Lão, Nguyễn Biểu, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Tri Phương,
Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, v.v...
Người đầu tiên chủ xướng và cổ võ lập đền thờ ông Jesus là ông
Peter, một trong các môn đệ của ông. Ông này được coi như là ông giáo
chủ thứ nhất. Theo tiếng Anh, những người thờ ông Jesus thì được gọi
là Christian (do chữ Christ mà ra và có nghĩa là Chúa hay Thiên Chúa), và cái
đạo tôn thờ ông Jesus được gọi là Christianity. Ta gọi là đạo Thiên
Chúa Do Thái hay đạo Ki-tô Do Thái. Gọi như vậy là vì tôn giáo này xuất
phát từ nước Do Thái, và khởi đầu, hầu hết tín đồ của tôn giáo
này là những thân nhân bà con của ông Jesus và của các đệ tử của
ông; tất cả đều là người Do Thái. Chữ Kitô do người Trung Hoa phiên
âm từ chữ Christ (người Bồ Đào Nha viết là Christo). Cho đến năm 325 Tây
Lịch, tôn giáo hay nền đạo lý này chỉ dựa vào có bộ cựu Ước Kinh,
tức là kinh điển của đạo Do Thái (Judaism) và những lời lẽ trong những
mẩu chuyện đàm đạo giữa ông Jesus và các môn đệ cùng với những lời
ông Jesus thường rao giảng. Cũng trong thời gian này, con số tín đồ của
tôn giáo này khắp trong Đế Quốc La Mã vào khoảng 70 ngàn người ở rải
rác khắp trong Đế Quốc La Mã. Con số này so với khối dân khổng lồ
trong toàn Đế Quốc La Mã lúc bấy giờ thì quả lá quá nhỏ.
Cũng nên biết頬à lúc bấy giờ, tất cả khối tín đồ đạo Kitô
này, từ ông giáo chủ cho đến tín đồ thuộc loại bạch đinh đều là
những người dân thuộc giai cấp bị trị trong Đế Quốc La Mã và cũng là
những người chỉ biết đến tín ngưỡng thuần túy. Họ không hề mơ tưởng
đến việc dựa vào bạo lực hay quyền lực của nhà nước để mở rộng
ảnh hưởng đạo Thiên Chúa của họ. Lúc bấy giờ chứa có các phép bí
tích, các phép mầu, không có chuyện đòi các ông hoàng bà chúa phải quỳ
mọp dưới ghế ngồi của ông giáo chủ để được hưởng phước hôn
bàn chân của ông ta. Lúc bấy giờ cũng không có chuyện các tu sĩ của Giáo
Hội đến hôn hít giầy dép các nhà truyền giáo, không có chuyện quỳ mọp
xuống để hôn nhẫn của các ông giám mục và cũng không hề có giáo luật
buộc những người khác tôn giáo muốn thành hôn với tín đồ của họ phải
theo đạo trước rồi mới được làm lễ cưới. Nói cho rõ hơn, lúc bấy
giờ những nhà lãnh đạo của Giáo Hội chưa hề có tập tục phong kiến
làm hèn hạ con người (hôn bàn chân giáo chủ, hồn hít giày dép của các
nhà truyền giáo, hôn nhẫn của các ông giám mục), chưa nghĩ đến việc sử
dụng bạo lực và hôn nhân (hơi hướng của tình yêu trai gái hay nhu cầu
sinh lý) để cưỡng bách hay lợi dụng thế kẹt của nạn nhân để bắt
người ta phải theo đạo.
Đáng lý ra, tôn giáo này không bị
chính quyền đương thời đàn áp. Khốn nỗi, cây muốn lặng, gió chẳng
chịu đừng. Chính họ đã hành động trái ngược với luật lệ của chính
quyền khiến cho Hoàng Đế La Mã phải xuống tay đàn áp họ. Dưới đây
là nguyên do:
Đại đa số người dân trong Đế
Quốc La Mã lúc bấy giờ theo đa thần giáo. Họ thờ đủ mọi thứ thần
như là thần sông, thần đồng ruộng, thần ái tình, v.v... Chính quyền
đương thời thi hành chính sách khoan dung đối với tất cả các tôn giáo,
miễn rằng mọi người phải tuân hành luật lệ của nhà nước. Trong khi
đó thì các nhà truyền giáo của đạo Kitô Do Thái rao truyền dạy dỗ
tín đồ của họ không được phép thờ một ông thần nào khác ngoài ông
Thượng Đế của người Do Thái và ông Jesus mà họ coi như là ông Thượng
Đế con. Sự việc này bắt nguồn từ trong Cựu Ước Kinh:
26.1- "You shall not make idols
for yourselves; neither a carved image nor sacred pillar shall you rear up for yourselves;
nor shall you set up an engraved stone in your land, to bow down to it; for I am the LORD
your God".(Các ngươi không được tạo ra những hình tượng nào để sùng
bái cho chính các ngươi; các ngươi cũng không được khắc chạm một hình
ảnh nào hay dựng nên một trụ cột thiêng liêng nào để nâng cao cho
chính các ngươi; ở trong vùng các ngươi cư ngụ, các ngươi cũng không
được dựng nên một hòn đá nào có khắc chạm để cúi đầu nghiêng
mình trước nó; vì rằng Ta là Thượng Đế của các ngươi).
26.14.- "But if you do not obey Me,
and do not observe all these commandements", (Nhưng nếu các người không nghe
lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này).
26.15.- "and if you despise My
statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My
commandements, but break My covenant". (và nếu các ngươi khinh thường những
quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời
phán xét của Ta, cho nên các người không thực thi tất cả những lời răn
dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của Ta".
26.16.- "I also will do this to you:
I Will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the
eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies
shall eat it". (Ta sẽ gây ra những tai họa dưới đây cho các ngươi: Ta
sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất, những bệnh tật
tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại những tròng mắt của
các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt giống mà các người
gieo xuống đất sẽ không nẩy mầm được nữa vì rằng kẻ thù của các
người sẽ ăn mất đi hết những hạt giống đó).
26.17.- "I will set My face against
you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you,
and you shall flee when no one pursue you". (Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các ngươi,
và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù
ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải
chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi).
26.18.- "And after all this, if you
do not obey Me, then I will punish you seven times more for your sins". (Và sau hết,
nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các ngươi bẩy
lần hơn về tội lỗi của các ngươi). (Thomas Nelson, Inc., Holy Bible (The
New King James Version), New York: American Bible Society, 1979, trang 112).
Ông Thượng Đế của người Do Thái
này quả thật là quá ứ bạo ngược, quá hẹp hòi, quá hung dữ và lại
ưa thích trả thù một cách cực kỳ tàn bạo. Một phần vì quá khiếp sợ,
một phần vì quá cuồng tín, cho nên họ đã tuyệt đối tuân hành lời dạy
trong cựu Ước Kinh trên đây. Vì thế cho nên người tín hữu Kitô Do Thái
từ chối, không chịu tuân hành luật pháp của chính quyền La Mã, đặc biệt
nhất là cái khoản luật lệ đòi mọi người phải thờ phượng vị thần
mà Hoàng Đế La Mã đang thờ cúng:
"Các viên chức chính quyền
của Đế Quốc La Mã khoan dung cho nhiều tôn giáo ở trong đế quốc miễn
là họ chấp nhận quyền hành nhà nước. Tuy nhiên, nhiều luật lệ của
Đế Quốc, đặc biệt là luật về việc thờ phượng của hoàng đế lại
bị các tín đồ Kitô giáo từ chối, không chịu tuân hành". (Arnold
Schrier & T. Walter Wallbank. Living World History. Glenview, Illinois: Scott,
Foresman and Company, 1974, trang 118).
Viết theo phương trình toán học,
ta có đẳng thức dưới đây:
Đạo Kitô Do Thái = Do Thái Giáo
+ Jesus + những mẩu chuyến đối thoại giữa ông Jesus với các môn đệ và
những lời lẽ ông thường rao giảng trong lúc đi thuyết giảng được các
ông Mathiew, Luke, John và Mark ghi lại.
THẾ HỆ THỨ
BA: ĐẠO LÝ KITÔ LA MÃ
Năm 313, thấy rằng khối người
theo đạo Thiên Chúa Do Thái trong đế quốc có thể trở thành một thế lực
mạnh giúp cho việc thanh toán các đối thủ chính trị, Hoàng Đế
Constantine không những không thi hành chính sách đàn áp những người theo
đạo Kitô Do Thái, mà còn quay ra o bế bằng cách dành cho họ nhiều ưu đãi
về quyền lợi vật chất và uy thế chính trị trong đế quốc để lôi cuốn
Giáo Chủ Miltiades (311-314) còn do dự chưa dứt khoát tư tưởng nên cộng
tác với Hoàng Đế Constantine thì sau đó qua đời bất ngờ. Nhờ có khuynh
hướng phù thịnh chạy theo quyền lực, Silvester được Hoàng Đế
Constantine I đưa lên làm giáo chủ tức Giáo Chủ Silvester I (314-335). Tân
giáo chủ chân thành cộng tác với chính quyền trong cuộc chiến đánh bại
các đối thủ chính trị của ông. Ngay sau đó, Hoàng Đế Constantine thành
công trong việc tiêu diệt hết các địch thủ chính trị. Ông giữ đúng lời
hứa hiến dâng cho Giáo chủ Slivester I Dinh Lateran nguy nga tráng lệ nằm
ngay trong kinh thành La Mã để làm trụ sở trung ương cho Giáo Hội và dành
cho Giáo hội tất cả phương tiện của chính quyền để truyền đạo và
bành trướng thế lực. Năm 325, chính Hoàng Đế Constantine triệu tập Hội
Nghị Nicaea, và buộc Hội Nghị phải công nhận lý thuyết Chúa Ba Ngôi.
Giám Mục Arius cai quản vùng Alexandria, Ai Cập, cùng nhiều tu sĩ khác phản
đối, bị đuổi ra khỏi Hội Nghị và bị lên án là tà đạo. Kể từ đây,
Giáo Hội Kitô và Đế Quốc La Mã như vợ với chồng. Chính trị và tôn
giáo thực sự liên kết chặt chẽ với nhau để cùng nhau củng cố quyền
lực đế quốc, và tìm đủ mọi cách để khai thác lòng khờ khạo của
lê dân. Chúa Jesus thực sự đã trở thành hình nộm cho cả Đế Quốc La Mã
lẫn Giáo Hội Thiên Chúa để khai thác, không khác gì tình trạng của Vua
Lê ngồi làm vua bù nhìn cho Chúa Trịnh ở Việt Nam. Sau đó, toàn bộ Cựu
Ước Kinh được lệnh xét lại; những bản viết của các ông Luke, John,
Mark và Mathiew được sửa lại theo ý muốn của Hoàng Đế La Mã và được
gọi là Tân Ước. Chính quyền ban hành sắc lệnh công nhận đạo Thiên
Chúa là tôn giáo chính thức trong Đế quốc. Ngày nhậm chức của giáo chủ
có lễ tấn phong long trọng trước sự hiện diện của Hoàng Đế La Mã,
chứ không còn lén lút như ngày xưa. Một danh xưng mới của Giáo Hội là
Giáo Hội La Mã hay Đạo Thiên Chúa La Mã được cho ra đời. Chính quyền
Đế Quốc thì coi Giáo Hội như là một vai trò trang trí làm đẹp cho chính
quyền Đế Quốc. Trong khi đó thì Giáo Hội muốn lợi dụng quyền lực của
Đế Quốc để cưỡng bách nhân dân trong vùng phải theo đạo thờ ông Thượng
Đế bạo ngược và hay ganh ghét của người Do Thái và cũng là của Giáo
Hội. Sau đó, Giáo Hội lại nghĩ đến những cách làm cho hệ thống tín
ngưỡng của Giáo Hội có vẻ oai nghiêm hơn, thiêng liêng hơn, có vẻ hứa
hẹn hơn, và hấp dẫn hơn. Cũng vì thế mà thuyết Đức Mẹ Đồng Trinh
được cho ra đời để cho thuyết Chúa Ba Ngôi được hợp lý. Rồi sau đó,
Giáo Hội lại vẽ thêm ra Nước Trời, một điểm tựa cho tín đồ có niềm
tin là khi chết đi, thì sẽ được Chúa giúp cho lên đó để được hưởng
cái diễm phúc "nhìn thấy tôn nhan của Chúa", sung sướng lắm! Đó
là City of God tức là Thiên Đường:
"Năm 426, một vị giáo phụ
khác (another of the Church Fathers) của Giáo Hội là thánh Augustine địa phận
Hippo ở châu Phi hoàn thành cuốn Đô Thị của Thiên Chúa. Cuốn sách này
quy định rất nhiều cho nền tảng thần học Kitô La Mã". (Arnold
Schrier & T. Walter Wallbank. Ibid., page 122).
Trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc
(Saigon: Lửa Thiêng, 1971, trang 64-69), Giáo-sư Lý Chánh Trung có đề cập đến
Đô Thị Thiên Chúa tức là Giáo Hội và cũng là nước Vatican đối chọi
với đô thị trần gian (các quốc gia ở trên thế giới chỉ là một đơn
vị nhỏ của đô thị trần gian). Giống như sinh vật trong thế gian này, sản
phẩm huyền bí của Giáo Hội cũng sinh sôi nẩy nở theo thời gian. Nếu gọi
những chuyện hoang đường, tín lý, tín điều, giáo lý, giáo luật, phép lạ
và phép mầu là cái đáy của một chiếc tam giác hay một chiếc kim tự
tháp. Nếu lấy trục t là thời gian, cái đáy của nó cứ phình ra theo hàm
số Y = at (a luôn luôn bằng hay lớn hơn 1). Cũng vì lẽ ấy,
chúng ta mới có chuyện Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Bình Triệu...
Năm 451, Đế Quốc La Mã suy yếu trước
sức tấn công như vũ như bão của ngừời hùng Hung Nô Attila từ Châu Á
tiến vào. Bạng duậﴠtường trì, ngư ông đắc lợi. Nhân cơ hội này,
Giáo Hội nhẩy ra xin làm kẻ trung gian và được Hoàng Đế Valentinian
(419-455) của Đế Quốc La Mã giao cho sứ mạnh Tô Tần đi thương lượng.
Thế là uy tín của Giáo Hội bắt đầu vươn lên và thoát khỏi thân phận
của một giáo hội quốc doanh. Kể từ đó, Giáo Hội nhẩy lên sân khấu
chính trị nắm giữ vai trò chủ chốt trong chính quyền Đế Quốc La Mã,
và bắt đầu thủ vai Chúa Trịnh, dồn Hoàng Đế của Đế Quốc La Mã
vào cái thế ngồi làm vì giống như vua Lê trong thời Trịnh Nguyễn Phân
Tranh hay các vua bù nhìn nhà Nguyễn từ thời Đồng Khánh đến Bảo Đại.
Việc Giáo Hoàng Leo I (440-461) tuyên bố thẳng thừng cho mọi người biết
rằng "Quyền hành của Giáo Hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền
hành của các nhà cầmm quyền thế tục." (Malachi Martin, The Decline
And Fall Of The Roman Church, New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981, trang 64) là bằng
chứng cho sự kiện này.
Sinh ư nghiệp, tử ư nghiệp. Năm
456 Attila bị sát hại. Thế lực Hung Nô ta rã. Hai mươi năm sau, năm 476,
người hùng mới là Odovacer từ Đức nổi lên với quân hùng tướng mạnh
tiến vào Bắc Ý vượt sông Pô tràn vào kinh thành Rome. Đế Quốc La Mã
hoàn toàn sụp đổ. Nhờ có kinh nghiệm mua chuộc, luồn lọt và kinh nghiệm
xoay sở trở cờ đón gió từ thời Giáo Hoàng Silvester I (314-335), tuy là mất
đi cái thực quyền trên sân kháu chính trị, Giáo Hội không những vẫn tồn
tại, trơ như đá, vững như đồng. Nhưng rồi Odovacer cũng vắn số. Ít
lâu sau, chính bản thân người hùng Odovacer cũng bị sát hại. Âu Châu
(vùng nằm trong Đế Quốc La Mã cũ) rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô
chính phủ. Sẵn có thiên tài chụp giật, không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng
ngàn năm một thuở, Giáo Hội nhẩy ra lấp vào khoảng trống chính trị,
thâu tóm thêm một mớ quyền hành, nắm luôn vai trò tư pháp, lập pháp,
và sắp đặt cho bọn tín đồ tay sai lên nắm chính quyền làm bù nhìn cho
Giáo Hội. Vào thời kỳ này, ngôi vị Giáo Hoàng đã trở thành vô cùng
béo bở, khiến cho các ông hoàng trong vùng giành giật nhau gây ảnh hưởng
với điện Lateran. Việc giành giật này nhiều khi bùng nổ thành chiến
tranh giữa các thế lực trong vùng, đặc biệt nhất là giữa Pháp, Đức và
Ý Đại Lợi để giành thế thượng phong, đưa người của phe mình lên
ngôi giáo chủ. Cũng vì thế mà nhiều khi người nắm giữ ngôi giáo chủ
lại trở thành người tùy thuộc vào ông hoàng thắng thế và mât hẳn quyền
tự tung tự tác. Đây là thời kỳ cười ra nước mắt trong lịch sử Giáo
Hội. . Chuyện này đã được Giáo-sĩ Malachi Martin kể lại khá đầy đủ
trong cuốn "The Decline And Fall Of The Roman Church" của ông.
Sau khi bánh vẽ Đô Thị Thiên Chúa
được cho ra đời, thừa thắng xông lên, Giáo Hội lại cho ra đời 7 phép
bí tích để vừa làm cho hệ thống tín lý của Giáo Hội có vẻ thiêng
liêng và huyền bí, vừa làm phương tiện để khai thác lòng tin đạo của
lê dân. Kỹ thuật bịp bợm đã tiến đến mức độ vô cùng tinh vi. như
Giáo Hội có quyền năng biến hóa nước lã thành nướ飠phép rẩy lên vật gì vật đó được Chúa ban ơn. Thế
là Giáo Hội lại có thêm một sản phẩm mới tung ra thị trường mà
khách hàng tín đồ của Giáo Hội. Muốn hay không muốn, là tín đồ của
Giáo Hội, bắt buộc phải tiêu thụ những sản phẩm này. Nếu không, họ
sẽ bị chụp cho cái mũ "tà đaọ" để rồi sẽ bị trói
vào cọc thiêu sống cho dến chết.
Đây cũng là một chiến lược
trong chính sách "dân ngu dễ trị, dân dốt dễ dùng" song
hành với triết lý hành động "cường quyền thắng công lý"," lấy ra từ túi khôn chính trị của tiền nhân.
"Sông có khúc, người có
lúc", quyền lực của các ông giáo hoàng có khi lên voi và có khi xuống
chó. Nhưng Giáo Hội vẫn phơi gan cùng tuế nguyệt, trơ như đá, vững như
đồng. Giáo Hội vẫn tồn tại là nhờ thừ hưởng những kinh nghiệm về
mưu mô và thủ đoạn quỷ quyệt gian manh của Hoàng Đế Constantine, Giáo
Chủ Silvester I (314-335) và những người tiền nhiệm để lại. Người ta nói
"Con hơn cha nhà có phúc", và "nước có khi trong khi đục, người
có khi nhục khi vinh". Thời Trung Cổ cũng là thời kỳ Giáo Hội có
phúc lớn, đã bước lên tới tột cùng của vinh quang và quyền lực. Tới
thế kỷ thứ 11, quyền uy của Giáo Hoàng và Giáo Hội còn hơn cả quyền
uy của Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa trong thời Thượng Cổ. Giáo Chủ của
Giáo Hội bây giờ trở thành một ông vua của các ông vua trong vùng ảnh hưởng
ở Tây và Nam Âu. "Phú quý sinh lễ nghi", "quyền hành sinh cao ngạo và tội ác" và "tội
ác đẻ ra tội ác". Thừa thắng xông lên, Giáo Chủ Gregory VII
(1073-1085) đưa ra một loạt 27 nguyên tắc để tăng cường quyền lực cho
cá nhân của Giáo Chủ cũng như của Giáo Hội. Dưới đây là một số của
những nguyên tắc đó:
- Chỉ có Giáo Chủ mới có quyền sử dụng phù hiệu
của đế quốc.
- Chỉ có Giáo Chủ mới được đưa bàn chân ra
cho các ông hoàng hôn hít.
- Chỉ có Giáo Chủ mới có quyền truất phế các
ông Hoàng Đế và các ông hoàng.
- Không có ai có thể phán xét được Giáo Chủ của
Giáo Hội.
- Giáo Chủ có thể ra lệnh có dân trong một nước
không còn lệ thuộc vào nhà cầm quyền bất công (theo quan niệm của Giáo
Hội).
- Danh xưng Giáo Chủ là độc nhất trên toàn cầu.
[Malachi Martin. The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P.
Putnams'Sons, 1981), trang 140]. (Sẽ nói đủ 27 nguyên tắc này trong một tập
sau).
Như vậy Giáo Chủ của Giáo Hội
La Mã thực sự đã tự phong như là Thượng Đế ở trần gian. Cũng vì vậy
mà chữ pope gốc từ chữ Hy Lạp có nghĩa là "cha", đã được
chuyển dịch là "giáo chủ", nhưng tới thời kỳ này, được các
nhà ngữ học người Việt Nam dịch sang là "giáo hoàng", và chỉ
có từ kép "giáo hoàng" mới nói lên được đúng cái ý nghĩa đích
thực của nó.
Có quyền thì phải dùng quyền
để làm ra tiền, để củng cố và duy trì quyền lực và cũng là làm cho
kẻ có quyền thêm oai, cho người đời trông thấy mà thèm. Do đó, sẵn
có quyền lực trong tay, Giáo Hội ra lệnh buộc tất cả người dân trong
vùng phải nộp thuế 1/10 lợi tức hàng năm. Ngoài những nguồn lợi nhuận
này, Giáo Hội còn rất nhiều dịch vụ kinh tài khác như việc thâu tiền
lễ phí trong các lễ vụ vào các buổi lễ hàng ngày, hàng tuần và trong
các dịp ma chay, hôn phối, lễ bạc, lễ vàng, lễ kim cương, lễ chúc thọ,
và hàng trăm thứ lễ khác nữa. Lễ càng hậu, càng năng đi lễ và càng năng
dâng lễ thì càng sớm được Chúa cho lên Thiên đường để nhìn thấy
dung nhan của Chúa, sướng lắm!
Có một điều khôi hài và quá
lộ liễu là chính các Ngài đã nắm độc quyền thêm thắt và sửa lại
thánh kinh, độc quyền diễn dịch thánh kinh theo ý muốn của các Ngài,
chính các Ngài đặt ra những tín lý cùng giáo luật cũng như sáng tác ra
các phép bí tích và các phép mầu phép lạ. Ấy thế mà có quá nhiều quý
vị chức sắc từ cấp thấp nhất cho đến bậc cao nhất trong hàng giáo
phẩm không bao giờ tuân hành các giáo luật, và các ngài cũng không bao giờ
tin tưởng vào các tin lý hay các phép bí tích của các Ngài đặt ra. Các
sách sử thế giới, sách The Decline and Fall of the Roman Church của Giáo-sĩ
Martin Malachi, các tác phẩm của Giáo-sĩ Avro Manhattan và các tác phẩm Văn
Sử Địa của nhóm các ông Chu Văn Trình, Thái Vân và Trần Quang Anh đã
nêu ra rất nhiều trường hợp về chuyện này. Ở đây người viết chỉ
xin kể ra một chuyện rõ ràng nhất và gần đây nhất mà ai cũng có thể
kiểm chứng được một cách hết sức đơn giản và dễ dàng. Chuyện như
sau:
Tất cả các tín đồ của Giáo
Hội đều được dạy rằng mọi việc ở trên đời này từ những việc
rủi ro cho đến việc sinh tử của con người cũng đều do nơi Chúa an bài
và xếp đặt cả. Tất cả các tín đồ của Giáo Hội đều là con cái của
Chúa và phải sống đạo đúng theo như Giáo Hội đã vạch ra và chỉ bảo.
Tất cả các tín đồ của Giáo Hội đã sống đạo tức làm đúng theo những
quy luật và theo đúng lễ nghi (siêng năng đi nhà thờ dự lễ, không vắng
mặt trong bất kỳ một buổi lễ nào, dâng lễ cúng đều đặn và hậu hĩ,
cầu nguyện đều đều, có khi tới hai lần một ngày) thì được gọi là
con chiên ngoan đạo, và sẽ được Chúa che chở. Dĩ nhiên, trong số những
người con ngoan đạo của Chúa, không có ai ngoan đạo hơn các ông giáo
hoàng, vị giáo chủ của Giáo Hội. Và dĩ nhiên Giáo Hoàng John Paull II cũng
phải có niềm tin là đã có Chúa che chở cho Ngài, và che chở kỹ hơn bất
cứ người con nào khác của Chúa. Thế nhưng lại có chuyện lạ đời là
chính Ngài lại không tin tưởng vào sự che chở của Chúa. Nói có sách,
mách chứng. Bằng cớ là trong mấy năm gần đây, mỗi khi "Thánh
Du" sang Hoa Kỳ hay một quốc gia nào khác, Ngài đều phải dùng chiếc
Mercedes xe bọc sắt của Ngài, gọi la Popemobile, một loại xe đặc biệt có
những loại kính và cửa xe đạn bắn không xuyên qua được. Xin mời quý
vị theo dõi mẩu tin dưới đây:
"Nỗ Lực Bảo Vệ Đức
Giáo Hoàng Trong Cuộc Thánh Du Hoa Kỳ.- Nữu Ước (Tin Tổng Hợp). Hồi
đầu tháng 9 vừa qua, Tòa Thánh Vatican đã gửi sang Hoa Kỳ chiếc xe
Mercedes bọc thép có vòm kính bên trên. Hiện không rõ xe này đậu ở đâu.
Nhà chức trách nói rằng tiết lộ nơi để xe sẽ làm nguy hại cho hệ thống
an ninh bảo vệ Đức Giáo Hoàng. Ngài sẽ công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đến
ngày 8/10/1995. Các viên chức thừa hành luật pháp đã khởi sự một nỗ lực
chưa từng có để bảo vệ Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II trong chuyến
đi của Ngài đến Nữu Ước, New Jersey và Maryland. Trong cuộc thăm viếng
khu vực Nữu Ước lần sau cùng trước đây vào năm 1979, Đức Thánh Cha đôi
khi di chuyển trên chiếc xe limousine không mui và tự do hòa lẫn vào đám
tín đồ. Bây giờ không còn như thế nữa...- Theo báo THẰNG Mõ số 703
ngày 7/10/1995
Sau khi đọc bản tin trên đây,
cụ Lê Hữu Dản viết:
"Không hiểu tại sao trong
5 ngày sang thăm Nữu Uớc xuống Hoa Thịnh Đốn mà Giáo Hoàng đã cho gửi
chiếc xe Mercedes bọc sắt chống đạn của Ngài từ Ý qua trước 1 tháng?
và chính phủ Hoa Kỳ đã phải huy động toàn lực lượng Cảnh Sát, FBI...
tốn phí biết bao công quỹ của người dân đóng góp để bảo vệ tính mạng
cho Ngài? trong khi Ngài chỉ đi rao giảng tình thương của Chúa? Phải chăng
vì Ngài có quá nhiều kẻ thù? nội thù? ngoại thù?" (Lê Hữu Dản.
Sđd., trang 15-16).
Trở lại việc thêm thắt quá
nhiều tín lý và bịa đặt những lời Chúa Jesus nói khi Ngài còn sinh tiền.
Những việc làm quá đáng này khiến cho các nhà học giả nghi ngờ có những
điều giả mạo trong Tân Ước. Họ họp nhau lại và thành lập một Hội
Nghị để cùng nhau tìm cho ra có bao nhiêu phần trăm trong Tân Ước đã bị
mạo hóa. Sau nhiều năm cặm cụi làm việc sưu tầm, điều nghiên và phân
tách, Hội Nghị Nghiên Cứu về Chúa Jesus thấy rằng có tới 82% những lời
Chúa Jesus nói ở trong Tân Ước là ngụy tạo:
"Ông Roy Hoover, một học giả
nghiên cứu về Thánh Kinh, đã mạnh dạn tiến sâu vào lãnh vực thần học
để tìm ra những điều Jesus thực sự đã nói. Bản đúc kết mà ông và
các thành viên khác của Hội Nghị Nghiên Cứu về Jesus đã cùng thỏa thuận
làm cho mọi người (đúng hơn là Giáo Hội và các tín đồ của Giáo Hội)
sửng sốt: Trong số 1.500 câu châm ngôn, tục ngữ mà Thánh Kinh cho là do
Jesus nói thì có tới 82 phần trăm Jesus không hề nói. Ông Hoover, một cựu
giáo sư dạy môn tôn giáo tại trường Đại Học Whitman ở Walla Walla, nói:
"Hơn nữa, Jesus thực sự không xưng là thần thánh hay Chúa Cứu Thế".
(The News Tribune, Saturday, August 19, 1994).
Chuyện ông Jesus không tự nhận
là Chúa Trời cũng đã được ông Trúc Anh ghi lại trong bài viết
"Jesus Christ: Sự Thật Mà Bạn Biết Chăng?", nguyên văn như sau:
"Hãy lục lọi xới xốc toàn
quyển Thánh Kinh lên, các bạn cũng chẳng tìm thấy được nơi nào Jesus tự
xưng mình là Đấng Tối Cao của vũ trụ cả. Ngược lại, ngài đã khẳng
định trước mặt dân Do Thái rằng Ngài không phải là Thượng Đế, mà
là "Con Của Thượng Đế" (Giăng 10:37). Nhiều người Việt đọc
Kinh Thánh vẫn thường lầm, lẫn hai chữ Chúa Trời (Dieu, God) và chữ
Chúa (Lord, Seigneur) nên càng tưởng Jesus là Chúa Trời". (Văn Nghệ Tiền
Phong, số 411, tháng 3 năm 1993).
Tính cách phi lý, phi khoa học của
các tín lý cùng các phép bí tích, sự tham lam ôm đồm quyền hành chính trị
cùng việc cưỡng bách nhân dân phải đóng thuế 1/10 (tithe) và hàng trăm
thứ thu vơ khác dưới hình thức dâng lễ cùng việc tích lũy tài sản của
Giáo Hội khiến cho người đời bất kính và nghi ngờ cái tín ngưỡng mà
Giáo Hội hằng ngày rao truyền và cổ võ. Giáo Hội cũng biết rõ là như
vậy. Nhưng vì vốn tin tưởng vào sự hữu hiệu của triết lý hành động
"cường quyền thắng công lý" (bạo lực) chính sách "ngu dân dễ
trị, dân dốt dễ dùng" (lường gạt, lừa bịp và ru ngủ) cho nên
Giáo Hội cương quyết hành động theo châm ngôn "Chó sủa mặc
chó", tiếp tục theo đuổi chủ trương "tốn giáo chỉ đạo chính
quyền", lấy chính quyền làm phương tiện thì hành "Chính Sách Bất
Khoan Dung" (Policy of Intolerance) và "chính sách giáo dục nhồi
so" để duy trì chủ nghĩa "Duy ngã độc tôn" mà hưởng lợi.
Sự kiện này đã được Giáo Hội tuyến bố thẳng thừng cho mọi người
biết:
"Phao-lồ trắng trợn nói thẳng
ra cách ông dùng để tuyên truyền đạo mình là phương pháp ngu dân
(Co-rin-thô 1:20-25). Lấy phương pháp này để gieo rắc sự huyễn hoặc,
ông rất thành công. Hầu hết tín đồ đạo Giê-su trong buổi đầu thuộc
thành phần thấp nhất trong xã hội. Phao-lồ không thông tiếng Hy Lạp và
kém về triết lý, vì vậy ông thất bại ê chề trong chuyến tuyên truyền
đầu tiên ở thành Athens, trung tâm văn hóa chính của dân Hy Lạp".
(Trần Quý. Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!". Westminster, CA: Văn Nghệ, 1996, trang
112).
1.- Thi hành chính sách giáo dục
nhồi sọ.- Về chính sách giáo nhồi sọ, chúng tôi đã đề cập đến
trong Chương 14. Ngoài việc chủ trương biến tín đồ thành những ngưòi
máy, có đầu mà không có óc, chỉ biết suy tư, nói năng và hành động
theo lệnh truyền của các đấng bề trên. Đặc tính này được các nhà
khoa học gọi là phản ứng Pavlov. Bài học đầu
tiên và quan trong nhất của Giáo Hội dạy cho tín đồ là :
"Phải tuyệt đối vâng lời
bề trên và tuyệt đối tin tưởng những gì các đấng bề trên dạy dỗ.
Lòng Tin là sức mạnh vô biên. Chỉ cần với niềm tin bằng hạt cải là
có thể di chuyển cả trái núi. Người nào không thấy sự linh nghiệm của
các tín lý và các phép bí tích cùng các phép mầu là vì không có niềm
tin cho nên không thể có ứng nghiệm với họ được. Cần phải có niềm
tin mãnh liệt thì mới thấy các tín lý và các phép bí tích có linh nghiệm.
Nếu không thấy linh nghiệm ở đời này thì khi nhắm mắt chết đi rồi,
khi được lên Thiên Đường, chắc chắn là sẽ thấy (linh nghiệm) và sẽ
được sống ở bên cạnh Chúa, sung sướng lắm! Tuyệt đối không được
thắc mắc về những lời dạy và những việc làm của các đấng bề trên.
Các đấng bề trên là đại diện của Chúa ở trần gian. Nếu không vâng
lời họ là bất kính đối với Chúa. Những người bất kính đối với
Chúa là những người chống Chúa. Những người chống Chúa thì sẽ bị
Chúa trừng phạt."
(Không nói ra, ai cũng biết Chúa
hay Thượng Đế đây có nghĩa là Giáo Hội).
Song song với lời dạy trên đây,
Giáo Hội còn cho các cán bộ tuyên truyền dạy dỗ tín đồ là phải đi
nhà thờ dự lễ đúng theo như Giáo Hội đã quy định. Không đi lễ là
không ngoan đạo, và lười đi lễ sẽ bị những người ngoan đạo của Giáo
Hội coi là quân vô đạo. Thế rồi, người ta lại được nhồi sọ rằng
những ngưòi vô đạo là những người chống lại Giáo Hội, và chống lại
Giáo Hội là chống Chúa. Những quân chống chúa thì sẽ được lôi cổ ra
Toà Án của Giáo Hội, sẽ bị rút phép thông công và được Giáo Hội
giúp đỡ đưa lên giàn hỏa thiêu để được lên thiên đuờng sớm hơn.
Đây là những chuyện có thật đã xẩy ra trong thời Trung Cổ ở Âu Châu.
Xin xem lại Chương 8.
2.- Sử dụng bạo lực.- Nếu
Hoa Kỳ bắt đầu thì hành chính sách đối ngoại theo triết lý hành động
"Củ cà rốt và cái gậy" từ thời Tổng Thống Theoodore Roosevelt
(1901-1901) thì Giáo Hội La Mã đã thì hành chính sách này đối với tín đồ
và nếu cần đối với cả những người dân thuộc tôn giáo khác từ 6
hay 7 trăm năm về trước. Củ cà rốt trong chính sách ngoại giao là
"viện trợ" hay "giúp đỡ" theo điều kiện của Hoa Kỳ. Củ
cà rốt của Giáo Hôi La Mã là xin được làm tín đồ của Giáo Hội. Cái
gây của Hoa Kỳ là bạo lực dùng quân đội để chinh phục hay đảo chánh
để đưa tay sai cùa Hoa Kỳ nắm chính quyền. Cái gậy của Giáo Hội La
Mã cũng là bạo lực nhưng hết sức là tàn bạo và dã man đến cùng cực
của dã man. Tuy nhiên, vơi kinh nghiệm về những
mưu mô xảo quyệt trải quan bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc từ đầu
thế kỷ thứ 4, Giáo Hội có thưa thủ đoạn hay phương cách sử dụng bạo
lực cực kỳ dã man nhưng lại uyển chuyển theo hoàn cảnh :
A.- Đối với những người dân
nằm trong vùng kiểm soát, Giáo Hội cho thiết lập các tòa án dị giáo. Nếu
những người bướng bỉnh là trí thức hay có uy tín trong cộng đồng thì
Giáo Hội sẽ truy tố họ ra tòa án dị giáo để xử về tội báng bổ thần
thánh, bất kính đối với Chúa, giảng thuyết và tàng trữ tài liệu tà
giáo, rồi cho nạn nhân lên giàn hỏa thiêu thiêu sống. Xin xem lại Chương
8 nói về các Vụ Án John Huss, Giordano Bruno và Galileo Galilei.
B.- Đối với đám dân thuờng,
Giáo Hội cho quân đội đến xử lý tập thể. Ông Lương Minh Sơn kể lại
một trong chuyện xử tập thể như sau:
"The Spanish Inquisition" là
thời kỳ Hoàng Gia Tây Ban Nha ra lệnh bắt bớ và tàn sát những người
theo các giáo phái khác vì cho là "dị giáo". Thời kỳ này bắt đầu
từ năm 1478, khi Hoàng Hậu Isabella de Castille khởi động phong trào bắt bớ
những người Do Thái, mặc dù đã theo Thiên Chúa La Mã, nhưng vẫn còn bí
mật duy trì những tục lệ của Do Thái Giáo. Năm 1483, Vua Ferdinand và
Hoàng Hậu Isabella cử giáo sĩ Tomas de Torquemada của giòng tu Spanish Dominican
lên nắm quyền tư lệnh để thi hành chương trình "Inquisition"
trên toàn lãnh thổ và những vùng thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1487, Đức
Giáo Hoàng Innocent thứ VIII phong thưởng cho giáo sỉ Torquemada danh hiệu
"The Grand Spanish Inquisitor", một "Inquisitor" vĩ đại, và ra
lệnh khởi động chương trình "Inquisition" trên toàn thế giới.
Ngày 31-3-1492, Hoàng gia Tây Ban Nha ra sắc lệnh bắt buộc 150 ngàn người
Do Thái ở thành phố Granada phải bán tháo hết của cải để rời khỏi Tây
Ban Nha trước ngày 31-7-1492 vì lý do để làm sạch cho"danh dự và sự
rực sáng của Thượng Đế". Hàng ngàn người Do Thái miễn cưỡng
"theo đạo" nhưng sau này vẫn bị nguyền rủa là "Los
Marranos" (Loài Heo Dơ Bẩn). Hơn 60 ngàn người phải đút lót tìm đường
vào định cư ở Bồ Đào Nha. Một số khác được Hoàng Đế Bajazet của
Ottoman (Cổ Thổ Nhĩ Kỳ) thâu nhận, mặc dù giáo phái chính của đế quốc
này là Chánh Thống Giáo (Orthodox). Năm 1499, một "Spanish Inquisitor"
khác là Tướng Francisco Jimenez de Cisneros áp đặt phương cách lễ biến đổi
những người "dị giáo" sang Thiên Chúa Giáo La Mã một cách tập
thể. Chuyện này đã bắt lửa cho cuộc đại loạn đẫm máu ở Granada. Năm
1543, các "Spanish Inquisitors" ra lệnh xử đốt những người Tin Lành
(Protestants) trên các phong thánh giá. Cuộc đàn áp tôn giáo này kéo dài 342
năm. Năm 1820, khi Hoàng Đế Ferdinand VII ra lệnh chấm dứt thời kỳ
"Inquisition" thì đế quốc Tây Ban Nha cũng đã mất gần hết các
thuộc địa vùng Trung Mỹ, [TRA, "Human Rights and Social Justice": 1478,
1483, 1492, 1499, 1453, 1820]. (Lương Minh Sơn. Bài Học Chiến Tranh Việt Nam
Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ - Đăng trong Báo Người Việt
California (Trang DIỄN ĐÀN), liên tiếp 10 số, bắt đầu từ Thứ Bảy ngày
9 tháng 11 năm 1996).
Không phải chỉ có Tây Ban Nha mới
thi hành chương trình "Inquisition" để làm sạch cho "danh dự
và sự rực sáng của Thượng Đế", mà khắp nơi trên thế giới, ở
đâu có con chiên ngoan đạo của Giáo Hội lên cầm quyền trị quốc là
ở đó có thi hành chương trình Inquisition. Tại Anh quốc, Nữ Hoàng Mary I
chỉ lên cầm quyền có 5 năm (1553-1558) đã khiến cho dân Anh điêu đứng vì
chương trình Inquisition (sẽ nói rõ ở trong một cuốn sách sau này) khiến
cho các sử gia phải gọi là Mụ Mary Khát Máu (Bloody Mary). Tại Pháp, Louis
XIV cũng nổi tiếng tàn nhẫn khi cho thi hành chương trình Inquisition với
hàng trăm ngàn dân Pháp theo đạo Tin Lành phải bỏ nhà bỏ cửa, bỏ ruộng
bỏ vườn, bỏ cả quê cha đất tổ, đến nơi xa lạ, sống kiếm lang
thang ăn nhờ ở đậu giống như những người dân Do Thái ở nước Tây
Ban Nha bị cưỡng bách phải bước chân đi. Ghê gớm hơn nữa là tại Nam
Tư, chỉ có 6 năm trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Giáo Hội đã cộng tác
chặt chẽ với Đức Quốc Xã, đưa tên cuồng tín khát máu Ante Pavelich,
xé nước Nam Tư ra, rồi chiếm một phần để thành lập một quốc gia mới
là Croatia, lấy đạo Ki Tô La Mã là quốc giáo, và đẩy mạnh chương trình
Inquisition với thành tích là 700 ngàn người dân khác tôn giáo (trong tổng
số dân gần 3 triệu) được cho lên Thiên Đàng giống như anh em ông Đình
Diệm đã cho hơn 300 ngàn người dân Việt ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng
Nam, Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Khánh Hòa sớm về chầu Chúa vào những năm từ
1955 đến 1963 (Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần Lao. San Diego, CA: Mẹ Việt Nam,
1993, trang 133). Sử gia Avro Manhattan ghi lại thành tích của bạo chúa Ante
Pavelich như sau:
"Trong thời kỳ Croatia là quốc
gia độc lập và lấy đạo Kitô La Mã làm quốc giáo, có trên 700.000 đàn
ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành hình, bị
tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống và bị thiêu cho đến chết.
Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Kitô La Mã. Các ông linh-mục
của Giáo Hội làm quản giáo các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ của Giáo
Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đã phạm những tội ác tàn bạo.
700.000 người trong tổng số dân có mấy triệu ví thử như 1/3 dân số Hoa
Kỳ bị giết hại bởi các đoàn lính dân quân Kitô La Mã". (Avro
Manhattan. The Vatican's Holocaust. Springfield, MO: Ozark Book, 1988, trang vii).
C.- Để cho thiên hạ biết rõ
uy quyền của Giáo Hội lan tỏa khắp muôn nơi, Giáo Hoàng Urban II
(1088-1099) phát động Thánh Chiến, ra lệnh cho bọn vua chúa tay sai nằm
trong vùng ảnh hưởng dẫn quân đến Trung Đông chiếm lại Thánh Địa
Palestine, và tiến vào các vùng kế cận trừng trị những người dân
không tin tưởng và không tuân hành phương cách thờ phượng Thượng Đế
theo ý muốn của Giáo Hội. Thế là hàng chục cuộc thánh chiến được Giáo
Hội cho tiến hành, và mấy chục triệu sinh linh Âu Châu và Trung Đông lao
đao khốn khổ trong cảnh con mất cha, vợ mất chồng, gia đình tan nát và
không biết bao nhiều triệu người rơi vào cảnh màn trời chiếu đất,
bơ vơ không cửa không nhà, phơi mình trong hơi nóng như thiêu như đốt vào
những ngày nắng hạ chang-chang, và trần thân giữa trời tuyết rơi gió lạnh
căm căm của những ngày tháng mùa đông băng giá buốt thấu tới tận xương
tận óc. Ai đã gây nên những cảnh thảm thương này?
Ai chết mặc ai, ai đói mặc ai,
và ai đau khổ cũng mặc. Đối với Giáo Hội, trái đất này là của
riêng của Giáo Hội và tất cả loài người sống trên trái đất này phải
nằm trong tay sinh sát của Giáo Hội; dân tộc nào không thờ phượng Thượng
Đế theo phương cách của Giáo Hội thì chỉ là những quân tà ma ngoại đạo,
là qủy sa tăng, không xứng đáng làm chủ đất đai. Và đã là tà ma ngoại
đạo thì hoặc là nên sớm được cho về chầu Diêm Chúa, hay là phải suốt
đời làm nô lệ cho tín đồ của Giáo Hội. Tiến Sĩ Cao Huy Thuần ghi lại
sự kiện này như sau:
"Ngay từ thế kỷ 15, người
ta thấy chính sách Giáo Hoàng đưa ra cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để
thu người vào đạo. Vì thế với điều kiện mang theo các thầy tư tế để
"mang thông điệp của đấng Kitô", người Bồ Đào Nha được Giáo
Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh ban hành năm 1449, cấp cho tất cả đất
đai họ tìm ra được giữa châu Phi gồm cả Ấn Độ nữa. Henry Martin viết:
"Sắc lệnh được phát xuất từ nguyên lý rằng đất đai thuộc về
Chúa Kitô, và người đại diện của Chúa Kitô có quyền sử dụng tất cả
những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu, những kẻ ngoại đạo không
thể chiếm hữu hợp lý bất cứ mảnh đất nào. Phần đất ban cấp nằm
trong tay những kẻ ngoại đạo đã mặc nhiên khiến cho họ phải tuân phục
trước hạnh phúc lớn hơn, trước việc họ đổi đạo dù tự ý hay bị
cưỡng bách theo luật Thiên Chúa". Sau này bằng Sắc Lệnh 1493, Giáo
Hoàng Alexandre VI đã chia thế giới cho Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha và buộc
hai quốc gia này có nghĩa vụ truyền đạo Chúa Kitô để biện minh cho mọi
sự chiếm đóng. Sắc Lệnh đặt rõ ràng bổn phận giảng đạo cho người
dân bản xứ là điều kiện để chiếm hữu". (Cao Huy Thuần. Đạo
Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam. Los Angeles, California, Hương
Quê, 1988, trang 7).
Thế cũng chưa đủ, năm 1452, Giáo
Hội còn ban hành một sắc lệnh khác nữa cho Bồ Đào Nha đem quân đến
chinh phục ở nơi nào thì được đặc quyền bắt dân bản địa ở đó
làm nô lệ. Sách Lịch Sử Thế Giới của học giả Nguyễn Hiến Lê viết:
"Khi tiếp xúc với người Da
Đen Châu Phi, người Âu Châu trong tay có sẵn súng đồng, không đè nổi
lòng tham. Họ tổ chức lại công việc buôn bán nô lệ mà từ thế kỷ tứ
10 họ đã bỏ cho người Hồi Giáo làm. Năm 1452, Giáo Hoàng Calixte III ký sắc
lệnh cho (Thái Tử) Henri le Navigaeur bắt thổ dân ở những vùng đất mà họ
khám được để làm nô lệ. Ngày ký sắc lệnh ấy là ngày ảm đạm nhất
trong chế độ lịch sử thực dân". (Nguyễn Hiến Lê. Lịch Sử Thế
Giới. Westminster, California: Văn Nghệ, 1994, trang 349).
Việc chia Giáo Hội La Mã chia đôi
thế giới cho riêng hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng được ghi vào
sách sử thế giới. Sách This Is America's Story ghi lại như sau:
"Ngay khi Columbus đòi quyền
chiếm đất cho Tây Ban Nha, nơi mà ông cho rằng thuộc về Châu Á, thì hầu
như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha có thể trở thành các quốc gia thù địch,
tranh chấp, giành giật cùng một vùng đất ở Phương Đông. Sau đó, cả
hai nước này đều nhờ Giáo Hoàng (Alexander VI) phân xử, chia các vùng đất
mới (xa lạ ngoài Âu Châu) cho hai nước. Năm 1493, Giáo Hoàng vạch ra một
đường tưởng tượng chạy dọc từ Bắc Cực qua phía Tây quần đảo
Cape Verde tới Nam Cực. Những vùng đất nằm ở phía đông đường ranh giới
này thuộc về Bồ Đào Nha, và những vùng đất ở phía Tây ranh giới này
thuộc về Tây Ban Nha. Năm sau, hai nước này thương thuyết với nhau và đồng
ý là di chuyển đường ranh giới này xa hơn về phía Tây". (Howard
B. Wilder, Robert P. Luddlum and Harriett McCune Brown. This Is America'S Story. Boston,
MA: Houghton Mifflin Company, 1975, trang 30).
Tự phong cho mình cái quyền độc
chiếm vai trò đại diện cho Thượng Đế ở trên trái đấy này là một
hành động ngang ngược. Tiếm danh Thượng Đế để rồi chủ xướng và
phát động các cuộc viễn chinh đi cướp nước, đoạt của, giết người
và tàn sát hàng triệu sinh linh chỉ vì người ta không phải là tín đồ của
cái chủ thuyết tôn thờ thần linh theo quan niêm duy ngã độc tôn của
mình thì không những ngang ngược mà còn là bạo ngược, tham tàn và đại
ác. Việc coi trái đất này như của riêng để rồi chia ra hai và ban cấp
cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mỗi nước một nửa thì thật là cực kỳ
phi lý và ngang ngược. Nó phi lý và ngang ngược đến nỗi Hoàng Đế nước
Pháp lúc bấy giờ dù là tín đồ của Giáo Hội cũng phải cười khinh bỉ
mà không cần biết đến cái sắc lệnh quái thai của Giáo Hội mà chính
nhà vua cũng là tín đồ:
"Thật ra khi nghe tin Đường
Ranh Giới (do Giáo Hoàng ấn định) phân chia các vùng ảnh hưởng giữa Tây
Ban nha và Bồ Đào Nha, Pháp Hoàng đã đưa ra câu hỏi với một vẻ đầy
miệt thị: "Ai là người có thể chỉ cho ta thấy tờ di chúc của ông
tổ Adam nói rằng quả địa cầu này để lại cho riêng hai nước Tây Ban
Nha và Bồ Đàn Nha". (Howard B. Wilder, Robert P. Luddlum and Harriett McCune
Brown. Ibid., trang 63).
Ít lâu sau, hứng chí lên, Giáo
Hội lại cho ra đời một sắc chỉ khác nói rằng Giáo Hoàng không bao giờ
lầm lẫn về tín lý, và ra lệnh các tín đồ không được ăn đồ thực
phẩm đã cúng dâng các thần thánh hay các linh hồn khác tôn giáo. Sắc lệnh
quái ác này làm cho giáo dân Việt Nam muốn đến tham dự những ngày cúng
kỵ của bà con bên lương không dám ngồi ăn những lễ vật dâng cúng nữa.
Lòng nghi ngờ bị khinh thị của người dân bên lương càng trở nên mãnh
liệt hơn khiến cho cái hố chia rẽ giữa người bên lương và người bên
giáo vốn đã sâu rộng về cái tội "rước voi (Vatican) về giầy mả
tổ (Việt Nam)" lại càng trở nên sâu rộng hơn. Nói đến tôn giáo
và đạo lý là nói đến "nhân đạo, lòng nhân, lòng từ bi hỉ xả
hay bác ái và phải biết ra tay tế độ giúp người trầm luân mà không
phân biệt giai cấp, giầu nghèo, chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tín ngưỡng
và mầu da". Cũng vì thế mà Đức Khổng Tử đã chủ trương đem
"lòng nhân ái ra dạy đời với lời dạy "Tứ hải giai huynh đe"; đức Phật Thích Ca đem chủ thuyết "Từ bi hỉ
xả", "Lấy ân trả oán" ra dạy cho chúng sinh học hỏi
và noi theo Ngài mà hành xử.
Học thày thì phải bắt chước
theo thày, phải biết đem lời thày dạy ra ứng xử với đời. Lời nói phải
đi đôi với việc làm. Vì thế mới có chuyện vua Sở bảo rằng "Vua
Sở mất cung thì người nước Sở nhận được cung, chứ đi đâu mà mất",
và Đức Khổng Tử vẫn chưa hài lòng, bảo rằng, tiếc cho cái chí của
vua Sở không được lớn, và đặt vấn đề là "nếu vua Sở không
nói rằng, người nước Sở mất cung thì người khác được, chứ đi đâu
mà mất, thì tốt hơn." Chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhà Phật,
con cái đích thực của nhà Phật không ăn gian, không nói dối, không giết
người (không sát sinh) và từ bỏ hết dục vọng, không còn háo danh, băng-xăng
ra luồn vào cúi, nịnh bở bề trên, lấy le hoạnh họe làm oai và hống
hách với những người dân thấp cổ bé mồm. Thuyết nhân ái của Đức
Khổng và lời dạy từ bi của nhà Phật thấm vào trong xương tủy của dân
tộc Việt Nam, cho nên dù là ông cố đạo Alexandre de Rhodes đến Việt Nam
đi hết từ Bắc (Đường Trong) vào Nam (Đường Ngoài) tiếp xúc với chúa
Trịnh, chúa Nguyễn và đi khắp cùng trong nước, bô bô tuyên bố và viết
sách rao truyền rằng, "ông Khổng chẳng phải hiền, chẳng phải
thánh, thật là độc dữ..", và ông ta đòi "làm cho Thích-Ca, là thằng
hay dối người ta, ngã xuống,..." mà cũng vẫn không hề bị nhân dân
ta tóm cổ lôi ra hạch hỏi về tội phỉ báng các vị thánh tổ của dân
tộc, và tội "ngu dốt, làm đến cố đạo mà khôngcó một chút
lịch sự tối thiểu, biết lẽ "nhập gia tùy tục, đáo giang tùy
khúc,". Nhờ vậy mà ông ta vẫn sống phây phây để còn có thể viết
những bản báo cáo gián điệp gửi về tòa thánh La Mã và triều đình nước
Pháp để xin viện quân sang đánh chiếm và thống trị các xứ Đông Dương.
Kẻ sau học người đi trước.
Ông Jesus ra đời sau Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng Tử, cũng noi theo
"tấm gương nhân ái và từ bi" của hai vị thánh tổ Đông Phương
mà đem "tình thương và lòng bác ái" ra dạy đời rằng "các
ngươi hãy tha thứ cho kẻ thù của các ngươi". Khi thân xác bị đóng
đinh trên cây thập tự ở Núi Sọ vào năm 33, Chúa không hề oán trách những
kẻ đã mưu toan ám hại Chúa, và nói rằng "tôi tha thứ cho kẻ thù của
tôi".
Chủ thuyết đem "tình thương
và lòng bác ái" Chúa Jesus ra truyền bá cho đời là như vậy. Ấy thế
mà Giáo Hội vẫn thường tự xưng là tổ chức duy nhất ở trên cõi thế
gian này, đại diện duy nhất của Chúa Jesus để hoằng dương "tình thương
và lòng bác ái" của nhà Chúa, với những danh xưng hoa mỹ "Hồng
Ân Thiên Chúa" và "Tin Mừng" đi rao truyền cho thiên hạ mà lại
ban hành những sắc lệnh (như đã nói ở phần trên) phi nhân, thất đức,
dã man đến cùng cực của dã man. Dã man nào bằng ra lệnh đem quân lính
đánh chiếm đất đai của các dân tộc khác để cưỡng bách và áp chế
người ta làm nô lệ và phải theo cái chủ thuyết thờ phượng ông thượng
đế cực kỳ bạo ngược và đầy lòng tị hiềm và ganh ghét và phải thờ
phượng theo phương các vô cùng quái đản Giáo Hội! Làm như vậy là Giáo
Hội đã tiếm danh Chúa để làm những việc làm bạo ngược, bất chính,
bấn nhân, bất nghĩa, vi phạm nhân quyền, chống lại nhân loại, tức là
Giáo Hội đã phản Chúa.
Thày nào thì trò ấy. Giáo Hội có
chủ trương như vậy thì tất nhiên phải sản xuất ra những hạng người
truyền giáo cùng những tên bạo chúa và tín đồ hợm hĩnh và ngược ngạo,
bạo tàn, tham lam và gian ác, chuyên nghề ăn không nói có, bốc lửa bỏ
bàn tay, và chỉ biết trông cậy vào lạo lực để cưỡng chế người ta
phải nghe theo ý muốn của chúng. Điển hình là những người như các ông
cố đạo Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Pellerin, Huc, Marchand, Puginier,
Lefebre, Legrand, Retord, Libois, Diaz, Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn Ngô Đình Thục,
Vũ Đình Hoạt, Nguyễn Lạc Hóa, Phan Phát Huồn, Việt Châu, Hoàng Quỳnh,
Mai Ngọc Khuê, Phạm Ngọc Chi, Lê Hoan, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Petrus
Trương Vĩnh Ký, Ngô Đình Khôi, Ferdinand V, Isabelle I, Phiilip II (Tây Ban Nha),
Mary I (Anh quốc), Louis XIV (Pháp quốc), Ante Pavelich (Nam Tư), Ferdinad Marcos
(Phi Luật Tân), Fulgencio Batista (Cuba) Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn, và những
người trong Phong Trào Phục Hưng Ngô Đình Diệm, những người đã có những
tác phong thiếu văn hóa và hành vi bạo ngược trong mưu đồ phá thối cuộc
Hội thảo Văn Hóa được tổ chức vào ngày 20/12/1997 tại nhà hàng Caravan
trong thành phố Seattle (Washington), và buổi ra mắt cuốn sách "Đối Thoại
Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II" được tổ chức tại California vào
ngày 20/8/1995.
THẾ HỆ THỨ
TƯ: ĐẠO LÝ THIÊN LA ĐẮC LỘ
Nền đạo lý Thiên La Đắc Lộ
cũng là nền đạo lý Thiên Chúa La Mã du nhập vào Việt Nam theo sách lược
của ông Đắc Lộ tức Alexandre de Rhodes. Alexandre de Rhodes đuợc Đế Quốc
Vatican phong cho chức linh-mục và được phái đến Việt Nam dưới danh
nghĩa là nhà truyền giáo để thâu thập tất cả những tin tức tình báo
chiến lược về địa lý, phong thổ, nhân tình, cơ cấu chính trị và văn
hóa để chuẩn bị cho công cuộc vận động chính quyền Pháp đem quân đến
đánh chiếm và thống trị Việt Nam. Trên đây, người viết đã trình bày
cho quý vị thấy rằng khởi đầu là nền đạo lý Do Thái hay là đạo Do
Thái chỉ thờ có ông Thượng Đế theo quan niệm của họ, và hoàn toàn dựa
vào bộ Cựu Ước Kinh cùng những tập tục cổ truyền của người Do Thái.
Từ năm 33, sau khi ông Jesus thọ hình, chết thảm trên Núi Sọ, đạo Kitô
Do Thái cũng gọi là đạo Thiên Chúa ra đời. Tôn giáo mới này thờ cả
ông Thượng Đế của người Do Thái lẫn cả ông Jesus. Tín đồ của tôn
giáo này tin rằng ông Jesus là ông Thượng Đế con được Thượng Đế cha
sai xuống trần gian chịu khổ nạn cho loài người. Đến năm 325, Đạo Thiên
Chúa La Mã (cũng gọi là đạo Kitô La Mã) xuất hiện thay thế cho đạo Thiên
Chúa của người Do Thái trước kia. Tôn giáo mới này thờ cả ông Thượng
Đế của người Do Thái lẫn cả ông Thượng Đế con, những lại có thêm
phần Chúa Ba Ngôi và phần Đức Mẹ Đồng Trinh. Ngoài ra, lại còn có một
hệ thống tín lý. Hệ thống tín lý này là những lời đàm đạo giữa
ông Jesus và các môn đệ được các ông Luke, Mathiew, John và Mark ghi lại,
nhưng đã sửa đổi, thêm thắt và bớt đi theo ý muốn của Hoàng Đế
Constantine để cho phù hợp với việc củng cố đế quyền và chính sách
đế quốc của triều đình La Mã lúc bấy giờ. Sau đó, họ lại đặt ra
bẩy phép bí tích và theo đuổi chủ trương tôn giáo chỉ đạo chính quyền,
dùng chính quyền làm phương tiện vừa để thì hành chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ với mục đích làm cho người dân dưới quyền càng
ngu đi bao nhiều thì càng dễ bề cai trị bấy nhiêu, vừa để sử dụng bạo
lực để cưỡng ép nhân dân dưới quyền phải theo đạo và thi hành
chính sách bất khoan dung đối với tôn giáo khác và các thành phần phi
Kitô. Đây là một phương cách bành trướng thế lực bằng bạo lực.
Cũng từ đó giáo Hội La Mã đi sâu vào con đường sử dụng quyền chính
trị và bạo lực để mở rộng ảnh hưởng của tôn giáo. Phương châm
hành động của Giáo Hội là "Cường quyền thắng công lý = La
raison du plus fort est toujours la meilleure", "Tous les moyens sont bons = Phương
tiện nào cũng tốt cả, và "Cứu cánh biện minh cho phương
tiện = The end justifies the means".
Sau khi ban hành các Sắc Lệnh
1449 (thời Giáo Hoàng Martin V), Sắc Lệnh 1452 (thời Giáo Hoàng Calixte III)
và Sắc Lệnh 1493 (thời Giáo Hoàng Alexander VI), Giáo Hội tung các chuyên
viên gián điệp đi khắp nơi trên các lục địa Phi, Mỹ và Á châu để
thâu thập các dữ kiện tình báo cần thiết cho công cuộc đánh chiếm đất
đai để làm thuộc địa trong mưu đồ bành trướng ảnh hưởng của Giáo
Hội bằng bạo lực: cưỡng chế và bắt chẹt các dân tộc bản địa phải
từ bỏ tín ngưỡng cổ truyền của họ để tin theo chủ thuyết tôn giáo
của Giáo Hội. Các tay tổ gián điệp này được ngụy trang dưới danh
nghĩa là các nhà truyền giáo của Giáo Hội La Mã dưới hình thức danh xưng
của các Hội Truyền Giáo của nứơc Pháp, nước Tây Ban Nha, v.v..., làm ra
vẻ như Giáo Hội không có liên hệ gì với các nhà truyền giáo này cả.
Riêng tại Việt Nam, nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam để thực
hiện sứ mạng điệp vụ này là ông Ini-Khu (người Bồ Đào Nha) đến
Ninh Cường (Bắc Việt) vào năm 1533.
THỰC HIỆN CÔNG
TÁC TÌNH BÁO
Muốn chinh phục đất đai ở các nơi
xa lạ, Giáo Hội phải tung ra những tay gián điệp chuyên nghiệp dưới
danh nghĩa là các nhà truyên giáo để dễ dàng cho xâm nhập vào các vùng
đất được để tìm hiểu và thâu thập các dữ kiện cần thiết về địa
hình, địa vật, khí hậu, thời tiết, văn hóa, thể chế chính trị, dân
tình đối với chính quyền hiện hữu. Nếu lôi cuốn được các ông vua
hay những người có thế lực trong giai cấp thống trị tại các địa
phương theo đạo, rồi từ đó ban hành những luật lệ chuyên chính để
cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo như Hoàng Đế Constantine
đã làm trước kia, thì càng tốt. Tuy nhiên, nỗ lực chính của các tay tổ
gián điệp đội lốt là các nhà truyền giáo vẫn là thâu thập các tin tức
tình báo để chuẩn bị cho việc Giáo Hội tìm cách vận động gửi đoàn
quân viễn chinh tới để đánh chiếm. Việt Nam là vùng đất bị Giáo Hội
chiếu cố, cho nên cũng không thoát khỏi "những con mắt cú vọ" của
các tay tổ gián điệp của Giáo Hội. Việc này đã được trình bày một
phần ở Mục LỜI PHI LỘ và ở Chương 5. Tuy nhiên, chúng tôi cũng ghi lại
đầy đủ ở đây để độc giả dễ dàng nhận thấy sự liên tục của
vấn đề. Nói về hoạt động tình báo của nhà truyền giáo Alexandre de
Rhodes của Giáo Hội La Mã, sử gia Avro Manhattan viết:
"Tu sĩ Dòng Tên Alexandre de
Rhodes đến Đông Dương vào năm 1624, một thập niên sau, ông gửi về
Vatican một bản báo cáo nói rất chính xác về tiềm lực thương mại, chính
trị và chiến lược. Dòng Tên Pháp tức thì tuyển mộ người gửi sang Đông
Dương giúp ông ta làm một công hai việc: truyền đạo và bành trướng
thương mại. La Mã và Ba Lê coi những hoạt động này của ông Alexandre de
Rhodes như là những bước đường tiên khởi gắn liền với việc đánh
chiếm các quốc gia này". (Avro Manhattan Vietnam why did we go? Chino, CA:
1984, tr. 139).
Tiến-sĩ Cao Huy Thuần viết:
"Đến Bắc Kỳ vào năm
1627, Linh-mục Alexandre de Rhodes nhận được ân huệ của Chúa Trịnh Tráng
ngoài Bắc. Ông dâng cho Chúa (Trịnh) một chiếc đồng hồ trái quít có
bánh xe và một quyển sách toán mạ vàng đẹp đẽ. Trịnh Tráng cho ông
nhiều dễ dàng khi mới bắt đầu giảng đạo ở Bắc. Linh-mục (Alexandre
de Rhodes) đã viết trong báo cáo gửi về cấp trên như sau:
"Vua xứ Bắc cho chúng tôi xây
cất nhà cửa và nhà thờ ở gần hoàng cung. Tại đó, chúng tôi đã được
giúp đỡ rất nhiều trong khi thi hành phận sự". Cuối năm 1629, ông rửa
tội cho 6.700 người, trong số đó có một vài công nương của triều đình
và ông cũng thiết lập các phái bộ Dòng Tên Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha
mà sau đó các linh mục Pháp của Hội Truyền Giáo nước ngoài đã gia nhập
vào. Nhưng ở đây, cũng đã xẩy ra những phản ứng như ở Trung Quốc và
Nhật Bản. Chính phủ lo lắng khi thấy đạo mới tấn công thẳng vào các
nguyên lý đạo đức và chính trị (của Nho giáo). Nho giáo vốn là nền tảng
của xã hội cổ truyền Việt Nam. Thật vậy, toàn thể cơ cấu xã hội
và chính trị của nước Việt Nam xây dựng trên quan niệm đạo đức của
Nho giáo: Lòng hiếu thảo, sự thờ cúng ông bà, lòng trung thành với vua.
Nhưng đạo mới từ Tây Phương đem đến lại muốn truất phế các qui luật
tín ngưỡng cũ. Không những việc thờ cúng ông bà bị kết án quyết liệt
và lòng sùng đạo của con chiên phải đứng trên lòng hiếu thảo và lòng
trung thành với nhà vua. Chính phủ lại càng sợ hoạt động của các nhà
truyền giáo khi họ muốn tạo nên các tổ chức Gia Tô không cần biết đến
uy quyền nào khác hơn là uy quyền các lãnh đạo tinh thần của họ. Vì thế
Chúa Trịnh đã đuổi Alexandre de Rhodes vào năm 1630. Triều đình (chúa) Nguyễn
cũng ban hành những sắc lệnh cấm đạo. Ẩn náu tại Macao, Linh-mục
Alexandre de Rhodes trở lại Nam Kỳ vào năm 1640 và cho đến cuối năm 1645 thì
vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam. Khi đó, cấp trên triệu hồi ông về Châu
Âu để xin viện trợ vật chất và người truyền giáo mới. Ông đến La
Mã vào năm 1649, đúng lúc Tòa Thánh đang muốn tách việc truyền
giáo tại Châu Á ra khỏi quyền hành thế tục của Bồ Đào Nha. Ông trình
bày trước hiệp hội truyền giáo Congregation Propaganda Fide kế hoạch thiết
lập tại Việt Nam một giáo đoàn thoát khỏi sự bảo trợ của Bồ Đào
Nha. Được Giáo Hoàng hân hoan tiếp nhận, vị tu sĩ Dòng Tên xứ Avignon
được phép lựa chọn các giám mục cho mục đích đó. Ông trở về Pháp
(ba năm sau đó).
"Tôi tin rằng", ông
viết, "Pháp là một nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp
cho tôi nhiều binh sĩ để chinh phục toàn thể phương Đông. Cũng như ở
đó, tôi sẽ có cách để chọn được nhiều giám mục vốn là các cha và
các thầy của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã vào ngày
11-9-1952". (Văn Hóa. Kitô Giáo (Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại),
Westminster, California: Văn Nghệ, 1996, trang 329-331).
Ngoài hoạt động gián điệp,
Linh-mục Alexandre de Rhodes còn viết cuốn sách có nhan đề là Phép Giảng
Tám Ngày để cho các nhà truyền giáo đàn em cứ theo đó mà rao truyền.
(Xin xem lại Chương 5, trang 104-105).
Các nhà truyền giáo của Giáo Hội
La Mã sang Đông Dương nói là đi "Rao Truyền" "Tin Mừng"
"Đức Tin" hay "Hồng Ân Thiên Chúa", tức là mang đến Việt
Nam một nền "đạo lý mới" để truyền giảng. Nền đạo lý mới
này đã được nhà truyền giáo và cũng là nhà văn hóa lớn của Giáo Hội
La Mã là ông Linh-mục Alexandre de Rhodes viết tóm lược nhưng khá đầy đủ
trong tác phẩm "Phép Giảng Tám Ngày" trong đó có các tiết mục
nói về các tín ngưỡng cổ truyền của người Việt Nam mà chúng tôi vừa
mới ghi lại một vài đoạn ở Chương 5 trong sách này.
Sau khi đã đọc các đoạn văn
nói về tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc Việt Nam do nhà truyền giáo
Alexandre de Rhodes biên soạn, và những bản văn lịch sử nói về các ông
Giám-mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), Cố Du (Joseph Marchand), Giám Mục
Pellerin, Linh-mục Huc, Linh-mục Legrand de La Liraye, Giám-mục Puginier, Giám-mục
Lefebre, v. v..., chúng tôi thấy rằng các nhà truyền giáo của Giáo Hội La
Mã được phái đến Việt Nam nói là đi rao truyền cái đạo của Giáo Hội
La Mã để giúp cho linh hồn của người đời được lên thiên đàng;
thiên đàng đâu không thấy, mà trong thực tế, các nhà truyền giáo này lại
làm nghề gián điệp chống laị dân tộc Việt Nam và thường thường là
ăn gian nói dối đi ngược với lời dạy Mười Điều Răn của Giáo Hội.
Trong phần trích dẫn rải rác đó đây trong tập sách này, quý vị đã thấy
những thành tích ăn gian nói dối, phỉ báng và vu khống của ông Linh-mục
Alexandre de Rhodes đối với các vị thánh tổ tôn giáo của các dân tộc Đông
Phương là Đức Khổng Tử và Đức Phật Thích Ca. Nói về thành tích ăn
gian nói dối của nhà truyền giáo này, học giả Trần Quý viết như sau:
"Cùng năm ấy (1624) giáo-sĩ
Alexandre de Rhodes đặt chân lên Đường Trong, ông cho các thần người Việt
ta thờ là quỉ hết và chê dân ta mắc "tật mê tín điên rồ" là
Khổng Giáo" (Trần Qúy. Lòng Tin Âu Mỹ Đấy!. Westminster, CA: Văn
Nghệ, 1996, trang 15).
Tóm lại, nền đạo lý Đắc Lộ
thoát thai trực tiếp từ nền đạo lý Kitô La Mã. Đạo lý Kitô La Mã được
du nhập vào Đông Dương vào thế kỷ thứ 16, nhưng mãi đến thế kỷ thứ
17, các nhà truyền giáo của Giáo Hội mới hoàn thành được sách lược
để truyền bá nền đạo lý này ở Đông Dương. Sách lược này là cuốn
sách Phép Giảng Tám Ngày song ngữ Việt-Latinh gồm 324 trang, do nhà in của
Thánh-bộ Truyền Giáo ấn hành vào năm 1651. Vì trong phần Phép Giảng Ngày
Thứ Bốn, tác giả Alexandre de Rhodes vu khống, bịa đặt ra nhiều điều xấu
xa để làm hạ giá và sỉ nhục Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và đạo
thờ cúng ông bà của người Việt Nam, cho nên cuốn sách này không được
phổ biến rộng rãi trong quần chúng, mà chỉ được sử dụng trong giới
truyền giáo và các xóm đạo. Lý do có thể là chính quyền bảo hộ lúc
đó mà Phe Thực Dân Cấp Tiến người Pháp, vốn đã không ưa Giáo Hội La
Mã, lại sợ phản ứng của nhân dân ta, cho nên cuốn sách này mới bị bị
chính quyền Bảo Hộ Pháp-Vatican (Pháp luôn luôn nắm thế thượng phong) không
cho phép phổ biến công khai. Mãi đến đầu thập niên 1960, khi chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm đang tiến hành Kế Hoạch Công Giáo Hóa
(Spanish Inquisition hay Sứ Mạng Constantine) tại miền Nam Việt Nam, bọn tay
sai của Giáo Hội mới cho in lại cuốn sách này lồng trong một tác phẩm
mới có danh xưng là "Giáo Sĩ Đắc Lộ Và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu
Tiên do hai ông Linh-mục Nguyễn Khắc Xuyên và Phạm Đình Khiêm (không
biết có phải là linh mục hay không) biên soạn và được nhà xuất bản
Tinh Việt Văn Đoàn (Ban Sử Học, 232/17 Hiền Vương, Saigon) phát hành vào
khoảng tháng 5 năm 1961. Đây cũng là một chiến dịch được phối hợp với
việc chính quyền đang tiến hành Kế Hoạch Gia Tô Hóa để làm hạ giá nền
đạo lý Tam Giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam ta lúc bấy giờ Nói
theo ngôn ngữ của toán học, chúng ta có biểu thức dưới đây:
Đạo Lý Thiên La Đắc Lộ = Đạo
Lý Kitô La Mã + Sách lược truyền đạo của Đắc Lộ
Sách lược truyền đạo của Đắc
Lộ là ăn gian, nói dối, vu khống và sử dụng những ngôn ngữ của những
phường đá cá lăn dưa để làm hạ giá và hạ nhục tất cả những tôn
giáo khác và những người khác tôn giáo, hay những thành phần đối lập,
chống lại Giáo Hội La Mã hay chống lại các chính quyền tay sai của Giáo
Hội. Như vậy là nền đạo lý Đắc Lộ y hệt như nền đạo lý Kitô La
Mã, nhưng có thêm phần của ông Alexandre viết về đạo Phật, đạo Khổng,
đạo Lão và đạo thờ ông bà tổ tiên của người Việt Nam. Ông ta gọi
ông Đức Phật Thích bằng "thằng", bảo rằng ông Phật
là "thằng hay dối người ta" và ông ta phải chém cho nga妱uot;, nói rằng Đức Không Tử là người "chẳng phải
hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ", và "thờ ông Khổng
Tử là có lỗi".
Trước đây, chúng tôi đã nói
đến thành ngữ "Có ở trong chăn mới biết chăn có rận" của
dân tộc Việt Nam. Nói đến thành ngữ này, chúng tôi lại nhớ đến ông
Linh-mục Phan Phát Huồn, một trong những đệ tử xuất sắc nhất và thuộc
loại trí thức khá nhất trong các đệ tử của các nhà truyền giáo của
Giáo Hội La Mã tại Việt Nam. Linh-mục Phan Phát Huồn đã từng ghi lại lời
của các nhà viết sử nhận xét về các nhà truyền giáo như sau:
"Phần đông các sử gia cho
những truyện của Giáo-sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường..."
(Phan Phát Huồn. Việt Nam Giáo Sử , Sđd, tr 39).
Căn cứ vào những hoạt động
tình báo cùng sự việc ăn gian, nói dối, vu khống và mạ lị các vị
thánh tổ Phật Giáo, Khổng Giáo và nền đạo lý cổ truyền của dân tộc
Việt Nam của ông Thánh Tổ truyền giáo Alexandre de Rhodes, căn cứ vào những
hoạt động gián điệp của các nhà truyền giáo khác của giáo Hội La Mã
cũng ở tại Việt Nam và căn cứ vào lời nhận xét trên đây của các sử
gia về về các ông giáo sĩ Gia-tô, chúng ta có thể nói rằng "Đừng
tin những gì các nhà truyền giáo của Giáo Hội La Mã nói, mà hãy nhìn những
gì họ đã làm".
Như vậy là nền đạo lý Thiên
La Đắc Lộ là tổng hợp của nền đạo lý của Giáo Hội La Mã với phần
tư tưởng của ông Alexandre viết trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày để dạy
các tín đồ bản địa ở Đông Dương. Trong thời đạo phiệt Gia-tô Ngô
Đình Diệm, nền đạo lý Đắc Lộ này được dùng làm tài liệu giáo
khoa căn bản cho các giảng viên tại Trung Tâm Đào Tạo Nhân Vị tại Vĩnh
Long sử dụng để giảng dạy cho các học viên. Linh-mục Trần Tam Tỉnh
ghi lại sự kiện này như sau:
"Là cha của nước Cộng Hòa,
ông (Ngô Đình Diệm) chỉ chấp nhận một đảng duy nhất là Cần Lao, làm
nòng cốt cho cái ông gọi là Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia. Phong Trào này
được tổ chức theo cơ cấu của một chính thể quốc gia, có tất cả bộ
chân rết như bộ máy chính quyền từ trên xuống dưới, khiến bất cứ
ai muốn được thành tỉnh trưởng, quận trưởng, xã trưởng, giáo sư hay
công chức, đều phải là đảng viên Cần Lao. Hệ tư tưởng của Đảng
(Cần Lao) và của Phong Trào này là "thuyết Nhân Vị", chỉ có một
trường đào tạo duy nhất là "Trung Tâm Đào Tạo Nhân Vị" do một
người anh của Tổng Thống là Giám Mục địa phận Vĩnh Long, Ngô Đình Thục
sáng lập. Là Công Giáo hay không, không cần biết, tất cả công chức đều
phải qua một khóa học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp
học đều do linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản
con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những lầm lạc của Phật
Giáo, Khổng Giáo, về các tội ác của Cộng Sản... Cuộc "tẩy
não" này do chính các linh mục thực hiện. Họ là những người chỉ
biết có học kinh viện Tây Âu và "đã tiếp thụ tại Rôma các
khái niệm về Phật Giáo do các cựu thừa sai dạy cho". (Lời thú
nhận của Giám Mục Thục). (Trần Tam Tỉnh. Thập Giá Và Lưỡi Gươm.
Paris: Sadestasie, 1978, trang 122-123).
Còn một điểm nữa mà chúng ta
phải nên nhớ là những người Việt Nam được nhồi sọ theo nền đạo lý
Đắc Lộ cuồng tín gấp bội phần so với bất kỳ người Âu Châu nào
khác chịu ảnh hưởng của đạo lý Kitô La Mã. Chưa nói đến hành động,
chúng ta hãy nói đến việc sử dụng ngôn từ, người Việt Nam thờ chúa
Jesus theo hệ phái Gia-tô (Kit La Mã) luôn luôn gọi những người khác tôn
giáo bằng những từ ngữ gợi vẻ khinh miệt nhiều hơn, thí dụ như họ
gọi những người bên lương là vô đạo, vô đạo hạnh, ngoại đạo, tà
giáo, đặc biệt nhất là họ lại gọi những người theo đạo Tin Lành
là những người theo đạo Thệ Phản, trong khi những người Âu châu
đồng đạo với họ thì gọi là những người theo đạo Tin Lành là những
người theo đạo Chống Đối hay Phản Đối. Ai cũng biết rằng chữ phản
được ghép liền với chữ thệ, sẽ có nghĩa là phản trắc, phản bội,
một tính chất vô cùng xấu xa; trái lại nếu chữ phản được ghép với
chữ đối thì có nghĩa là chống lại hay không đồng ý với nhau, không
có gì là xấu xa cả. Vấn đề đặt ra là cùng thờ Chúa Jesus và Bà Maria
cả mà người Việt Nam lại cuồng tín hơn người Âu Châu, do đâu mà ra
như vậy? Đây là công lao của các nhà truyền giáo, đặc biệt nhất là
công lao của Linh-mục Đắc Lộ. Cũng vì thế mà chúng tôi gọi cái hệ thống
đạo lý Thiên Chúa Giáo La Mã khi được truyền sang Việt Nam rồi thì nó
biến thành nền đạo lý Đắc Lộ, và những người Việt Nam đã thụ
giáo nền đạo lý này trở thành cuồng tín hơn cả những tín đồ Thiên
Chúa Giáo người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ. Họ coi các tôn giáo khác
là những từ tà ma tà đạo và những người thuộc các tôn giáo khác là
những quân mọi rợ, những hạng người hạ đẳng.
Sự việc những người tín đồ
Thiên La Đắc Lộ (người Việt Nam theo đạo Gia-tô) bị nhồi sọ thành những
người cuồng tín đến nỗi không còn lý trí để phân biệt được điều
phải và điều quấy như trên, được chính những người tín hữu của
Giáo Hội La Mã, sau khi đã đọc các sách vở ở các thư viện ngoại quốc
rồi, họ mới vỡ lẽ ra..., rồi viết bài gióng lên những tiếng nói để
cảnh tỉnh những người đồng đạo nên mau mau thoát ra khởi cái đại
dương ngu xuẩn này. Trước hết chúng ta hãy đọc những lời lẽ tha thiết
của Giáo-sư Lê Bá Kông viết:
"Hồi còn nhỏ, tức là cách
đây vào nửa thế kỷ, chúng tôi thường được dậy "Mình là người
có đạo," ai không cùng đạo với mình là "kẻ ngoại đạo"
hoặc "bọn theo đạo dối"! Thật là những thiên kiến và thành kiến
sai lầm rất là tai hại làm tổn thương tới tình đoàn kết dân tộc và
lòng bác ái nhân loại. Thậm chí, hồi đó, người Ki Tô Giáo (Christians)
theo tôn phái khác nhau như Công Giáo La Mã, Công Giáo Chính Thống, Tin Lành,
Episcopalian, Báp Tít,... cũng đố kỵ nhau. Riêng người Việt Nam chúng ta đã
được mục kích cảnh chia rẽ chống đối nhau khủng khiếp vào những năm
1963-1970 giữa người Công Giáo và Phật Giáo tại quê nhà, đã gây nghi kỵ
trầm trọng đau lòng cho nhiều lớp người. Như trên đã nói, hầu hết
các đại tôn giáo đều dạy tín đồ phải theo con đường chính, nhưng tôn
giáo ở nhiều nơi đã bị một thiểu số khoác áo tu hành làm càn làm bậy,
lợi dụng danh nghĩa và địa vị để tác yêu tác quái. Đó là bọn người
đầy sân si, ham danh vọng và quyền hành, mê tiền của, say dâm dục, lại
gian manh... Vì vậy, không lúc nào bằng lúc này, chúng ta cần phải tỉnh
táo, phân biệt rõ ràng vàng thau, thiện ác, chính tà, dương với âm để
phát huy tích cực tinh thần hòa đồng tôn giáo. Tôn giáo không xấu,
chỉ có những kẻ tà gian lưu manh mới làm tôn giáo bị ngộ nhận".
(Văn Nghệ Tiền Phong số 364 tháng 3 năm 1991).
Cùng một tâm sự như Giáo-sư Lê
Bá Kông, một tín đồ của Giáo Hội La Mã quê ở Ninh Cường (Bùi Chu -
Nam Định), sau khi đã tỉnh mộng, ông Nguyễn Chấn viết bài viết với tựa
đề là Sau Nhiều Năm Khủng Hoảng Đức Tin, trong đó có một vài đoạn
như sau:
"Người Công Giáo Việt Nam
luôn luôn có định kiến cho rằng "đi đạo" có nghĩa là "đạo
đức", được sinh ra trong gia đình "có đạo", là được sinh
ra trong gia đình "đạo hạnh"! Chính vì sự tự tôn rất chủ quan
như vậy nên họ xem mọi người ngoại đạo là những kẻ có tội. Công
Giáo thù ghét đạo Phật nhất. Xin hãy đọc một đoạn trong kinh cầu Ông
Thánh Phan-xi-cô-xa-vie: "Cúi xin Chúa từ nay về sau đừng để những
người ngoại đạo khinh dể công ơn cứu chuộc, một xin Chúa nhận lời cầu
nguyện các thánh cùng Hội Thánh là bạn thanh sạch con Chúa mà dung thứ
cho những kẻ ấy. Xin Chúa nhớ lòng nhân từ của Chúa mà che lấp lỗi của
những kẻ ấy xưa nay đã lạc đường thờ lạy bụt thần (trước kia có
chữ ma quỉ kèm theo, nay đã được gạch bỏ trong bản in mới cuốn Toàn
Niên Kinh Nguyện của hai địa phận Hà Nội và Bùi Chu - Do cơ sở Dân
Chúa, Greta, La., xuất bản).
Trong sách Kinh Nhựt Khóa của
Tổng Giáo Phận Sàigòn in năm 1971 do Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt
y ngày 19-3-1971, nơi trang 784-791, Kinh cầu ông Thánh Phan- xi-cô-xa-vie có những
câu mang nặng tính chất kích động tiêu diệt đạo Phật và các tôn giáo
khác như "Ông thánh Phan-xi-cô-xa-vie phá tan đạo bụt thần".
"Ông thánh P.X. ra lệnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những
dân mọi rợ" "Ông thánh P.X. làm cho quỉ thần (ám chỉ Đức
Phật) kinh khủng". "Xin Chúa ban ơn phù hộ cho chúng tôi là
kẻ có lòng kính công nghiệp trọng vọng của ông thánh Phan-xi-cô đặng học
đòi bắt chước mọi nhân đức người cho trọn..." Hiển nhiên một
điều là người Công Giáo công khai cầu xin Chúa phù hộ cho họ được
theo gương thánh Phan-xi-cô-xa-vie "phá tan đạo bụt thần".
Thế mà người Công Giáo vẫn cứ thản nhiên tự vỗ ngực tự xưng là những
người "đạo hạnh".
Còn sự phỉ báng nào nặng
nề đối với người Phật Giáo hơn là gọi Đức Phật là ma quỉ? Muốn
hiểu rõ hơn về điều này, xin quý vị hãy đọc thêm bài "Cái Nhìn Về
Phật Giáo Trong Phép Giảng Tám Ngày" của Linh-mục Trần Thái Đỉnh
đăng trong cuốn "Ki Tô Giáo từ Thực Chất đến Huyền Thoại"
(Nhiều tác giả, Cali. 1996):
"Cuốn Sách Phép Giảng Tám
Ngày của cố đạo A. de Rhodes luôn luôn nói đến sự thờ bụt thần ma quỉ,
hạ Đức Phật xuống hàng ma quỉ. A. de Rhodes chẳng những đã nói sai, mà
còn cố ý xuyên tạc để hạ nhục đạo Phật". Thái độ đó là
thái độ của kẻ đạo đức hay chỉ là sự cao ngạo mù quáng của kẻ
cuồng tín? Vậy xin đề nghị mọi người Công Giáo Việt Nam hãy xét lại
ngôn từ "đi đạo", "trở lại đạo" hoàn toàn chỉ có
nghĩa là "theo đạo Công Giáo La Mã", chứ không hề có nghĩa là
"theo con đường đạo đức" như quí vị vẫn thường tưởng lầm
đâu. Quí vị thử coi phim Mafia Ý hoặc Mafia Columbia chắc chắn sẽ nhận
ra bọn ác quỷ đều sinh ra và lớn lên trong các gia đình Công Giáo cả. Vậy
đâu có nghĩa là chúng đã được sinh ra trong các gia đình "đạo hạnh"?
Chúng là những tên mất dạy trong lòng đạo Công Giáo!" (Ban
Nghiên Cứu Đạo Giáo. Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, 1998, trang 8-10).
Việc dùng sức mạnh quân sự
đi chinh phục đất nước người ta để cưỡng bách người dân bản địa
vào đạo và chính sách dùng miếng mồi danh lợi để lôi cuốn những người
hám danh háo lợi vào đạo cũng như chủ trương lợi dụng tình yêu trai
gái muốn thành đôi để cưỡng ép người ta vào đạo đã khiến cho những
nạn nhân còn có lương tâm cảm thấy ghê tởm và khinh bỉ cái kiểu truyền
đạo ngược ngạo bạo ngược đến mức độ man rợ và quái đản như vậy.
Tất nhiên, họ cảm thấy cay đắng, uất ức và căm thù. Ông Long Ân, nói
lên nỗi lòng căm hận chung đối với Giáo Hội La Mã về những việc làm
phi nhân thất đức của các nhà truyền giáo như sau:
"Và thế là một lần nữa
đám nhân loại khốn cùng trên cái cõi thế gian đầy bụi bậm này lại
ồn ào đón mừng ngày lễ giáng sinh. Thiên hạ lại ríu rít chúc nhau lời
chúc lành "bình an cho cõi thế gian này",... Tôn giáo đã đến với
con người từ xa tít mịt mù của quá khứ. Con người đã đến với tôn
giáo từ sự sợ hãi của kẻ tối tăm, cho đến sự đòi hỏi tìm hiểu về
chính mình, về vũ trụ của con người tư duy mà ông Rodin đã khắc thành
tượng đá. Tôn giáo đã mở cánh cửa để con người đến với con người
trong nhân ái, trong từ bi, trong bác ái. Nhưng chính con người đã đào những
hào chông, những kẽm gai để con người chia cắt nhau. Con người đã nhân
danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn
giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con
người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm
kiếm chính mình, đã cúi đầu trên bốn chân để từ con người trở về
với nguồn gốc của con người súc sinh... Tôn giáo đã đến với con người
để soi sáng con người. Nhưng con người đã sử dụng tôn giáo như
phương tiện bội phản con người... Cái vấn đề sở dĩ nó là vấn đề
là vì từ trong quá khứ tít mù xa nào đó, con người chính trị đã khai
thác tôn giáo như một thứ ấn tín để thị thực cho quyền lực chính trị.
Tôn giáo từ những phương tiện cứu rỗi con người, từ những phương tiện
giúp con người nhìn lại cái bản lai diện mục của chính mình, là phương
tiện đưa con người đến với con người, đã biến thành một thứ quyền
lực đứng bên cạnh các quyền lực cai trị. Có những lúc pháp quyền đứng
bên cạnh giáo quyền. Có những lúc giáo quyền chính là pháp quyền. Cũng
có lúc giáo quyền đứng trên đầu pháp quyền. Con người chính trị đã
đưa tôn giáo vào chính trị để gia tăng sức mạnh của chính trị. Con người
chính trị đã hiệu hóa tôn giáo. Cái thói quen tôn giáo đã kéo dài đến
vô tận, và đã trở thành thực tế không ai có thể tháo gỡ được... Nhìn
về phía tôn giáo. Cũng từ cái quá khứ xa xăm mù mịt nào đó, chính những
con người thừa sai (các nhà truyền giáo) nhận công tác rao giảng những
đức tin tôn giáo, với mục đích soi sáng đường đi cho con người, đã
biến đức tin thành xiềng xích trói buộc con người, để chinh phục con
người. Tôn giáo từ một sức mạnh giải thoát con người đã biến thành
sức mạnh cùm kẹp con người. Tôn giáo đã được cơ chế hóa, và
cơ chế hóa tôn giáo đã tạo nên những đế quốc tôn giáo với những
quyền uy vô thượng, với những kỷ luật sắt đá, với những trừng phạt
thô bạo. Không biết từ ở cái quá khứ mù mịt nào đó tôn giáo đã bị
con người kéo ra khỏi con đường gọi là ĐẠO. Đạo mà phi đạo có nghĩa
là tự diệt. Tôn giáo đã bị những kẻ thừa sai phá hủy cái ý nghĩa đích
thực của nó. Chính một số những con người có trách nhiệm rao giảng đức
tin đã biến tôn giáo thành một vấn đề của chính con người ngày hôm
nay." (Trích trong MỤC: "Thiên Hạ Phong Trần"; Việt Nam Mới,
Seattle, Số 207 ra ngày 23/12/1994 và Số 208 ngày 30/12/1994).
Chúng ta không ngạc nhiện khi thấy
những người Gia-tô Việt Nam đã cúi đầu đi trên bốn chân để "rước
con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam", rồi lớn tiếng dạy
nhau tưng hô khẩu hiệu "Thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa", gục mặt xuống đi trên bốn chân để công kênh suy tôn
và vinh danh tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm lên
thành "anh hùng dân tộc" và "chí sĩ yêu nước Vatican" của
họ. Và tại hải ngoại, họ lại cũng gục mặt cúi đầu đi trên bốn
chân quần tụ lại với nhau thành băng đảng du côn hè nhau khủng bố,
viết sách viết báo vu khống, gièm pha và hạ nhục bất kỳ người nào
có ấn phẩm nói về những thành tích bạo ngược, bất chính, bất nhân
và bất nghĩa của Giáo Hội La Mã và của các chế độ đạo phiệt Gia-tô
phi cầm phi thú, tay sai của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican. Những
chiến dịch viết sách viết báo để phỉ báng và hạ nhục cụ Đỗ Mậu,
phao tin Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu "phịa sử", đòi giết tác giả Nguyễn
Mạnh Quang, phá thối buổi ra mắt sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan
Phao Lồ II được tổ chức vào ngày 19/8/1995 tại Westminster, California, phá
thối cuộc hội thải văn hóa của anh em văn nghệ sĩ Bắc Mỹ dược tổ
chức tại Seattle vào ngày 20/12/1997, bao vây Chùa Đức Viên (San Jose) vào cuối
tháng 5/1998 để khủng bố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũngà các
nhà tu hành Phật Giao tại ngôi chùa này là những bằng cớ nói lên cái
tính cách phi cầm phi thú của nền đạo lý Gia-tô do ông Alexandre de Rhodes
và các nhà truyền giáo khác của Giáo Hội La Mã đem đến truyền bá tại
Đông Dương.
- CHƯƠNG 16
- CHỦ ĐÍCH CỦA CHÍNH SÁCH
VIỆN TRỢ CỦA HOA KỲ
Ngay sau khi Đệ Nhị Thế Chiến
vừa chấm dứt, Hoa Kỳ thấy rằng nhân loại lại phải đương đầu với
hiểm họa Độc Tài Cộng Sản. Các nhà làm chính sách tại Hoa Thịnh Đốn
đã sớm nhận thức được rằng chủ nghĩa Cộng Sản chỉ có thể bành
trướng được ở trong các quốc gia nằm dưới ách thống trị của người
ngoại bang hay các chế độ độc tài, phong kiến, nơi mà dân trí còn thấp
kém, xã hội có nhiều bất công và thối nát. Do đó, muốn ngăn chặn làn
sóng Cộng Sản thì phải có một kế hoạch đại qui mô giúp cho các quốc
gia hậu chiến và các nước chậm tiến, nghèo đói để họ phục hồi
kinh tế, dân chủ hóa bộ máy chính quyền, đem lại cơm no áo ấm cho toàn
dân. Có làm được như vậy thì mới hy vọng lôi cuốn đại khối nhân
dân về phía chính quyền dân chủ trong công cuộc tranh giành ảnh hưởng
chống lại chiến lược nhân dân hóa chiến tranh của phe Cộng Sản. Đoạn
văn lịch sử dưới đây chứng minh điều này:
"Sau chiến tranh, phần lớn
các quốc gia Âu Châu bị tàn phá nặng nề. Nhiều ngàn dặm thiết lộ bị
hư hại. Hầu hết các nhà ga xe lửa, bến xe đò, phi cảng và hải cảng
đều bị phá hủy. Các nhà máy và các cơ sở kỹ nghệ hầu như bị tan nát
hết cả. Nạn khan hiếm máy móc, nông cơ cùng các dụng cụ và đồ phụ
tùng kể cả nông súc để trang bị cho các nhà máy và cơ sở khai thác
nông nghiệp trở nên vô cùng trầm trọng. Nạn khan hiếm và thiếu hụt những
tiện nghi tối thiểu và thực phẩm hầu như lan tràn khắp mọi nơi. Đồng
ruộng đó đây cỏ hoang mọc kín. Nhiều khu đồng ruộng ngày xưa là những
khu đồng lúa bát ngát mà nay đã biến thành những khu rừng cỏ hoang tàn.
Âu Châu thiếu đến cả các sản phẩm hóa học, thiếu cả thuốc diệt trừ
sâu rầy để bảo vệ hoa mầu. Có thể nói rằng sau chiến tranh, các quốc
gia Âu Châu ở trong cảnh hoang tàn đổ nát. Nếu không có ngoại viện để
trùng tu, phục hồi và xây dựng lại xứ sở thì chắc chắn là nhân dân
các nước này sẽ lâm vào cảnh đói lạnh ghê gớm. Trong khi đó thì áp lực
Cộng Sản lại đang đè nặng lên các nước ở vùng Trung và Đông Âu, Hy
Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Lợi dụng tình trạng nghèo đói khổ cực của người
dân ở các nước trên đây trong thời hậu chiến, các đảng Cộng Sản địa
phương được Liên Sô đỡ đầu ra công quấy phá, cố tình làm cho tình
hình thêm bất ổn để thừa nước đục thả câu.
Đứng trước cảnh đói lạnh đang
đe dọa nhân loại trên phần đất này tại lục địa Âu Châu, đứng trước
hiểm họa Cộng Sản đang đe dọa trong vùng gần kế với Liên Sô, Tổng
Thống Truman cương quyết hành động. Ngày 12-3-1947, ông ra trước Quốc Hội
Hoa Kỳ, tuyên bố:
"Các chế độ độc tài đang
đe dọa nhân dân các nước tự do và đang ngầm phá nền an ninh Hiệp Chủng
Quốc chúng ta. Nếu Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ lọt vào vòng kiểm soát của Cộng
Sản thì toàn thể miền Trung Đông sẽ mất theo, và sẽ làm dao động tinh
thần chống Cộng của nhân dân Âu Châu".
Để tránh cho nhân dân Âu Châu rơi
vào cảnh đói khổ, để ngăn chặn và đối phó với hiểm họa Cộng Sản
đang đe dọa trên phần đất này, ông yêu cầu Quốc Hội chấp thuận một
ngân khoản 400 triệu Mỹ kim để viện trợ kinh tế và quân sự cho hai nước
Hy Lạp (300 triệu) và Thổ Nhĩ Kỳ (100 triệu). Ông tuyên bố: "Đây
là chính sách của Hoa Kỳ để hỗ trợ cho các nước tự do chống lại
thiểu số võ trang hay dựa vào áp lực bên ngoài để cướp chính quyền".
Chính sách này được các sử gia gọi là "Chủ Thuyết Truman".
Nhờ chính sách viện trợ
(Chủ Thuyết Truman) này mà Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại được Cộng
Sản và giữ vững được chính quyền. Tháng 5-1947, ngoại trưởng Hoa Kỳ,
Tướng George Marshall, đề nghị với Quốc Hội một kế hoạch phục hồi
kinh tế các quốc gia Âu Châu và các nước bị chiến tranh tàn phá kể cả
Liên Sô và các nước nằm trong vùng ành hưởng của Liên Sô. Đề nghị này
được Quốc Hội chấp thuận và được gọi là "Kế Hoạch
Marshall"... Ngày 19-12-1947, Tổng Thống Truman yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ
chấp thuận cho một ngân khoản 17,000 (17 ngàn triệu) Mỹ kim để viện trợ
cho Chương Trình Phục Hồi Âu Châu (Kế Hoạch Marshall) trong thời gian từ
1-4-1948 đến ngày 30-6-1952 Đề nghị này được lưỡng viện chấp thuận
vào ngày 2-4-1948... Kết quả của Chương Trình Phục Hưng Kinh Tế Âu Châu
thật là đáng khích lệ. Trong những năm 1946-1950, tại các nước Tây Âu
trong đó có cả Tây Đức, khoản tiền thiếu hụt giảm từ 8.000 triệu xuống
1.000 ngàn triệu Mỹ kim. Khối lượng xuất cảng vào tháng 7- 1951 tăng lên
71% trong khi nhập cảng chỉ tăng lên có 22%. Chỉ số sản xuất kỹ nghệ
tăng lên 50% so với năm 1947. Mùa hè năm 1951, Anh Cát Lợi, Ái Nhĩ Lan, Thụy
Sĩ và Bồ Đào Nha loan báo rằng nước của họ có thể tự túc mà không
cần đến ngoại viện nữa.Tháng 9-1951, Hoa Kỳ thiết lập Cơ Quan An Ninh Hỗ
Tương (Mutual Security Agency) để phối hợp chương trình viện trợ của Hoa
Kỳ về kỹ thuật, kinh tế, và nhất là tăng cường tiềm năng quân sự
cho các nước dân chủ Tây Phương". [Nguyễn Mạnh Quang. Đệ Nhị Thế
Chiến Và Chiến Tranh Lạnh. (Tacoma, WA: Tacoma School District, 1994), trang
186-188 và 191-192).
Nhờ có viện trợ Hoa Kỳ, hai nước
Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại được Cộng Sản và đã giữ vững được
chính quyền. Nhờ có viện trợ của Hoa Kỳ mà các nước Âu Châu đã phục
hồi được nền kinh tế và trở nên hùng mạnh khiến cho ảnh hưởng của
chủ nghĩa Cộng Sản ở trong các quốc gia này bị suy yếu lần lần. Sự
thành công của các quốc gia tiếp nhận viện trợ trên đây đã khiến cho
Hoa Kỳ hăng say mở rộng chương trình viện trợ cho Nhật Bản, Nam Hàn, Đài
Loan và nhiều quốc gia khác trong đó có Miền Nam Việt Nam.
NHẬN XÉT VỀ
CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ CỦA HOA KỲ
Như đã trình bày ở trên đây,
chính sách viện trợ của Hoa kỳ là giúp đỡ các quốc gia bị chiến
tranh tàn phá và các nước đang bị Cộng Sản đe dọa để phục hồi kinh
tế, dân chủ hoá chính quyền, giảm thiểu những bất công trong xã hội hầu
đem lại tự do, no ấm cho mọi người và công bằng xã hội trong toàn
dân, không phân biệt mầu da, sắc tộc, tôn giáo và giai cấp. Sở dĩ nhân
dân và chính quyền Hoa Kỳ có chủ trương như vậy là vì họ cho rằng Cộng
Sản chỉ có thể bành trướng được ở những quốc gia chậm tiến, nghèo
đói, đầy dẫy những bất công trong xã hội hoặc là nằm dưới ách thống
trị của một nhóm thiểu số phong kiến độc tài chỉ biết cai trị nhân
dân bằng bạo lực, hoặc là ở các thuộc địa của các đế quốc thực
dân Âu Châu. Họ nhìn thấy các nhà lãnh đạo Cộng Sản đang dồn nỗ lực
vào việc lôi cuốn các giai cấp nghèo đói và bị áp bức ở trong các chế
độ độc tài tham nhũng, và các dân tộc tại các thuộc địa của các đế
quốc thực dân Âu Châu, nhưng khi chiếm được chính quyền rồi, thì Cộng
Sản lại thi hành chính sách chuyên chính độc tài. Chính vì vậy mà các
nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, dù là thuộc đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa, cũng
đều có chủ trương phải làm thế nào để dân chủ hóa các quốc gia nằm
trong phe tự do hầu giảm thiểu những bất công trong xã hội và đem lại
cơm no áo ấm cho tất cả mọi người trong đất nước thì mới có hy vọng
chống lại chủ nghĩa Cộng Sản do Liên Sô lãnh đạo, đã và đang trên đà
thắng thế bao trùm khắp cả lục địa Trung Hoa, Bắc Á và đang lan tràn
xuống Đông Nam Á Châu. Cũng vì thế mà Hoa kỳ đã mở rộng chương trình
viện trợ cho cả Tây Đức và Nhật Bản vốn là cựu thù của Hoa Kỳ.
Hai quốc gia này vừa mới trải qua ách thống trị của các chế độ độc
tài Đức Quốc Xã và độc tài Quân Phiệt Phong Kiến Nhật cũng đều phải
cam kết thi hành những điều kiện của Hoa Kỳ đưa ra. Những điều kiện
đó là:
"Dân chủ hoá chính quyền,
giảm thiểu những bất công trong xã hội hầu đem lại tự do no ấm cho tất
cả mọi người dân và công bằng cho tất cả các thành phần trong xã hội,
không phân biệt mầu da, sắc tộc, tôn giáo và giai cấp."
Riêng Nhật Bản, để bảo đảm
các nhà lãnh đạo dân chủ hóa chính quyền, chính Hoa Kỳ đã cùng với người
Nhật Bản soạn thảo Hiến Pháp cho tân chế độ và đặt bộ tham mưu
theo dõi việc tân chính quyền thi hành những điều khoản trong thỏa hiệp
về chấm dứt chiến tranh và những gì đã cam kết với Hoa Kỳ. Chúng ta
nhận thấy những sự thật như sau:
1.- Quân đội Hoa Kỳ đồn trú
trên lãnh thổ của hầu hết các quốc gia tiếp nhận viện trợ.
2.- Chính quyền Hoa Kỳ không xía
vào nội bộ các quốc gia nhận viện trợ, nhưng theo dõi và đòi hỏi các
chính quyền các quốc gia này phải thi hành những điều kiện trên đây của
Hoa Kỳ Trên lý thuyết, nói là theo dõi và đòi hỏi các chính quyền các
quốc gia nhận viện trợ phải thi hành những điều kiện trên đây của
Hoa Kỳ, nhưng trong thực tế, chính quyền Hoa Kỳ đã làm lơ cho các nhà
lãnh đạo các quốc gia này tung tác, lợi dụng tiền viện trợ để củng
cố quyền lực và làm giầu cho cá nhân và phe đảng. Tuy nhiên, nếu các
nhà lãnh đạo của các nước này đi quá trớn như trường hợp anh em ông
Ngô Đình Diệm khiến cho Hoa Kỳ lãnh trách nhiệm "Con dại cái mang",
thì lúc đó Hoa Kỳ mới phải can thiệp để chặn đứng việc làm quá trớn
này. Chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau.
3.- Nhật Bản và Tây Đức là hai nước
cựu thù của Hoa Kỳ, có kinh nghiệm với chế độ độc tài Đức Quốc Xã
và Quân Phiệt Phong Kiến Nhật, nhưng các nhà lãnh đạo chính quyền của
hai quốc gia này đã thi hành đúng theo những lời cam kết với Hoa Kỳ. Nhờ
vậy mà hai quốc gia này đã từ một hoàn cảnh bị chiến tranh tàn phá
nhiều nhất, lại phải bồi thường chiến tranh cho các quốc gia Đồng
Minh và nạn nhân của họ, và đặc biệt là bị Hoa Kỳ theo dõi và kiểm
soát gắt gao nhất với những binh đoàn hùng hậu nhất đồn trú trong
lãnh thổ, mà họ cũng đã vươn lên hàng cường quốc kinh tế đứng hàng
đầu trên thế giới, và cũng là quốc gia theo thể chế dân chủ tự do thực
sự, y hệt như các quốc gia dân chủ ở Bắc Mỹ và Tây Âu.
4.- Ngoài Tây Đức và Nhật Bản,
các nước khác cũng tiếp nhận viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ, các nhà
lãnh đạo chính quyền của các quốc gia nào càng thực tâm dồn nỗ lực
dân chủ hóa chính quyền để giảm thiểu bất công trong xã hội và đem lại
tự do no ấm cho toàn dân thì các quốc gia đó càng sớm thành công và
thành công nhiều nhất trong việc sử dụng tiền viện trợ của Hoa Kỳ
vào công cuộc phục hưng xứ sở của họ. Nhìn vào các quốc gia tiếp nhận
viện trợ của Hoa Kỳ từ Nhật Bản, Tây Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hòa La,
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, Hồi Quốc, Nam Hàn,
Phi Luật Tân cho đến Thái lan và miền Nam Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rõ
điều này.
5.- Người Việt Nam ta có câu
"Giầu con út, khó con út". Nếu gọi những quốc gia tiếp nhận viện
trợ là những đứa em nuôi mà Hoa Kỳ phải cưu mang trong cơn hoạn nạn,
lao đao khốn khổ trong cảnh bị chiến tranh tàn phá và đứng trước hiểm
họa của Cộng Sản thì miền Nam Việt Nam là đứa em nuôi mà Hoa Kỳ cưu
mang sau nhất (mãi đến tháng 6 năm 1954), với những khoản tiền viện trợ
hào hiệp nhất, trong một thời gian lâu dài nhất, nhưng lại là nơi duy nhất
thất bại và thất bại thảm thương nhất trong lịch sử của chính sách
ngoại viện của Hoa Kỳ. Hình như trong các thành ngữ nói về giáo dục,
trong đó có câu nói rằng: "Càng được cưng chiều thì càng sớm hư hỏng".
Chúng ta tìm hiểu nguyên nhân khiến cho Hoa Kỳ thảm bại ở Việt Nam.
- NHỮNG NGUYÊN NHÂN
- KHIẾN CHO HOA KỲ THẢM BẠI
Ở VIỆT NAM
Đã có nhiều người đưa ra những
ý kiến về những nguyên nhân khiến cho Hoa Kỳ thảm bại ở Việt Nam.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì chính sách viện trợ của Hoa Kỳ đã
thất bại thảm thương ở miền Nam Việt Nam vì những lý do sau đây:
Tất cả các nước nhận viện trợ
của Hoa Kỳ, không có nhà lãnh đạo của bất kỳ nước nào lệ thuộc
vào Giáo Hội La Mã như chính quyền Ngô Đình Diệm. Miền Nam Việt Nam thất
bại vì anh em ông Ngô Đình Diệm đã quyết tâm thi hành chính sách Gia-tô
hóa chính quyền, kỳ thị tôn giáo, đã tiến hành Gia-tô hóa nhân dân miền
Nam Việt Nam mà khởi đầu là các tỉnh thuộc Liên Khu V gồm các tỉnh Quảng
Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên kéo dài tới Nha Trang.
Tất cả các nước tiếp nhận viện
trợ của Hoa Kỳ, không có nước nào lại có một nhân vật nằm trong một
tôn giáo thiểu số, chỉ có từ 6 đến 7% dân số, lên nắm quyền mà lại
thi hành chính sách đàn áp các tôn giáo khác, bắt bớ và giam cầm sư sãi,
Phật tử, học sinh, sinh viên và các thành phần đối lập như ở Miền
Nam Việt Nam.
Tất cả các quốc gia tiếp
nhận viện trợ của Hoa Kỳ, không có nhà lãnh đạo nào của họ giống
như trường hợp ông Ngô Đình Diệm của miền Nam Việt Nam, một người
xuất thân từ một gia đình có tới ba đời bán nước cho quân cướp ngoại
thù, và chính bản thân ông ta không những đã có thành tích về những việc
làm dã man khi làm tay sai cho các thế lực đế quốc kẻ thù của dân tộc,
mà lại còn được Đế Quốc Vatican dẫn sang Hoa Kỳ lo lót, năn nỉ và chầu
chực cả gần 4 năm trời để được Hoa Kỳ đưa về Việt Nam cầm quyền.
Tất cả các nước tiếp nhận viện
trợ của Hoa Kỳ, không có nước nào tổ chức tới 13 cơ quan mật vụ, công
an và cảnh sát để theo dõi, bắt bớ và tra tấn nhân dân như chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm ở Miền Nam Việt Nam.
Tất cả các nước tiếp nhận viện
trợ của Hoa Kỳ, không có nước nào đã thủ tiêu dân nhiều như chính
quyền Ngô Đình Diệm đã làm ở Miền Nam Việt Nam. Con số nạn nhân bị
thủ tiêu lên đến trên 300 ngàn.
Tất cả các nước tiếp nhận viện
trợ của Hoa Kỳ, không có nước nào mà tiền lại chạy vào túi tham của
các nhà lãnh đạo và đảng cầm quyền như chế độ đạo phiệt Gia-tô
Ngô Đình Diệm. Tổng Thống Phác Chúng Hy khi bị ám sát, ngay cả những kẻ
thù ghét ông nhất cũng phải công nhận ông không có tiền ở trong các trương
mục, và không có ai tố cáo rằng bà con hay thân nhân của ông đã dựa
quyền cậy thế để làm giầu trên mồ hôi, nước mắt và xương máu
nhân dân hay ăn bớt và ăn chặn tiền Mỹ viện trợ.
Trên đây là những nhận xét
giúp cho chúng ta giải đáp được thắc mắc là cùng tiếp nhận quân kinh
viện của Hoa Kỳ mà tại sao các nước khác phục hồi được kinh tế,
ổn định được chính quyền, đem lại được cơm no, áo ấm, tự do dân
chủ thực sự nhân dân, và lôi cuốn được nhân dân về hàng ngũ chống
Cộng, trong khi đó Miền Nam Việt Nam tiếp nhận viện trợ hào hiệp nhất
và lâu dài nhất mà lại thất bại não nề. Nói một cách vắn tắt là
các nước khác thành công là vì các nhà lãnh đạo của nước này không cần
phải giúp cho nhân dân nước họ lên thiên đàng, mà chỉ cần đem lại công
bằng xã hội và biết tôn trọng các tôn giáo cổ truyền của dân tộc. Lịch
sử đã chứng minh rằng ở đâu có những người cuồng tín của Giáo Hội
La Mã lên cầm quyền (tôn giáo chỉ đạo chính quyền) là những dân khác
tôn giáo ở đó bị kỳ thị và bước vào con đường khốn nạn. Cái gương
của các nước Âu Châu trong thời Trung Cổ như Tây Ban Nha, Pháp, Anh Quốc,
Tiệp Khắc, cái gương các quốc gia Mỹ Châu La Tinh, Phi Luật Tân còn đó,
蠦#273;ặc biệt nhất là cái gương của
Croatia dưới thời bạo chúa Ante Pavelich trong thời Đệ Nhị Thế Chiến còn
đó, và rõ rệt hơn nữa cái gương của Miền Nam Việt Nam trong thời đạo
phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và chế độ Diệm không Diệm của ông Nguyễn
Văn Thiệu là bằng chứng cho chúng ta thấy rõ điều này.
Home | Go top page