>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Khủng bố văn hóa
 
Nguyễn Hạnh Hoài Vy
khungbo1.JPG (25546 bytes)   khungbo2.JPG (28076 bytes) khungbo3.JPG (30534 bytes)
Phóng ảnh các tờ truyền đơn chống Phật giáo

( ‘Upload’ lần hai, có thêm phần ghi chú ở cuối bài )

Theo Từ điển Hán-Việt của Nguyễn văn Khôn, “khủng bố” là làm cho người ta sợ hãi bằng bạo lực. Trong “Tiếng Nói Nôm Na” của Lê Gia (nhà xb Văn Nghệ, thành phố HCM 1999), “khủng” còn phát sinh ra chữ “khùng” trong lối nói dân gian người Việt : “Kẻ mất trí làm cho người ta sợ hãi”. Cuốn Đại Từ Điển Tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa VN (Nhà xb Văn hóa-Thông tin, 1998)  định nghĩa “khủng bố” là “dùng bạo lực đàn áp gây nhiều tổn thương; làm cho khiếp sợ hòng khuất phục”. Từ điển tiếng Anh của Webster (1990) có 3 định nghĩa về từ “khủng bố” ( terrorism ) : Một, sự sử dụng bạo lực và đe dọa để cưỡng ép hoặc gây sợ hãi vì mục đích chính trị (the use of violence and threat to intimidate or coerce, esp. for political purposes). Hai, tạo ra tình trạng sợ hãi và khuất phục (the state of fear and submission so pruduced). Ba, chính quyền hay chống chính quyền dùng phương tiện khủng bố (government or resistance to government by means of terror). Từ điển mới hơn, The New Oxford Dictionary (1998) định nghĩa “terrorism” (khủng bố) là dùng bạo động và đe dọa để theo đuổi những mục tiêu chính trị (the use of violence and intimidation in the pursuit of political aims), và “terrorist” (người khủng bố) là kẻ đã dùng sự khủng bố nhằm theo đuổi những mục tiêu chính trị (the use of terrorism in the pursuit of political aims).

Đúng ra từ vựng “khủng bố” (terrorism) có từ sau cuộc Cách mạng Pháp (French Revolution) để mô tả việc nhà nước đã sử dụng sự bạo lực đàn áp chính công dân của họ. Đến năm 1937, Hội Quốc Liên (the League of Nations) đã đảo ngược lại ý nghĩa của từ vựng để định nghĩa “khủng bố” là “những hành vi tội ác toan tính hay trực tiếp chống lại nhà nước hay toan tính tạo ra tình trạng khủng bố tinh thần của một cá nhân hay tập thể”  (criminal acts directed against a state and intended or calculated to create a state of terror in the minds of particular persons or the general public). Có người thắc mắc tại sao có sự đảo ngược định nghĩa như vậy?

Để trả lời Hoài Vy xin nêu thí dụ : Năm 1949, nhà văn Anh George Orwell đã viết cuốn tiểu thuyết giả tưởng nổi tiếng “1984”, cho rằng sự biến đổi của ngôn ngữ không phải do kết quả của sự phát triển tự nhiên ( “natural growth”), mà ngôn ngữ chính là công cụ nhằm vào những mục tiêu chính trị nào đó. Trong tiểu thuyết “1984”, mô tả 3 siêu-chính-phủ (super-states) trên thế giới : Oceania, Eurasia và Eastasia và 3 nước này đang có chiến tranh với nhau. . Chính quyền của nhà nước Oceania chia ra 4 Bộ: Ministry of Peace lo việc chiến tranh, Ministry of Plenty lo việc kinh tế, Ministry of Love duy trì trật tự và luật pháp và nhà nước đã tạo ra một ngôn ngữ chính thống (official language) gọi là Newspeak để dẫn dụ và kiểm soát đầu óc người dân qua Bộ Sự thật (Ministry of Truth) phụ trách về Tin tức, Giáo dục, Giải trí và Nghệ thuật và dĩ nhiên là tuyên truyền. Bộ này đã đưa ra ba khẩu hiệu dán đầy tường trên các đường phố: “Chiến tranh là Hòa bình, Tự do là Nô lệ, Ngu dốt là Sức mạnh” (War is Peace, Freedom is Slave, Ignorance is Strength) và làm cho người dân Oceania tin tưởng đó là chân lý. Dĩ nhiên “1984” chỉ là tiểu thuyết ẩn dụ – một hình thức tiểu thuyết hóa về tiên đoán tương lai như bộ môn ‘Tương lai học’ (Futurology) về một chính thể độc tài kiểu mới, nhưng nó đã lột tả vai trò của ngôn ngữ như là một công cụ chính trị, và công cụ đó ngày nay vẫn được sử dụng dưới các hình thức khác trong các xã hội dân chủ hiện đại.

Trở lại với cụm từ “khủng bố văn hóa” mà Hoài Vy đã đưa ra có thể làm cho quý vị không đồng ý, vì vậy trước khi đề cập tới những hành động khủng bố văn hóa trong bài viết này, Hoài Vy phải tìm vài định nghĩa cho từ văn hóa. Theo học giả Đào Duy Anh trong ‘Việt Nam Văn Hóa Sử Cương’, viết rằng văn hóa “là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng ‘văn hóa tức là sinh hoạt’” và nội dung cuốn sách này đã nói tới sinh hoạt văn hóa của dân tộc ta ra sao. Từ điển Đại Tiếng Việt (như đã dẫn ở trên) có 5 định nghĩa về văn hóa:

1- là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử.
2- đời sống tinh  thần của con người.
3- tri thức khoa học, trình độ học vấn.
4- lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh.
5- nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung, chẳng hạn như văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai...

Như vậy trong văn hóa còn thể hiện lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh. Nói cách khác, một công dân có văn hóa biểu hiện một dân tộc văn minh. Trong Từ điển Văn Liệu của cụ Long Điền Nguyễn Văn Minh (nhà xb Á châu, 1942) đã gọi Văn tức là văn vẻ, văn lý, Minh là sáng suốt. Cụ còn dẫn giải thêm “Ngày nay, thường dùng tiếng ‘văn minh’ để nói văn hóa mở mang như : văn hóa tiến hóa trí lự khai thông, đạo đức tăng tiến, sinh hoạt sung túc, thế tức là Văn Minh. Văn Minh trái với ‘dã man’.

Sau khi làm sáng tỏ các từ nghĩa về khủng bố, văn hóa, văn minh như trên, Hoài Vy có thể tạm kết luận rằng “khủng bố văn hóa” là cá nhân, tập thể hay một chế độ chính trị sử dụng những hành động hay ngôn ngữ (qua các phương tiện khác nhau) để đe dọa, trấn áp tinh thần hay vật chất của những người nói, viết ra những sự thật (về lịch sử, tôn giáo, hay văn hóa nói chung) đi ngược lại với lợi ích, mục tiêu chính trị nào đó của phe nhóm họ. Khủng bố văn hóa còn có mục đích che dấu sự thật, hay mang tính cách nhồi sọ làm cho sự thật, chân lý sai lạc đi, như Orwell đã châm biếm khẩu hiệu tuyên truyền để lạc dẫn tinh thần của người dân ở Oceania “Chiến tranh là hòa bình, Tự do là nô lệ, Ngu dốt là sức mạnh”. Hoặc có khi thủ phạm tạo ra những tin đồn sai lạc, hoặc tạo ra những vấn đề mang tính nguỵ biện nhằm hăm dọa, thay vì đối thoại hay tranh luận. Quý vị nên tìm đọc lại hai bài viết của Bàn Tân Định bàn rất rõ về 'nguỵ biện và tạo sai lạc tin tức' trên trang nhà Giao Điểm:

www.giaodiem.com/doithoai/btd_vdnguybien 

www.giaodiem.com/doithoai/btd_fallacies

Nhìn lại trong lịch sử cận đại Việt Nam, chúng ta còn nhớ lại thời Bảo Đại, để đạt mưu cầu chính trị người ta đã dùng tới hình thức khủng bố : Cuối năm 1954, Thủ tướng Nguyễn  Phan Long mặc dù đã bị vua Bảo Đại ép từ chức để đưa ông Ngô Đình Diệm gốc thầy tu Công giáo lên làm thủ tướng; và ngay sau đó ở căn nhà 11 đường Lieutenant Roubot, hẻm Lê Văn Duyệt, nơi cư ngụ của nguyên Thủ tướng Nguyễn Phan Long, ông Long bị lôi ra giữa sân để bị ‘đấu tố’: Ông Long với thân hình cao lớn, tóc bạc rối bời, tay bị nắm chặt, trong lúc đó đã có sẵn hàng trăm nắm tay của số người tham dự được dàn cảnh trước đưa lên định đánh ông, miệng thì hô toáng lên “Nó không hoan hô thủ tướng Diệm thì đánh chết cha nó đi”. Đây là màn khủng bố đầu tiên của chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ do Mỹ và Vatican đồng mưu nhào nặn lên. Ông Bùi Nhung, tác giả hồi ký “Thối Nát” đã giải thích lý do đưa tới sự khủng bố chính trị này : “có gì đâu chỉ là Thủ tướng Diệm, biết ông Long được lòng dân, và sự suy tôn của giới trí thức toàn quốc, nên có ý mời ông Long vào ghế phó thủ tướng đễ “dễ dàng” việc ... “việc nước nhà”, nhưng ông Long từ chối khéo. Trong những ngày đầu của trào Diệm, ông Long đứng về phía đối lập” (Theo hồi ký “Thối Nát”, Bùi Nhung, tác giả tự xuất bản, năm Ất Tỵ, trang 144). Màn khủng bố này là dấu hiệu khởi báo cho một chế độ bạo trị luôn luôn sử dụng nhà tù, tra tấn, đe dọa, thủ tiêu, đàn áp về sau này. Sau khi nắm được chức thủ tướng rồi, chế độ ông Diệm bắt đầu đàn áp đối lập chính trị, khủng bố các nhà văn hóa dân tộc. Một trong những nạn nhân của chính sách ‘khủng bố văn hóa’ đầu tiên là cố học giả Nguyễn Hiến Lê. Mật vụ của Diệm Nhu đã đe dọa cụ Lê chỉ vì cụ đã xuất bản cuốn sách “Lịch Sử Thế Giới” trong đó có đề cập tới một số Giáo hoàng ở Vatican dâm loạn, tàn ác theo tài liệu lịch sử mà cụ nghiên cứu. Hoài Vy xin ghi lại đây nguyên trang trong hồi ký “Đời Viết Văn Của Tôi” của cụ (Văn nghệ xuất bản, 1986) đề cập tới ‘tai nạn’ này :

Năm đó tôi còn được thêm hai sự may mắn ... - Điều may mắn thứ nhì là một cơ hội tốt để tôi thực hiện một điểm trong chương trình mở mang kiến thức thanh niên. Từ mấy năm trước tôi mua được mấy cuốn Histoire Universelle của Wells, Histoire de l’Humanité của H. Van Loon... đọc rât1 hấp dẫn, tôi tính sẽ dịch hoặc tóm tắt. Đầu niên khóa 1954-55 trong chương trình Trung học đệ nhất cấp có thêm môn Lịch sử thế giới dạy trong 4 năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép “cua” (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ; ông viết hai cuốn giữa cho lớp đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in; năm 1955 in xong trước kỳ tựu trường tháng chín. Bộ đó khá chạy. sau tôi nhường cho nhà Khai Trí tái bản.

Một chuyện đáng ghi là vì bộ đó mà năm 1956 bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát là “đầu óc đầy rác rưởi” chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết Darwin về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là một tín đồ Công giáo.

Sau khi linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo dục cấm bán và tịch thu hết bộ sách vì trong cuốn II viết về thời Trung cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài Giáo hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cấp cử nhân tiếp xúc với tôi. Ông này nhã nhặn, khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như bộ sử Pháp của Michelet; rồi nhận rằng sách tôi được bộ Thôgn tin cho phép in, lại nạp bản rồi, thì không có lý gì tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông cáo cho các trường đừng dùng thôi; cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông ta. Ông ta lại hỏi lớp mẫu giáo của tôi đã được phép của bộ chưa. Tôi đáp: Đơn nộp cả năm rồi, giấy tờ đủ cả, tôi đã nhắc Sở Giáo dục thành phố, mà người ta cứ làm thinh, không cho phép mà cũng không cấm. Ông ta chỉ gật đầu.

Hồi đó bộ Lịch sử Thế giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó, trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ bán hết. Tôi không tái bản. Công giáo thời đó lên chân như vậy. Nghe nói một ông tỉnh trưởng ở miền Tay không dám cho hội Phật giáo cất chùa trong thị xã và bảo: ‘Công giáo cất nhà thờ, bây giờ Phật giáo cũng xin cất chùa, bộ các người muốn kình với Công giáo hả?’

Một hôm bà láng giềng của tôi cho hay: “Ít lâu nay tôi thấy ngày nào cũng có một hai người ngồi ở quán cà phê bên kia đường nhìn về phía nhà thầy và nhà tôi, như rình cái gì. Hôm qua một người vào nhà và hỏi tôi: “Ông Lê ở nhà bên lúc này đi đâu mà không thấy?” Tôi đáp: “Ông ấy đau, nằm ở trong phòng, chứ đi đâu?. Thầy cứ vô mà hỏi. Rồi họ đi.”

Vậy là mật vụ rình mò mà tôi không biết. Vì tôi là công chức thời Pháp mà tản cư lâu quá, về lại không hợp tác với chính phủ Diệm, hay vì bộ Lịch sử Thế giới mà họ theo dõi như vậy? Có lẽ vì cả hai.” (các trang 99, 100, 101).

Qua câu chuyện trên Hoài Vy nhận xét  sở dĩ chính quyền của Diệm-Nhu chỉ cho mật vụ theo dõi, đe dọa tinh thần (mật vụ giả vờ hỏi người hàng xóm là một cách gián tiếp bắn tiếng sự đe dọa đang hiện hữu) cụ Lê mà chưa bắt bớ, giam cầm cũng bởi lý do chúng đã bị hố trong việc kiểm duyệt không sâu sát nội dung mới cho phát hành cuốn sách, khi đã phát hiện điều phạm huý thì cuốn sách đã bán gần sạch rồi, cho nên việc ngăn cấm không cho giảng dạy trong các trường trung học ở miền Trung, chỉ là biện pháp nửa vời, trong Nam thì lờ đi bởi gần ‘mặt trời’ quá, cấm đoán thì chính phủ mang tiếng thô bỉ, vô tư cách, phản trí thức mà ông Nhu thì đã mang danh trí thức tốt nghiệp từ ‘École des Chartres’! Chúng cũng không thể làm gì hơn cụ Lê ngoài việc theo dõi ngày đêm để xem cụ có liên kết với thành phần chính trị dân tộc nào khác không, trong khi cụ Lê chỉ phục vụ cho văn hóa và tương lai của thế hệ trẻ, nên chúng chỉ rình rập mà tạm để yên.                                                                 

Việc ‘khủng bố văn hóa’ của Giáo hội Catô Rôma cũng rất ác liệt trong các thập niên 1950 ở các nước Âu Mỹ. Chúng ta biết rằng để bảo vệ ‘ốc đảo quyền lực’ của mình, Giáo hội Catô Rôma đã tìm cách khống chế tự do tư tưởng bằng các giáo luật áp dụng kiểm duyệt cho giới tu sĩ trong việc sáng tác và xuất bản. Sách chỉ được in ra, nếu:

1. “Nihil Obstat”: - nội dung sách không có vấn đề (nothing objectionable). Giáo luật dành cho giới thầy giảng.

2. “Imprimatur”: - sách được phép in (let it be printed). Dành cho giới tu sĩ các cấp.

Hai giáo luật trên được áp dụng chặt chẽ, mục đích là để kiểm soát các sách báo xuất bản không đi ra ngoài chủ trương, tín lý của Vatican. Có nhiều trường hợp Vatican đã lạm dụng quyền lực của mình xâm lấn qua biên giới xã hội chung như khuyến khích các tổ chức, đoàn thể thuộc giáo hội áp dụng những biện pháp bá đạo như phổ biến những lời đe dọa, rỉ tai, tẩy chay các tiệm sách bán những tác phẩm, hay các tác giả có trong danh sách đen của Vatican. Các tác giả này bị lên án là ‘vô luân, chống lại đạo đức Công giáo’. Đây là danh sách một số các tác giả bị cấm : Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir, André Gide, Alberto Moravia, Ernest Hemmingway, William Faukner, John Dos Passos, George Orwell, Emile Zola, Arthur Koestler, Joyce Gary v.v... Ở Mỹ, giáo hội còn can dự vào các lãnh vực truyền hình và điện ảnh. Một vụ đàn áp trắng trợn nhất đã xảy ra năm 1956: Bằng những cú phôn hăm dọa, dùng những lời lẽ khiếm nhã để ép đài truyền hình WGN (một bộ phận của nhật báo Chicago Tribune) phải đình chỉ các suất (show) truyền hình của mục sư Martin Luther King. Vài năm sau đó các ‘suất’ này được làm thành phim đem chiếu ở các rạp thì bị các phần tử Công giáo trực tiếp hăm dọa, tẩy chay, rồi bị cấm luôn. (Theo Paul Blanshard, On Vatican II, nhà xb. Beacon Press, Boston 1966, các trang 100, 173, 174, 180). Vậy thì khủng bố văn hóa trong Giáo hội Công giáo Rôma đã có truyền thống lâu đời rồi !

                                                                        * * *

Trong mùa lễ Vu Lan năm nay, Hoài Vy đưa mẹ về tu viện Kim Sơn trên núi để dự mùa Vu Lan hiếu hội, tình cờ gặp hai vị sư trẻ đưa cho coi một tờ truyền đơn chống Phật giáo được gởi đi khắp nơi, đặc biệt ở tiểu bang California. Tờ truyền đơn có tất cả 6 trang đánh máy, trang mặt có tựa đề: “Lương tâm người Phật Tử. Tiếng nói - Mùa Vu Lan Báo Oán – Lương tri”, với hai hàng khẩu hiệu ở dưới mới đọc người viết đã rởn tóc gáy lên : “Bỏ cha – bỏ mẹ – bỏ vợ - bỏ con  là Đạo của Thích Ca và loài cầm thú. Bất lương – bất nhân – bất nghĩa bất hiếu là đạo của Sư-Sãi và CS Việt Nam!”.

Dưới đây Hoài Vy xin trích dịch lại một vài đoạn của mỗi trang và xin miễn bình luận:

Trang 1, có vài đoạn:

Hai chữ Báo hiếu, tự nó đã mang một ý nghĩa cao đẹp đối với người VN trong Đạo Hiếu  Kính Cha Mẹ Thờ Phượng Tổ Tiên. Tuy nhiên, Báo Hiếu được ghép vào Phật Giáo, như các sư-sãi đã làm, là một trò châm biếm, nghịch lý và khôi hài! Vì theo kinh sách Phật giáo, Thích Ca chủ trương duy vật. Ông cho rằng Vạn pháp là vô tướng. Con người do nhân duyên giả hợp, con người không có thật. Nên khi cha mẹ chết, con cái tiếc-thương , than-khóc, Thích-ca cho là ngu-muội. Than-khóc cái giả-tướng, than khóc cái không có thật. Người VN ít ai có thể chấp-nhận lập-luận quái-gỡ, điên-rồ như thế nầy. (theo Phật-Học Tinh-Hoa của Đức-Nhuận)”.

Vì thế, khi Thích-Ca bỏ Cha, bỏ Mẹ, bỏ Vợ-Con ngay lúc sinh đẻ để đi tu, người Việt-Nam cho rằng Thích-Ca là kẻ bất-nhân, bất-nghĩa và bất hiếu (Viết theo Phật-Học Tinh-Hoa, Ng. duy-Cần tr.38). Đã Bất-Hiếu thì lễ Vu-Lan Báo-Hiếu của tăng-ni Phật-Giáo, trở thành khôi-hài chẳng có ý-nghĩa gì đối-với người VN cả.”

Trang 2, có đoạn:

Bám vào đạo Thờ-Phượng Tổ-Tiên để sống, vì Phật-Giáo không có nguồn gốc. Giáo-lý nữa vời, nóng đâu phủi đó, của chú tiểu nhà quê láu-cá.”

Trang 3, ghi lại vài đoạn:

Người ta chưa thấy tăng-ni Phật-Giáo dịch kinh-sách cho loài bò, để khi Huyền-Quang, Quảng-Độ và bọn sư-sãi PGVNTN luân-hồi sang loài bò, có kinh để đọc cho bớt ngu. Được đọc kinh của loài bò, bọn chúng sẽ hết ngu thôi bám đít một thằng Lạt-Ma tây-Tạng, là loài dâm-ác đã từng tàn-sát, hảm-hiếp dã-man Tổ-Tiên của chúng dưới thời nhà Lý gọi là giặc-Phật!”

Phật-Giáo là siêu cộng-sản, siêu gian-ác, được dấu kỷ trong tấm áo cà-sa, từ-bi giả-hiệu.”
Bọn Huyền-Quang, Quảng-Độ, và sư-sãi PGVNTN là bọn người điếc. Họ không nghe nhân-gian phỉ-báng:
Thầy chùa trọc lóc bình vôi,
tôi ngồi tôi “ị” thầy rình thầy “xơi”.”
 
Thân phận làm chó-săn cho ngoại-bang cho CS hãm hại lương-dân nhục nhã là như thế! Câu tục-ngữ nầy đã trả lời cho Quảng-Độ 80% người VN theo Phật-Giáo! Giấc mơ thống-trị của loài chó-săn vô-thần để cứu nguy cho CSVN sẽ là cơn ác-mộng giữa ban ngày!”.
..........
Trang 4, có đoạn:
 
Nói 80% người VN theo Phật-Giáo như Quảng-Độ đã khoe trong bức thư gời đại-sứ Liên-Hiệp Âu-Châu chỉ là một trò hề của một kẻ vô liêm sĩ, tuy già nhưng ngu-dốt để cho CS và ma-cô chính-trị tại Paris lợi dụng dàn dựng và đạo-diễn!
..........
Trang 5, có đoạn:
 
Trước 1975, một cổ quan-tài khiêng qua trạm gác, trong đó chứa đầy lựu đạn, súng AK 47 thay vì người chết. Hãy nhìn lại những cuộc biểu-tình trước 1975 của Phật-Giáo, của ni-sư Huỳnh-Liên, của Thích-Thông-Bửu, Thích-Minh-Châu... Họ là ai? Ngày nay họ là CS. Hãy nhìn các cô gái ngoan-hiền chùa sư-nữ Đức-Viên Bắc Cali, họ là những người che dấu CS. Hãy nhìn Trí-Dũng, Đức-Niệm, Huyền-Quang, Quảng-Độ ... tu sĩ PGVNTN và tập-đoàn phòng thông-tin Paris, chúng là ai?”
..........
Trang cuối (6), có đoạn:

Hãy xem các chùa Tàu ở tại Hoa-Kỳ, các sư-sãi của họ đã làm gì? Họ có ngu-xuẩn cúi đầu lạy Thích-Ca thay cho cha-mẹ họ không? Không bao giờ. Tại đây, Thích-Ca chỉ là đồ trang-trí, để họ thực-hiện những ý-định riêng tư cho đất nước của họ. Góp tiền ho quỹ tranh-cử tổng-thống để chi-phối chính-quyền vì quyền-lợi của đất nước họ...  “các “ni cô chùa tàu” chắc-chắn sẽ cười vào mặt những tên như Quảng-Độ, Huyền-Quang... sư-sải PGVNTN là những nạn-nhân ngu-dốt của tổ-tiên họ.”

Để kết luận tờ truyền đơn viết:

Trong địa-ngục người ta không thấy có mẹ Mục-Kiền-Liên, mà chỉ thấy Thích-Ca và tăng-ni Phật-Giáo đang quằn-quại trong ngọn lửa hừng!

Họ đang rên la, gào thét : Lạy Thượng-Đế xin tha, chúng con không dám nghe lời Thích-Ca gian-dối nữa! Chúng con không dám lường-gạt người Việt-Nam là con cái của Ngài. Xin tha! Tiếng rên xiết xa dần, xa dần.”

Phía dưới còn có khẩu hiệu được đóng khung:

Tránh xa tăng-ni Phật-Giáo là yêu nước thương dân, là xây-dựng tương-lai cho con cháu, là rửa nhục cho Tổ-Tiên. Tổ-Quốc sẽ ghi công bạn”.

Đó là những đoạn tiêu biểu mà Hoài Vy ghi ra để cho quý bà con Phật tử cũng như độc giả được đọc. Có thể có bạn sẽ hô lên rằng - ôi đây là việc làm của những kẻ “hạ cấp” quan tâm làm gì cho mệt. Theo Hoài Vy, trước hết chúng ta không nên nghĩ là họ “hạ cấp”, mà nên tìm hiểu tới động cơ (motive) nào đã thúc đẩy họ viết nên những lời lẽ như vậy và gởi đi khắp nơi tờ tuyên truyền chống Phật giáo đúng trong những ngày lễ Vu Lan này. Tất nhiên nội dung của nó là hoàn toàn sai lạc đã đành, nó còn mang ý định tự cứu để bảo vệ cho tôn giáo và mục đích chính trị của phe nhóm họ. Trong các đoạn văn này, Hoài Vy cố gắng đánh máy lại cho đúng theo nguyên văn, chính tả, dấu hỏi ngã ... của người viết, Hoài Vy chợt nhận ra một chi tiết nhỏ, là người viết đã sử dụng dấu nối (trait d’union) trong các từ kép rất cẩn thận, không bỏ sót một chữ nào. Đây là bằng chứng cho thấy người viết thuộc thế hệ ông già, khoảng từ 60 đến 70 tuổi đời, bởi chỉ có thế hệ này mới còn giữ quy tắc cổ xưa này, vì ngày nay những người quen thuộc với văn chương, nhất là thế hệ trung niên không ai còn dùng lối viết gạch nối trong các từ kép nữa. Đã là thế hệ ông già, nhất là những ông già theo đạo Công giáo Rôma thì cực kỳ bảo thủ, cực đoan và thù dai dẳng. Chính vì tinh thần này nên họ vừa thù ghét người Cộng sản, và thù ghét luôn những bậc chư tăng Phật giáo như họ nêu tên. Trong hơn chục năm trước và cho tới bây giờ các chư Tăng này đã từng chống một vài chính sách chế độ hiện tại, hoặc giả “cơm không lành, canh không ngọt” với chế độ như các thầy Huyền Quang, Quảng Độ..., và dĩ nhiên họ thù ghét luôn cả những người Phật tử đang phù trợ cho các thầy như các ông Võ Văn Ái và nhóm đấu tranh cho nhân quyền của ông. Thành ra không phải vì chống cộng mà họ tha đâu. Nói vắn tắt họ căm thù Phật giáo Việt Nam, bất kể khuynh hướng nào. Sự căm thù này cứ dai dẳng sau cái chết của mấy anh em ông Diệm vào năm 1963, và chế độ của ông sụp đỗ. Sau biến cố 1975, những người thất trận này chạy ra nước ngoài chia làm hai nhóm (về mặt tinh thần) : Nhóm hoài ông Diệm thì không ưa nhóm thần phục Nguyễn Văn Thiệu do lý họ coi ông Diệm mới xứng đáng lãnh đạo, là người ‘quốc gia’ còn ông Thiệu chỉ là ‘bù nhìn, tay sai’ (còn chế độ Diệm-Nhu thì không bù nhìn ?), và ngược lại. Dù cả hai bên đều thù ghét chế độ cộng sản, và đa số các cựu công thần và tử đệ là Kitô giáo nói chung, riêng nhóm hoài ông Diệm thì thù ghét Phật giáo tận xương tuỷ từ lý do dễ hiểu mà chúng ta đã biết. Từ đó, chúng ta có thể tin chắc rằng các tác giả của tờ truyền đơn nói trên xuất phát từ nhóm Cần lao hoài Diệm. Trưng ra bằng cớ tầm thường này để một số Phật tử, độc giả còn tha thiết với dân tộc từng lo sợ rằng chủ trương của Giao Điểm sẽ tạo ra sự chia rẽ dân tộc? Lấy công tâm ra mà xét, quý vị sẽ thấy chúng tôi không có một ý định nào đưa tới sự chia rẽ, nhưng phần lớn những cây bút của các tác giả Giao Điểm đã viết trong tinh  thần nghiên cứu nghiêm chỉnh, trưng bày những sự thật lịch sử trong niềm tha thiết mong ước những người phản bội, miệt thị, gây tai họa cho dân tộc trong quá khứ hãy phản tỉnh, sớm trở về trong vòng tay rộng mở của dân tộc để yêu thương nhau và đóng góp vào việc xây dựng đất nước. Chúng tôi cũng không quên ghi nhớ những người Công giáo yêu nước trong quá khứ cũng như hiện tại, nhưng xét ra thành phần này còn quá ít ỏi, vì vậy chúng tôi cũng mong mỏi rằng những người Công giáo dân tộc cần suy nghĩ để hành động nhiều thêm nữa. Ngày nào đầu óc của những người Công giáo còn mờ ám như tờ truyền đơn trên, chúng ta không thể và không bao giờ có thể nói tới chuyện đoàn kết được!

Ghi nhận thứ hai đoạn của trang 6 trong tờ truyền đơn: có chống là chống ‘bọn’ Phật giáo Việt Nam thôi, còn Phật giáo Tàu thì ngoại lệ bởi Phật giáo Tàu theo Thích Ca là chỉ “để trang trí, để họ thực hiện những ý định riêng tư cho đất nước của họ.”! Tinh thần của nhóm người này rất đồng dạng với đám người chống ‘Việt cộng dâng đất, nhượng lãnh hải’ cho Trung cộng, nhưng chỉ chống Việt cộng thôi, không dám đụng tới chính sách nước lớn của Tàu cộng; chống nhập cảng hàng hóa từ Việt Nam qua Mỹ để cho chết ‘cha ông cháu chắt’ nó cả đám, nhưng lại không dám đụng tới các cửa hàng, chợ của người Tàu trưng bán đầy hàng hóa, thực phẩm từ nội địa Việt Nam. Quý vị này còn nhớ chủ cũ của họ là anh em Diệm Nhu trước khi bị thảm sát đã vào trốn trong nhà Mã Tuyên, nhà thờ cha Tam (cũng là người Tàu đó), vậy Tàu Đài Loan hay Tàu lục địa có khác nhau gì không?

Cùng ngày sau khi dự lễ Vu Lan ở Kim Sơn, về đến nhà Hoài Vy mở email ra và nhận được email của một người lạ, có nội dung như sau:

“Date/Time of Posting:  Aug 23 2002 / 22:26:59 IP Address:  67.114.176.115

Name = Kim Do From =  kimdo72@hotmail.com

Moreinfo = Ki'nh gu+?i ca'c dda.o hu+~u trong to^? chu+'c Giao DDie^?m:

Mo^~i na(m va`o mu`a Vu Lan, to^i la.i nho+' dde^'n DDu+'c Bo^` Ta't Mu.c Kie^`n Lie^n.

To^i nho+' nga`i kho^ng nhu+~ng chi? vi` vie^.c nga`i dda~ ti`m ca'ch to? lo`ng hie^'u tha?o muo^'n cu+'u ba` me. va` ca'c sinh linh ddau kho^? kha'c ddang ngo^`i du+o+'i ddi.a ngu.c, va` thi?nh ca^`u DDu+'c Pha^.t Thi'ch Ca Ma^u Ni tro+. giu'p. Va` tu+` ddo' nga`y nay chu'ng ta co'nga`y Vu Lan Tha('ng Ho^.i, "tha'ng 7 nga`y ra(`m xoa' to^.i vong nha^n"!

To^i co`n nho+' dde^'n nga`i vi` nga`i dda~ tu+. nguye^.n da^'n tha^n ddi va`o nho'm dda.o si~ ngoa.i dda.o dde^? gia?i hoa(.c cho ho. bie^'t con ddu+o+`ng ho. ddang theo dduo^?i la` con ddu+o+`ng la^`m la^~n. Va` nga`i dda~ bi. dda'nh che^'t.

Nga`y nay, chu'ng to^i vui mu+`ng khi tha^'y nho'm dda.o hu+~u trong to^? chu+'c Giao DDie^?m cu~ng tie^'p tu.c su+' ma.ng cu?a Bo^` Ta't Mu.c Kie^`n Lie^n, tie^'p no^'i con ddu+o+`ng vo^ uy' cu?a nga`i trong mu.c ddi'ch gia?i hoa(.c va` mo+? ma('t cho nhu+~ng ngu+o+`i co`n vo^ minh ddi tre^n me^ lo^. tu+` ho+n 2000 na(m qua. Vie^.c la`m cu?a quy' dda.o hu+~u la` mo^.t vie^.c la`m dda'ng ki'nh phu.c.

Nha^n mu`a Vu lan, to^i xin cha^n tha`nh ki'nh chu'c quy' dda.o hu+~u va.n su+. kie^'t tu+o+`ng dde^? co' the^? tie^'p no^'i su+' ma.ng thie^ng lie^ng cu?a Bo^` Ta't Mu.c Kie^`n Lie^n, du` ra(`ng con ddu+o+`ng gia?i hoa(.c va` gia'o du.c nhu+~ng ngu+o+`i me^ mo+` ta^m tri' nga`y nay co' the^? cam go va` nhie^`u thu+? tha'ch ga^'p bo^.i la^`n so vo+'i tho+`i dda.i ca'ch dda^y 26 the^' ky?.

Tra^n tro.ng,
DDo^~ Kim."

Để giữ đúng sự trung thực nội dung bức thư, Hoài Vy giữ nguyên font chữ. Vừa đọc qua độc giả có thể nghĩ đây là lá thư độc giả Phật tử gởi tới để làm quen, chúc tụng Giao Điểm nhân trong ngày lễ Vu Lan. Nhưng xin quý bạn lưu ý cho câu này: “Tôi còn nhớ đến ngài vì ngài đã tự nguyện dấn thân đi vào nhóm đạo sĩ ngoại đạo để giải hoặc cho họ biết con đường họ đang theo đuổi là con đường lầm lẫn. Và ngài đã bị đánh chết.” Đối với các bậc thức giả, khi đọc lá thư này người ta nhận ra ngay ý đồ hăm dọa của người viết, nhưng có thể có một số độc giả đã quên câu chuyện Mục Kiền Liên – nguồn gốc lễ Vu Lan của Phật giáo, sẽ không nghĩ ra ý đồ hăm dọa. Vì vậy, Hoài Vy xin phép nêu ra vài điểm để các độc giả này hiểu được lời “kết án” của Hoài Vy với tác giả bức thư – ông Đỗ Kim là đúng.

Trước nhất, sự tích của ngài Mục Kiền Liên : Sự tích của Mục Kiền Liên có đầy trong các sách, báo chí Phật giáo từ trước tới giờ, ngày nay nếu chịu khó, chúng ta cũng có thể đọc được sự tích này trong các website Phật giáo. Hoài Vy chọn bài viết của cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu : “Rằm tháng bảy” (đã được đăng lại trên tờ Pháp Âm số 4&5 năm 2000 tại Na Uy) để tóm lược như sau:

Tôn giả Mục Kiền Liên là vị đệ tử xuất chúng của Đức Phật. Tôn giả đã chứng được lục thông (Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thần túc thông, Lậu tận thông) và chứng được “tuệ nhãn” trong ngũ nhãn (nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn). Chứng được tuệ nhãn thì thấy được sự vật và tự tính của nó. Khi dùng tuệ nhãn để nhìn khắp bốn phương thì Tôn giả thấy vong mẫu của mình đang ở trong loài ngạ quỷ hết sức đau khổ và đói khát. Tôn giả liền bưng bát cơm đến dâng mẹ, nhưng mẹ Tôn giả vì tâm xấu từ kiếp trước vẫn còn nặng nề khởi lên. Bà sợ người khác đến giành dựt cơm hoặc xin bớt đi, nên bà một tay che bát cơm, một tay bốc cơm lên ăn. Nhưng cơm chưa tới miệng đã hóa thành than lửa không sao ăn được. Tôn giả thấy vậy, đau xót tìm cách cứu mẹ, nên về bạch với Đức Phật. Ngài dạy: Tội lỗi của mẹ ngươi dù có thần thông phép lạ cũng không cứu được đâu, chỉ có dùng thần lực của chúng Tăng sau ba tháng an cư tinh tấn tu hành chú nguyện cho may ra mới chuyển hóa được nghiệp lực của mẹ ngươi, thì mẹ ngươi thoát khỏi khổ cảnh mà thôi! Nghe vậy, Tôn giả hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn, con nay làm sao mà mời chư Tăng mười phương cúng dường một lúc như vậy được? Đức Phật dạy rằng: Trong ngày Vu Lan là ngày Tự tứ, ông nên sắm các thứ cúng dường chư Tăng trong ngày Tự tứ, ngày đó dầu các vị trong thiền định, hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tẫp trung lại để Tự tứ và cầu nguyện cho mẹ ngươi, thì mẹ ngươi sẽ được thoát khổ. Tôn giả làm y như lời Phật dạy, và chính trong ngày đó mẹ ngài thoát được cảnh ngạ quỷ. Tôn giả vui mừng và thưa với Đức Thế Tôn rằng, nếu sau này có chúng sinh nào muốn phát tâm hiếu mà cầu nguyện cho cha mẹ thoát khổ được vui thì có làm được như con không? Đức Phật dạy là có thể được trong ngày Tự  tứ. Ý nghĩa của sự tích là Tôn giả Mục Kiền Liên đã nêu lên tấm gương chí hiếu lớn để cho các Phật tử đời đời noi theo. Tôn giả Mục Kiền Liên không những có hiếu trong đời Phật hiện tại mà tiền thân ngài cũng là người con chí hiếu.

Trong tiền kiếp, có một Tôn giả sinh trong một gia đình nông dân. Vì là con một, nên ông được cha mẹ vô cùng thương yêu chiều chuộng. Ông cũng thương yêu cha mẹ không kém, nguyện suốt đời ở độc thân để phụng thờ cha mẹ. Cha mẹ lại ép ông lấy vợ vì sợ con mình cô độc. Ông đành chiều ý cha mẹ.

Không may, vợ chồng ông không tâm đầu ý hiệp. Vợ ông không phải là người phụ nữ thuần lương, nên sau một thời gian cưới về không còn hầu hạ mẹ mình như  Tôn giả mong ước, lại còn rắp tâm để tạo ra những mâu thuẫn giữa mẹ chồng và chồng, làm cho chồng nghĩ mẹ mình là người cay nghiệt. Lời vợ tỉ tê hoài bên tai, đến lúc làm ông xiêu lòng nghe theo, hứa với vợ ‘ta sẽ có cách!’.

Hôm sau, ông thuê xe ngựa, nói dối mời cha mẹ về thăm Từ đường bên ngoại. Khi xe đến một đoạn đường vắng, ông nhảy xuống ngựa, nói dối để bắt cha mẹ cầm cương, còn ông đi sau bảo vệ vì đoạn đường này có nhiều cướp bóc, nhưng thật ra là cốt ý lấy roi quất vào cha mẹ mà rằng “Đã chừa thói cay nghiệt chưa, chừa chưa?”. Cha mẹ ông bị đánh đau, không ngoái đầu nhìn lui vì sợ, vì cứ nghĩ con mình bị cướp đánh, nên tay thì cầm cương mà miệng thì la lên: “Con ơi, con lo chạy đi kẻo nó đánh chết, lo chạy đi con ơi!”. Trong giây phút đó, tiếng nói thương yêu, thiêng liêng của người mẹ đã làm ông sực tỉnh, nghĩ mình thật bất hiếu quá sức nên hồi tâm, cho xe quay về và sám hối cha mẹ. Trở về nhà, ông cho vợ mình về quê và nguyện ở vậy suốt đời để phụng dưỡng cha mẹ. Vị Tôn giả ấy là tiền kiếp của Mục Kiền Liên trong thời Phật tại thế.

Viết lại sự tích của Mục Kiền Liên, cố Hoà thượng Thích Thiện Siêu kết luận : “Câu chuyện của Tôn giả Mục Kiền Liên trong quá khứ và hiện tại như vậy là một bài học cho chúng ta, cho những người con còn biết có mẹ có cha. Phần nhiều ai cũng có lòng hiếu với cha mẹ, nhưng vì không được un đúc, nhắc nhở, không gặp thầy hay bạn tốt nên có khi tâm bị lung lay trở thành bất hiếu. Có trường hợp bất hiếu vì nghe theo bạn ác, có khi nghe theo danh lợi, quyền thế, nghe theo cờ bạc, rượu chè, hoặc có khi làm nên ông này bà nọ rồi lên mặt với cha mẹ, anh em, coi thường bà con cô bác, láng giềng mà trở thành bất hiếu.”

Vào năm 1994, cố học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã dịch “Mục Liên bản hạnh”, một văn bản Nôm, theo cụ là của người Việt viết từ đời Lê. Trong phần dẫn, cụ viết : “đây là chuyện Đức Bồ Tát Mục Liên soạn bằng Việt ngữ xưa, theo thể lục bát, để Phật tử nhớ và tôn sùng một vị La Hán có tiếng rất hiếu hữu, đã cứu mẹ ra khỏi địa ngục. Cũng nhờ hành động của Ngài mà nay có lễ Vu Lan ngày rằm tháng bảy để báo hiếu cho tổ tiên.” Trong bản dịch ra quốc ngữ (theo thể lục bát) của cụ Hoàng Xuân Hãn có 162 vế , 1134 từ và theo cụ, trong văn bản gốc còn giữ được rất nhiều từ , nghĩa và âm cổ được chia ra các phân đoạn : ‘Mục Liên tu đạo; Mẹ ác bị đày; Mục Liên tìm mẹ; Cứu mẹ khỏi tù; Mẹ còn tính ác; Mẹ bị thêm kiếp chó; Mục Liên cứu mẹ; Mục Liên cứu mọi người’. Cũng nên ghi nhận thêm trong phần dẫn của cụ Hãn, văn hoá Phật giáo, tinh thần Tam giáo đồng thể đã được dân tộc ta hội nhập, tiêu hóa và biến thành bản sắc dân tộc riêng của người Việt từ Vua xuống đến dân. Cụ viết : “Một tính cách khác của Phật giáo đời Lê cũng thấy trong văn nầy: ấy là “Tam giáo tĩnh hành”: những quan niệm của Lão và Khổng được ghép vào trong chuyện Phật giáo. Ví như nói đến lễ Trung Nguyên, tức rằm tháng bảy, nói đến chữ Nhân trong cách xử thế, lại không quên ơn Vua và chúc nước vững bền.” (Xem: ‘Mục Liên bản hạnh’, Hoàng Xuân Hãn, báo Pháp Âm số 4 & 5 năm 2000, Na Uy, các trang 73, 74, 75).

Đưa ra các chứng minh từ hai bậc tiền bối khả kính trên, Hoài Vy muốn nhấn mạnh đến câu “Và ngài đã bị đánh chết” (không có tài liệu nào nói ngài Mục Kiền Liên bị đánh chết cả! [ * ] ) trong email của ông Đỗ Kim chứa đựng một sự hăm dọa về tính mạng của kẻ khác rất táo tợn. Ngoài ra, ông Đỗ Kim còn dùng đến từ  “giải hoặc” vốn là chủ trương của Giao Điểm, ẩn ý ông ta muốn nói rằng : cũng như ngài Mục Kiền Liên, những người chủ trương Giao Điểm cũng sẽ bị “đánh chết”! Đây là lời lẽ của một cư sĩ Phật giáo chăng? Chắc chắn là không. Qua sự trùng hợp ngày giờ, thời điểm của tờ truyền đơn và email của ông Đỗ Kim, Hoài Vy thấy có rất nhiều điểm giống nhau, có thể cùng một tác giả, hoặc cùng một phe nhóm. Với tính chất của hình thức khủng bố văn hóa như  Hoài Vy đã bàn ở trên, thì đây là một hành vi “tội phạm” (crime), nhưng vì định nghĩa của sự khủng bố văn hóa quá rộng, trừu tượng, có thể không phù hợp với các luật lệ của các quốc gia chúng ta đang trú ngụ - như Mỹ chẳng hạn, cho nên chúng ta tìm đến một khái niệm pháp lý khác sát sao hơn.

Tìm trong bộ Luật Hình sự của Mỹ, chúng ta thấy họ phân loại “terrorists” (người khủng bố) tuỳ theo động cơ khác nhau như  ý hệ (ideologically motivated) : niềm tin tôn giáo, chính trị; tính cách công dân (citizenship) : người bản xứ hay người nước ngoài; tâm lý nguy hiểm như theo đuổi khát vọng quyền lực (desires sense of power/ psychologically dangerous sociopath) ; thần kinh mất thăng bằng (mentally unstable) ; vì tư lợi hay ý muốn trả thù (personal benefit or revenge benefit). Khủng bố để trả thù tức là thủ phạm tạo nên một sự đau buồn cụ thể hay qua cảm nhận chống lại cá nhân hay tổ chức (offender settles an actual or perceived grievance against an individual or institution). Tội phạm này được gọi cụ thể là “tội  thù ghét” (hate crime). Đặc trưng (Status characteristics) của “tội thù ghét” kẻ khác có thể được xác nhận bởi mọi người dân qua luật pháp, truyền thống hay tập quán... không nhất thiết phải từ nạn nhân (Status characteristics are those material attributes, like race, common to identifiable classes of people that society recognizes through law, tradition or custom). Bộ luật Hình sự của bang California (California Penal Code 422.6) còn ghi rõ về sự trừng phạt của “tội thù ghét” đối với thành viên của các tổ chức tôn giáo, chủng tộc, phái tính (sexual orientation). Mặc dù Tu Chính Án Thứ Nhất của Mỹ (The First Amendment) năm 1791 ghi rõ người dân có “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tụ họp trong trật tự, quyền khiếu nại Chính phủ sửa sai (petition to the Government for redress of grievances)”, với điều kiện không được:

- đe dọa bạo hành thể xác hay gây hư hại vật chất, (physical threat of violence or property damage).
- kích động đưa tới xảy ra tội ác (incite imminent criminality).
- không phỉ báng cá nhân (does not defame a particular individual).
- gạ gẫm hay xúi dục phạm tội (solicit or actively abet criminality).
- và có chứng cớ là một âm mưu (evidence a conspiracy).

Nạn nhân của các hành động khủng bố này có thể viết thư về hỏi các thủ tục pháp lý ở các văn phòng Biện lý liên bang, tiểu bang, thành phố, văn phòng Bộ Tư pháp tiểu bang để hỏi chi tiết, hoặc vào các websites sau đây:

http://www.eeoc.gov/facts/howtofil.html

http://www.hd.gov

http://congress.nw.dc.us/gr/

Trong lúc nhận được tờ truyền đơn “căm thù” Phật giáo nói trên, các vị sư trẻ đã buồn phiền tự hỏi ai mà đi làm những chuyện ‘ác đức’ như vậy? Khi trở về nhà nhận được email của ông Đỗ Kim, Hoài Vy đã nhận ra người viết cố ý làm cho người khác tưởng mình là Phật tử để ‘khủng bố, gây sợ hãi’ , và Hoài Vy nghĩ muốn tìm ra lý lịch thủ phạm là ai cũng dễ thôi. Anh phụ trách web Giao Điểm trong quá khứ từng được huấn luyện về các lãnh vực: Computer mainframe maintenance , Mechanical drafting & Printed Circuit Board Design specialist, Computer Programmer (specialized in COBOL language), Network administration (Cisco systems)... chẳng lẽ bó tay không điều tra ra được tông tích của kẻ viết là ai? (Nói ra điều này Hoài Vy không có ý phô trương, nhưng để độc giả thấy đây là việc không khó khăn lắm). Nghiên cứu thêm thấy giữa email và tờ truyền đơn có mối liên quan rất khắn khít, cho nên tìm ra tông tích một người thì có thể đoán ra cả tập thể. Nhưng để làm gì? Không ích lợi gì hết và chúng tôi cũng thấy chưa cần thiết phải đối đầu với những hiện tượng vi luật kiểu này. Chúng tôi đang làm công việc có tính cách văn hóa, nên chúng tôi sẽ cư xử trong cung cách văn hóa. Những ai (trong đó có thành phần chức sắc, tín đồ Công giáo Rôma) thấy chúng tôi viết về các vấn đề lịch sử, tôn giáo sai lầm xin vạch rõ ra trong tinh thần đối thoại, tranh luận biết tôn trọng luật pháp của xứ dân chủ và tự do mà chúng ta đang sống. Tinh thần căm tức bằng cách rãi truyền đơn và hăm dọa qua emails không những chẳng được gì mà còn tạo thêm hậu quả tồi tệ.

 Viết đến đây Hoài Vy nhớ đã đọc được bài báo “Đi tìm Vu Lan trong mùa xuân” lâu lắm rồi của nhà văn Thế Uyên (tạp chí Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Mãn Giác chủ nhiệm, số 77, tháng 8/91). Trong bài báo ấy, Thế Uyên kể lại chuyện trong những ngày đầu qua Mỹ tìm gặp bạn bè, ân nhân cũ... để tạ ơn và thăm hỏi, trong cuộc mạn đàm trao nhau tiếng cười nói , có người đã đề cập tới bài thơ được đăng trên tạp chí Phật giáo do một thượng tọa chủ trương, như sau:

Nếu đời tôi...
 
Nếu đời tôi có một lần lầm lỡ,
Là nương tay không nỡ giết kẻ thù.
Nếu đời tôi có một lần ngu,
Đó là coi chúng như đồng loại.
Nếu đời tôi có một lần dại,
Đó là nghe chúng lạy van xin.
Nếu đời tôi có một lần bần tiện,
Là chẳng yêu thương nước trọn lòng.
Nếu đời tôi có một lần ước mong,
Đó là giết hết loài giặc Đỏ.
Nếu có quả bom nguyên tử nhỏ,
Tôi mang về thả xuống Hà thành,
Diệt hết bọn trùm uống máu tanh,
Đã hãm hại toàn dân vô tội...
LTT

(Vì tế nhị, nhà văn Thế Uyên không cho biết tên tác giả và xuất xứ tờ báo).

Trong đám bạn của ông Thế Uyên sau khi nghe bài thơ này, có người muốn khóc thét lên được, anh phát biểu:  ông bạn khát máu ấy giết hết một nữa anh em bà con, nội ngoại của tôi rồi còn gì.” Thế Uyên kể tiếp : “Những người khác tham gia tính sổ, chẳng có người nào không chết nhiều hay ít bạn bè bà con vì ‘quả bom nguyên tử thả xuống Hà thành’” (trang 6,7). Thế rồi ông Thế Uyên kết luận bài viết : “Nhìn lại quá khứ dài đặc của Phật giáo, Phật tử  Việt Nam, từ tiền nhân đến gần đây đều hiểu thế nào là Bi, Trí, Dũng. Không có lý gì chúng ta lại duy trì lâu hơn nữa cái tâm lý sợ hãi trốn chạy thời kỳ 75 ấy nữa. Đã đến lúc người Phật tử mỉm cười tự tin và bao dung khi đối diện với một người đảng viên Cộng sản. Chủ nghĩa Mác Lênin của anh đã và đang tàn hay Phật giáo của tôi tiêu tan? Bây giờ đến lúc chúng tôi hay tôi nghe anh?” (trang 11).

Ông thi sĩ Phật tử “khát máu” này từ xúc cảm viết ra thơ, cũng như vị thượng tọa chủ nhiệm tờ báo dù chẳng đặng đừng mà đăng bài thơ đi nữa, đều có ý thức và trách nhiệm về tinh thần của việc mình làm. Tính sổ thời gian thì từ đó đến nay, hơn mười năm qua chúng ta thấy hiện tượng lăng xăng chống Cộng, chính trị vẩn vơ của một số chùa, số sư ở hải ngoại cũng chẳng có gì thay đổi, trong lúc đó câu hỏi của nhà văn Thế Uyên đặt ra “ai nghe ai” đã được chứng thực từ trong nước : từ Nam ra Bắc, từ trên thượng tầng cơ cấu chính trị cho xuống người dân, từ sinh hoạt xã hội bên ngoài, tinh thần bên trong đâu đâu cũng nở rộ tinh thần văn hóa dân tộc. Chùa chiền, mọi nhà khắp nước ngát hương trầm cúng Phật, còn xuyên qua các đại dương vang vọng những hình ảnh, lời thuyết minh về các phong tục, tập quán, lịch sử, tín ngưỡng văn hoá Phật giáo mỗi ngày trên đài truyền hình vệ tinh VTV4 dành cho “đồng bào xa Tổ quốc”. Có thể nói đất nước Việt Nam đầu thế kỷ 21 đang chuẩn bị xu thế tinh thần “Phật giáo Lý Trần thiên hạ bán vi tăng”. Thử hỏi với hiện trạng Phật giáo bên ngoài đất nước như từng xảy ra, chúng ta trách gì với những tờ truyền đơn đầy hận thù, những email hăm dọa bạo hành vẩn vơ như trên? 

Nguyễn Hạnh Hoài Vy – 9/9/02

Ghi chú phụ:

[ * ] Khi đề cập đến điểm này, HV đã phân vân có thể câu chuyện về “sự tích của Ngài Mục Liên” mình chưa nắm rõ : có thể là ngài Mục Liên đã “bị ngoại đạo đánh chết”, và điểm này ông Đỗ Kim (qua email) đã nói đúng. Mấy hôm sau khi bài viết này phổ biến, có người đã cung cấp chúng tôi biết có hai tài liệu đề cập đến dữ kiện này:

1. Tài liệu thứ nhất là “Từ điển Phật Học” của Chân Nguyên Nguyễn Tường Bách, nhà xuất bản Thuận Hóa Huế, 1999, có đoạn viết:

“... Mục Kiền Liên xuất thân từ một gia đình Bà-La-Môn, cùng gia nhập Tăng-già Phật giáo với bạn thân – Xá-Lị-Phất và sớm nổi danh là người đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong một số chùa, người ta thấy tượng của Tôn giả và Xá-Lị-Phất đứng bên tả, và bên hữu của Đức Phật. Trước khi Phật nhập diệt, cả hai vị đều bị ngoại đạo giết chết. Mục Kiền Liên được xem là một trong 12 đệ tử của Phật.” (trang 264)

2. Tài liệu thứ hai, theo ‘Từ điển Phật Học Huệ Quang’ của thầy Thính Minh Cảnh chủ biên, xuất bản trong nước, 1996 có đoạn nói về Ngài Mục Kiến Liên như sau:

Về già, khi đi khất thực trong thành Vương Xá, Ngài gặp bọn Trương Phạm Chí, môn đồ Bà-La-Môn giáo ganh ghét, dùng gạch đánh chết, Đức Phật cho xây tháp thờ Ngài  bên cổng Tịnh Xá Trúc Lâm.” (trang M 4195, 4196)

Cũng như các bạn, Hoài Vy có ảnh hưởng ít nhiều tinh thần Phật Pháp, nên không phải vin vào tài liệu là tin ngay như đinh đóng cột. Trước khi đọc được hai cuốn Từ điển trên vì tính cẩn trọng, HV có liên lạc với một vài bậc Tôn đức để vấn ý. Một trong những bậc đó là Hòa thượng Thích Mãn Giác, hiện trụ trì tại chùa Việt Nam, Los Angeles: Thầy cho biết Ngài Mục Kiền Liên đã tu đạt Thần thông, Huệ nhãn làm sao có chuyện Ngài “bị đánh chết”, còn như trong tiền kiếp (tức trước Ngài tu chứng) điều đó có xảy ra không thì thầy không biết. Những gì thầy được học từ Kinh, Luật, Luận của Nhà Phật từ lúc nhỏ thầy chỉ biết vậy. HV nhận thấy mình có sự tương hợp trong lô-gích mà Hoà thượng đã đưa ra: Ngài Mục Liên đã tu đạt được đến mức đó làm sao có thể bị “tai nạn tàn khốc” như vậy được? Xét thêm, trong tài liệu thứ nhất của ông Nguyễn Tường Bách dựa vào sách tiếng Đức “Lexikon der Ostlichen Weisheisleheren” để dịch ra, nên chúng tôi chưa dám nhìn nhận về sự chính xác của nó; nhưng theo Từ điển của thầy Thích Minh Cảnh, đã liệt kê sự tích Ngài Mục Kiền Liên qua các tài liệu sau: "Theo Kinh Tạng A-Hàm 19,34,43; Kinh Chiêm Ba, Trung A-Hàm 9; Kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thuỳ Miên; Kinh Tăng Nhất A-Hàm 4,12,18,28. Kinh Quý Vô Lượng Thọ; Luật Ma-ha Tăng-kỳ 16; Luật Thập tụng 37..." thì sự phân vân của HV đã thay chỗ cho tin tưởng sự tích đó là đúng “theo Kinh Phật”. HV nhận sự thiếu sót, yếu kém của mình trong biển học mênh mông của Phật Pháp. Kính nhờ các bậc Tôn đức, Trí giả nào đó xin bổ túc thêm cho để cho sự việc được tỏ tường.

Nhưng dù vậy, chủ ý mà HV đem ra bàn luận là “khủng bố văn hóa” và muốn chứng minh các điểm ở dưới (dữ kiện Ngài MKL bị đánh chết có hay không, không phải là vấn đề chính!) :

- Nội dung email của ông ĐK. gởi trùng hợp ngày mà HV. nhận được bản truyền đơn ở Tu viện Kim Sơn. Trong nội dung của nó có chứa đựng tính liên đới với nhau. Mặt khác, bài viết này chỉ nhằm bình luận các vấn liên quan đến tờ truyền đơn thôi và chúng tôi vẫn chưa có những hành động gì đi xa hơn.

- Nội dung của email dù không mang thứ ngôn ngữ vi luật như “obscene, abuse language", nhưng có thể cảm nhận được tính cách hăm dọa có chủ ý (perceived intention) của nó mà HV đã đề cập trong nội dung bài viết.

Cuối cùng chân thành cảm tạ quý vị đã quan tâm tới bài viết này. NHHV. (15/9/2002)

Ý kiến của gs Trần Chung Ngọc:

Theo tài liệu mà tôi có, cuốn “Great Disciples of the Buddha” của Nyanaponika Thera và Hellmuth Hecker, Wisdom Publication, Boston, 1997 thì Mục Kiền Liên bị mấy tên cướp (bandits), được một số người tu lõa thể (naked ascetics) thuê, giết.

Mục Kiền Liên nổi tiếng là có phép thần thông. Trong thời đó, nhiều tín đồ của các môn phái tu khác bỏ môn phái của mình theo Đức Phật. Mấy người tu lõa thể mất uy tín và đổ tội cho Mục kiền Liên, vì có nhiều phép thần thông, nên đã quyến rũ đệ tử họ theo Phật. Họ thuê vài tên cướp đi giết Mục Kiền Liên. Trong sáu lần, Mục Kiền Liên đã biết trước nên dùng thần thông thoát đi. Lý do không phải là Mục Kiền Liên sợ chết, mà muốn tránh cho bọn cướp khỏi phạm sát nghiệp. Tới lần thứ bảy, Mục Kiền Liên biết phải trả một cái nghiệp trong kiếp trước (làm cho cha mẹ chết) nên không thoát nữa, vừa để trả nghiệp vừa để cho bọn cướp được hưởng số tiền mà chúng mong ước.

Những sách tiếng Việt mà tôi có chỉ nói đến những phép thần thông của Mục Kiền Liên chứ không nói đến chi tiết về cái chết của Mục Kiền Liên.

Tôi cho chuyện trên thuộc loại “legend”. Nhưng không phải là Mục Kiền Liên đi truyền đạo mà bị “ngoại đạo đánh chết”

 

 

                                                       Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........