-
CÁI NHÌN CỦA
MỘT PHẬT TỬ VỀ VẦN ĐỀ "HỢP TÁC TÔN GIÁO"
Trần Chung Ngọc
Tôi là một phật tử sống ở một
thành phố nhỏ miền Trung Tây nước Mỹ. Ở đây mùa Đông tuyết phủ ngập
đầu, gió lạnh buốt như dao cắt vào thịt, nên không có nhiều người Việt.
Lẽ dĩ nhiên nơi đây thiếu những sinh hoạt cộng đồng Việt Nam cũng
như sách báo Việt Nam. Tuy vậy, sống nơi đây cũng có cái lợi là khỏi
phải nhìn thấy những cảnh trát bùn vào mặt nhau, và óc cũng đỡ bị ô
nhiễm bởi những tin tức một chiều, lời lẽ thiếu văn hóa và vô đạo
trên các tờ báo có những tên hay nhất, đẹp nhất, cũng như trên các tờ
báo chợ phát không như ở nhiều nơi trên đất Mỹ có đông người Việt.
Vì ở đây không có tiệm sách Việt
và lâu lâu mới có dịp Tây du một chuyến, nên tôi đành phải đọc sách
báo Mỹ. Các Cụ nhà ta ngày xưa đã nhận xét: sĩ phu ba ngày không đọc sách
soi gương mặt mũi đã thấy khó coi. Tuy tuổi đã cao, tôi vẫn muốn thấy
một bộ mặt dễ coi ở trong gương, cho nên tôi đã cố gắng đọc sách
báo hàng ngày, và chính vì vậy mà đầu óc tôi trở nên lệch lạc, lệch
lạc theo quan điểm của một số người mặt mũi vốn đã khó coi (vì
không chịu đọc sách), hoặc của một số người luôn luôn bị những
tình cảm thời thượng hay những xu hướng chính trị hoạt đầu chi phối.
Gần đây, không hiểu duyên lành từ
đâu đưa lại, tôi được cụ Lê Hữu Dản, người mà kẻ hậu sinh này
chưa hề quen biết và cũng chưa hề gặp mặt, gửi cho 2 cuốn "Những
Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật" mà cụ vừa xuất bản, một tặng cho
tôi và một để cho thư viện đại học Wisconsin. Cho nên tôi xin có vài lời
cám ơn cụ. Cám ơn vì đọc trong đó tôi biết được nhiều điều mới lạ,
nhất là những bài liên quan đến vấn đề "Hợp Tác Tôn Giáo".
Đọc xong rồi thì cái nghiệp "soi sáng sự thật" của tôi lại
thúc đẩy tôi viết về vấn đề hợp tác tôn giáo, mà theo cụ Dản, đã
được Tòa Thánh Vatican phát động, và được một số lãnh tụ các tôn
giáo Việt Nam Hải Ngoại hưởng ứng, đẻ ra bản tuyên ngôn Roma 92 và sau
đó thành lập các hội đồng hợp tác tôn giáo Bắc Cali và Nam Cali gì gì
đó v...v...
Mới nghe qua tôi thấy đây là một
phong trào đáng tán thưởng, vì hợp tác thì bao giờ cũng tốt hơn là chia
rẽ, và liên tôn thì bao giờ cũng tốt hơn là độc tôn. Bài học Ngô Đình
Diệm người dân miền Nam vẫn chưa quên, và bài học lớp đồng ấu tôi
vẫn còn nhớ:
- Một cây làm chẳng nên non
- Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy có
nhiều điều không ổn, không ổn vì cái tinh thần phân tích theo khoa học
của tôi không cho phép tôi vội tin trước khi thông suốt vấn đề. Đức
Phật đã chẳng dạy rằng: "Đừng có vội tin vào bất cứ lời
nói nào, cuốn sách nào dù lời nói đó là của bậc Thánh nhân, hay cuốn
sách đó đã được coi như một Thánh thư, mà phải chứng nghiệm những
điều đó vào chính bản bản thân." hay sao? Do đó, công việc đầu
tiên trong vấn đề hòa hợp tôn giáo là phải xét đến cái tinh thần của
Phật Giáo cũng như sách lược hợp tác tôn giáo của Vatican sau Công Đồng
Vatican II. Trong phần sau đây tôi sẽ phân tích vấn đề theo sự hiểu biết
cá nhân. Lẽ dĩ nhiên, tôi ý thức được rằng, ý kiến cá nhân thì bao
giờ cũng hạn hẹp và thiếu sót, và nhất là không bao giờ có thể làm vừa
lòng tất cả mọi người. Tôi cũng ý thức được rằng, ở trong nhiều cộng
đồng người Việt di cư, nơi có những ngừời "ăn cơm nhà vác...biểu
ngữ" chống Cộng toàn thời gian (full time) để tranh đấu cho nền tự
do dân chủ (Mỹ) ở Việt Nam, có muốn viết lách thì cũng phải dè dặt,
vì những cái nón cối như "cộng sản," "thân cộng,"
"theo sách lược cộng sản," "làm tay sai cho cộng sản"
v...v... luôn luôn sẵn sàng để chụp lên đầu bất cứ ai "không viết
theo đúng đường lối dân chủ tự do của phe ta". Cho nên, tôi xin quý
độc giả thông cảm khi thấy tôi viết về một vấn đề tế nhị tôn
giáo mà không phải là viết, vì bài viết của tôi hầu như chỉ góp nhặt
từ sách vở tài liệu trên sách báo, rất ít ý kiến cá nhân. Tuy nhiên,
quân tử phòng thân, hàng ngày tôi tập đều thế quay cổ "Ngũ lao thất
thương vọng hậu tiều" trong Bát Đoạn Cẩm nên cổ tôi khá cứng,
phòng trường hợp có phải đội vài cái nón cối thì cũng chẳng nhằm nhò
gì.
Hợp tác tôn giáo lẽ dĩ nhiên
không phải để làm cảnh mà là để hoạt động cho một mục đích chung
nào đó. Tôn giáo là những tổ chức hoặc hướng dẫn hoặc chỉ đạo
tinh thần, cho nên cái mục đích chung này phải liên quan đến vấn đề
tinh thần, đạo đức của con người, chứ không phải là những mục đích
chính trị thời thượng, bản chất của chúng vốn đã là lừa lọc. Nhưng
tại sao lại phải hợp tác tôn giáo? Phải chăng các tôn giáo vốn đã
chia rẽ và xung đột lẫn nhau nên mới phải hợp tác? Hay là hợp tác với
nhau để thêm sức mạnh? Muốn trả lời những câu hỏi này chúng ta phải
đi vào nguồn gốc của vấn đề: vì lý do nào và từ đâu nảy sinh ra
phong trào hợp tác tôn giáo?
Thực ra, phong trào "hợp tác
tôn giáo" đã do Giáo Hội Tin Lành đề xướng và phát triển từ
lâu. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn "Tài Liệu Vatican II
Với Những Ghi Chú, Bình Luận của Những Giới Chức Có Thẩm Quyền Gia
Tô, Tin Lành và Chính Thống Giáo" (The Documents of Vatican II: With Notes
and Comments by Catholic, Protestant and Orthodox Authorities) , Walter M. Abbott làm Tổng
Chủ Bút (General Editor):
"Trong nhiều thập niên, mỗi
năm vào tháng Giêng, Gia Tô La Mã để ra 8 ngày để cầu nguyện cho sự thống
nhất giáo hội. Cho đến năm 1959, ý tưởng chính trong những ngày đó, từ
18 đến 25 tháng Giêng, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ "trở lại"
giáo hội chân thật duy nhất (nghĩa là Gia Tô La Mã) và Chính Thống Giáo sẽ
dẹp tiệm
Cũng trong những thập niên này, những
tín đồ Tin Lành đã tham gia vào cái về sau đư/ợc gọi là "phong
trào hợp tác tôn giáo". Sự phát triển thành hình Công Đồng Giáo Hội
Toàn Cầu, sự gia tăng trong việc tập hợp các giáo hội Tin Lành địa
phương trên hoàn cầu, sự kết hợp của các giáo hội, tất cả những hoạt
động trên biểu thị một đư/ờng hư/ớng thống nhất. Giáo hội Gia Tô
La Mã vẫn đứng ở ngoài xa. Ở Âu Châu có những trung tâm điều nghiên
Gia Tô quan sát canh chừng những sự phát triển này, nhưng đại cương thì
giáo hội chỉ canh chừng và cầu nguyện, chứ không tham gia cuộc đối thoại
hay cầu nguyện của các giáo hội Tin Lành. Thế rồi Giáo Hoàng John XXIII
lên ngôi và ngày 25 tháng 7 năm 1959 ngài loan báo ý định triệu tập một
công đồng hợp tác tôn giáo."
(Each year in January, for many decades,
Roman Catholics have offered eight days of prayer for Church unity. Until 1959, the
general idea behind those days of prayer, January 18-25, was the hope that the Protestants
would "return" to the one true Church, and that the Orthodox schism would end.
Throughout those same decades, Protestants became more and more involved in what had come
to be called the "ecumenical movement." The development of the World Council of
Churches, the growth of national and world-wide groupings of Protestant Churches, the
merges of Churches - all these expressed the groping toward unity. The Roman Catholic
Church remained aloof. There were Catholic centers of study in Europe that watched
developments, but, in general, the Church watched and prayed without joining in the
dialogue and prayer of the Protestant Churches. Then came Pope John XXIII and, on January
25, 1959, he announcement of his intention to call an Ecumenical Council.)
Vậy, căn bản thì phong trào hợp
tác tôn giáo là để thống nhất các giáo hội Thiên Chúa Giáo: Ca Tô, Tin
Lành, và Chính Thống. Thật vậy, "bản dề nghị sắc lệnh hòa giải
hòa hợp tôn giáo" (conciliar Decree on Ecumenism) gồm có 5 chương. 3
chương đầu nói về nguyên tắc và cách thực hành hòa hợp tôn giáo và
những giao hệ với các giáo hội Tinh lành và Chính Thống. Chương thứ tư
nói về sự giao hệ với người Do Thái; chương thứ năm về tự do tôn
giáo." (There were five chapters. The first three covered principles and
practices of ecumenism and relations with Protestant and Orthodox Churches. The fourth
chapter was on the relations with the Jews; the fifth was on religious freedom.)
Ngày 21 tháng 11 năm 1964, sắc lệnh
được chấp thuận với 2107 phiếu thuận và 11 phiếu chống. Giáo hội Ca
Tô Rô Ma đã chính thức tham gia phong trào hợp tác tôn giáo. Trong sắc lệnh
này, chương thứ tư nói về Do Thái đã được Hồng Y Bea mở rộng để
thêm vào đó một bản tuyên ngôn liên hệ đến các tôn giáo phi-Ki-Tô
(non-Christian religions). Tuy nhiên, đọc toàn bộ văn kiện chúng ta không thấy
một văn kiện nào nói về sự hợp tác tôn giáo với các tôn giáo
phi-Ki-Tô mà chỉ có một "Bản Tuyên Ngôn về Mối Giao Hệ của
Giáo Hội với các Tôn Giáo phi-Ki-Tô" (Declaration on the Relationship of
the Church to non-Christian Religions). Và ngay trong bản tuyên ngôn này, tòa
Thánh vẫn khẳng định là Thần Ca Tô (Catholic God) đã tạo dựng giống
người và con người chỉ có thể có một đời sống tôn giáo đầy đủ
nhất trong Ki-Tô (For all people comprise a single community, and have a single origin,
since God made the whole race of men dwell over the entire face of the earth... Indeed,
she (the church) proclaims and must ever proclaims Christ, "the way, the truth, and
the life", in whom men find the fullness of religious life, and in whom God has
reconciled all things to Himself.)
Một khi đã chấp chặt quan niệm
chân lý chỉ có một thì mọi đối thoại để đi đến sự hòa giải và
hợp tác tôn giáo trở nên vô ích, và bản chất của cái gọi là "hợp
tác tôn giáo" chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi. Đầu môi chót lưỡi
đã mở nhưng tâm thức vẫn còn khép kín trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi
là "Bóng tối dày đặc của Ý Thức Hệ La Mã" (The thick
darkness of Romanism). Muốn hiểu rõ hơn, có lẽ chúng ta nên tìm hiểu thêm một
chút về lý do tại sao tòa Thánh Vatican lại đột nhiên đưa ra chiêu bài
"hợp tác tôn giáo"
Đọc lịch sử Ca-Tô Rô Ma Giáo,
chúng ta thấy rằng trong suốt gần 2000 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ
hòa hợp với bất cứ một tôn giáo nào khác, kể cả những tôn giáo
cùng thờ một Chúa Ki-Tô. Khi ở vị thế có thể nắm quyền thế gian thì
tôn giáo này đã làm đủ mọi cách, dùng mọi quyền lực và thủ đoạn
để bành trướng tôn giáo bằng sắt máu. Đi tới địa phương nào, tôn
giáo này cũng tự cho là cao quý khai phóng nhất, phỉ báng các tôn giáo và
truyền thống dân tộc địa phương và tìm cách tiêu diệt nền văn hóa địa
phương để thay vào đó bằng một nền văn hóa hẹp hòi của Tây phương.
Điều trên đã được chứng minh bởi những lời xin lỗi của John Paul II
với các nước trong Thế Giới Thứ Ba trong nhiều cuộc công du gần đây.
Bỏ qua 8 cuộc Thánh Chiến trong
vòng 1000 năm trong thời kỳ đen tối (Dark ages) của lịch sử nhân loại,
400 năm hình án với những tòa án sử dị giáo tra tấn thiêu sống giết hại
hàng chục triệu người, cuộc tàn sát trong đêm thánh Bartholomew v...v...những
sự kiện thuộc về lịch sử xa xưa, chúng ta chỉ kể đến những sự kiện
lịch sử gần đây mà Vatican đã dính líu: ký hiệp ước với Hitler và
Mussolini, cuộc tàn sát diệt chủng và cưỡng bách cải đạo hơn 700,000
người Chính Thống Giáo trong đệ nhị thế chiến ở Croatia (Xin đọc "The
Vatican's Holocaust" của Avro Manhattan, "Genocide in Satellite
Croatia, 1941-1945: A Record of Racial and Religious Persecutions and Massacres"
của Edmond Paris), chính sách reo rắc thù hận người Do Thái suốt trong gần
2000 năm đã khiến cho hàng triệu người Do Thái phải mất mạng và sống
chui sống lủi trong những ghetto và cũng là một nguyên nhân xa của những
lò sát sinh tại Âu Châu trong kỳ đệ nhị thế chiến (Xin đọc "Our
Hands Are Stained With Blood: The Tragic Story of the "Church" and the Jewish
People" của Michael L. Brown, và "A Legacy of Hatred: Why Christians
Must Not Forget The Holocaust" của David Ạ Rausch), chính sách kỳ thị
tôn giáo và cưỡng bách cải đạo của Ngô Đình Diệm ở Việt Nam
v...v...(Xin đọc "Vietnam: Why Did We Go?" của Avro Manhattan và
hàng trăm cuốn khác về chiến tranh Việt Nam) đã là những bằng chứng
không thể chối cãi về chủ trương Ki Tô hóa của Giáo hội Ca Tô Rô Ma
trong gần 2000 năm qua.
Nhưng, nhân loại càng ngày càng văn
minh tiến bộ, nhất là ở các phương trời Âu Mỹ, không còn chấp nhận
sự hẹp hòi của Ca Tô Giáo nữa theo lời của vị Linh Mục dòng Tên
Malachi Martin: "The sophisticated West can take Catholicism's narrowness no
longer. The Pope realizes that." trong cuốn "The Keys of This
Blood", và trước sự phát triển của Tin Lành và nhất là Hồi
Giáo nên tòa Thánh bắt buộc phải dùng lá bài "hòa hợp tôn
giáo" để chỉnh trang lại cái bộ mặt của mình trong cái cộng đồng
thế giới đa nguyên này. Thực chất của những sách lược này ra sao,
chúng ta phải nhìn kỹ vào những gi Giáo hội đã làm chứ không nên chỉ
nghe những gì Giáo hội nói. (Mượn ý của ông tướng "có ít xít ra
nhiều" Nguyễn Văn Thiệu). Trước hết là vài nhận xét.
Avro Manhattan viết trong cuốn "The
Vatican's Holocaust", xuất bản năm 1986, như sau:
"Giáo hội Gia Tô đột nhiên
tham gia hợp tác tôn giáo là một sách lược cổ điển để làm cho người
ta quên đi cái bản chất bất khoan dung vẫn tồn tại trong giáo hội.
Chúng ta phải nhớ rằng nếu các
tòa án xử dị giáo đã được bãi bỏ từ giữa thế kỷ trước thì cái
Văn Phòng Thánh, nguồn cảm hứng và công cụ của các tòa hình án mới chỉ
được "dẹp bỏ" mới vài năm naỵ Thực ra, Văn phòng này còn
đang hoạt động dưới một cái tên hoa mỹ ở giữa những bức tường kín
đáo trong Vatican.
Một trong những nhiệm vụ chính của
văn phòng này là làm sao cho cái lò sát sinh ở Croatia và cái chế độ gia
tô độc tài ở Việt Nam được quên đi, và trở thành một mẩu ghi chú của
lịch sử xa xôi.
Sách lược này đã thành công một
phần...Không như những trại tập trung kinh khủng của Hitler và Stalin, các
trại tập trung ở Croatia và cảnh Phật tử tự thiêu ở Việt Nam, một
hình thức phản đối sự can thiệp khủng bố tôn giáo của Vatican, đã trở
thành những cấm kỵ trong diễn đàn truyền thông thế giới. (Bây giờ
chúng ta đã hiểu tại sao ở ngoại quốc có cả một chiến dịch phục hồi
tinh thần Ngô Đình Diệm cũng như xuyên tạc và bôi nhọ các cuộc tự
thiêu chống Diệm của Phật Giáo)
Những đoan quyết căn bản của
Gia Tô chưa bao giờ thay đổi tí nào. Cho đến nay cũng như tự bao giờ, sự
chấp chặt của Giáo hội Gia Tô trên tính chất duy nhất của giáo hội vẫn
còn chắc như đá hoa cương. Cũng chính vì những chấp chặt này mà đã xảy
ra tòa án xử dị giáo, Croatia và chế độ độc tài Gia Tô ở Việt Nam.
Nếu quá khứ là một dấu hiệu về
những việc xảy ra trong tương lai thì, khi nắm được cơ hội và ở trong
một bối cảnh chính trị thích nghi, những tòa án xử dị giáo mới, những
Croatia mới và Việt Nam mới sẽ lại được tạo ra hoài hoài. Khi nào, ở
đâu và như thế nào, chỉ có tương lai mới trả lời được."
(The Catholic Church's sudden espousing of
Ecumenism was a classic device to make people forget that her basic spirit of intolerance
is still with her.
It must be remembered that if the
Inquisition was banned, against her will, only during the middle of the last century, the
Holy Office, its inspirer and instrument was "abolished" only a few years ago.
In fact, that it is operating, disguised under a specious name, in the silent walls of the
Vatican of today.
One of its main current tasks is to make
sure that the Croatian Holocaust and the Catholic dictatorship of Vietnam are forgotten,
and become a mere footnote of remote history.
It has partially succeeded...Unlike
Hitler's and Stalin's horrigic concentration camps, the Croatian ones and the Buddhist
self-immolation in Vietnam, as a protest against the Vatican's religious terroristic
interference, have already become taboos to the mass media of the World.
...The Basic Catholic claims have never
changed one single iota. The Catholic Church's insistence about her own uniqueness has
remained as granitically firm now, as it has always been. These are the same claims which
produced the Inquisition, Croatia and the Catholic Dictatorship of Vietnam.
If the past be an indication of the shape
of things to come then, given the right opportunities and appropriate political climate,
New Inquisition, New Croatias and New Vietnams will be created again and again. When,
where and how, only the future will tell)
Trong cuốn "Letters to an
Ex-Priest", linh mục Emmet McLoughlin viết như sau:
"Xếp sòng chuyên chế tư tưởng
con người" trong nhiều thế kỷ (Giáo Hội Ca Tô) nay đã khoác cái áo
huynh đệ hợp tác tôn giáo, được bảo vệ bởi cái khẩu hiệu
"khoan dung" để quyến rũ những nhà cầm quyền cao cấp.." (The
centuries-old mistress of "tyranny over the mind of man" (i.e., the Catholic
Church) clothed now in the robe of Ecumenical Brotherhood, protected by the slogan of
"tolerance", seduces the rulers in high places)
Mục sư David Polish thì cho rằng "bản
tuyên ngôn của Công Đồng Vatican có vẻ kênh kiệu và thiếu tinh thần
hòa giải." Mục sư cho đó là "một thông cáo đơn phương của
một phe tin tưởng rằng có thể chỉnh trang bộ mặt theo ý mình về một
sự sai lầm không được thú nhận"" (Rabbi David Polish finds the
Vatican Council Declaration condescending and lacking the spirit of reconciliation. He
refers to it as "a unilateral pronaoncement by one party which presumes to redress on
its own terms a wrong which it does not admit.)
Và, Giám Mục Emile de Smedt, phát
ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo đã đưa ra nhận
xét sau đây trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963:
"Nhiều người phi-Ca-Tô đã
nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một
loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất
kể đạo đức. TCN), vì đối với họ chúng ta có vẻ như là khi ở thế
thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải được tự do tôn
giáo nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo
đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.
Tại sao lại nói đến đối thoại
với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người
phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo
hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng cái tự do của những người phi-Ca-Tô.
Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn
giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn
toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và chắc nịch rằng
giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng
giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội
phải lên án sự bất khoan dung, cấm đạo cũng như kỳ thị trên căn bản
tự do tôn giáo."
(Many non-Catholics harbor an aversion
against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem
to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation
and at the same time refuse and deny the same religious freedom when Catholics are in the
majority.
Why speak about dialogue with other
Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman
Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?
Every ecumenical "move" of the
Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the
Church states clearly and authoritatively that it will respect the liberty of other
believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns
intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)
Đó là thực chất của sự "hợp
tác tôn giáo" mà Vatican phát động từ năm 1965.
Bây giờ đến một vấn đề thực
tế nhất là sau khi cho phổ biến bản tuyên ngôn nói trên thì giáo hội đã
đạt được những thành quả nào trong việc thực thi hòa giải hòa hợp
tôn giáo? Tôi không mấy quan tâm đến những việc thuộc các tông phái Ki
Tô Giáo nhưng có những sự kiện sau đây chúng ta cần biết: Ca Tô Rô Ma,
Chính Thống Giáo, và Hồi Giáo vẫn tiếp tục giết nhau ở Bosnia. Ca Tô
và Tin Lành vẫn giết nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngày 30 tháng 12 năm 1993, tòa
Thánh Vatican đã ký kết liên lạc ngoại giao với Do Thái, sau 2000 năm bách
hại dân Do Thái, coi họ như là những kẻ thù giết Chúa.
Đối với các tôn giáo phi-Ki-Tô
trong đó có Phật Giáo thì:
Theo tài liệu trong cuốn "Một
Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo" của viện đại học Mahamakut, Thái Lan
(A Plot To Undermine Buddhism, Mahamakut University, 1987) thì ngày 10-5-1984, Hiệp Hội
Bảo Vệ Đạo Pháp Thái Lan đã gửi cho giáo hoàng Jophn Paul II một thư phản
kháng nhân dịp ông đến Thái Lan. Sau khi phàn nàn về việc giáo hội Ca
Tô tại Thái Lan xâm nhập Phật Giáo với nhiều hành động sai trái, theo
chỉ thị của Vatican, có bằng chứng hẳn hoi (The Roman Catholic Church in
Thailand has intruded Buddhism with many unjust actions as shown in the attached Proteting
Memorandum), Hiệp Hội yêu cầu John Paul II ra lệnh cho tín đồ Ca Tô hãuy chấm
dứt xuyên tạc và phá Phật Giáo (To stop the Catholics here in Thailand from
distorting and subverting Buddhism).
Lẽ dĩ nhiên là John Paul II không hề
có một hành động ngăn cản nào để tỏ thiện chí đối với Phật Giáo.
Trái lại:
Năm 1994, John Paul II đã cho xuất bản
cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (Crossing the Threshold of
Hope) trong đó tác giả đã xuyên tạc và hạ thấp tất cả các tôn giáo
phi-Ki-Tô, nhất là Phật Giáo.
Vua không có nói dỡn, vị Giáo
Hoàng "muôn năm trường trị nhất thống sơn hà", đại diện của
Ki-Tô trên trần gian, không thể viết chơi về những vấn đề quan trọng
và tế nhị như là tôn giáo. Và tuy đại diện của Vua đã lên tiếng cải
chánh và xin lỗi Phật Giáo, nhưng sự tác hại đã reo rắc, và vài câu đầu
môi chót lưỡi cũng không vớt vát lại được gì, đây là một chiến thuật
cổ điển (Apologize or not, the harm was done, a classic tactic). Chủ thuyết
Machiavelli vẫn còn thịnh hành trong giáo hội. Nhận định của Avro
Manhattan đã vô cùng chính xác.
Với cái lịch sử thành hình và thực
chất của phong trào "hợp tác tôn giáo" mà tôi đã nghiên cứu và
trình bày ở trên chúng ta nên nghĩ thế nào về cái gọi là phong trào
"hợp tác tôn giáo" của các tôn giáo Việt Nam ở hải ngoại do
tòa Thánh Vatican phát động. Điều rõ ràng là sự "hợp tác tôn
giáo" này nằm trong một sách lược giai đoạn của Vatican với một mục
đích duy nhất: lợi dụng lòng thù ghét Cộng Sản của đa số người Việt
cũ trong những cộng đồng người Việt di cư, làm minh chủ tạo ra một lực
lượng "liên tôn" để làm áp lực với chính quyền đương nhiệm
ở Việt Nam, và nếu nhờ phép lạ thành công thì bao công lao sẽ thu về
cho tòa Thánh, các cộng tác viên Phật Giáo vẫn sẽ được liệt vào hạng
"ma quỷ làm chay cúng ruồi". Và như vậy không phải là đã hợp
tác với mục đích chính yếu là phát huy tinh thần tương thân tương kính
giữa các tôn giáo để sống hòa thuận với nhau, mà là hợp tác để
tăng sức mạnh trong mục đích chống Cộng, xúi bẩy Phật Giáo chống Cộng
thay cho Ca Tô Giáo, trong khi trên thực tế giáo hội Ca Tô vẫn hòa hoãn với
CS ở ngoài mặt, đàng sau thì tìm cách lũng đoạn chính quyền CS, đóng
vai trò ngư ông đắc lợi khi cơ hội đến tay . Mục đích chống Cộng
này là của những chức sắc Ca Tô người Việt yêu nước, độc lập với
sách lược của Vatican, hay là nằm trong sách lược của Vatican?
Riêng đối với Việt Nam, vì có những
sự kiện lịch sử đặc biệt, nên sự hợp tác tôn giáo phải là đường
hướng đi tới việc xóa sạch những nghi kỵ giữa lương, giáo và các
tôn giáo khác. Linh mục Lương Kim Định đã viết rằng trong cuốn "Cẩm
Nang Triết Việt" rằng: "Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt
Nam..đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành 2 phe lương
giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè
nghi kỵ" và rằng: "Xem ra thì mối nghi kỵ giữa lương và
giáo không sao xóa sạch được". Có lẽ linh mục đã nhận ra mấu
chốt của vấn đề, đó là dân tộc tính Việt Nam. Một sự trung thành nước
đôi không thể đưa tới sự hòa hợp thực sự, và nghi kỵ vẫn sẽ còn
tồn tại một khi mà nước Ki-Tô và nước Việt không được dứt khoát
khẳng định ưu tiên về đối tượng của sự trung thành.
Bây giờ tôi xin xét sự việc theo
quan điểm của một phật tử. Trước hết có lẽ chúng ta nên ôn lại
chút ít về bản chất và tinh thần Phật Giáo.
Mọi phật tử chắc cũng đều biết
rằng Phật Giáo là đạo từ bi cho nên trong suốt hơn 2500 năm truyền đạo,
Phật Giáo không làm đổ một giọt máu trong quá trình hoằng dương Đạo
Pháp trên khắp thế giới. Sở dĩ như vậy là đi tới đâu Phật Giáo cũng
hội nhập vào các xã hội địa phương, tôn trọng tín ngưỡng và truyền
thống dân gian địa phương, và chuyển hóa tâm thức dân gian bằng các
giáo lý từ bi khai ngộ. Ngày nay đạo Phật cũng đang đi vào lòng người
trong các xã hội Âu Mỹ một cách rất thoải mái và hòa bình, do đó càng
ngày ảnh hưởng của Phật Giáo càng lên cao ở những nơi này. Cho nên
chúng ta có thể nói trong suốt hơn 2500 năm nay, vòng tay cũng như tâm thức
Phật Giáo luôn luôn mở rộng với tinh thần thực sự hòa hợp với tất
cả các tôn giáo khác có cùng tâm thức. Vậy cái bản chất tự tại của
Phật Giáo là sự hợp tác hòa bình trong những mục đích phúc lợi chung.
Khi nhận lời mời đến họp tại
Vatican, nơi mà tinh thần hòa hợp tôn giáo chưa bao giờ có, để thực hiện
sự hợp tác tôn giáo thì vài quý thầy đã mặc nhiên thừa nhận là có sự
bất hợp tác giữa các tôn giáo rồi. Như vậy là chúng ta đã tự đội lên
đầu cái mũ chia rẽ, trái hẳn với cái tinh thần hòa hợp của Phật
Giáo mà chúng ta luôn luôn làm sáng tỏ. Có thể về phương diện đạo thì
quý thầy không chấp nhất vào những tiểu tiết, nhưng về phương diện
đời thì những phật tử thấp kém như chúng tôi cũng cảm thấy sường
sượng nơi mặt. Sường sượng vì cách hành xử của quý thầy trong việc
này không hợp với những thực tế trật tự trong cõi đời. Tôi xin giải
thích điều này trong một lời đối đáp giả tưởng sau đây:
"Cám ơn quý vị đã mời
chúng tôi tới họp tại tòa Thánh Vatican về vấn đề hợp tác tôn giáo.
Nhưng xét ra thì bản chất của Phật Giáo Việt Nam từ xưa tới nay có
chia rẽ với tôn giáo nào khác đâu? Vậy nếu chúng tôi đáp lời mời tới
Vatican họp thì chúng tôi đã mặc nhiên thừa nhận là chúng tôi cũng đã
dự phần vào việc chia rẽ tôn giáo, như vậy là chúng tôi đã phản bội
cái tinh thần và bản chất hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam rồi. Xét về
lịch sử thì từ trước tới nay quý vị tự tách mình ra khỏi dân tộc
chứ dân tộc có tách ra khỏi quý vị đâu. Từ ngày chúng ta cùng di cư
sang đây quý vị đối với Phật Giáo như thế nào chắc quý vị biết rõ
hơn chúng tôi. Nay quý vị muốn hợp tác với chúng tôi thì mời quý vị cứ
tới, vòng tay và tâm thức chúng tôi lúc nào cũng mở rộng để đón nhận
và hợp tác với tất cả các tôn giáo bạn nào đặt quyền lợi dân tộc
trên hết. Chúng tôi sống cuộc đời giản dị, rau tương qua ngày, và ở
đây phật tử Việt Nam chúng tôi cũng đã tạo dựng nên hơn 130 ngôi
Chùa, Tu Viện, Học Viện v...v..., nếu quý vị muốn, chúng ta có thể mượn
một nơi nào đó bàn việc, đâu có cần gì phải đi tới La Mã cho tốn
kém xa xôi. Chúng tôi là người tu hành, đi đâu cũng được, chẳng chấp
nê tiểu tiết, nhưng còn giới phật tử thì sao, có những nghi thức giao
thiệp cần phải tôn trọng, vì khối Phật Giáo hải ngoại tuy vậy vẫn
chiếm đa số. Chúng tôi không muốn gây sự hiểu lầm với khối phật tử.
Chuyện đạo không thể tách khỏi chuyện đời. Mong quý vị thông cảm."
Trên đây tôi đã trình bày cái
nhìn của tôi về vấn đê hợp tác tôn giáo. Chắc có người sẽ cho rằng
tôi chống hợp tác tôn giáo vì bài viết có vẻ tiêu cực. Qua bài phân
tích ở trên thì vấn đề không phải là ở chỗ tôi chống hay không chống,
mà là ở chỗ sự hợp tác tôn giáo có được thực hiện theo đúng tinh
thần tương thân tương kính, hòa hợp tôn giáo để sống hòa thuận với
nhau chung lo cho đất nước hay không? Các tôn giáo đã hội đủ cái điều
kiện tiên quyết phải có, nghĩa là độc lập, đặt dân tộc trên hết,
để đi tới cuộc hợp tác tôn giáo theo đúng tinh thần như trên chưa? Nếu
hợp tác tôn giáo chỉ với mục đích nhất thời ra tuyên ngôn chống Cộng
thì tôi e rằng Phật Giáo đang rơi vào một sách lược chính trị trong đó
Phật giáo đang đóng vai "cô bé quàng khăn đỏ", rút từ những
kinh nghiệm trên thế giới. .
Cái mạnh của Phật Giáo không phải
là ở những hoạt động chính trị ồn ào, mà là ở những tác phong đạo
đức của các bậc tu hành, những tấm gương sáng để phật tử soi vào.
Cái mạnh của Phật Giáo cũng nằm trong sự đoàn kết nội bộ, có tôn ti
trật tự, và những thái độ dứt khoát đối với những người mang danh
phật tử có những hành động phá hoại Đạo Pháp hay mượn danh Phật Giáo
để mưu đồ danh lợi. Cái mạnh của Phật Giáo cũng còn nằm trong sắc
thái tinh khiết tri túc tiện túc của những tổ chức Phật Giáo , tuyệt
đối không dính líu với bất cứ nguồn tài trợ nào của ngoại bang trong
bất cứ mục đích nào. Và sau cùng, cái mạnh của Phật Giáo cũng do chánh
kiến, phân tích sự việc cho kỹ và cho đúng trước khi có quyết định hành
động.
Mong rằng Phật
Giáo hải ngoại cũng như Phật Giáo nội địa càng ngày càng lớn mạnh.
Trần Chung Ngọc 1995
Mời đọc:
Vấn
đề tôn giáo tại Việt Nam Nhóm nghiên
cứu tôn giáo CL
Liên tôn -
bụi gai nào làm minh chủ? Lý thái
Xuân
Home