>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

CÁI NHÌN CỦA MỘT PHẬT TỬ VỀ VẦN ĐỀ "HỢP TÁC TÔN GIÁO"

Trần Chung Ngọc

Tôi là một phật tử sống ở một thành phố nhỏ miền Trung Tây nước Mỹ. Ở đây mùa Đông tuyết phủ ngập đầu, gió lạnh buốt như dao cắt vào thịt, nên không có nhiều người Việt. Lẽ dĩ nhiên nơi đây thiếu những sinh hoạt cộng đồng Việt Nam cũng như sách báo Việt Nam. Tuy vậy, sống nơi đây cũng có cái lợi là khỏi phải nhìn thấy những cảnh trát bùn vào mặt nhau, và óc cũng đỡ bị ô nhiễm bởi những tin tức một chiều, lời lẽ thiếu văn hóa và vô đạo trên các tờ báo có những tên hay nhất, đẹp nhất, cũng như trên các tờ báo chợ phát không như ở nhiều nơi trên đất Mỹ có đông người Việt.

Vì ở đây không có tiệm sách Việt và lâu lâu mới có dịp Tây du một chuyến, nên tôi đành phải đọc sách báo Mỹ. Các Cụ nhà ta ngày xưa đã nhận xét: sĩ phu ba ngày không đọc sách soi gương mặt mũi đã thấy khó coi. Tuy tuổi đã cao, tôi vẫn muốn thấy một bộ mặt dễ coi ở trong gương, cho nên tôi đã cố gắng đọc sách báo hàng ngày, và chính vì vậy mà đầu óc tôi trở nên lệch lạc, lệch lạc theo quan điểm của một số người mặt mũi vốn đã khó coi (vì không chịu đọc sách), hoặc của một số người luôn luôn bị những tình cảm thời thượng hay những xu hướng chính trị hoạt đầu chi phối.

Gần đây, không hiểu duyên lành từ đâu đưa lại, tôi được cụ Lê Hữu Dản, người mà kẻ hậu sinh này chưa hề quen biết và cũng chưa hề gặp mặt, gửi cho 2 cuốn "Những Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật" mà cụ vừa xuất bản, một tặng cho tôi và một để cho thư viện đại học Wisconsin. Cho nên tôi xin có vài lời cám ơn cụ. Cám ơn vì đọc trong đó tôi biết được nhiều điều mới lạ, nhất là những bài liên quan đến vấn đề "Hợp Tác Tôn Giáo". Đọc xong rồi thì cái nghiệp "soi sáng sự thật" của tôi lại thúc đẩy tôi viết về vấn đề hợp tác tôn giáo, mà theo cụ Dản, đã được Tòa Thánh Vatican phát động, và được một số lãnh tụ các tôn giáo Việt Nam Hải Ngoại hưởng ứng, đẻ ra bản tuyên ngôn Roma 92 và sau đó thành lập các hội đồng hợp tác tôn giáo Bắc Cali và Nam Cali gì gì đó v...v...

Mới nghe qua tôi thấy đây là một phong trào đáng tán thưởng, vì hợp tác thì bao giờ cũng tốt hơn là chia rẽ, và liên tôn thì bao giờ cũng tốt hơn là độc tôn. Bài học Ngô Đình Diệm người dân miền Nam vẫn chưa quên, và bài học lớp đồng ấu tôi vẫn còn nhớ:

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy có nhiều điều không ổn, không ổn vì cái tinh thần phân tích theo khoa học của tôi không cho phép tôi vội tin trước khi thông suốt vấn đề. Đức Phật đã chẳng dạy rằng: "Đừng có vội tin vào bất cứ lời nói nào, cuốn sách nào dù lời nói đó là của bậc Thánh nhân, hay cuốn sách đó đã được coi như một Thánh thư, mà phải chứng nghiệm những điều đó vào chính bản bản thân." hay sao? Do đó, công việc đầu tiên trong vấn đề hòa hợp tôn giáo là phải xét đến cái tinh thần của Phật Giáo cũng như sách lược hợp tác tôn giáo của Vatican sau Công Đồng Vatican II. Trong phần sau đây tôi sẽ phân tích vấn đề theo sự hiểu biết cá nhân. Lẽ dĩ nhiên, tôi ý thức được rằng, ý kiến cá nhân thì bao giờ cũng hạn hẹp và thiếu sót, và nhất là không bao giờ có thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Tôi cũng ý thức được rằng, ở trong nhiều cộng đồng người Việt di cư, nơi có những ngừời "ăn cơm nhà vác...biểu ngữ" chống Cộng toàn thời gian (full time) để tranh đấu cho nền tự do dân chủ (Mỹ) ở Việt Nam, có muốn viết lách thì cũng phải dè dặt, vì những cái nón cối như "cộng sản," "thân cộng," "theo sách lược cộng sản," "làm tay sai cho cộng sản" v...v... luôn luôn sẵn sàng để chụp lên đầu bất cứ ai "không viết theo đúng đường lối dân chủ tự do của phe ta". Cho nên, tôi xin quý độc giả thông cảm khi thấy tôi viết về một vấn đề tế nhị tôn giáo mà không phải là viết, vì bài viết của tôi hầu như chỉ góp nhặt từ sách vở tài liệu trên sách báo, rất ít ý kiến cá nhân. Tuy nhiên, quân tử phòng thân, hàng ngày tôi tập đều thế quay cổ "Ngũ lao thất thương vọng hậu tiều" trong Bát Đoạn Cẩm nên cổ tôi khá cứng, phòng trường hợp có phải đội vài cái nón cối thì cũng chẳng nhằm nhò gì.

Hợp tác tôn giáo lẽ dĩ nhiên không phải để làm cảnh mà là để hoạt động cho một mục đích chung nào đó. Tôn giáo là những tổ chức hoặc hướng dẫn hoặc chỉ đạo tinh thần, cho nên cái mục đích chung này phải liên quan đến vấn đề tinh thần, đạo đức của con người, chứ không phải là những mục đích chính trị thời thượng, bản chất của chúng vốn đã là lừa lọc. Nhưng tại sao lại phải hợp tác tôn giáo? Phải chăng các tôn giáo vốn đã chia rẽ và xung đột lẫn nhau nên mới phải hợp tác? Hay là hợp tác với nhau để thêm sức mạnh? Muốn trả lời những câu hỏi này chúng ta phải đi vào nguồn gốc của vấn đề: vì lý do nào và từ đâu nảy sinh ra phong trào hợp tác tôn giáo?

Thực ra, phong trào "hợp tác tôn giáo" đã do Giáo Hội Tin Lành đề xướng và phát triển từ lâu. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn "Tài Liệu Vatican II Với Những Ghi Chú, Bình Luận của Những Giới Chức Có Thẩm Quyền Gia Tô, Tin Lành và Chính Thống Giáo" (The Documents of Vatican II: With Notes and Comments by Catholic, Protestant and Orthodox Authorities) , Walter M. Abbott làm Tổng Chủ Bút (General Editor):

"Trong nhiều thập niên, mỗi năm vào tháng Giêng, Gia Tô La Mã để ra 8 ngày để cầu nguyện cho sự thống nhất giáo hội. Cho đến năm 1959, ý tưởng chính trong những ngày đó, từ 18 đến 25 tháng Giêng, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ "trở lại" giáo hội chân thật duy nhất (nghĩa là Gia Tô La Mã) và Chính Thống Giáo sẽ dẹp tiệm

Cũng trong những thập niên này, những tín đồ Tin Lành đã tham gia vào cái về sau đư/ợc gọi là "phong trào hợp tác tôn giáo". Sự phát triển thành hình Công Đồng Giáo Hội Toàn Cầu, sự gia tăng trong việc tập hợp các giáo hội Tin Lành địa phương trên hoàn cầu, sự kết hợp của các giáo hội, tất cả những hoạt động trên biểu thị một đư/ờng hư/ớng thống nhất. Giáo hội Gia Tô La Mã vẫn đứng ở ngoài xa. Ở Âu Châu có những trung tâm điều nghiên Gia Tô quan sát canh chừng những sự phát triển này, nhưng đại cương thì giáo hội chỉ canh chừng và cầu nguyện, chứ không tham gia cuộc đối thoại hay cầu nguyện của các giáo hội Tin Lành. Thế rồi Giáo Hoàng John XXIII lên ngôi và ngày 25 tháng 7 năm 1959 ngài loan báo ý định triệu tập một công đồng hợp tác tôn giáo."

(Each year in January, for many decades, Roman Catholics have offered eight days of prayer for Church unity. Until 1959, the general idea behind those days of prayer, January 18-25, was the hope that the Protestants would "return" to the one true Church, and that the Orthodox schism would end. Throughout those same decades, Protestants became more and more involved in what had come to be called the "ecumenical movement." The development of the World Council of Churches, the growth of national and world-wide groupings of Protestant Churches, the merges of Churches - all these expressed the groping toward unity. The Roman Catholic Church remained aloof. There were Catholic centers of study in Europe that watched developments, but, in general, the Church watched and prayed without joining in the dialogue and prayer of the Protestant Churches. Then came Pope John XXIII and, on January 25, 1959, he announcement of his intention to call an Ecumenical Council.)

Vậy, căn bản thì phong trào hợp tác tôn giáo là để thống nhất các giáo hội Thiên Chúa Giáo: Ca Tô, Tin Lành, và Chính Thống. Thật vậy, "bản dề nghị sắc lệnh hòa giải hòa hợp tôn giáo" (conciliar Decree on Ecumenism) gồm có 5 chương. 3 chương đầu nói về nguyên tắc và cách thực hành hòa hợp tôn giáo và những giao hệ với các giáo hội Tinh lành và Chính Thống. Chương thứ tư nói về sự giao hệ với người Do Thái; chương thứ năm về tự do tôn giáo." (There were five chapters. The first three covered principles and practices of ecumenism and relations with Protestant and Orthodox Churches. The fourth chapter was on the relations with the Jews; the fifth was on religious freedom.)

Ngày 21 tháng 11 năm 1964, sắc lệnh được chấp thuận với 2107 phiếu thuận và 11 phiếu chống. Giáo hội Ca Tô Rô Ma đã chính thức tham gia phong trào hợp tác tôn giáo. Trong sắc lệnh này, chương thứ tư nói về Do Thái đã được Hồng Y Bea mở rộng để thêm vào đó một bản tuyên ngôn liên hệ đến các tôn giáo phi-Ki-Tô (non-Christian religions). Tuy nhiên, đọc toàn bộ văn kiện chúng ta không thấy một văn kiện nào nói về sự hợp tác tôn giáo với các tôn giáo phi-Ki-Tô mà chỉ có một "Bản Tuyên Ngôn về Mối Giao Hệ của Giáo Hội với các Tôn Giáo phi-Ki-Tô" (Declaration on the Relationship of the Church to non-Christian Religions). Và ngay trong bản tuyên ngôn này, tòa Thánh vẫn khẳng định là Thần Ca Tô (Catholic God) đã tạo dựng giống người và con người chỉ có thể có một đời sống tôn giáo đầy đủ nhất trong Ki-Tô (For all people comprise a single community, and have a single origin, since God made the whole race of men dwell over the entire face of the earth... Indeed, she (the church) proclaims and must ever proclaims Christ, "the way, the truth, and the life", in whom men find the fullness of religious life, and in whom God has reconciled all things to Himself.)

Một khi đã chấp chặt quan niệm chân lý chỉ có một thì mọi đối thoại để đi đến sự hòa giải và hợp tác tôn giáo trở nên vô ích, và bản chất của cái gọi là "hợp tác tôn giáo" chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi. Đầu môi chót lưỡi đã mở nhưng tâm thức vẫn còn khép kín trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là "Bóng tối dày đặc của Ý Thức Hệ La Mã" (The thick darkness of Romanism). Muốn hiểu rõ hơn, có lẽ chúng ta nên tìm hiểu thêm một chút về lý do tại sao tòa Thánh Vatican lại đột nhiên đưa ra chiêu bài "hợp tác tôn giáo"

Đọc lịch sử Ca-Tô Rô Ma Giáo, chúng ta thấy rằng trong suốt gần 2000 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ hòa hợp với bất cứ một tôn giáo nào khác, kể cả những tôn giáo cùng thờ một Chúa Ki-Tô. Khi ở vị thế có thể nắm quyền thế gian thì tôn giáo này đã làm đủ mọi cách, dùng mọi quyền lực và thủ đoạn để bành trướng tôn giáo bằng sắt máu. Đi tới địa phương nào, tôn giáo này cũng tự cho là cao quý khai phóng nhất, phỉ báng các tôn giáo và truyền thống dân tộc địa phương và tìm cách tiêu diệt nền văn hóa địa phương để thay vào đó bằng một nền văn hóa hẹp hòi của Tây phương. Điều trên đã được chứng minh bởi những lời xin lỗi của John Paul II với các nước trong Thế Giới Thứ Ba trong nhiều cuộc công du gần đây.

Bỏ qua 8 cuộc Thánh Chiến trong vòng 1000 năm trong thời kỳ đen tối (Dark ages) của lịch sử nhân loại, 400 năm hình án với những tòa án sử dị giáo tra tấn thiêu sống giết hại hàng chục triệu người, cuộc tàn sát trong đêm thánh Bartholomew v...v...những sự kiện thuộc về lịch sử xa xưa, chúng ta chỉ kể đến những sự kiện lịch sử gần đây mà Vatican đã dính líu: ký hiệp ước với Hitler và Mussolini, cuộc tàn sát diệt chủng và cưỡng bách cải đạo hơn 700,000 người Chính Thống Giáo trong đệ nhị thế chiến ở Croatia (Xin đọc "The Vatican's Holocaust" của Avro Manhattan, "Genocide in Satellite Croatia, 1941-1945: A Record of Racial and Religious Persecutions and Massacres" của Edmond Paris), chính sách reo rắc thù hận người Do Thái suốt trong gần 2000 năm đã khiến cho hàng triệu người Do Thái phải mất mạng và sống chui sống lủi trong những ghetto và cũng là một nguyên nhân xa của những lò sát sinh tại Âu Châu trong kỳ đệ nhị thế chiến (Xin đọc "Our Hands Are Stained With Blood: The Tragic Story of the "Church" and the Jewish People" của Michael L. Brown, và "A Legacy of Hatred: Why Christians Must Not Forget The Holocaust" của David Ạ Rausch), chính sách kỳ thị tôn giáo và cưỡng bách cải đạo của Ngô Đình Diệm ở Việt Nam v...v...(Xin đọc "Vietnam: Why Did We Go?" của Avro Manhattan và hàng trăm cuốn khác về chiến tranh Việt Nam) đã là những bằng chứng không thể chối cãi về chủ trương Ki Tô hóa của Giáo hội Ca Tô Rô Ma trong gần 2000 năm qua.

Nhưng, nhân loại càng ngày càng văn minh tiến bộ, nhất là ở các phương trời Âu Mỹ, không còn chấp nhận sự hẹp hòi của Ca Tô Giáo nữa theo lời của vị Linh Mục dòng Tên Malachi Martin: "The sophisticated West can take Catholicism's narrowness no longer. The Pope realizes that." trong cuốn "The Keys of This Blood", và trước sự phát triển của Tin Lành và nhất là Hồi Giáo nên tòa Thánh bắt buộc phải dùng lá bài "hòa hợp tôn giáo" để chỉnh trang lại cái bộ mặt của mình trong cái cộng đồng thế giới đa nguyên này. Thực chất của những sách lược này ra sao, chúng ta phải nhìn kỹ vào những gi Giáo hội đã làm chứ không nên chỉ nghe những gì Giáo hội nói. (Mượn ý của ông tướng "có ít xít ra nhiều" Nguyễn Văn Thiệu). Trước hết là vài nhận xét.

Avro Manhattan viết trong cuốn "The Vatican's Holocaust", xuất bản năm 1986, như sau:

"Giáo hội Gia Tô đột nhiên tham gia hợp tác tôn giáo là một sách lược cổ điển để làm cho người ta quên đi cái bản chất bất khoan dung vẫn tồn tại trong giáo hội.

Chúng ta phải nhớ rằng nếu các tòa án xử dị giáo đã được bãi bỏ từ giữa thế kỷ trước thì cái Văn Phòng Thánh, nguồn cảm hứng và công cụ của các tòa hình án mới chỉ được "dẹp bỏ" mới vài năm naỵ Thực ra, Văn phòng này còn đang hoạt động dưới một cái tên hoa mỹ ở giữa những bức tường kín đáo trong Vatican.

Một trong những nhiệm vụ chính của văn phòng này là làm sao cho cái lò sát sinh ở Croatia và cái chế độ gia tô độc tài ở Việt Nam được quên đi, và trở thành một mẩu ghi chú của lịch sử xa xôi.

Sách lược này đã thành công một phần...Không như những trại tập trung kinh khủng của Hitler và Stalin, các trại tập trung ở Croatia và cảnh Phật tử tự thiêu ở Việt Nam, một hình thức phản đối sự can thiệp khủng bố tôn giáo của Vatican, đã trở thành những cấm kỵ trong diễn đàn truyền thông thế giới. (Bây giờ chúng ta đã hiểu tại sao ở ngoại quốc có cả một chiến dịch phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm cũng như xuyên tạc và bôi nhọ các cuộc tự thiêu chống Diệm của Phật Giáo)

Những đoan quyết căn bản của Gia Tô chưa bao giờ thay đổi tí nào. Cho đến nay cũng như tự bao giờ, sự chấp chặt của Giáo hội Gia Tô trên tính chất duy nhất của giáo hội vẫn còn chắc như đá hoa cương. Cũng chính vì những chấp chặt này mà đã xảy ra tòa án xử dị giáo, Croatia và chế độ độc tài Gia Tô ở Việt Nam.

Nếu quá khứ là một dấu hiệu về những việc xảy ra trong tương lai thì, khi nắm được cơ hội và ở trong một bối cảnh chính trị thích nghi, những tòa án xử dị giáo mới, những Croatia mới và Việt Nam mới sẽ lại được tạo ra hoài hoài. Khi nào, ở đâu và như thế nào, chỉ có tương lai mới trả lời được."

(The Catholic Church's sudden espousing of Ecumenism was a classic device to make people forget that her basic spirit of intolerance is still with her.

It must be remembered that if the Inquisition was banned, against her will, only during the middle of the last century, the Holy Office, its inspirer and instrument was "abolished" only a few years ago. In fact, that it is operating, disguised under a specious name, in the silent walls of the Vatican of today.

One of its main current tasks is to make sure that the Croatian Holocaust and the Catholic dictatorship of Vietnam are forgotten, and become a mere footnote of remote history.

It has partially succeeded...Unlike Hitler's and Stalin's horrigic concentration camps, the Croatian ones and the Buddhist self-immolation in Vietnam, as a protest against the Vatican's religious terroristic interference, have already become taboos to the mass media of the World.

...The Basic Catholic claims have never changed one single iota. The Catholic Church's insistence about her own uniqueness has remained as granitically firm now, as it has always been. These are the same claims which produced the Inquisition, Croatia and the Catholic Dictatorship of Vietnam.

If the past be an indication of the shape of things to come then, given the right opportunities and appropriate political climate, New Inquisition, New Croatias and New Vietnams will be created again and again. When, where and how, only the future will tell)

Trong cuốn "Letters to an Ex-Priest", linh mục Emmet McLoughlin viết như sau:

"Xếp sòng chuyên chế tư tưởng con người" trong nhiều thế kỷ (Giáo Hội Ca Tô) nay đã khoác cái áo huynh đệ hợp tác tôn giáo, được bảo vệ bởi cái khẩu hiệu "khoan dung" để quyến rũ những nhà cầm quyền cao cấp.." (The centuries-old mistress of "tyranny over the mind of man" (i.e., the Catholic Church) clothed now in the robe of Ecumenical Brotherhood, protected by the slogan of "tolerance", seduces the rulers in high places)

Mục sư David Polish thì cho rằng "bản tuyên ngôn của Công Đồng Vatican có vẻ kênh kiệu và thiếu tinh thần hòa giải." Mục sư cho đó là "một thông cáo đơn phương của một phe tin tưởng rằng có thể chỉnh trang bộ mặt theo ý mình về một sự sai lầm không được thú nhận"" (Rabbi David Polish finds the Vatican Council Declaration condescending and lacking the spirit of reconciliation. He refers to it as "a unilateral pronaoncement by one party which presumes to redress on its own terms a wrong which it does not admit.)

Và, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo đã đưa ra nhận xét sau đây trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963:

"Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất kể đạo đức. TCN), vì đối với họ chúng ta có vẻ như là khi ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải được tự do tôn giáo nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.

Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng cái tự do của những người phi-Ca-Tô.

Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và chắc nịch rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội phải lên án sự bất khoan dung, cấm đạo cũng như kỳ thị trên căn bản tự do tôn giáo."

(Many non-Catholics harbor an aversion against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation and at the same time refuse and deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.

Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?

Every ecumenical "move" of the Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively that it will respect the liberty of other believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.)

Đó là thực chất của sự "hợp tác tôn giáo" mà Vatican phát động từ năm 1965.

Bây giờ đến một vấn đề thực tế nhất là sau khi cho phổ biến bản tuyên ngôn nói trên thì giáo hội đã đạt được những thành quả nào trong việc thực thi hòa giải hòa hợp tôn giáo? Tôi không mấy quan tâm đến những việc thuộc các tông phái Ki Tô Giáo nhưng có những sự kiện sau đây chúng ta cần biết: Ca Tô Rô Ma, Chính Thống Giáo, và Hồi Giáo vẫn tiếp tục giết nhau ở Bosnia. Ca Tô và Tin Lành vẫn giết nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngày 30 tháng 12 năm 1993, tòa Thánh Vatican đã ký kết liên lạc ngoại giao với Do Thái, sau 2000 năm bách hại dân Do Thái, coi họ như là những kẻ thù giết Chúa.

Đối với các tôn giáo phi-Ki-Tô trong đó có Phật Giáo thì:

Theo tài liệu trong cuốn "Một Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo" của viện đại học Mahamakut, Thái Lan (A Plot To Undermine Buddhism, Mahamakut University, 1987) thì ngày 10-5-1984, Hiệp Hội Bảo Vệ Đạo Pháp Thái Lan đã gửi cho giáo hoàng Jophn Paul II một thư phản kháng nhân dịp ông đến Thái Lan. Sau khi phàn nàn về việc giáo hội Ca Tô tại Thái Lan xâm nhập Phật Giáo với nhiều hành động sai trái, theo chỉ thị của Vatican, có bằng chứng hẳn hoi (The Roman Catholic Church in Thailand has intruded Buddhism with many unjust actions as shown in the attached Proteting Memorandum), Hiệp Hội yêu cầu John Paul II ra lệnh cho tín đồ Ca Tô hãuy chấm dứt xuyên tạc và phá Phật Giáo (To stop the Catholics here in Thailand from distorting and subverting Buddhism).

Lẽ dĩ nhiên là John Paul II không hề có một hành động ngăn cản nào để tỏ thiện chí đối với Phật Giáo. Trái lại:

Năm 1994, John Paul II đã cho xuất bản cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (Crossing the Threshold of Hope) trong đó tác giả đã xuyên tạc và hạ thấp tất cả các tôn giáo phi-Ki-Tô, nhất là Phật Giáo.

Vua không có nói dỡn, vị Giáo Hoàng "muôn năm trường trị nhất thống sơn hà", đại diện của Ki-Tô trên trần gian, không thể viết chơi về những vấn đề quan trọng và tế nhị như là tôn giáo. Và tuy đại diện của Vua đã lên tiếng cải chánh và xin lỗi Phật Giáo, nhưng sự tác hại đã reo rắc, và vài câu đầu môi chót lưỡi cũng không vớt vát lại được gì, đây là một chiến thuật cổ điển (Apologize or not, the harm was done, a classic tactic). Chủ thuyết Machiavelli vẫn còn thịnh hành trong giáo hội. Nhận định của Avro Manhattan đã vô cùng chính xác.

Với cái lịch sử thành hình và thực chất của phong trào "hợp tác tôn giáo" mà tôi đã nghiên cứu và trình bày ở trên chúng ta nên nghĩ thế nào về cái gọi là phong trào "hợp tác tôn giáo" của các tôn giáo Việt Nam ở hải ngoại do tòa Thánh Vatican phát động. Điều rõ ràng là sự "hợp tác tôn giáo" này nằm trong một sách lược giai đoạn của Vatican với một mục đích duy nhất: lợi dụng lòng thù ghét Cộng Sản của đa số người Việt cũ trong những cộng đồng người Việt di cư, làm minh chủ tạo ra một lực lượng "liên tôn" để làm áp lực với chính quyền đương nhiệm ở Việt Nam, và nếu nhờ phép lạ thành công thì bao công lao sẽ thu về cho tòa Thánh, các cộng tác viên Phật Giáo vẫn sẽ được liệt vào hạng "ma quỷ làm chay cúng ruồi". Và như vậy không phải là đã hợp tác với mục đích chính yếu là phát huy tinh thần tương thân tương kính giữa các tôn giáo để sống hòa thuận với nhau, mà là hợp tác để tăng sức mạnh trong mục đích chống Cộng, xúi bẩy Phật Giáo chống Cộng thay cho Ca Tô Giáo, trong khi trên thực tế giáo hội Ca Tô vẫn hòa hoãn với CS ở ngoài mặt, đàng sau thì tìm cách lũng đoạn chính quyền CS, đóng vai trò ngư ông đắc lợi khi cơ hội đến tay . Mục đích chống Cộng này là của những chức sắc Ca Tô người Việt yêu nước, độc lập với sách lược của Vatican, hay là nằm trong sách lược của Vatican?

Riêng đối với Việt Nam, vì có những sự kiện lịch sử đặc biệt, nên sự hợp tác tôn giáo phải là đường hướng đi tới việc xóa sạch những nghi kỵ giữa lương, giáo và các tôn giáo khác. Linh mục Lương Kim Định đã viết rằng trong cuốn "Cẩm Nang Triết Việt" rằng: "Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam..đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành 2 phe lương giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ" và rằng: "Xem ra thì mối nghi kỵ giữa lương và giáo không sao xóa sạch được". Có lẽ linh mục đã nhận ra mấu chốt của vấn đề, đó là dân tộc tính Việt Nam. Một sự trung thành nước đôi không thể đưa tới sự hòa hợp thực sự, và nghi kỵ vẫn sẽ còn tồn tại một khi mà nước Ki-Tô và nước Việt không được dứt khoát khẳng định ưu tiên về đối tượng của sự trung thành.

Bây giờ tôi xin xét sự việc theo quan điểm của một phật tử. Trước hết có lẽ chúng ta nên ôn lại chút ít về bản chất và tinh thần Phật Giáo.

Mọi phật tử chắc cũng đều biết rằng Phật Giáo là đạo từ bi cho nên trong suốt hơn 2500 năm truyền đạo, Phật Giáo không làm đổ một giọt máu trong quá trình hoằng dương Đạo Pháp trên khắp thế giới. Sở dĩ như vậy là đi tới đâu Phật Giáo cũng hội nhập vào các xã hội địa phương, tôn trọng tín ngưỡng và truyền thống dân gian địa phương, và chuyển hóa tâm thức dân gian bằng các giáo lý từ bi khai ngộ. Ngày nay đạo Phật cũng đang đi vào lòng người trong các xã hội Âu Mỹ một cách rất thoải mái và hòa bình, do đó càng ngày ảnh hưởng của Phật Giáo càng lên cao ở những nơi này. Cho nên chúng ta có thể nói trong suốt hơn 2500 năm nay, vòng tay cũng như tâm thức Phật Giáo luôn luôn mở rộng với tinh thần thực sự hòa hợp với tất cả các tôn giáo khác có cùng tâm thức. Vậy cái bản chất tự tại của Phật Giáo là sự hợp tác hòa bình trong những mục đích phúc lợi chung.

Khi nhận lời mời đến họp tại Vatican, nơi mà tinh thần hòa hợp tôn giáo chưa bao giờ có, để thực hiện sự hợp tác tôn giáo thì vài quý thầy đã mặc nhiên thừa nhận là có sự bất hợp tác giữa các tôn giáo rồi. Như vậy là chúng ta đã tự đội lên đầu cái mũ chia rẽ, trái hẳn với cái tinh thần hòa hợp của Phật Giáo mà chúng ta luôn luôn làm sáng tỏ. Có thể về phương diện đạo thì quý thầy không chấp nhất vào những tiểu tiết, nhưng về phương diện đời thì những phật tử thấp kém như chúng tôi cũng cảm thấy sường sượng nơi mặt. Sường sượng vì cách hành xử của quý thầy trong việc này không hợp với những thực tế trật tự trong cõi đời. Tôi xin giải thích điều này trong một lời đối đáp giả tưởng sau đây:

"Cám ơn quý vị đã mời chúng tôi tới họp tại tòa Thánh Vatican về vấn đề hợp tác tôn giáo. Nhưng xét ra thì bản chất của Phật Giáo Việt Nam từ xưa tới nay có chia rẽ với tôn giáo nào khác đâu? Vậy nếu chúng tôi đáp lời mời tới Vatican họp thì chúng tôi đã mặc nhiên thừa nhận là chúng tôi cũng đã dự phần vào việc chia rẽ tôn giáo, như vậy là chúng tôi đã phản bội cái tinh thần và bản chất hòa hợp của Phật Giáo Việt Nam rồi. Xét về lịch sử thì từ trước tới nay quý vị tự tách mình ra khỏi dân tộc chứ dân tộc có tách ra khỏi quý vị đâu. Từ ngày chúng ta cùng di cư sang đây quý vị đối với Phật Giáo như thế nào chắc quý vị biết rõ hơn chúng tôi. Nay quý vị muốn hợp tác với chúng tôi thì mời quý vị cứ tới, vòng tay và tâm thức chúng tôi lúc nào cũng mở rộng để đón nhận và hợp tác với tất cả các tôn giáo bạn nào đặt quyền lợi dân tộc trên hết. Chúng tôi sống cuộc đời giản dị, rau tương qua ngày, và ở đây phật tử Việt Nam chúng tôi cũng đã tạo dựng nên hơn 130 ngôi Chùa, Tu Viện, Học Viện v...v..., nếu quý vị muốn, chúng ta có thể mượn một nơi nào đó bàn việc, đâu có cần gì phải đi tới La Mã cho tốn kém xa xôi. Chúng tôi là người tu hành, đi đâu cũng được, chẳng chấp nê tiểu tiết, nhưng còn giới phật tử thì sao, có những nghi thức giao thiệp cần phải tôn trọng, vì khối Phật Giáo hải ngoại tuy vậy vẫn chiếm đa số. Chúng tôi không muốn gây sự hiểu lầm với khối phật tử. Chuyện đạo không thể tách khỏi chuyện đời. Mong quý vị thông cảm."

Trên đây tôi đã trình bày cái nhìn của tôi về vấn đê hợp tác tôn giáo. Chắc có người sẽ cho rằng tôi chống hợp tác tôn giáo vì bài viết có vẻ tiêu cực. Qua bài phân tích ở trên thì vấn đề không phải là ở chỗ tôi chống hay không chống, mà là ở chỗ sự hợp tác tôn giáo có được thực hiện theo đúng tinh thần tương thân tương kính, hòa hợp tôn giáo để sống hòa thuận với nhau chung lo cho đất nước hay không? Các tôn giáo đã hội đủ cái điều kiện tiên quyết phải có, nghĩa là độc lập, đặt dân tộc trên hết, để đi tới cuộc hợp tác tôn giáo theo đúng tinh thần như trên chưa? Nếu hợp tác tôn giáo chỉ với mục đích nhất thời ra tuyên ngôn chống Cộng thì tôi e rằng Phật Giáo đang rơi vào một sách lược chính trị trong đó Phật giáo đang đóng vai "cô bé quàng khăn đỏ", rút từ những kinh nghiệm trên thế giới. .

Cái mạnh của Phật Giáo không phải là ở những hoạt động chính trị ồn ào, mà là ở những tác phong đạo đức của các bậc tu hành, những tấm gương sáng để phật tử soi vào. Cái mạnh của Phật Giáo cũng nằm trong sự đoàn kết nội bộ, có tôn ti trật tự, và những thái độ dứt khoát đối với những người mang danh phật tử có những hành động phá hoại Đạo Pháp hay mượn danh Phật Giáo để mưu đồ danh lợi. Cái mạnh của Phật Giáo cũng còn nằm trong sắc thái tinh khiết tri túc tiện túc của những tổ chức Phật Giáo , tuyệt đối không dính líu với bất cứ nguồn tài trợ nào của ngoại bang trong bất cứ mục đích nào. Và sau cùng, cái mạnh của Phật Giáo cũng do chánh kiến, phân tích sự việc cho kỹ và cho đúng trước khi có quyết định hành động.

Mong rằng Phật Giáo hải ngoại cũng như Phật Giáo nội địa càng ngày càng lớn mạnh.

Trần Chung Ngọc 1995

Mời đọc:

Vấn đề tôn giáo tại Việt Nam    Nhóm nghiên cứu tôn giáo CL

Liên tôn - bụi gai nào làm minh chủ?    Lý thái Xuân

 

 

 

Home


©  Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........