- Di ảnh cố HT Thiện Siêu tháng 8-2001
Hồi nhỏ ba tôi đưa tôi lên qui y
với Hoà thượng Đôn Hậu tại chùa Thiên Mụ (1956), nhưng sau lớn lên học
Đại học, vào Đoàn Sinh viên Phật tử (1963), tôi lại tham gia "tranh
đấu Phật giáo" tại chùa Từ Đàm (1963-1966). Hoà thượng Thích Thiện
Siêu là một trong những vị lãnh đạo của tôi lúc ấy.
Trong đoàn Sinh viên Phật tử, tôi
thuộc vào loại actif (thích động) như các bạn Tôn Thất Kỳ, Nguyễn Văn,
Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường . . . ít khi chịu gò mình vào cái chủ trương
bất bạo động của Phật giáo. Chúng tôi hay bày trò khiêu khích công an cảnh
sát, tổ chức biểu tình, tuyệt thực tranh đấu khi chưa được lịnh của
quý thầy. Vì thế tôi hay bị thầy Thiện Siêu quở trách. Biết mình có lỗi
nên mỗi lần bị thầy kêu lên là tôi vái ngay và xin nhận lỗi, hứa từ
ấy về sau sẽ không dám hành động "trật đường rầy" (cụm từ
HT Thiện Siêu hay dùng) nữa. Khi hứa, tôi hứa rất thành thực, nhưng sau
đó chứng nào lại tật ấy, tôi tái phạm đều đều. Thấy thấy tôi ít
"phục thiện" nên thấy không thèm quở trách nữa mà đổi qua biện
pháp "giận". Hoà thượng vốn bản tánh rất hiền, nên thấy thầy
giận tôi rất sợ và tìm cách lẩn tránh thầy. Đầu tháng tư năm 1966, do
yêu cầu "chi viện cho Đà Nẵng" sinh viên Huế lập ra đoàn Sinh
viên Quyết tử và "bầu" tôi làm Đoàn trưởng lo tổ chức cho
sinh viên đi học quân sự để đánh nhau với quân đội Thiệu Kỳ. Tin ấy
lên đến chùa Từ Đàm, quý thầy lãnh đạo phong trào gọi tôi lên. Linh
tính báo cho tôi biết lên chùa Từ Đàm lúc ấy là mệt lắm nên tôi lần
lữa khất chưa dám lên. Các thầy lại gọi, cuối cùng tôi tìm được một
giải pháp là tìm cách trình diện với thầy Thiện Siêu trước. Dù sao thầy
cũng không nỡ kỷ luật tôi một cách nặng nề. Và quả như thế.
Thấy tôi dẫn xác đến, thầy nén
cơn giận hỏi ngay:
- Anh là Đoàn phó đoàn Sinh viên Phật
tử, Phật tử là bất bạo động, tại sao lại đi tổ chức Sinh viên quyết
tử gây bạo động ?
Câu hỏi như một trái núi đổ xuống
trước mặt tôi, biết không thể vượt qua nên tôi tìm cách chạy quanh:
- Bạch thầy, con biết như rứa là
sai, do anh em sinh viên họ bầu nên con không nỡ từ chối. Nhưng tụi con mà
chiến đấu chi được, đi học quân sự để tự vệ thôi. Kính mong quý
thầy xá tội !
Thầy bảo tôi rất nhỏ nhẹ nhưng
nội dung thật cứng rắn giống như một quyết định:
- Anh là sinh viên anh muốn tranh đấu
theo kiểu gì tùy anh, nhưng Phật tử thì phải theo Phật, phải bất bạo
động. Anh muốn theo sinh viên thì phải từ chức Đoàn phó sinh viên Phật
tử và ra khỏi đoàn Sinh viên Phật tử ngay !
Là một phật tử, dù sao tôi cũng
phải thực hiện cái nguyên tắc tối thiểu là "qui y Phật, qui y Pháp,
qui y Tăng" cho nên tôi không thể làm trái ý thầy Thiện Siêu- người
đại diện cho quí vị Thiền sư lãnh đạo Phong trào tranh đấu năm ấy. Tôi
chắp tay hứa với thầy sẽ thực hiện theo quyết định của quý thầy.
Nhưng may sao, nhiều sinh viên Phật tử tham gia đoàn Sinh viên quyết tử
không ai đồng ý việc tôi ra khỏi đoàn Sinh viên quyết tử cả. Tiếp đến
nhiều sự kiện tranh đấu ác liệt diễn ra liên tục, Thiệu Kỳ với sự
ủng hộ của chính phủ Mỹ Johnson ngày một ngày hai đe dọa "làm cỏ
phong trào miền Trung". Không những đoàn Sinh viên Quyết tử không giải
tán mà nhiều giới khác như công chức Phật tử, Giáo chức Phật tử, Hoc
sinh Phật tử, Nữ sinh Đồng Khánh cũng đoàn ngũ hoá để tự vệ. Ngay cả
gia đình Phật tử thuần túy Phật giáo cũng phải tổ chức thành các đội
"Bách nhân" (Bách nhân đội) để học quân sự đối phó với sự
đe dọa của quân đội Thiệu Kỳ. Tôi thoát được việc thi hành quyết
định giải tán đoàn Sinh viên quyết tử của thầy Thiện Siêu. Nhưng không
lâu sau đó, Thiệu Kỳ và chính quyền Thừa Thiên Huế (đứng đầu là tỉnh
trưởng Phan Văn Khoa) làm áp lực với Phật giáo đòi để họ vào các
chùa bắt ba người là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và
Nguyễn Đắc Xuân. Thầy Thiện Siêu cùng các thầy lãnh đạo ở chùa Từ
Đàm phản đối quyết liệt yêu sách của chính quyền Thiệu Kỳ. Thầy
Thiện Siêu hỏi tỉnh trưởng Phan Văn Khoa:" Anh là Phật tử, các cậu
ấy cũng là Phật tử tại sao anh lại đòi bắt họ ?" Bị hỏi bất
ngờ, Phan Văn Khoa đành ngậm miệng rút lui.
Biết không thể có mặt ở Huế
thêm nữa, hai anh em Hoàng Phủ liên lạc được với Thành ủy rồi thoát
ly. Còn tôi thì phải ẩn mình trong chùa Diệu Đế để tiếp tục công việc
trong đài phát thanh Cứu nguy Phật giáo đặt ngay trong chùa. Sau đó được
tin Thiệu Kỳ sẽ truy bắt tôi, các thầy bảo tôi phải rời chùa Diệu Đế
ngay để tránh khỏi bị bắt như hồi tháng 8.1963 nữa. Tôi mượn áo
cà-sa mặc vào, giả làm một ni-cô và được hai sinh viên Quyết tử (cũng
là sinh viên Phật tử) là Phạm Văn Rơ và Cao Hữu Điền (*) "hộ tống"
lên chùa Từ Đàm. Lên chùa được hai hôm, thầy Thiện Siêu gởi tôi vào
ẩn ở chùa Kim Tiên của thầy Chánh Trực. Ở Kim Tiên được một tuần,
tôi lại chuyển qua ở chùa Tường Vân. Để có thể thoát được sự theo
dõi của bọn tình báo, tôi được thầy Chơn Tế cạo đầu cho giả làm một
nhà sư của chùa. Nhưng rồi ở Tường Vân cũng không yên, nhiều lần tôi
bị lính Nùng của Thiệu Kỳ vây bắt. Nếu không có sự che chở của các
thầy chùa Tường Vân thì tôi đã nát thây với lính Thiệu Kỳ từ cuối
tháng 6. 1966 rồi. Không ngờ chùa Tường Vân năm trong "địa bàn
lõm" của Thành ủy Huế. Tất cả những căng thẳng đe dọa diễn ra hằng
ngày đối với tôi ở chùa Tường Vân, Thành ủy Huế đều biết. Đến
đầu tháng 7.1966, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Thành uỷ Huế trên chiến
khu gởi thư rủ tôi ra bưng nghỉ một thời gian chờ tình hình đàn áp của
Thiệu Kỳ lắng xuống rồi sẽ trở lại Huế. Sống với các thầy nhiều
năm, ranh giới giữa Phật giáo và Mặt trận giài phóng trong tôi rất mờ
nhạt cho nên khi nhận được thư anh Tường từ chiến khu gởi vào tôi thấy
không có gì bất ngờ cả. Hơn nữa, trước đó không lâu (5.1966), hai ông
bạn tôi là N.N.L. và Trịnh Công Sơn đã trao đổi với tôi về lối thoát
cho các cuộc tranh đấu lúc đó là "Con đường của Mặt trận giải
phóng". Cho nên cái thư của anh Tường trở thành lối thoát của tôi.
Mấy hôm sau tôi ra đi trong bộ áo cà-sa của một nhà sư (10.7.1966). Không
chỉ "một thời gian ngắn" như anh Tường viết mà rong ruỗi xuôi
ngược Trường Sơn đến chín năm (1966-1975).
Lên rừng tôi có nhiều dịp kể lại
vai trò của Hoà thượng Thiện Siêu trong các Phong trào tranh đấu ở đô
thị. Các vị lãnh đạo Thành ủy (đứng đầu là ông Lê Tư Minh) bảo tôi
:"Sẽ mời Hoà thượng Thích Thiện Siêu tham gia Mặt trận Liên Minh của
Thành phố Huế". Sau mùa Xuân 1968, tôi được biết người được cử
đi mời Hoà thượng Thiên Siêu không hoàn thành nhiệm vụ. Người thay vào
vị trí dự kiến của Hoà thượng Thiện Siêu là Hoà thượng Thích Đôn Hậu
- bổn sư của tôi.
Từ sau năm 1975, vì công tác tôi
không có nhiều dịp được hầu chuyện Hoà thượng Thiện Siêu. Nhưng những
lần gặp Hoà thượng ít ỏi đó cũng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm
sâu sắc. Những kỷ niệm nầy đã sống dậy trong tôi suốt thời gian Hoà
thượng nằm chữa bệnh rồi viên tịch cách đây (12.2001) vài tháng.
Vào năm một ngàn chín trăm tám mấy
tôi không nhớ, vô tình tôi được xem một cuộc trưng bày về văn hóa Phật
giáo Thừa Thiên Huế ở Nhà giảng chùa Từ Đàm. Vốn là một Phật tử
nhưng tôi không ngờ các chùa Huế còn giữ được những hiện vật văn hóa
Thuận Hoá Phú Xuân phong phú, quí hiếm đến như thế. Ví dụ như chiếc
chuông đồng đúc thời Cảnh Hưng, bản Kinh Kim Cương thêu trên gấm đời
Cảnh Thịnh.. . . Bên cạnh những cổ vật còn có những chậu cảnh cổ thụ
hàng trăm năm, những Bonsai hết sức mỹ thuật. Cuộc trưng bày gợi cho
tôi viết được một bài báo ngắn đăng trên Người Du Lich Thành phố Hồ
Chí Minh với nhan đề " Chùa Huế - nơi gìn giữ những báu vật quốc
gia". Sau đó tôi xin gặp Hoà thượng Thiên Siêu đề nghị Phật giáo
nên xin phép Nhà nước thành lập một Bảo tàng văn hóa Phật giáo tại Huế
để cho khách du lịch trong và ngoài nước thưởng lãm. Hoà thượng Thiện
Siêu bảo tôi với tất cả sự dè dặt của một vị lãnh đạo tinh thần
đã trải qua biết bao thăng trầm sóng gió:
- Xin nhà nước cũng được thôi.
Phật giáo không cầm quyền, không có thế lực gì trong việc truyền bá đạo
Phật cả. Nếu có cơ hội dùng văn hóa để hoằng dương đạo pháp thì
không có chi tốt cho bằng. Nhưng ai làm, lấy tiền đâu mà làm, làm rồi
ai coi ngó ? Bây giờ thầy cúng thì nhiều chứ tìm thầy coi sóc nhà Bảo
tàng văn hóa đâu phải chuyện dễ. Chưa có con người thì chưa tính được
chi cả.
Tôi rất thấm thía lời chỉ dạy
của Hoà thượng. Chuyện thiếu người có đạo đức có chuyên môn để làm
việc đâu phải chỉ riêng của Phật giáo ! Người làm việc thì hiếm nhưng
người chưỡi bới vu khống nhau thì tràn đầy. Tôi được đọc nhiều bài
báo, nhiều buổi phát thanh của đài ngoại quốc vu khống Hoà thượng là
"sư quốc doanh", tay sai của chính quyền xã hội chủ nghĩa. Tôi phản
ảnh chuyện ấy lại với Hoà thượng. Hoà thượng cười :" Họ nói
tôi là sư quốc doanh còn may. Anh không biết có người đã gởi thư đe dọa
tôi, thậm chí gởi kèm theo cả vài viên đạn nữa. Thế tục người ta có
thể làm như thế, còn một người xuất gia như tôi thì . . .chẳng có gì
quan trọng cả".
Đến đầu năm 1990, sau khi chia lại
ranh giới hành chính ba tỉnh Bình Tri Thiên, báo chí dư luận quan tâm đến
Trung tâm văn hóa du lịch Huế. Tôi nghĩ văn hóa Phật giáo là một bộ phận
quan trọng của Trung tâm văn hóa du lịch Huế, với tư cách là Phóng viên
tạp chí Sông Hương (bút danh chung cho mục nầy là Người Sông Hương), tôi
thực hiện một cuộc gặp gỡ Hoà thượng Thiện Siêu nói về vai trò của
Phật giáo trong sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch Huế. Hoà thượng
đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của tôi rất thẳng thắn. Hoà thượng
không ngại phê phán những hiện tượng tiêu cực của thanh niên Huế hồi
ấy. Tôi rất thú vị những câu trả lời thẳng thắn của Hoà thượng. Tôi
muốn qua cuộc gặp gỡ nầy trả lời cho dư luận thấy sự đứng đắn của
Hoà thượng Thiện Siêu. Bài được đăng vào số tháng 5/1990. Không ngờ
tình hình chính trị lúc bấy giờ có nhiều phức tạp, một số người có
trách nhiệm không hiểu hết chủ trương của Ban biên tập tạp chí Sông Hương
và không hiểu con người đích thực của Hoà thượng Thiện Siêu nên đã
ngăn chặn việc phát hành số tạp chí trên. Điều đó làm cho tôi hết sức
đau khổ. Tôi khổ tâm nhất là đã làm rầy rà đến Hoà thượng. Dù Hoà
thượng không gọi tôi lên như hồi năm 1966, nhưng tôi vẫn dẫn xác lên
và trăm lạy thầy mong thầy thông cảm cho việc số tạp chí có đăng bài
trả lời bài phỏng vấn của Hoà thượng không phát hành được. Tôi
không ngờ Hoà thượng xem việc đó là chuyện bình thường. Hoà thượng bảo
tôi:
- Anh hỏi thì tôi nói. Còn đăng
hay không, phát hành được hay không là việc của các anh. Tôi chỉ sợ vì
những câu trả lời của tôi gây khó khăn cho anh thôi. Còn đối với nhà
chùa thì . . A-di-đà Phật !
Tôi có bị khó khăn thật, bị
đưa ra khỏi tạp chí Sông Hương nhưng tôi cam chịu. Biết Hoà thượng không
than phiền gì tôi rất yên tâm.
Sau đó ít lâu, Hoà thượng nhờ
người gọi tôi lên để nghe Hoà thượng nói một chuyện quan trọng. Tôi
lên ngay và Hoà thượng hỏi tôi:
- Lãnh đạo và Mặt trận tỉnh đề
nghị tôi ra ứng cử Đại biểu Quốc Hội, anh thấy có nên ra không ?
Tôi không giấu được sự mừng rỡ,
thưa ngay:
- Trước kia lãnh đạo tỉnh chưa
hiểu Hoà thượng nên chưa tin, bây giờ quí vị đã hiểu muốn vời Hoà
thượng ra ứng cử thì Hoà thượng nên ra để Phật tử có được một
tiếng nói giữa Quốc Hội.
Hoà thượng đã ra ứng cử đại
biểu Quốc hội và đã trúng cử với số phiếu lớn. Không những ứng cử
một khóa mà đến hai khoá liền. Đúng như điều anh Hoàng bạn tôi đã viết
:"Hoà thượng Thiện Siêu là người không chấp trước những thị phi
thế trị". Những Phật sự trong quyền hạn của Hoà thượng thì Hoà
thượng làm, mặc cho cuộc đời thích hay không thích.
Sau ngày hưu trí (1998), tôi có điều
kiện thời gian để thăm viếng Hoà thượng nhiều lần hơn. Tôi được
nghe Hoà thượng kể chuyện thành lập Phật học viện ở Huế, đại trùng
tu chùa Thuyền Tôn . Có hôm Hoà thượng kể cho tôi nghe chuyện khi khai mạc
Phật học viện tại Huế, Hoà thượng đã bị những người cùng mặc áo
cà-sa với Hoà thượng rượt đánh Hoà thượng như thế nào. Điều lạ là
nhắc lại một chuyện đau thương đến thế mà Hoà thượng kể với một
nụ cười trên môi. Tôi có cảm giác như Hoà thượng đã quá quen với những
oan trái của đời mình. Phải chăng vì thế mà có người viết điện chia
buồn với Phật giáo bảo rằng Hoà thượng Thiên Siêu viên tịch là đã
"giải nghiệp". Hoà thượng viên tịch là giải được cái nghiệp
đầy nghịch cảnh của Hoà thượng chăng ?
. . .Sau thời gian nằm cấp cứu ở
Bệnh viện Huế nhưng không hy vọng cứu được, vào cuối tháng 9 năm
2001, Hoà thượng được đưa về Từ Đàm để tiếp tục chăm sóc trong
tinh thần "con nước còn tát". Lòng dạ các đệ tử của Hoà thượng
ở khắp nơi đều hướng về Từ Đàm cầu nguyện cho Hoà thượng bớt nỗi
đau đớn về bệnh tật để tinh thần được thanh thoát bước vào cõi Niết
bàn. Vào chiếu ngày thứ 6, 27.9. 2001, tôi hân hạnh được các học trò của
Hoà thượng cho phép vào bên giường bệnh hầu Hoà thượng lần cuối. Lúc
đó Hoà thượng đang nhắm mắt niệm Phật. Biết tôi vào lạy thầy, Hoà
thượng mở mắt và nở một nụ cười chào tôi. Tôi hết sức ngạc
nhiên, cứ tưởng là Hoà thượng đã mê man rồi, không ngờ Hoà thượng vẫn
thanh thản vui tươi, không có gì tỏ vẽ đau đớn và bi thảm trước lúc
từ giả cuộc đời cả. Tôi chúc mừng Hoà thượng đã viên mãn được
những việc lớn là đại trùng tu chùa Thuyền Tôn và tổ chức thành công
Phật học viện để đào tạo tăng tài cho Phật giáo trong tương lai. Hoà
thượng ngúc đầu khe khẻ và bất ngờ bảo tôi: "Chuyện khu bảo
tàng văn hóa Phật giáo ở Huế cũng đã được chính quyền quan tâm.
Chính quyền đang đi tìm địa điểm thích hợp. Tôi không còn cơ hội để
đóng góp nữa, hy vọng ở những người còn tại thế . . ." Tôi sụp
lạy Hoà thượng, xin Hoà thượng hãy yên nghĩ. Những chuyện phải làm thế
nào cũng sẽ trở thành hiện thực.
Chuyện Bảo tàng văn hóa Phật
giáo đề cập đến đã mười mấy năm, không ngờ Hoà thượng vẫn nhớ
và vẫn theo đuổi cho đến lúc khả thi. Hoà thượng đã thanh thỏa điều
bận tâm cuối cùng với tôi vào lần cuối cùng tôi được gặp Hoà thượng.
Sự thanh thảng, sáng suốt của
Hoà thượng Thiện Siêu trước lúc lâm chung làm cho tôi ngộ ra nhiều điều.
Làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến nơi đến chốn. Thấy việc đúng cần
phải làm thì làm và làm đến cùng, không sợ trở ngại từ đâu đến. Là
một người xuất gia, sống thì Hoà thượng làm việc cho cho Đạo và cho
dân, chết thì vễ cõi vô thường không có điều gì phải bi thương, hối
tiếc cả. Hiểu được cuộc đời của Hoà thượng Thiện Siêu tôi hiểu
hơn về những nghịch cảnh của đời tôi.
Ba mươi tám năm (1963-2001) được gần
gũi Hòa thượng, tôi chưa làm được bất cứ điều gì để cho Hoà thượng
vừa lòng. Trái lại với cái phong cách actif của tôi, tôi đã gây cho Hoà
thượng quá nhiều phiền muộn. Hôm nay chắp tay sám hối trước bàn thờ
Hoà thượng, tôi nẩy ra một điều tâm niệm : Nếu được mời tham gia xây
dựng Bảo tàng văn hóa Phật giáo Huế, tôi xin đề nghị Bảo tàng ấy
nên đặt tên Bảo tàng văn hóa Phật giáo Thiện Siêu".