-
- Tâm thức trở về của kẻ
sĩ Bắc hà
- (nhân đọc: Công Giáo Huyền
Thoại và Tội Ác và Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm
- tác giả Charlie Nguyễn, mỗi cuốn dày trên 300 trang, đồng giá 15 Đô la,
Nxb. Giao Điểm)
Nguyễn Văn Hóa
***

1. Tâm
thức trở về giữa dòng của 6 trí thức Âu Mỹ.
Theo
dòng lịch sử, Vatican chỉ thực sự hình thành quyền lực Giáo triều khống
chế thế giới là vào đầu thế kỷ 20 (Papacy). Thật vậy, với những cải
cách về luật Canon (Giáo luật), cải tiến hệ thống giáo dục tu viện,
thành lập một chế độ tu sĩ và giáo lý áp dụng cho các giáo hội
bản xứ; Vatican thúc bách đẩy mạnh sinh hoạt phụng vụ của giáo dân phải
đi lễ thường xuyên hơn. Song song với những cải cách này, Vatican thực
hiện một cao trào chống trí thức (anti-intellectualist). Giáo hoàng Piô X
tuyên bố "Khi chúng ta nói là đại diện Thiên chúa, chúng ta phải biết
vâng lời, chúng ta không được quyền xét đoán, phê phán, không được làm
tổn thương chúa Giê-su. Chỉ có hy vọng cho một xã hội đau yếu, và
Giáo hoàng chính là liều thuốc chữa".( 1 ) Lời tuyên bố này manh nha
cho một quyền lực chính trị độc tôn kéo dài trong suốt thế kỷ 20.
Nhưng tại sao phải chống-trí-thức?
- Những năm sau cùng của thế kỷ 19, một làn sóng các sử gia, học giả
về kinh thánh, các triết gia thần học Ki-tô nổ lực khai phá tinh thần Ki
tô giáo nguyên thủy trong tinh thần phóng khoáng, đã khai mở một tinh thần
sáng tạo mới kế tục dòng tư tưởng từ các triết gia Kant cho đến
Hegel. Họ không còn muốn chấp nhận Giáo hội như một cấu trúc quân sự
kỹ luật chung quanh Giáo hoàng; nhưng nó phải là một cấu trúc tôn giáo
sinh động hướng tới sự phát triển và có khả năng thay đổi.
Piô X cũng như các cố vấn của
ông ta đã nổ lực chận đứng những tư tưởng xã hội và thần học Ki
tô cải cách mà Piô từng cho là những kẻ phản bội và giả nhân nghĩa.
Piô X nói rằng "Những tên Ca tô cấp tiến là những con chó sói khoác
áo lông cừu, chính vì vậy một tu sĩ đích thực có nhiệm vụ phải
gỡ mặt nạ chúng ra" { Liberal Catholics are wolves in sheep's clothing, and
therefore the true priest is bound to unmask them ( 2) }.
Nhưng bước qua thời đại của những
Giáo hoàng độc tài, bắt đầu từ Benedict XV (1914-22), thấy sự bất lợi
trong chính sách đối đầu của Piô XI, Benedict XV kêu gọi đình chỉ chiến
dịch săn quỷ - chống bọn tư-tưởng-hiện-đại (anti-Modernist witch-hunt).
Trong khi ấy, thế giới chứng kiến
một cuộc Cách mạng Vô sản lớn lao bùng vỡ ở Nga sô viết; và từ một
cảm nhận đặc biệt về cuộc cách mạng tháng Mười này, Giáo hoàng kế
vị - Piô XI đã lên án chủ nghĩa Cộng sản là một kẻ thù tệ hại nhất
mà Ca tô Âu châu phải đối đầu. Sự kết án này là một dạng thức cấu
tạo chính sách của Giáo hoàng Piô XI, và là cái sườn tư tưởng cho Giáo
hoàng Piô XII về sau. Ông ra lệnh cho các giáo hội tìm mọi cách chận đứng
làn sóng thế tục hóa đời sống (mà ông cho là đã tự mang nhãn hiệu
"chủ-nghĩa-tự-do" (Liberalism) ở Âu châu. Ông trói buộc tín đồ
trong luật của Chúa Ki tô không phải chỉ áp đặt lên mỗi linh hồn đơn
lẻ (cá nhân) mà toàn thể xã hội, dưới sự chăn dắt của giáo hội.
Những nổ lực mang tính chính trị
hóa đời sống tôn giáo này, đã tạo thành một hợp đề kế tục cho các
giáo hoàng kế vị, và di lụy đến gần một trăm năm sau.
Người ta không ngạc nhiên khi vào
năm 1929, một thỏa ước - có tên gọi Lateran Concordat, được ký kết giữa
Vatican và chính phủ Ý, xác định tính cách pháp lý mọi quyền lợi của
nhà nước Vatican (Papal States) với các nhượng địa, cơ ngơi, đất đai, kèm
thêm một số tiền hậu hỉ 1 tỉ Lire trong cổ phần của chính phủ Ý. Đó
là một số tiền lớn giữa một khủng hoảng kinh tế thế giới và nạn
đói năm 1930; cho phép Piô XI có cuộc sống như một hoàng tử thời Trung cổ
.
Qua các dấu hiệu một sự trùng lặp
lịch sử thời Pháp đình và Trung cổ của Giáo hội Ca tô La mã, phản đề
rộng lớn của giới trí thức Âu Mỹ cuối thập niên 1930, đầu 40 - một
làn sóng trí thức Ca tô đã tìm con đường trở về với tinh thần nhân bản
mới qua hiện thực cách mạng Vô sản Sô viết - một lối thoát để
phá vỡ nguyên trạng từ một tinh thần thần học tăm tối mà họ đã
được đào lập từ môi trường giáo dục ấu thời. Đại biểu cho các tầng
lớp trí thức này là: Arthur Koestler, Ignazio Silone, Richard Wright, Andre Gide,
Louis Fischer, Stephen Spender...
Chủ nghĩa Cộng sản chính là Phúc
âm mới cho những tâm thức lạc lõng này. Ignazio Silone (nhà văn Ý)
cho rằng: "Tôi không nhận thức chính sách xã hội qua sự trói buộc với
lý thuyết riêng biệt nào, mà bằng niềm tin". { I do not conceive
socialist policy as tied to any particular theory, but to a faith (3) }.
Trong luận đề về Andre Gide :
"Những kẻ thờ phượng" (Worshipers from Altar), Ernid Starkie (tiến
sĩ Oxford và Sorbonne) nhận xét:
"Sau những khủng hoảng về chủ
nghĩa Cá nhân, Gide buộc lòng phải nhận rằng con người không cần Thượng
đế" ( 4 ) . Đối với Gide, hạnh phúc đích thực là phải biết tạo
ra hạnh phúc cho kẻ khác. Cái Ngã và sự tư kỷ đánh mất lý tưởng con
người siêu vượt. Cảm thức này đã mang cho Gide một phiêu tưởng đến
một thứ tình-anh-em đối với những ai đã tìm đến Chủ nghĩa Cộng sản
bằng tình yêu { I fell myself the brother only of those who have come to Communism
through love (5) }
Cảm thức này là một thăng hóa
(sublimation) từ sự bế tắc và thất vọng trong tín điều Ki tô giáo thúc
đẩy Gide tìm lối thoát bằng hành động cách mạng cụ thể (praxis) giải
phóng khỏi trì trệ của chủ nghĩa cá nhân. Không phải chủ nghĩa Mác,
mà chính là Phúc âm - ông đã đến với Chủ nghĩa Cộng sản { It was
not through Marx, but through the Gospel, that Gide had reached Communism (6) }. Trong
một phát biểu ở buổi họp của tổ chức L'Union pour la Verité ở Pháp năm
1935, Gide cho rằng sự hiện hữu của Chủ nghĩa Cộng sản là một sự
kiện xã hội tất hữu. Gide nói: "Tôi cho rằng mọi hứa hẹn của
Ki tô giáo đã phá sản. Tôi đã từng viết, và tôi tin chắc nếu Ki tô
giáo thắng thế, nếu thực sự những lời giáo huấn của chúa Giê su là
tràn đầy ý nghĩa, thì ngày hôm nay đã không có vấn đề về Chủ nghĩa
Cộng sản. Nó hoàn toàn không phải là vấn nạn xã hội". (7).
Đối với Arthur Koestler (nhà văn
Hung gia lợi), niềm tin thì không cần lý lẽ - như một phụ nữ đang yêu,
hay một tín đồ đi đến nhà thờ cầu nguyện đều giống nhau. Niềm tin
phát triển như một cây mọc, ngọn đâm thẳng lên trời, rễ cắm sâu xuống
đất, cứ thế nó phát triển nhờ vào lớp đất màu mỡ.
Koestler cho rằng quan điểm phân
biệt của các nhà tâm lý [ lý tưởng Không Tưởng {l'Utopia}được nuôi dưỡng
từ Huyền thoại học ], các nhà xã hội học [ giữa kẻ có niềm tin truyền
thống và nhà cách mạng ] chỉ là một nữa phần của sự thật
(half-truth). Để tổng hợp cho một nữa phần sự thật còn lại, là một
dấn thân để chống xã hội bất công ( - gia nhập đảng Cộng sản! ) [
Xem lý luận của Koestler từ trang 11-17, The God That Failed, sách đd.].
Riêng các nhà văn như Louis Fischer
(Mỹ), Richrad Wright (Mỹ), Stephen Spender (Anh) có những động cơ đến với
đảng Cộng sản ít "siêu hình" hơn, nhưng cũng mang dạng thức tâm
lý phản động lại Phúc âm và thực tế giáo hội.
Richard Crossman, qua lời giới thiệu
( trong "The God That Failed" ) đã nhận xét: "Sáu nhà trí thức
này - trong hành trình tìm đến Chủ nghĩa Cộng sản - rồi lại trở về
- cũng như những người tiền bối 130 năm trước đó, đã nhìn Cách mạng
Pháp, như một khải thị về một Vương quốc của Thượng đế trên trái
đất" ( as a vision of the Kingdom of God on earth ) ; và "Chủ nghĩa
Cộng sản, như một thể cách sống, dù chỉ trong vài năm, đã chụp bắt
cái nền tảng nhân cách Ki tô trong Silone và quyến rũ những nhân cách như
Gide, Koestler, bộc lộ ra sự khiếm khuyết khủng khiếp của nền dân chủ
Âu châu" (8).
Crossman phân tích cụ thể hơn:
"Sức mạnh của Giáo hội Ca tô luôn luôn đòi hỏi một hy sinh về ước
vọng tự do, sự kiêu hãnh tinh thần bị lên án là một trọng tội
(deadly sin) . Và "một khi sự từ bỏ (tự do) được thiết lập - tư
duy, thay vì được tự do hoạt động, trở thành kẻ phục vụ không tra vấn
cho mục tiêu cao hơn. Chối từ sự thật là một hành vi phục vụ".
(9).
Nhưng những phiêu lưu trí thức của
6 nhà trí thức Âu Mỹ nói trên, như những kẻ chèo thuyền ra giữa dòng
sông rồi lại quay về vì không tìm ra bờ đáo ngạn. Những kẻ thiếu nguồn
cội. Những kẻ bơ vơ, lạc lõng ở nữa dặm đường. Bởi vậy, theo
Crossman, nếu Louis Fischer, Stephen Spender và Andre Gide là những kẻ "du
hành" (fellow-travelers) với đảng Cộng sản thì Silone, Koestler và
Richard Wright chẳng bao giờ vượt thoát khỏi ám ảnh cái đích
(Thiên đàng trần thế) của con đường tìm đến .
2. Tâm thức trở
về trọn vẹn của Charlie Nguyễn.
Trong
lúc cả một làn sóng trí thức Âu Mỹ đi tìm con đường giải phóng
nõa-lực ( inertia ) của tín lý Ca tô, thì trên đất nước ta tầng lớp
sĩ phu yêu nước cũng đang tìm con đường giải phóng dân tộc dưới một
thế lực kềm kẹp hai đầu (Giáo hội truyền giáo Ca tô và thực dân thống
trị).
Cái "đầu" Giáo hội đã
thể hiện rõ qua bài hịch "Khởi Nghĩa Thái Nguyên" của Đội Cấn:
"Pháp tặc ở Âu Châu, giả lấy danh nghĩa thông thương truyền giáo cướp
mất hương hỏa quý hóa của ta" { Thơ Văn Quốc Cấm (viết tắt
TVQC), Thái Bạch, trang 423 }. Thủ đoạn "thông thương truyền giáo"
này, nếu không có sự tiếp ứng của đám giáo dân vong bản, thì khó
lòng thành tựu, cho nên một kẻ sĩ Bắc hà thời đó, cụ Mai Sơn Nguyễn
Thượng Hiền đã vạch rõ trong "Giọt lệ biển dâu" (1914) để
chia xẻ tâm sự với người bạn nước Hàn (Cao Ly) : "Vậy nên người
Pháp nói thời cơ, trước tiên là đem người sang truyền đạo Gia tô, để
biết điều thực hư trong nước, kế đem hàng hóa sang bán để đi sâu
vào trong dân gian. Sau khi đã rõ hết tình hình họ mới dùng đến chiến
tranh, bất kể hòa ước, thế là 36 tỉnh trong nước tôi đều lọt hết vào
tay họ". ( TVQC, trang 406).
Không phải đợi tới ngày hôm nay
(đầu thế kỷ 21), không phải chỉ có cụ Vương Hồng Sển - mà từ 1914
(và tất nhiên từ hàng thập niên trước đó nữa), một kẻ sĩ Bắc hà
vì vận nước, lưu lạc xứ người để thổ lộ tâm can về đại nạn của
đạo quân thứ năm (giặc Ca tô La mã) đã viết bài "Tang Thương Lệ
Ngữ" nói lên niềm đau xót uất hận này.
Thế rồi, cả một đội ngũ hùng
hậu sĩ phu Bắc hà đã thành lập Hà thành Thư xã với Cửu Xương,
Cử Soạn, Tú Thiệp, Tú Ta, Cử Khai, Huyện Nam, Ký Tín... sôi sục vận động
ý thức dân tộc để cảnh tỉnh lòng dân, để rồi phải bị thực dân
đàn áp dã man. Trong "hai mươi năm hồn mộng đi về sông Lô, Núi Tản"
đã bộc lộ hào khí ngất trời:
- Thanh bảo kiếm muôn năm sẵn có, đấng anh hùng
dùi mài mãi chưa thôi
- (Văn tế Cao Thắng, TVQC, tr.290).
Một vài sử gia miền Nam trước
75, dù đang hưởng ơn mưa móc từ chế độ, nhưng cũng có kẻ còn
biết giữ gìn tiết tháo, như Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư,
nhiều hay ít cũng thấy được mưu đồ của giáo sĩ "viễn chinh"
Gia tô, đã đặt vấn đề "Những giáo sĩ đầu tiên trên đất Việt
Nam là những ai?" và trả lời: "Họ là những người Bồ đào nha,
Tây ban nha... tu sĩ cũng như lái buôn đều tự cho mình là những tên lính
tiền phong cảm tử đi mở việc buôn bán với Á châu để làm giầu cho xứ
sở mình... Hạt tiêu và linh hồn đó là mục đích của những cuộc mạo
hiểm vô cùng táo bạo của họ" ( Phạm văn Sơn "Việt Sử Toàn Thư",
tr. 580)
Ròng rã trong vòng hơn hai thế kỷ
(giữa lúc quyền lực thống nhất đất nước của Việt Nam bị tan rã do
sự tranh dành quyền lợi của ba mặt Chúa phong kiến Mạc-Trịnh-Nguyễn),
chiến dịch "hạt tiêu và linh hồn" đã biến niềm kiêu hãnh Thăng
Long , trở thành hình ảnh:
- Phường bồi bếp ngênh ngang dạo phố,
- Áo quần Tây tảng lố thông ngôn
- (TVQC, trang 51)
Đó là hình ảnh sĩ nhục cho đất
"nghìn năm văn vật", thủ phủ của "Nam Quốc sơn hà, Nam đế
cư", là niềm tự hào của đất nước - đã được đánh thức bằng
xác định:
- Một vùng chính khí lưu hành.
- Khoảng trong trời đất, nhật tinh sơn hà
- (Hà Thành thất thủ ca, TVQC, trang 55).
Hàng hàng lớp lớp sĩ phu Bắc
hà cùng đứng lên đáp lời sông núi: Phan đình Phùng, Nguyễn thiện Thuật,
Lương ngọc Quyến, Dương bá Trạc, Lê văn Huân, Phạm tất Đắc, Phạm hồng
Thái, Phạm tuấn Tài, Hoàng hoa Thám, Nguyễn mậu Chi, Phạm văn Nghị, Cao
Thắng, Hoàng trọng Mậu, Nguyễn thị Giang, Trịnh văn Đạt ( Đội Cấn)...
đã khẳng định "chính khí" của hồn thiêng sông núi:
- Đá núi Tản muôn trùng chất ngất, hồn vĩ nhân
muôn kiếp chưa tan;
- Núi sông Hồng nghìn khoảng mênh mông, máu liệt
sĩ nghìn thu khó gột.
- (Văn tế chiến sĩ cách mạng Hoàng Trọng Mậu -
TVQC, tr. 290).
Bởi "hồn vĩ nhân muôn kiếp
chưa tan", nên một thế hệ khác tiếp bước hào khí Thăng Long với Trịnh
đình Cửu, Dương hạc Đính, Lê hồng Phong, Hà huy Tập, Phùng chí kiên,
Nguyễn Tuân, Ngô gia Tự ... cũng dấn thân hành động, bằng con đường
gia nhập tổ chức Kháng chiến Việt Minh (tiền thân của đảng Cộng sản).
Nhưng giữa một trời chất cao lòng
yêu nước ấy, vẫn có những kẻ ngày hôm qua vẫn còn là người con trong
lòng đất nước, vì theo cái "Đạo do thám" cho "linh hồn và hạt
tiêu" ấy, như Nguyễn Thân, Ngô đình Khả, Vi văn Định, Trần Lục
... đã đổi lòng vì Pháp, vì Chúa để hãm hại những người yêu nước.
Và dù cụ Phan bội Châu đã khôn
khéo cảnh giác:
- Đạo Gia tô cũng đạo cứu dân
- Thấy quân tham nhũng bất nhân,
- Dẫu cùng một giáo nhưng thân nỗi gì
- (Hải Ngoại Huyết Thư , TVQC, tr.155)
Nhưng cũng bởi dòng máu
"Cha nào, Con nấy", một lớp người chắp đuôi "dẫu cho có bụng
vì người Pháp" (lời cụ Phan bội Châu) ấy đã không nương tay tàn hại
lương dân yêu nước, trong đó có thân phụ của Charlie Nguyễn.
Trong bức thư gởi cho người bạn
thân (Nguyễn thanh Giản) { Công Giáo-Huyền Thoại và Tội Ác (viết tắt
CG-HTTA), trang 325 }, ông viết:
"Nguyên nhân sự "nổi loạn"
của tôi là vào năm 1949, tôi đã chứng kiến thảm cảnh của những người
"bên lương" bị cha tôi và các cha xứ cùng quân Ninh Cường hợp tác
với Tây tiêu diệt họ. Có người bị đốt cháy như con chó thui ở tiệm
"Cầy tơ" nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ
bị giao lên đồn Tây. Có người bị đốt nhà và bị bắn thả trôi
sông".
Ám ảnh từ hình ảnh ghê rợn ấy
đeo đẳng suốt quãng đời trưởng thành của Charlie, và ngày hôm nay ông
mới thực sự phán quyết đúng lương tri của một quan tòa: "Cha tôi
và bọn cha Cố mà tôi trước đây hết lòng kính mến thực ra là Việt
gian".
Thái độ sống lừng lẫy ấy không
phải là "bất hiếu chi tử", vì lòng hiếu tử của Charlie được
thể hiện qua lời tâm sự: "Tôi coi mọi bài viết chống Ki tô giáo của
tôi là những nén hương lòng của tôi dâng lên hương linh họ".(
CG-HTTA, tr. 326) và nguyện "dùng mạng sống của mình để làm cái giá
chuộc tội sát nhân vì cuồng tín của cha tôi", bởi những nạn nhân
của thân phụ Charlie và các "cha Cố Việt gian" đều là những
dân lành mà yêu nước. ( CG-HTTA, trang 326)
Trong đầu thế kỷ 20, sáu nhà văn
Âu Mỹ trong tâm thức đi tìm sự giải phóng con người khỏi những bức bách,
tù hãm của tín lý Ki tô bằng Chủ nghĩa Cộng sản, để rồi cũng trở về
với bản thể uyên nguyên của con người - lòng nhân ái thế tục. Cũng
trong mốc thời gian đó, và trãi dài non một thế kỷ, các thế hệ yêu nước
Việt Nam đã mượn Chủ nghĩa Cộng sản để giải phóng dân tộc khỏi
tham vọng của "hạt tiêu và linh hồn", rồi đây cũng sẽ trở về
với tinh thần uyên nguyên của dân tộc là lòng yêu nước muôn thuở. Và
một thế hệ trí thức Gia tô dằn vặt khổ đau tinh thần vì nghiệp chướng
của cha ông đã đi theo cái "Đạo" hại nước hại dân cũng sẽ
thức tỉnh để trở về với dân tộc.
Qua những tác phẩm tim óc của
Charlie Nguyễn, hẳn nhiên đã là dấu ấn của sự trở về. Không huyễn
hoặc, không mộng mị, ông "chìm đắm trong một thế giới tâm linh mới".
Cái gì thuộc về dân tộc, bỗng trong phút giây chiếm ngự tâm hồn ông -
trong đó có cả Hòa Hảo, Cao Đài. Và sự chiếm ngự sâu đậm nhất là
Phật tính của dân tộc Việt, Charlie viết: "Trước đó tôi chưa bao
giờ vào chùa lạy Phật, không hề thuộc một Kinh Phật nào và không hề
quen biết một tu sĩ nào của đạo Phật nhưng tôi không cảm thấy xa lạ
với Đức Phật. Trái lại, tôi cảm thấy hình như Ngài đã ở sẵn trong
tim tôi từ thuở nào!". { Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (viết tắt
CG-TBVT), trang 201 } Trong hành trang trở về dân tộc ấy, Charlie Nguyễn cưu
mang một hoài bảo, như "hình ảnh vị nguyên soái già ngồi mài gươm
dưới chân thành, ánh trăng thế kỷ lay động trong giọng thơ chính khí :
Thù nước chưa xong đầu đã bạc. Gươm mài bóng nguyệt đã bao lần..."
( Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nghiên Cứu Huế
tập 2-2001, tr.233)
Hoài bảo ấy còn trang trãi thêm một
ước mơ "Giấc mơ đẹp nhất trong đời tôi chắc chắn phải là giấc
mơ mà trong đó vào thời tôi biến thành Iemitsu" ( CG-TBVT, tr. 121) [ tên
một vị tướng Nhật đã mang đại quân dẹp tan nổi loạn của dân Công
giáo tại Nagasaki năm 1638, và đã ra lệnh đóng đinh tất cả các giáo sĩ
thừa sai và thẳng tay giết sạch 37 ngàn giáo dân một lúc - sđd, tr.13].
3. Từ
ước mơ hoang tưởng đến những biện pháp khả thi.
Trong
thế kỷ 21, nỗi ước mơ làm người hùng của tác giả chỉ là điều
hoang tưởng, hơn nữa nó đối nghịch với tinh thần hòa ái, hỷ xả của
dân tộc Việt Nam. Ngày trước khi viết "Hải Ngoại Huyết Thư", cụ
Phan bội Châu đã cảnh giác họa của tín đồ Gia tô phản quốc, nhưng vẫn
giữ lòng kiêm ái để khuyên nhủ toàn dân rằng:
- Suy một bụng đồng bào tương ái
- Người cùng người ai hại gì nhau
- Đã là đồng chủng đồng cừu,
- Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này.
- ( TVQC, tr.105)
Nhưng cứu nhau như thế nào? Ta
thử đi sâu vào tấm lòng nhắn gởi của Charlie Nguyễn:
3.1 Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam phải thoát ly ra khỏi quỹ đạo Vatican.
Cũng như nhiều tác phẩm nghiên cứu
về đạo Gia tô La mã (Giao Điểm đã xuất bản), tác giả Charlie đã mổ
xẻ khá tường tận về sự hình thành của Giáo hội quyền lực Vatican
ngày hôm nay. Trong sáu chương sách của Phần Một, đã cung cấp cho người
đọc một số kiến thức cụ thể. Tác giả cũng đã sử dụng phân tâm học
để phân tích khá sắc bén về sự hợp tác giữa Piô XII và Hitler: Giáo
hoàng Piô XII thật ra là "Hitler trong tâm" hoàn toàn giữ im lặng để
thúc đẩy, khích lệ "Hitler trong hành động" tung hoành tiêu diệt
Do Thái ( CG-TBVT, trang 128) - mà còn chứng minh một cách hùng hồn rằng các
Giáo hoàng chỉ là những kẻ vô thần - những người không có đạo lý
và lòng nhân chân thật. Bởi nếu là tôn giáo của bác ái, tình yêu thì
đã không cần đến một cơ quan quân sự [Ufficio Central de Vigilanze] trang bị
vũ khí cá nhân cực kỳ hiện đại và luôn luôn sẵn sàng nhã đạn bắn
chết bất cứ ai khả nghi đến gần giáo hoàng mà không được phép (trang
133). Thực chất quyền lực của Vatican chính là những kẻ dấu mặt
(faceless men). Họ là những chuyên viên tráo bài tráo bút ở trong và ngoài
Tòa thánh. Đám người dấu mặt này nhào nặn ra quan điểm của giáo
hoàng về mọi vấn đề của giáo hội và thế giới sao cho phù hợp với
quan điểm của họ. (tr. 135) Thực tế vai trò của giáo hoàng chỉ là kẻ
thừa hành, một máy phát biểu, đọc diễn văn và đặt bút ký lên những
văn kiện đã được soạn sẵn. Nói cho đúng thực chất, đó là chính phủ
thế tục vô hình (invisible government). Và ở trong một giai đoạn nào đó,
khi quyền lực vô hình có sự "hiệp thông" với tâm chất, cá
tính đặc biệt của một nhân vật giáo hoàng nào đó, thì giáo hội có
thể bước qua những thời kỳ khác nhau: hoặc giáo hoàng sẽ tàn bạo, quỷ
quyệt hơn, hoặc thu mình lại, giả vờ phóng khoáng khiêm nhường. Đó là
một sân khấu chính trị kéo dài trong hai ngàn năm phát triển Giáo hội Ca
tô. Tâm chất, cá tính có thể khác nhau, nhưng trọng tâm của mỗi giáo
hoàng vẫn là hướng về "quyền lợi của Cesar", cho nên "John
XIII dù cũng có lòng xót thương dân tộc Do Thái đấy, nhưng quyền lực và
tham vọng của Vatican vẫn luôn luôn là ưu tiên tối thượng" (tr. 131),
và Paul VI dù là kẻ hòa hoãn, thân thiện với Cộng sản, nhưng lại muốn
"Giáo hội Công giáo trở lại thời Trung cổ" (tr. 132). Thí dụ
khác: với một tâm chất cuồng bạo, Giáo hoàng Piô XII vốn khét tiếng chống
Cộng (không phải vì lý tưởng, nhưng xuất phát từ những xung động tâm
lý với tinh thần cứu thế của chủ nghĩa Mác) đã từng ủng hộ chính
sách của thực dân Pháp; vận động chính phủ Mỹ dội từ 1 đến 6 quả
bom nguyên tử xuống Bắc Việt vào năm 1954 để giải vây cho quân đội Pháp
ở Điện Biên Phủ, nhằm kéo dài sự đô hộ của thực dân, bảo vệ quyền
lợi Giáo hội Ca tô trên đất nước Việt Nam [chú thích của tác giả,
tr. 124].
Trên bình diện tâm lý khác, có một
sự gặp gỡ "hiệp thông" từ tín lý nhồi sọ giữa giáo dân Ca
tô Đức và giáo dân Ca tô Việt, nên "Giáo dân Đức Ca tô cuồng tín
đã có người khấn vái Piô XII rằng "Lạy đức Piô XII là đấng đã
yêu nước Đức hết mình, xin hãy cầu cho chúng con". (tr. 128)
Sự kiện đó khác xa với tinh thần
của 97% giáo dân Mỹ không còn để ý, quan tâm tới giáo hoàng (thăm dò của
tờ Time tháng 8-1987), hoặc là biểu hiện cụ thể khác ở các nhà thờ
vùng Bắc Mỹ, Canada người ta không bao giờ thấy có hang đá đức Mẹ Lộ
Đức (Lourdes - theo lệnh của Vatican). Ngay tại bảo tàng viện Bronx ở New
York, có một hàng triễn lãm tội ác của Piô XII, kèm theo một hàng chữ
"Tên đồ tể Quốc xã tại Rome"; trong khi đó Giáo hội Công giáo
Việt Nam trước 1975 lại lấy tên ông giáo hoàng này đặt tên cho một chủng
viện ở Đà Lạt gọi là Chủng viện Piô XII (tr. 128) - chuyên đào tạo những
cán bộ tu sĩ truyền giáo cho Vatican.
Vấn đề đặt ra: tại sao có một
sự khác biệt lớn lao và sâu xa như vậy giữa giáo dân, Hội đồng Giám
mục Mỹ-Canada và Việt? Đó có phải là sự khác biệt về niềm kiêu
hãnh quốc gia (national identity), ý thức dân tộc giữa họ, hay chúng ta sẽ
đồng ý với nhận xét của Charlie Nguyễn: "Sự ngu dốt đần độn của
tập thể giáo dân là thành đồng luỹ thép bảo vệ chẳng những giáo
hoàng mà là cả Tòa thánh Công giáo La mã, thực chất là sào huyệt lâu đời
nhất của bọn khủng bố quốc tế" ?. (tr.138)
Nếu chúng ta chấp nhận hệ luận
này, thì khó lòng phủ nhận hệ luận thứ hai:
"Chỉ khi nào đông đảo giáo
dân nhận ra chân tướng thật sự của bọn khủng bố quốc tế cáo già
này thì cái sào huyệt của nó là Vatican mới bị huỷ diệt". (tr.138)
Và đó là vấn nạn "trùng
trùng duyên khởi" của Giáo hội Ca tô Việt Nam, vì "Vatican luôn
luôn tìm cách xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới
qua Giáo hội Công giáo bản địa mà ban tham mưu của nó là các Hội đồng
Giám mục tại mỗi nước". (tr.171) Vậy để hóa giải duyên khởi oan
nghiệp này, chỉ có con đường duy nhất là HĐGM Việt Nam phải thoát ly ra
khỏi vòng kiềm tỏa của Vatican mà thôi.
3.2 Giải hoặc bằng
con đường giáo dục.
Nhằm
vào mục tiêu tạo dựng một tập thể tín đồ chỉ biết vâng lời, tê
liệt trí tuệ, Giáo hội Ca tô dùng một kỹ thuật huấn luyện não trạng
tín đồ thành những kẻ cuồng tín, sai lệch với chức năng của giáo dục,
mà Charlie Nguyễn cho rằng "căn bản của lòng cuồng tín là sự ngu dốt".
Vốn xuất thân từ một gia đình gốc
gác công giáo mấy đời, nên tác giả đã có những kinh nghiệm đối chiếu
giữa tín lý Phúc âm và thực tế nhồi sọ não trạng giáo dân qua những
cuốn sách Kinh nguyện đã được Việt hóa. Đó là đặc trưng trong 5
chương của Phần Hai Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm. Gần nữa cuốn sách
là để mổ xẻ về đề tài "sách Kinh Công giáo và tác hại của
nó". Tác giả đã phân biệt cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa Kinh
thánh và Kinh nguyện, hay bản chất đối ngịch giữa Kinh nguyện và Kinh
thánh. Qua ngôn ngữ phảng phất niềm uất hận của tác giả, chúng ta sẽ
kinh hoàng nhận ra chủ đích của Vatican là buộc tín đồ Ca tô từ trong
vô thức đi tới sự phá bỏ đạo lý chữ Hiếu của tổ tiên như "Lạy
Chúa là cha rất nhân từ hơn Cha Mẹ thế gian bội phần" (Kinh Ăn
Năn), không khác xa với nội dung Phúc âm "Ai yêu cha mẹ hơn yêu ta thì
không xứng đáng với ta" (He that loveth father or mother than me is not
worth of me) (trang 267-68). Trong Kinh cầu ông thánh Francisco Xavier có đoạn
"Ông thánh Phan-xi-cô phá tan đạo Bụt thần..." (tr. 275); Kinh cầu
cho kẻ Ngoại "Xin Chúa hãy mở lòng nhân từ Chúa mà che lấy lỗi
những kẻ ấy xưa nay đã lạc đàng thờ lạy Bụt thần" (tr.283); Kinh
Nhựt khóa "Tôi ước ao cho muôn vàn kẻ ngoại xứ này đặng bỏ Bụt
thần Ma quỷ mà trở lại cùng Chúa tôi" (tr.284); Kinh dâng cõi Đông Dương
(Việt-Miên-Lào) cho đức Nữ đồng trinh Maria có câu "...Xin cho cả
dân cõi Đông Dương nhớ có máu châu báo của con đức Mẹ đã đổ ra mà
cứu chuộc, thảy đều nên một ràn cùng một kẻ chăn" (tr.287).
Qua nội dung của một số Kinh nguyện
tiêu biểu nói trên, chúng ta nhận ra hai điều : từ đây chúng ta hiểu tại
sao từ các hàng giáo phẩm công giáo luôn luôn cảnh giác giáo dân phải
tuyệt đối giữ "bí mật nhà Chúa", vì nếu không, những lời
Kinh này mà lọt ra ngoài quần chúng người ta sẽ thấy ngay cái gian dối
và sự nhồi sọ bất nhân của các kẻ chăn chiên. Thứ hai, người ta sẽ
thấy rõ mục đích của nó là nhằm xóa sạch trong đầu óc tín đồ mọi
tinh hoa của văn hóa dân tộc ( vốn mang sẵn truyền thống tư tưởng Tam
giáo đồng nguyên ) một cách tiệm tiến qua ngôn ngữ (lời Kinh), đánh
vào tiềm thức tín đồ (đó là lời Chúa) và bằng hành động (sự siêng
năng cần mẫn đọc Kinh). Là chủ nhân tinh thần và hành động của
tín đồ, những kẻ chủ chăn sẵn sàng đẩy "dân Công giáo đến
phá Chùa cướp đất", và để vùi lấp những hành vi "lục
lâm thảo khấu" này, là những bài vè được nhanh chóng tạo ra tiêm
chích vào trong não trạng của đám dân nghèo hèn, như bài vè được giáo
dân vùng La Vang truyền tụng có câu:
- "... Chốn này là chốn Chúa bà
- Cho nên Thần Phật Quỉ Ma kiêng dè..."
(tr.183-184)
Đây là chiến thuật xâm lăng và
đàn áp văn hóa các dân tộc trên thế giới khá tinh vi của Vatican, qua một
tầng lớp cán bộ trung gian được mệnh danh là tu sĩ, và chúng ta chẳng
ngạc nhiên chút nào khi tác giả gọi tập thể này là những "tu sĩ Việt
gian". Vậy tổ quốc của họ là ai? Tác giả trả lời: "Tổ quốc
của chúng là Vatican, thủ đô tổng hợp của Mafia và chủ nghĩa đế quốc
La mã. Chúng xấu hổ làm người Việt Nam nên không nhận ra mình là người
Dân Việt mà thường tự xưng là Dân Chúa, thực chất chỉ là công dân loại
dỏm của Vatican". (tr.16) Hẳn nhiên họ không phải là những người hoạt
động thuần tuý về tôn giáo, vì tổ chức của họ là một cấu trúc
mang đảng-tính-chính -trị nhằm khuynh loát xã hội và áp đảo mọi thể
chế chính trị, nếu cần. Charlie Nguyễn cảnh giác "Điều nguy hiểm là
lực lượng chính trị này đồng nhất, đa số là những tim óc bán khai
và hung hăng cuồng tín, cho nên kẻ lưu manh quốc tế ở Vatican rất dễ dàng
xử dụng họ để tha hồ thao túng lũng đoạn nội bộ nước ta". (tr.
288)
Hiển nhiên là nguy hiểm, nhưng dù
với tấm lòng sôi sục, tác giả vẫn còn đủ bình tâm để nhận ra rằng:
"Muốn cứu những người công giáo ra khỏi bóng tối tinh thần chỉ
có một giải phóng nhân đạo nhất và hữu hiệu nhất là giáo dục họ".
(Công Giáo Huyền Thoại và Tội Ác , tr. 45)
Bằng sự sáng suốt, tác giả đã
phân ra hai đối tượng:
- Loại thứ nhất là các tu sĩ và
tập thể chính trị gia, trí thức Công giáo lưu manh: Đây là thành phần
xã hội mà tác giả đã xác định là "kẻ thù nguy hiểm" và
"cần phải đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng". (tr.21)
Mặc dầu qua chứng minh sự kiện,
lý luận chú giải, chúng ta thấy sự hợp lý của sự xác định đó, nhưng
đem ra thi hành trong thực tế là một điều không tưởng, trừ một chính
sách quốc gia cực kỳ sắt máu, hay một biến cố lịch sử cách mạng xã
hội đẫm máu. Trong thế kỷ 21, chúng ta khó có thể hình dung đó là một
giải pháp khả thi. Riêng với lịch sử dân tộc, qua các giai đoạn
xung khắc quyền lợi "giai cấp" trong xã hội, qua các giai đoạn dân
tộc bị phân hóa tàn bạo do thực dân đế quốc, ý thức dân tộc vẫn
kiên định không chấp nhận một ý hệ tôn giáo độc tôn man rợ để
đưa tới một cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu. Chỉ có một thành phần
thiểu số Ca tô La mã đã lợi dụng thời cơ nắm giữ các guồng máy
chính trị, xã hội trong một giai đoạn để lũng đoạn, đầu cơ quyền lực
qua cái dù che chở của ngoại nhân, để khi ngoại nhân bị đánh đuổi ra
khỏi đất nước thì sự tự tung tự tác đó tan rã. Do đó, một giải
pháp hợp lý nhất là những thành phần xã hội "lưu manh" này cần
được đặt dưới sự "chế tài" và tuân phục luật pháp quốc
gia, biết tôn trọng hiến pháp của đất nước, nếu họ còn muốn được
coi là công dân Việt.
- Loại người thứ hai, theo tác giả
là tuyệt đại đa số giáo dân, bị thành phần đầu não trên "lừa gạt
kích động, bị xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà
họ vô tình không biết". (tr.30) Đối với những người này, chúng
tôi hết sức đồng ý với tác giả là "chúng ta cần phải đối xử
vì lòng thương yêu chân thành trong tình nghĩa đồng bào". Và dĩ nhiên,
biện pháp cụ thể nhất là giáo dục. Nhưng giáo dục, theo tác giả phải
như thế nào? Ông viết: "Cần đem lại sự giáo dục tới tận các
giáo dân bằng những bằng chứng sự thật được trình bày đơn giản, cụ
thể và dễ hiểu". (tr.31) Theo Charlie, "không nên quá chú trọng tới
các lý thuyết cao xa, như "Thuyết tạo dựng, thuyết Cứu rỗi" chẳng
hạn mà nên chú trọng tới các vấn đề thông thường (nêu trong các Kinh
nguyện mà giáo dân nào cũng được dạy dỗ và tụng niệm hằng
ngày)". (tr.31)
Nhưng dù cho vấn đề được nêu
ra thực tiễn như vậy, nhưng tác giả cũng đã tự mâu thuẫn với mình,
khi ở đoạn khác (tr.31) nhận xét: "Bọn cha Cố công khai ngăn cấm giáo
dân không được đọc, nếu đọc thì phải tội... nên bọn chúng đã vô
hiệu hóa một cách dễ dàng tác dụng của cả các sách báo này".
Hay "dưới sự lãnh đạo dày dạn
kinh nghiệm và vô cùng xảo quyệt của Vatican, các giáo sĩ luôn luôn có sẵn
những lối giải thích lươn lẹo để hóa giải các lập luận tấn công
giáo lý hay giáo hội". (tr. 31-32)
Ngày nay trên đất nước ta không
còn bóng dáng các cha Cố nữa, thế nhưng thế hệ "cha Con, cha Cháu"
với sự lệ thuộc và chỉ đạo từ Vatican, họ không làm được chuyện
ngăn cấm tương tự hay sao? Có lẽ Charlie Nguyễn chưa từng trãi qua những
thao thức ở phía những người được Giáo hội Công giáo VN coi như
"kẻ thù" trước đây về một âm mưu sâu độc hơn những cuốn
Kinh nguyện (vốn chỉ dành cho giáo dân) rất xa! Hay dù cho những sách báo,
tài liệu "đơn giản, cụ thể, dễ hiểu" được phổ biến, thay
vì những sách nghiên cứu cao hơn, thì liệu với sự ngăn cấm trên có
làm cho hiệu quả khác nhau? Chúng tôi tin là không. Bởi khi một tổ chức
chặt chẽ được gắn bó và sống còn nhờ vào sự cuồng tín và sùng
bái của giáo dân, thì những trói buộc đầy tính vi hiến, vi luật, phi
dân chủ, phi văn hóa luôn luôn là tệ nạn hiện hữu thường trực. Như vậy,
một cơ chế pháp lý hữu hiệu của quốc gia vẫn là một giải pháp tối
ưu.
Chúng ta từng ý thức về thảm nạn
của sự cuồng tín tôn giáo trong lịch sử nhân loại, trong lịch sử dân
tộc ta đấu tranh chống ngoại xâm, chúng ta cũng nên ý thức ngay một
"biến cố" mới đang nẩy mầm trong làn sóng uất hận của những
người Ca tô phản tỉnh. Charlie Nguyễn tâm sự: "Kẻ dữ hơn ai hết
chính là những người Công giáo tỉnh ngộ. Một khi họ nổi giận vì hết
chịu đựng nỗi, họ chỉ muốn phá sạch, đốt sạch cái giáo hội đã
phỉnh gạt họ". (tr.13)
Nhưng đó không hẳn là cảm tính
đột khởi từ những dằn vặt tinh thần, những xúc động qua ngôn ngữ của
sách báo nghiên cứu, nó mang một ý thức tiềm tàng từ lý tưởng hành động
nũa: "Tôi cố gắng làm việc hết sức mình để góp phần vào công việc
"Enlightenment" này càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, vì tôi
sẵn sàng chấp nhận một điều bất hạnh có thể xảy đến cho bản thân,
tất cả chỉ vì lòng khát khao yêu mến sự thật". (tr.24)
Những dòng chữ này như một tiếng
chuông thức tỉnh lương tâm dân tộc. Những con dân nước Việt đang chống
Vatican, chống sự sai lầm của Giáo hội Ca tô Việt Nam không nên đọc nó
với tinh thần hả hê, thỏa chí; những kẻ đang lợi dụng giáo hội cho mục
đích tư kỷ, dối gạt con chiên cần phải suy nghĩ nhiều hơn nữa. Và một
cơ chế chính trị xây dựng trên nền tảng dân tộc biết ý thức trách
nhiệm cho sự ổn định xã hội, mang hiệu quả yên vui cho mọi người dân
cần có một luật pháp về tôn giáo hữu hiệu, thiết thực, đáp ứng cho
quyền lợi tối cao của dân tộc.
Hơn bao giờ hết, các bậc tu sĩ Phật
giáo trong tinh thần "Thái bình nghi nỗ lực, Vạn cổ thử giang sơn.",
cần phải bồi đắp thêm sự tu dưỡng đạo hạnh. Đất nước chúng ta
hôm nay cần những vị Quốc sư như Pháp Thuận, Pháp Loa,Vạn Hạnh, Khuông
Việt..... khi thế nước lâm nguy thì ra tay phù nước, khi đất nước hòa
bình thì biết hòa với hạnh phúc, niềm vui của dân chúng.
Và sau hết, để bảo vệ quyền lợi
của đất nước và giáo hội, Hội đồng Giám mục VN, cần ý thức một
thế đứng độc lập và tự chủ là phải thoát ra khỏi quỹ đạo
Vatican. Được như vậy là một đại hạnh cho dân tộc.
- Nguyễn Văn Hóa
- 24.10.01
Chú thích :
(1) "When we speak of the Vicar
of Christ, we must not quibble, we must obey; we must not... evaluate his judgements,
criticise his directions, lest we do injury to Jesus Christ himself. Society is sick...
the one hope , the one remedy, is the Pope" Eamon Duffy, Saints & Sinners
History of the Popes, Yale Univ. Press 1997, tr. 246
(2) Sđd., như trên
(3) The God That Failed, Why 6 great
writers reject communism, Richard Crossman chủ biên Nxb. A Bantam @ Fifty - 1951,
tr.102
(4, 5) Sđd., các trang 148-149
(6, 7) Sđd., các trang 149, 151 "I
consider that on account of its compromises Christianity is bankrupt. I have written, and
I believe firmly, that if Christianity had really prevailed and if it had really
fullfilled the teaching of Christ, there would today be no question of Communism - there
would indeed be no social problem at all"
(8, 9) Sđd., như trên, các trang 3, 6
"There Communism, as a way of life, should, even for a few years, have captured
the profoundly Christian personality of Silone and attracted individualists such as Gide
and Koestler, reveals a dreadful deficiency in European democracy."The strengh of the
Catholic Church has always been that it demands sacrifice of that freedom uncomprisingly,
and condemns spiritual pride as a deadly sin".
Các sách Việt đã trích dẫn:
- Thi Văn Quốc Cấm (thời Pháp thuộc),
Thái Bạch, bản in ở Taiwan.
- Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn
Sơn, tái xb. ở hải ngoại.
Home