-
- Nhìn vào trong sự khủng
hoảng của
- Giáo hội Gia Tô
La Mã
- Nguyễn Văn Hóa
Nội dung
Tự đặt mình trước câu hỏi : tại
sao tôi phải quan tâm tới biến cố "xưng tội" trươc nhân loại của Giáo hội Gia Tô La Mã, để có lúc đêm thao thức
trắng, ngày băn khoăn suy nghĩ ? Tại sao tôi không dửng dưng cho nó đi qua
tâm tưởng như dửng dưng trước hàng chục, hàng trăm bản tin động trời
khác vẫn diễn ra mỗi ngày, mỗi tháng trên trái đất ? Có phải vì các
con số: hàng chục triêu người đã bị sát hại, khổ đau trong quá khứ,
vì những cơ ngơi nhà thờ đồ sộ hào nhoáng bên ngoài, của gần một tỉ
tín đồ khắp thế giới. Hay có phải vì một sự lầm lẫn của tư duy đã
nhập nhằng cái văn minh kỹ thuật phương Tây với Giáo hội ấy của một
số người ?
Nếu một kẻ ác nhân danh cái ác để
hại người, thì cái ác ấy là biêủ hiện cụ thể, bất khả tư nghị.
Nhưng nếu một kẻ Ác nhân danh cái Thiện để tàn ác, chà đạp con người
cả nhân cách lẫn thân xác, thì việc trước tiên là một phiên tòa lương
tâm trong mỗi con người phải được đặt ra. Hơn nữa, kẻ Ác nhân danh
cái Thiện ấy lại là một hệ thống tôn giáo có chủ đích chinh phục cả
loài người, thì lương tâm là vấn đề chung của nhân loại.
Trên cương vị là một người Việt
Nam, gắn bó với sinh mệnh lịch sử của dân tộc, tự hãnh về vinh quang
hay tủi nhục; tôi không thể không biết tới chiều dài lịch sử và sự
khủng hoảng cũng như dự phóng của đạo Gia Tô La Mã – kẻ đã từng
nhúng tay khuynh đảo chính trị, xã hội, văn hóa trên đất nước này. Và
lần nữa, cũng là con số: trên ba triệu người Việt đã chết, hàng triệu
người khác đau khổ vì thương tích, phế nhân, bệnh hoạn đang sống; một
xã hội tự vươn lên trong khó khăn của chậm tiến và nghèo nàn sau chiến
tranh – có một mối liên hệ lịch sử nhân quả với tôn giáo này. Chính
vì vậy, bài viết này chỉ là biểu hiện nhỏ bé sự thao thức ấy.
1. Vài Nét Thăng Trầm Của
Đạo Gia Tô La Mã [về mục lục]
(Tỉnh lược một trang nguyên tác.
Chân thành cáo lỗi tác giả)
1.1 Buổi sơ khai [về mục lục]
Giáo Hội Gia Tô từng tuyên bố Giáo
hội này là một sự kế tục của tinh thần Tân Ước. Các tín lý Tân Ước
bao gồm những bức thư của các giáo sĩ răn dạy tín đồ [ Kinh Thánh
Timothy & Titus I và II ], các bức thư của thánh Phêrô (Peter), các sử
gia Giáo Hội đã gọi nó là thời kỳ "Gia Tô sơ khai". Tuy vậy
theo nguồn gốc lịch sử cho đến năm 200, Gia Tô giáo chưa thực sự hình
thành một giáo hội, mà chỉ là một tổ chức bí mật với số hội viên
khiêm tốn, đa số thuộc giai cấp xã hội bần cùng và nô lệ. Từ căn cứ
lịch sử này, Giáo Hội Gia Tô thường tuyên truyền họ là giáo hội của
người nghèo. Gia Tô giáo thời ấy không được giai cấp thống trị, người
giàu có và thành phần trí thức ưa chuộng. Mặc dầu không được coi là
hợp pháp, nhưng Gia Tô giáo được đế quốc La Mã dung thứ.
Truyền thống "xử tội" tín
đồ Gia Tô thường xảy ra ở vài biến cố ở địa phương, ngoại trừ
những vụ xử tội dưới thời các vua Decius, Valerian, Diocletian trong thế kỷ
thứ 3. Trong lúc đó số lượng tín đồ trong các thành phần dân chúng khốn
khổ lại gia tăng ở mức báo động chính quyền, La Mã chợt nhận ra rằng
Gia Tô giáo có thể làm sụp đổ đế quốc, nếu tôn giáo này phá huỷ
luôn tinh thần "ngoại giáo" (Paganism) vốn là truyền thống của
giai cấp thống trị. Họ điều chỉnh lại sự lượng giá về tinh thần
Gia Tô, nhưng không ai tiên đoán được Gia Tô giáo về sau trở thành một
hứa hẹn của đế quốc để hội nhập thành La Mã; và trong bối cảnh đó,
sự thu thập tài liệu để dựng ra Tân Ước hình thành. Văn chương thần
học thấy xuất hiện, những ông thầy giảng mượn Gia Tô giáo như một tín
lý trong xã hội và chính sách của đế quyền La Mã. Các tín lí này là
các bản văn của những nhà thần học đầu tiên đã gây ra nhiều tranh luận,
bàn cãi. Dần dà với thời gian nó được đồng hóa như một tín lý
chính thức trong thế giới Gia Tô La Mã.
1.2. Thời Trung Cổ
(313-1517) [về mục lục]
Năm 313, vua Constantine (Constantine the
Great) ra tuyên cáo Milan (The Edict of Milan) cho phép Gia Tô có đủ các pháp định,
và cuối thế kỷ thứ 4 Gia Tô trở thành quốc giáo có cơ cấu tổ chức
của giáo hội, và người ta đã gọi là "Giáo hội Constantine", có
vị trí biệt đãi của nhà nước. Vị thế này hiện hữu trong suốt thời
Trung Cổ. Giáo Hội được bình đẳng tranh luận với chính phủ về mọi
vấn đề và bao giờ giáo hội cũng thắng thế.
Thế rồi, đế quốc La Mã sụp đổ
qua các cuộc chinh phục của các bộ lạc sơ khai (Barbarian), Giáo Hội La
Mã tìm cách giữ vai trò nối kết văn hóa giữa cũ và mới. Âu Châu thức
dậy thoát ra khỏi ảnh hưởng về di sản của các cuộc chinh phục này, tạo
nên một cộng đồng có căn cước chung với Giáo Hội Gia Tô La Mã. Nhưng
căn cước Gia Tô lại bị các cuộc chinh phục của Hồi Giáo làm cho mờ
nhạt đi; cho đến sau thế kỷ thứ 7 Gia Tô Âu châu tìm cách cưỡng chống
lại họa Hồi Giáo gây nên những cuộc Thánh chiến. Nhưng làn sóng mới của
Giáo Hội Hy Lạp một lần nữa làm phai nhạt thêm căn cước của La Mã;
cho đến năm 1054 Gia Tô Hy Lạp trở thành hiện thực và được La Mã coi
như kẻ ly giáo.
Vào thế kỷ thứ 10, cộng đồng Gia
Tô mới thực sự xây dựng nên một cơ chế có tôn giáo và văn hóa kết
hợp, tạm gọi là cơ chế Gia Tô giáo (Christendom). Từ đây, Gia Tô phản
kích lại Hồi Giáo bằng các thập tự chiến, dù thất bại nhưng thu hồi
lại được một số đất đai, và duy trì sức mạnh tinh thần trở lại.
Vào thời Trung Cổ, ta thấy xuất hiện
các trường đại học, các tu viện, giáo huấn tinh thần "Gia Tô"
dựa trên những tri thức của Aristotle và các học giả Ai Cập. Qua môi trường
đại học, Gia Tô giáo dựng nên các tầng lớp trong giai cấp thống trị:
- Thế lực chính trị (Imperium)
- Thế lực tăng lữ (Sacerdotium)
- Tầng lớp trí thức (Intellectual)
Nhưng quyền lực tôn giáo thường
đi đôi với tham vọng và suy đồi. Những dấu hiệu thối rữa, mục nát
bắt đầu xuất hiện. Đạo lý suy đồi ngay trong Toà Thánh trong suốt thế
kỷ thứ 10 đến 15. Quyền lực Giáo hoàng mất hết hiệu nghiệm khi Giáo
hoàng Pius II hết hơi kêu gọi Thánh chiến với Thổ Nhĩ Kỳ, mà trong giới
đạo Gia Tô không một tiếng trả lời. (2) Theo
đuổi mục tiêu của sức mạnh vật chất, tiền tài, Giáo Hội không có
chỗ đứng cho đạo đức Thiên Chúa mà giáo hội đã tự tuyên dương
trong Phúc Âm.
1.3. Thời kỳ cách mạng
tôn giáo và Công đồng Vatican I (1517-1870) [về mục lục]
Cải cách được sử gia nhìn dưới
quan điểm một cuộc cách mạng quan trọng trong lịch sử Gia Tô giáo. Nó tấn
công vào các định chế Gia Tô đã được tạo dựng trong suốt thời Trung
Cổ, phá huỷ và đảo lộn tinh thần sâu xa, kể cả trong những quốc gia
vẫn còn duy trì đạo Gia Tô La Mã. Tín lý phân ly Gia Tô La Mã và các nhà
cải cách tôn giáo ở mức độ ngày một lan rộng. Từ đó, xã hội Âu
Châu không còn nằm trong căn cước của Giáo Hội La Mã. Quyền lực chính
trị và tôn giáo của Gia Tô bị đánh mất. Giáo Hội vĩnh viễn mất vai
trò hướng đạo về văn hoá, khi tinh thần khoa học bắt đầu nẩy nỡ. Các
hệ thống giáo dục ở Âu Châu đã được thế tục hóa (Secularised) và Thệ
Phản hóa (Protestanised). Thế giới Gia Tô già nua hụt hẩng trước hệ thống
mới của khoa học và triết học.
Nghị Hội Trento I và II (1545-63) ra đời
trong nổ lực củng cố lại hoài niệm thời Trung Cổ để chống lại Thần
học cải cách, trong hoài mong lấy lại tư thế đạo lý đã bị suy đồi.
Linh mục Bùi Đức Sinh đã mô tả ý nghĩa và nội dung của Công Đồng này
là "Giáo hội có sứ mạng bảo vệ tính cách tinh tuyền cả hai nguồn
mạch đức tin ( Thánh kinh và Thánh truyền), giáo dân không được tự ý
giải thích Thánh kinh, hoặc đặt cho Thánh kinh một ý nghĩa khác với những
điều Giáo hội đã xác định về đức tin và luân lí". (3) .Không may, Công Đồng Trento xảy ra trong bối cảnh xã
hội đang thay đổi sâu xa và nhanh chóng. Dầu sao trong nổ lực vô vọng
ấy, Giáo Hội đã cứu mình ra khỏi cơn rã tan tức thời, nhưng Giáo hội
đã bị đánh mất một số lượng tín đồ lớn ở Âu Châu trong suốt thế
kỷ 16. Bù đắp lại sự thất thoát nhân sự khổng lồ này, thời cơ lại
đến trong chiến dịch khai phá đất mới (đây là thời kỳ Giáo hội mon
men đến đất Việt). Cuộc khai phá đất mới dưới sự chỉ đạo của
những tín đồ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đầy cuồng tín và cuồng nhiệt,
đã mở cửa cho giáo hội đón nhận thêm những con chiên mới, xa lạ, nhưng
đã trám một phần vào lỗ hổng tín đồ; và đồng nhịp với mục tiêu
xâm lăng kinh tế, Giáo hội Gia Tô La Mã trở thành một lực lượng của
chủ nghĩa thực dân.
Thế kỷ 17 và 18 ở Âu Châu, Giáo hội
lại đón nhận sự suy đồi trên mọi lãnh vực. Biến cố lớn nhất của
thế kỷ 18 là cuộc cách mạng Pháp; và cho đến nay các sử gia vẫn còn
ngạc nhiên tại sao Giaó hội vẫn có thể tồn tại trong cơn bão lửa của
cách mạng 1789 (?). Ngay trên đất Pháp, người ta thấy hình ảnh hàng giáo
sĩ bị lùng bắt và bị giết. Có nơi thay vì giết bằng gươm, họ đã chất
từng 100 linh mục vào một chiếc tàu rồi đánh chìm dưới sông. Các
Thánh đường bị triệt hạ, người ta lấy chén Thánh đúc thành kim khí
hoặc đem dùng vào việc ăn uống. (4) Ở
Nga, tài sản của Giáo hội bị quốc hữu hóa, các linh mục bị bỏ tù,
các tu sĩ chống đối bị đày đi Tây Bá Lợi Á. (5) Tính
đến sau cách mạng có đến 22 ngàn linh mục phải từ bỏ đời sống tu
sĩ. (6) Bước sang thế kỷ 19, Giáo hội lại
suy đồi thêm trước các trào lưu trí thức, xã hội, chính trị hiện đại
phát triển như một thách đố với Gia Tô giáo. Giáo hoàng Pius IX, người
ở trên ngôi trị vì dài nhất (1846-78) đã cố níu kéo quyền lực của
mình bằng cách tôn vinh tính tối thượng của Giáo hội và Toà Thánh. Hội
Đồng Vatican Một ra đời (1869-70) xác định tính chính thống và bất khả
lầm lỗi (Infallibility) của Giáo hoàng. Trong lúc đó vua Bismarck với khuynh
hướng chống Giáo hội đã ủng hộ Giáo đoàn "Cựu Gia Tô" chủ
trương bỏ xưng tội, bỏ luật độc thân giáo sĩ, phủ nhận tín điều
Đức Mẹ đồng trinh. Cuối cùng đưa tới tình huống Công Đồng bị đình
hoãn, nhưng đã xúc tiến để hình thành Bộ Giáo luật (Codex Juris
Canonciti) được áp dụng cho tới ngày nay.Nhưng chỉ trong vòng ba tháng sau
đó, vua Victor Emmanuel II lại thế tục hóa mọi tài sản, cơ ngơi của Giáo
hội, đẩy Giáo hội vào tình thế mất luôn cả quyền lợi về kinh tế
và tài chính. Các tu sĩ dòng Tên bị trục xuất, đặc ân giáo sĩ bị bãi
bỏ.
1.4. Từ Hội Đồng Vatican Hai đến hiện
tại [về mục lục]
Một trăm năm sau Công Đồng Vatican Một,
Giáo hội Gia Tô La Mã liên tục bị tấn công bởi các chính phủ chống lại
giai cấp tăng lữ ở Âu Châu; các chế độ này dồn mọi nỗ lực đẩy
Giáo hội vào vị trí tuyệt đối bất lực về chính trị. Nhưng cũng như
trong thế kỷ 16, lần này giáo hội Gia Tô lại đón nhận cơ hội mới qua
làn sóng tín đồ di dân vào Bắc Mỹ, một khu vực mới với tài nguyên
phong phú giàu có bậc nhất của Giáo hội, bù đắp lại mất mát, tiêu
tán ở Âu Châu.
Trong thế kỷ 20, Giáo hội lại phải
đấu tranh chống lại làn sóng tư tưởng thần học hiện đại bắt đầu
với Giaó hoàng Pius X (1907), nhưng tinh thần thần học mới không những bị
tiêu diệt mà lại khai hoa nở nhuỵ cho Công Đồng Vatican Hai (1962-65). Đặc
điểm của Công Đồng này vừa là sự nối dài, vừa là sự đảo ngược
với tinh thần Công Đồng Trento trong nội dung Giáo hội muốn tinh tuyền
hóa cái quá khứ và chấp nhận một phần của cái mới. Tựu trung, trọng
tâm của Công Đồng là để hiệp nhất Giáo hội, đồng thời sửa lại Bộ
Giáo luật của Công Đồng Một cho thích nghi với thời đại. Trong thông
điệp khai mạc Công Đồng ngày 11/10 năm 1962 của Giáo hoàng John XXIII, có
đoạn "Ngày nay Giáo hội Chúa ưa thích dùng liều thuốc từ bi, hơn là
vung chiếc gươm thần chống đỡ; ưa thích đáp ứng với nhu cầu hiện tại
bằng cách trình bày giáo lý sung mãn của mình, hơn là lên án các học
thuyết". (7) Nhưng qua gần bốn thập niên,
tất cả những xảo thuật ngôn ngữ đó chỉ chứng minh được Công Đồng
Vatican Hai chỉ là một sự đổi thay đầy bất trắc trước một hiện trạng
khủng hoảng cả bề sâu, bề rộng lẫn chiều dài.
Trong một quá trình lịch sử không mấy
vinh quang đó, Giáo hội Gia Tô biểu lộ một quy luật bất thường của
văn minh nhân loại: bạo phát nhưng không bạo tàn. Tại sao ? Có phải vì sự
độc ác vô tiền khoáng hậu, hay nhờ vào chiến thuật bịp bợm cổ điển
: che dấu triệt để hành động, nhưng lời nói luôn luôn xiển dương lẽ
thánh hiền (?)
2. Sơ lược về tội ác của
Giáo Hội Gia Tô La Ma堼 [về mục lục]
Tội ác của Vatican phát xuất từ
căn nguyên của tín lý độc thần và duy nhất. Những ai không tin vào hệ
thống tín lý này là tà giáo, vô thần, ma quỷ. Từ một niềm tin mơ hồ
xoa dịu tinh thần khốn khổ của những kẻ nô lệ, hèn mọn luôn luôn bị
giai cấp thống trị đàn áp; giai cấp thống trị đã biến cải nó thành
một phương tiện vừa là cứu cánh để cai trị. Những ai chống lại quyền
lực thống trị (kẻ được uỷ nhiệm và đại diện đấng Tối Cao) là
chống Chúa hay ngược lại, sẽ bị tiêu diệt. Và "chính nghĩa" của
kẻ thống trị lại được thần thánh hóa.
Trong gần hai ngàn năm phát triển, những
thành tích tội ác cuả giáo hội đã được phát hiện dưới nhiều góc
độ nghiên cứu khác nhau. Ta thử nêu một vài thí dụ. Theo mật hàm của
Vatican được Giáo hoàng John Paul II cho mở ra (chỉ đến thế kỷ 19) của
Hội Ki Tô học cho biết: Ngoài các tội giết những người có danh trong
xã hội (các nhà khoa học, cách mạng .v.v...), qua các toà hình án
(Inquisition), Giáo hội Vatican đã giết người tập thể như sau:
+ năm 1481, quan tòa Tomas Torkvenada
thiêu sống một lúc 12,000 người Do Thái trên giàn hỏa chỉ vì họ không
chịu làm dấu Thánh.
+ quan tòa Luxero chỉ trong một buổi
xử án thiêu sống 107 người vô tội.
+ tại Âu Châu khoảng hơn một triệu
phụ nữ trở thành nạn nhân Giáo Hội truy bức tàn khốc.
Trên đây là những con số rất sơ
lược và dĩ nhiên hội KiTô học đã đưa ra từ tài liệu bị che đậy. Tôi
xin bổ túc thêm từ các tài liệu tổng hợp khác một bản kê khai tương
đối điển hình hơn ( "Christian Apologies Empty and Hollow", J.E.Hill, mạng
lưới tin học Secular Humanism ngày 4/11/2000 ) :
+ Giáo hội thiêu huỷ thư viện
Alexandria năm 310 với hàng chục ngàn cuốn sách, tư liệu, sách cuốn
(scrolls). Đối với các sử gia, đậy là tội ác không đo lường được,
vì lịch sử Gia Tô giáo đã bị đánh mất gốc tích vì sự thiêu huỷ có
chủ đích này. Lần thứ hai, giữa thế kỉ 16, sách vở lại bị đốt từng
đống ở Âu châu. (8)
+ thủ tiêu có hệ thống sự đối
kháng của những người không theo Gia Tô trong thời kỳ đầu của giáo hội
(từ năm 325 đến 900). Số nạn nhân không thể biết đích xác, ước lượng
đến 50,000 người.
+ thập tự chiến (Crusades từ 1015 đến
1300) : tổng cọng 9 cuộc thánh chiến có hàng trăm ngàn người bị tàn
sát với khẩu hiệu "Chúa muốn vậy" (God wills it). Một số tài liệu
khác cho rằng số bị giết lên cả triệu người.
+ giết hại thường xuyên như một
nhiệm vụ người Do Thái ( từ 350 đến 1945) : hàng triệu người cọng thêm
6 triệu người trong thế chiến thứ hai. Sử gia Paul Blanshard trong tác phẩm
"On Vatican II" cho biết đến một phần ba dân số Do Thái đã bị
giết trước và sau Thế Chiến 2. (9)
+ các tòa hình án ( từ năm 1200 đến
1500 ) : con số nạn nhân không thể đếm được, có thể hàng trăm ngàn,
hàng triệu hay nhiều hơn nữa... Đa số nạn nhân là đàn ông, đàn bà, trẻ
em bị tra tấn, rồi đem thiêu sống hay treo cổ. Đây là nhận xét hợp
lý, vì khó có thể đưa ra con số cụ thể, chỉ cần biết đích thực rằng
toàn thể Âu Châu vào thời điểm đó là một địa ngục nằm dưới quyền
sinh sát của Giáo hội Gia Tô (nguyên văn "In all, total victims is
immeasurable, a hundreds of thousands, a million or more, perhaps, depending on whose
figures are used. Men, women, children. Most were tortured first then burned or
hanged", mạng lưới Secular Humanism). Theo Frank R. Zindler trong bài báo
"Pope John Paul II the Criminal" (mạng lưới Americanatheist, Spring 99) cho
biết có đến hơn 11 triệu người bị giết chết bởi các Tòa Hình Án.
Có thể mô tả đây là hành động nhằm huỷ diệt nhân loại, tạo nên một
cuộc tận thế như trong Thánh kinh, chỉ còn lại Giáo triều và những tín
đồ đã thanh lọc sống sót. Học giả Nguyễn Hiến Lê mô tả tình huống
giữa thế kỉ 16 "Giáo hoàng Paul IV ra lịnh khủng bố triệt để những
kẻ tình nghi có tư tưởng tà giáo. Không những chỉ dùng lửa để huỷ
hoại phong trào cải cách mà thôi, ông còn muốn bóp chết luôn khoa học
và triết học" . (10)
+ chiến dịch "lùng bắt quỷ"
(Witch hunts) từ năm 1500 đến năm 1780: hàng chục ngàn nạn nhân bị giết.
Đa số là phụ nữ, trẻ em, người già và bệnh. Khởi sự các nạn nhân
bị tra tấn bằng các dụng cụ man rợ, rồi bị đem thiêu sống hoặc treo
cổ.
+ buôn nô lệ (American slavery) từ năm
1500-1865: hơn 50 triệu nạn nhân, bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Con
số người bị giết chết, ném xuống biển không ghi nhận được.
+ tội ác kỳ thị phái tính và chủng
tộc: hành hình, thù ghét sắc tộc, giết người hàng loạt, hăm dọa.v.v...
(Lynch mobs, hate group, random killing, intimidation...) từ năm 1865 đến ngày nay:
số nạn nhân chưa biết rõ, đang còn tiếp tục nghiên cứu và kiểm kê.
+ nếu tính luôn tội ác tiếp tay với
chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới thì tội ác này vô cùng tận.
3. Khủng hoảng đạo lí:
nhân quả của đồng tiền tội ác [về mục lục]
Đa số chúng ta đã suy luận một
cách thông thường rằng những số tiền mà giáo dân đóng góp, cúng dường
để phục vụ Thiên Chúa và Giáo hội vào những ngày lễ thường và chủ
nhật đã đóng góp cho ngân sách tài chính của Vatican. Trên thực tế như
chúng ta đã biết các quốc gia Âu châu là trụ chống của Giáo Hội thì
đang bị suy thoái, gần như sụp đổ. Nhà thờ bỏ trống hoặc bị bán đứng
vì không có giáo dân. Vì vậy số tiền đóng góp của các giáo xứ còn lại
rất khiêm tốn, chỉ trừ sự đóng góp tích cực của giáo dân ở các quốc
gia Bắc Mỹ, nhưng theo thời gian các giáo xứ giàu có mất dần giáo dân.
Một số giáo xứ nhà nghèo khác ở các bang đông dân ( Mỹ ), đa số giáo
dân còn đi lễ nhà thờ thuộc các sắc tộc thiểu số như Phi Luật Tân,
Mễ Tây Cơ và Việt Nam. Nói vắn tắt, những số tiền này không thể nào
bù đắp vào chi phí điều hành của nhà nước Vatican, với ngân sách điều
hành mỗi năm được công bố chính thức vào năm 1999 là 176 triệu đô. Vậy
thì thế lực tài chính của Vatican đến từ đâu ?
3.1. Vốn liếng khởi sư瑩bsp; [về mục lục]
Như đã trình bày trong "Vài nét
thăng trầm của đạo GTLM", ta thấy trong cuối thế kỉ 19 đến đầu
thế kỉ 20, Giáo hội La Mã chỉ còn là một vùng đất nhỏ bé ở Rome. Để
phản đối các Giáo hoàng đương thời đã tự coi mình là những "người
tù tự nguyện" (Voluntary Prisoners). Nhưng một sự thay đổi lớn đã xảy
ra khi đảng Phát xít Ý lãnh đạo bởi Benito Mussolinni lên nắm quyền: một
hiệp ước được gọi là Lateran Concordat được ký kết năm 1929, Vatican
được công nhận như một nhà nước có chủ quyền (sovereign country), và
đạo Gia Tô La Mã được công nhận là quốc giáo ở Ý, được tài trợ một
số tiền là 85 triệu (Tài liệu của Thomas Reese nói là 91.7 triệu) ; đổi
lại Vatian giữ vai trò trung lập trong các vấn đề đối ngoại của chế
độ. Một ân huệ lớn nữa là chính phủ Phát xít đồng thuận cho Vatican
được miễn thuế trong tất cả mọi lợi tức qua kinh tài và đầu tư.
Tưởng cũng cần nói thêm về sự hợp
tác qua mật ước giữa Giáo hội và đảng Quốc Xã Đức dưới sự lãnh
đạo của Hitler đã mang lại cho Vatican một ân huệ khác với đạo luật
Kirchensteuer ( church tax ) buộc người dân phải đóng thêm một thứ thuế gọi
là thuế nhà thờ. Chỉ riêng trong năm 1943, một số tiền là 100 triệu đã
chạy thẳng vào tủ sắt của Vatican từ số頴huế
này. Có lẽ đây là bằng cớ cụ thể nhất mà Vatican đã không thể chối
bỏ được sự lên án đã hợp tác với Hitler và đã âm thầm đồng lõa
"nướng thịt" sáu triệu sinh linh Do Thái vào các lò hơi ngạt và
hơi đốt.
Từ số vốn khởi đầu nói trên,
Vatican bắt đầu "cất cánh" trong những dịch vụ kinh tài, kể cả
những thương vụ bất hợp pháp và tội ác.
Các số tiền nhận được qua hiệp
ước Lateran được đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan Giáo hội APSA (
Administration of The Patrimony of The Holy See ), Vatican khởi sự tạo dựng đế
quốc tài chính ngay tại trên lãnh thổ Ý xuyên qua công ty Società General
Immobiliare ( SGI). SGI đã đầu tư vào nhiều dự án xây cất, viễn thông,
ngân hàng, nói chung la 账#7845;t cả mọi kỹ nghệ
mà Vatican nhắm có thể đạt được lợi tức một cách dễ dàng và khổng
lồ, kể cả đầu tư vào các công ti chế tạo dược phẩm thuốc ngừa
thai, các kỹ nghệ sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh trên thế giới.
Nhưng quan trọng và chủ động nhất là sự đầu tư vào thị trường chứng
khoán. Kinh Thánh đã từng dạy giáo dân Gia tô rằng " Người giàu mà
vào nước Thiên đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim". Nhưng có
lẽ các kẻ đại diện đấng Ki tô và Giáo triều của họ rỏ hơn ai hết
thiên đàng có thật hay không và nó nằm ở đâu; nên làm giàu bằng tất
cả mọi phương tiện và thủ đoạn vẫn là yếu tố quyến rũ và đầy hấp
lực... Bởi vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi Giáo hoàng không phải chỉ
là một nhân vật đầy quyền uy, "đạo hạnh"...mở miệng ra là
tuôn những lời thánh; nhưng còn là một "chuyên gia" về tình hình
kinh tế, thị trường chứng khoán quốc tế. Cựu ký giả ở La Mã, Barrett
Mc Gurn đã kể lại sự bộc lộ thảng thốt của ông James Mitchell, bộ trưởng
lao động Mỹ qua bài phỏng vấn ông bộ trưởng này sau một cuộc viếng
thăm Giáo hoàng Pius XII "Giáo hoàng biết mọi chuyện về tổ chức Lao
Động Quốc Tế (International Labor Organisation), ông ta còn loan báo nạn suy
thoái kinh tế ở Mỹ đã chấm dứt. Tại sao vậy, chúng tôi tự tìm hiểu
lấy vậy". (11)
3.2. Hoạt động của
"Ngân hàng nhà Chúa" [về mục lục]
Sau năm 1960, số tiền vốn và lời
được gia tăng đầu tư ở ngoài địa phận nước Ý. Để thực hiện mục
tiêu đầu tư, một cơ sở kinh tài được nguỵ trang dưới danh xưng tôn
giáo có tên là Viện Giáo Vụ (Institute for Religious Works – IOR). Thực tế
đây là ngân hàng Vatican. Vatican Bank trước đó có tên là
"Administration for Religious Works", được thành lập năm 1887 bởi giáo
hoàng Leo XIII, đến tháng 6 năm 1942 giáo hoàng Pius XII đổi lại tên gọi
và đặt dưới sự quản trị của Bernadino Noraga, một tay tài chính chuyên
nghiệp. Thoạt tiên, Noraga khởi sự đầu tư vào các nhà băng lớn, các
công ti địa ốc và kỹ nghệ; điều làm cho Noraga đắc ý nhất là Vatican
thỏa thuận cho y mở một chiến dịch cho vay tiền với mức lời cắt cổ
( điều này dĩ nhiên đi ngược lại với tôn chỉ của Giáo luật là
không được cho vay nặng lãi). Chỉ trong thời gian ngắn, IOR bắt đầu liên
kết với các cơ sở tài chính dẫn đầu thế giới như Morgan Guaranty,
Credit Suisse, Chase Manhattan, Continental, Bankers Trust.v.v... Lợi tức tài chính
gia tăng trong các dịch vụ sản xuất thép, nông sản và bảo hiểm. Từ đây
Vatican bắt đầu tung hoành ngang dọc; từ làm chủ các khách sạn lớn
Watergate ở Washington DC, các nơi nghỉ mát ở Mexico đến các chung cư đồ
sộ ở Montreal. Hợp tác làm ăn thêm với các ngân hàng Chase Manhattan,
Vatican mua cổ phần ở các công ty General Motor, Gulf Oil, Bethlehem Steel, TWA,
IBM, và Shell Oil, GE, Paramount Pictures, Bank of America.v.v... Nhìn chung, không có
một dịch vụ béo bở nào mà Vatican không nhúng tay vào kể cả những thương
vụ bất hợp pháp và vô đạo.
Về hưu năm 1954, chết năm 1958, trong
chưa tới bốn thập niên sau hiệp ước Lateran, Noraga đã tạo dựng cho
Vatican một ngân quỷ là một tỉ đô la (vào thời đó), một trữ lượng
vàng nhiều hơn cả nước Anh và Pháp cộng lại. Năm 1952, tạp chí United
Nation World tường thuật chỉ số lượng vàng không thôi lên tới hàng tỉ
đô la được gởi ở ngân hàng Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (US Federal Reserve
Bank), ở Anh và Thuỵ Sĩ. Qua những nguồn tin bí mật về tin tức tài
chính của Giáo hội, năm 1972 tài sản của Vatican ở Mỹ và Canada lên tới
82 tỉ. (12) Trong thời điểm hiện tại, chúng
ta không thể nào biết một cách chính xác tổng số tài sản và lợi tức
kiếm được hàng năm là bao nhiêu. Đa số các nghiên cứu và tiết lộ chỉ
là từng phần, thí dụ một phần kinh tài của Vatican ở ngay nước Ý, một
phần ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ... tuy nhiên nhìn vào con số nhảy vọt từ 1929
đến 1972 (chỉ tính riêng ở Bắc Mỹ), ta thấy một sự tích sản rất to
lớn.
Năm 1972 Vatican bổ nhiệm Paul
Marcinkus làm chủ tịch Viện Giáo Vụ (IOR). Paul Marcinkus, gốc người Ba Lan
thụ phong linh mục ở Chicago, được bổ nhiệm làm bộ trưởng ngoại giao
Tòa Thánh năm 1952. Đến năm 1964 trở thành một hộ vệ, chuyên viên ngôn
ngữ (thông dịch viên) tháp tùng giáo hoàng đi công du khắp nơi. Năm 1970
Marcinkus đã cứu thoát giáo hoàng Paul VI trong một vụ mưu sát.
Như đã trình bày, Viện Giáo Vụ thực
tế là một tổ chức tài chính; nó là cái bể chứa tất cả những nguồn
lợi tức, tiền bạc kinh tài thu vén từ khắp nơi (ngân hàng trung gian,
các tổ chức từ thiện... ), kể cả các tổ chức tội ác: ma tuý, buôn lậu,
buôn bán vũ khí bất hợp pháp, cờ bạc, mãi dâm...
Và ba cơ cấu P-2 (song hành hoạt động
với các tổ chức Mafia), ngân hàng Ambrosiano, Viện Giáo Vụ như một tam giác
ba đầu vừa kiểm soát nhau, vừa điều hành công việc, và mối lợi chung
đổ về Vatican. Kẻ mang trọng trách phối hợp cho ba mũi tiến công này hoạt
động nhịp nhàng là hồng y Paolo Bertoli. Với vai trò này, Bertoli hoạt động
vừa như một nhà ngoại giao (đối ngoại), vừa điều hợp, phân nhiệm
nhân sự (đối nội).
Tổ chức P-2 ( thuộc Hội Tam Điểm
–"Freemasonry"), đứng đầu bởi Lucio Gelli, có mối liên hệ lịch
sử không mấy tốt đẹp với Vatican vài thế kỉ trước. Là một tổ chức
bí mật có hội viên khắp thế giới. Riêng ở nước Ý, tổ chức này quy
tụ vài ngàn người nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính phủ, gồm
các lãnh vực chính trị, tài chính và hành chánh, kể cả tình báo và
quân sự. Ở trong quốc hội cũng có đến 48 hội viên với chừng bốn bộ
trưởng trong nội các. Người ta cho rằng Gelli đã tạo dựng một thế lực
"quốc gia trong quốc gia". Xuất thân là một sĩ quan trong sư đoàn
SS (Herman Goering chỉ huy) của quốc xã Đức, và với kinh nghiệm tội ác của
quá khứ, Gelli có một chiến thuật lobby chính trị rất thông dụng ở
các quốc gia Gia Tô là nắm lý lịch của các thành phần ưu tú trong xã hội,
biết rõ thành tích và các tật xấu của họ để đe dọa, tống tiền hoặc
ép nạn nhân phải đi theo con đường bá đạo của mình.
Một thành tích rất đáng kể khác
là Gelli với sự hợp tác và chỉ đạo của Vatican đã tổ chức "đường
giây chuột cống" (Vatican Ratline) bí mật đưa chừng 30 ngàn nhân viên,
đảng viên Quốc Xã, đa số là thành viên sát nhân của tổ chức Gestapo
trốn thoát và sống an toàn khắp nơi trên thế giới sau chiến tranh thứ
hai. Dĩ nhiên những thành phần này về sau trở thành những nhân vật hợp
tác bí mật và cật lực cho Vatican.
Qua nhu cầu của chiến tranh lạnh, một
tổ chức mới với các nhân sự cũ được thành lập gọi là "Núp sau
hậu trường" (Stay Behind). Các hoạt động của P-2 và "Núp Sau Hậu
Trường" như một chính phủ vô hình (Shadow Government). Chính qua các
đường giây này, Vatican đã chuyển cho tổ chức "Socialist Trade
Union" ở Balan gần 100 triệu đô la để lật đổ chính quyền Cộng Sản
năm 1989.
3.3. Thanh trừng khởi động
[về mục lục]
Có thể nói Vatican là một quốc gia
vô địch về phát triển tài chính trong lịch sử thế giới. Diện tích chưa
tới nữa cây số vuông (.44 km vuông), tài ngyên không có, kỹ nghệ cũng không,
nhưng với mạng lưới kinh tài cũng chưa từng có trong lịch sử được
che đậy dưới cái vỏ tôn giáo, đã tạo dựng được một đế quốc tài
chính chỉ tính đến đầu năm 1978 thôi ước chừng vài trăm tỉ đô la
(chỉ có Thánh mới kinh tài giỏi như vậy !) . Nhưng trong đám bùn đen, chợt
khi bùng lên vài tia sáng lưu huỳnh; "tia sáng" đó là hồng y Albino
Luciani của thành Venice được bầu làm giáo hoàng kế vị Paul VI ngày 2
tháng 8 năm 1978, lấy tên là John Paul Một ( John Paul I). Luciani xuất thân từ
một gia đình rất nghèo, đông anh em, nhưng ham học và thích đọc sách. Năm
lên bảy tuổi đã bắt đầu ngấu nghiến Mark Twain, Jules Verne, Charles
Dickens. Đặc biệt lúc còn ở tu viện Luciani đã thích thú đọc những sách
có tư tưởng đối nghịch với Giáo hội, như The Five Wounds of The Church,
một việc cấm kỵ đối với chủng sinh trong thập niên 1930. Ông có những
cử chỉ dễ gây thiện cảm với người đối diện nhờ ở cái miệng
lúc nào cũng có sẵn một nụ cười. Khi được nắm giữ chức vụ giáo
hoàng, lương tâm John Paul Một bị đánh động bởi hai sự kiện : Một, sự
bất tuân thượng lệnh của các tu sĩ dòng Tên qua 96 ngày họp Thượng Nghị
Hội thứ 32 vào năm 1974-75. Các tu sĩ dòng Tên này quyết đứng dậy phản
lệnh của Giáo triều, cương quyết đi theo con đường phục hoạt thánh
lý và đạo đức của Giáo hội nguyên thuỷ là giáo hội của người nghèo
khó và bị đàn áp... Thứ hai, Giáo triều đã và đang ngụp lặn trong biển
cám dỗ truyền kiếp của vàng và đô la. John Paul Một muốn bẻ gãy hai mũi
nhọn đang đâm vào trái tim của thánh Phêrô đến bật máu. Giải pháp đầu
tiên là một bài diễn văn trước Thượng Hội Đồng để đưa dòng Tên
vào con đường phải lựa chọn: giải tán hay phải cải cách theo hướng
Toà Thánh – dự trù đọc vào ngày 30 tháng 9 năm 1978. (13)
Thêm nữa, thiên đường không có chổ
cho chủ nhân của một công ti "mua bán, trộm cắp" (danh từ của Hội
Kitô học) trá hình tôn giáo như thế ấy, John Paul Một với kế hoạch
"làm sạch" (clean house) dự trù : - cất chức chủ tịch ngân hàng
của tổng giám mục Marcinkus, chấm dứt mọi hợp tác với Roberto Calvi,
Lulicio Gelli, Michael Sindona... Và thanh kiếm của Luciani có dấu diệu muốn vươn
dài tận tiểu bang Chicago, nơi đang là địa phận giàu có và đông dân
(2.4 triệu tín đồ) của Giáo hội, đang được cai trị bởi một kẻ
"buôn thần bán thánh" là giám mục John Cody. John Cody là một tay
kinh tài không thua kém đàn anh của mình ở Vatican; chỉ trong vòng một thập
niên đã gây dựng một tài sản lên tới gần một tỉ đô la. Chính quyền
vốn có một đôi mắt bén nhạy, đã bắt đầu chiếu cố tới những khối
tiền thiếu dấu chỉ chứng minh sự trong sạch của giáo phận Chicago.
Tháng 1 năm 1981, hội thẩm đoàn liên bang gởi "trát đòi"
(subpoenas) cho giám mục Cody muốn kiểm soát hồ sơ tài chánh, Cody từ chối
và lên giọng quyền lực "Tôi không cai trị đất nước, nhưng tôi
đang cai trị Chicago" [I don’t run the country but I do run the Chicago], và
thánh quan chỉ "trả lời trước Thiên Chúa và La Mã mà thôi" [I am
only answerable to God and Rome]. (14) Giáo hoàng
John Paul Một không đủ tinh tế chính trị để chợt nhận ra rằng ông chủ
tịch ngân hàng Vatican (giám mục Marcinkus) và ông tổng giám mục địa phận
Chicago có cùng gốc tích và những mối quyền lợi trói chặt. Những mối
quyền lợi đa dạng này sẽ được hợp lý hóa với tinh thần bảo vệ
Giáo hội của ông bộ trưởng ngoại giao Tòa thánh, hồng y Jean Villot. Những
manh nha cải cách của John Paul Một là "phản bội ước vọng của giáo
hoàng Paul VI", một "chiến thắng của sự phục hưng" tồi tệ,
theo quan điểm của Jean Villot. (15)
Và như thế, chiếc thánh giá cứu
chuộc của John Paul Một không đủ sức để thách đố với thế lực rừng
tiền, biển bạc. Chỉ chừng 33 ngày trị vì trên ngai vàng, Giáo hoàng John
Paul Một chết đầy bí ẩn giữa khuya ngày 28 rạng ngày 29 tháng 9 năm
1978. Bài diễn văn "chỉnh lý nội bộ" đã không bao giờ xảy ra,
kế hoạch "clean house" trở thành một mũi tên tẩm độc. Dư luận
đã nghi ngờ Giáo hoàng John Paul II đồng lõa với cái chết của John Paul Một
vì hai dữ kiện:
Một, các nhân vật Roberto Calvi, Licio
Gelli, Michele Sindona đã từng liên hệ rất sâu với hồng y Karl Wojtyla, và
quan điểm của họ lại đối nghịch với chủ trương của giáo hoàng John
Paul Một.
Hai, tư gia của Umberto Ortoloni, (thành
viên của tổ chức P-2, hợp tác chặt chẽ với tổ chức "Stay
Behind" – người từng được giáo hoàng Paul VI tuyên danh là "
Công tử của Toà Thánh" (Gentleman of His Holiness) ) là nơi chốn hội họp
của các hồng y trong Nội Các Toà Thánh (Members of Curia) với các thành phần
ưu tú khác của P-2, doanh nhân đồng thuận ủng hộ giải pháp Karl Wojtyla
thay thế John Paul Một. Một cuộc thanh trừng khởi động và cái chết của
Giáo hoàng John Paul Một là một giải pháp trọn vẹn. (16)
3.4. Mạng lưới kinh tài
đổ vơ堼/b>[về mục lục]
Sau khi John Paul II lên nắm quyền,
công ti Vatican lại tiếp tục chạy đều; cho đến lúc ngân hàng Ambrosiano
khủng hoảng tài chính, ngân quỷ bị thất thoát. Nhưng nó đã thất thoát
như thế nào ?
Trước tiên, Vatican đã đưa ra luật
cho các cổ đông đầu tư vào ngân hàng Ambrosiano rằng – không một ai
được làm chủ quá 5 phần trăm tổng số thương vụ của ngân hàng. Nhưng
qua tam giác (P-2, IOR, Ambrosiano) số tiền ký thác của thân chủ đã được
sử dụng để tái đầu tư bất hợp pháp, và để kiểm soát thị trường
chứng khoán bằng cách thiết lập các "công ti ma" (Ghost
Corporation). Để thực hiện mục tiêu này Calvi chuyển tiền của IOR chạy
lòng vòng, vớt vát một số tiền ký thác của các tổ chức tội ác chuyển
vào ngân hàng Ambrosiano, vào một số trương mục khác nhau, trong các công
ti ngoại quốc và các "công ti ma"; tạo nên một chuỗi rắc rối,
phức tạp trong vấn đề kế toán (rất khó để thiết lập cán cân thăng
bằng trong bản balance sheet kế toán – người viết ghi chú).
Thêm nữa, Calvi bắt đầu chuyển tiền
vốn đầu tư ra nước ngoài với số tiền lớn lao vượt ra ngoài quy định
của luật lệ ngân hàng Ý [ chúng ta nhớ rằng kể từ năm 1962, chính phủ
Ý đã dẹp bỏ luật miễn thuế cho Vatican, và Vatican đe dọa sẽ bán đứt
các cổ phần được giữ để duy trì ngân khoản tài chính thường trực.
Thủ thuật này đã đưa tới sự khủng hoảng thị trường tài chính, và
các cổ đông viên có lời sẽ bị đánh thuế. Vatican vô sự ].
Trong năm 1969, Vatican lại thua một trận
chiến về thuế vụ với chính quyền Ý, bây giờ Vatican dùng mánh lới
khác để chuyển tất cả số tiền lời, thương vụ, tiền ký thác, đầu
tư bên ngoài từ các nguồn khác nhau qua ngân hàng trung gian đổ về Viện
Giáo Vụ. Qua các hệ thống trung gian ( IOR, P-2...), hàng tỉ bạc được
Ambrosiano chuyển vào các trương mục của các viên chức cao cấp trong đảng
Dân Chủ Thiên Chúa giáo, các đảng viên đảng Cộng Sản được mua chuộc;
đồng thời mua đứt tờ báo The Daily American để đầu tư và làm chiếc
loa hổ trợ cho mình. Nhưng vào tháng 9 năm 1974, ngân hàng Privata của
Sindona (cũng kinh tài cho Vatican) công bố thâm thủng ngân sách đến hơn 300
triệu, phần Vatican lỗ 27 triệu . Trong cơn khủng hoảng bất ngờ đó,
giám mục Marcinkus tuyên bố không hề biết đến tên Sindona. Đây là chiến
thuật vờ vĩnh để đánh lạc hướng và chạy làng. Nhưng trước đó năm
1971, Vatican đã bán cho Calvi 37.4 phần trăm cổ phần tương với 1.15 tỉ đô
la (chỉ một transaction thôi). Bởi vậy khi ngân hàng Privata của Sindona vỡ
nợ, thì Vatican và Calvi gián tiếp hai bên cùng hưởng lợi.
Trong rất nhiều trường hợp, Calvi
đã đổ tiền vào các công ti ma, gồm cả tiền của IOR (Viện Giáo Vụ),
và dựa vào thương vụ và tiền kí thác để cho vay những món nợ không
bao giờ bồi hoàn (bad loan). Những số tiền này như không cánh mà bay. Đến
lúc nội vụ đổ bể, ngân hàng Ambrosiano thâm thủng 1.3 tỉ, chừng 400 triệu
đô chu du không biết vào tay ai. Theo điều tra của David Yallop, Calvi đã biển
thủ gần một tỉ đô la. Linh mục Thomas J. Reese trong "Inside The
Vatican" cho rằng trong năm 1984, Vatican đã phải bỏ ra "tiền
túi" 244 triệu đô la để trả cho các thân chủ của ngân hàng
Ambrosiano nhằm chấm dứt các đơn thưa kiện chống lại Vatican. (xem thêm
phần ghi chú-19).
Vào thời điểm Vatican công khai nhận
lãnh trách nhiệm có "hùn hạp" với ngân hàng Ambrosiano qua 11
"công ti ma" có cơ sở ở Panama, để bảo đảm sự yên tâm với
các thân chủ (gần 1 tỉ đô la), thì âm mưu chung quanh tổ chức P-2 của
Gelli trong mưu toan thiết đặt một chế độ Phát xít ở Ý đổ bể. Những
nhân vật bí mật của P-2 phơi bày trước công luận, trong đó có Flavio
Carboni, một nhân vật đầy bí ẩn từng liên kết với Gelli, các cơ quan tình
báo, Vatican, các tổ chức chính trị, tội ác. Lần này, Flavio Carboni đứng
ra làm vai trò "chửa cháy" (Fixer).
Trong lúc đó những nghi vấn về sự
vỡ nợ của ngân hàng Ambrosiano từ các thân chủ, các công ti ở hải ngoại,
cố vấn tài chính, báo chí đổ dồn những câu hỏi về Vatican. Bất ngờ
Calvi tuyên bố "Kẻ đứng đàng sau các món nợ không tiền bồi hoàn
(bad loans) là Vatican và Giáo Hoàng". (17)
Một uỷ ban điều tra của quốc hội
Ý được thành lập từ năm 1980 bắt đầu điều tra Michael Sindona, Roberto
Calvi, ngân hàng Vatican, kể cả ngân hàng Ý (Bank of Italy). Trước cơn nguy vỡ
bờ này, Carboni tung tiền mua chuộc những viên chức cao cấp trong chính phủ,
kể cả các biện pháp đe dọa. Một vài nhân vật có thế lực nổ lực
tìm cách cứu nguy và che đậy sự thảm bại của ngân hàng Ambrosiano, trong
đó có Đại sư (Grand Master) của Hội Tam Điểm là Armando Carona - kẻ có
thế lực nhất trong làng báo nước Ý, chủ tịch đảng Dân Chủ Thiên
Chúa giáo Carlo Caracciolo, đức ông Hilary Franco đại diện Vatican... Nhưng thực
ra mục đích của Vatican sử dụng chiếc dù bao che khổng lồ này không phải
để cứu Calvi, mà để bao phủ các âm mưu của tổ chức Opus Dei (Phụng Vụ
Chúa–"God’s Works"). Tổ chức Opus Dei được linh mục dòng Tên
Jose Escriva de Balaguer thành lập từ năm 1928. Hiện nay có khoảng 80 ngàn hội
viên khắp toàn cầu, được huấn luyện và tuyển chọn từ các môi truờng
xã hội khác nhau: các cơ quan truyền thông, báo chí, học viện, cơ sở tài
chính, giáo dục và chính quyền..., kể luôn các ông tu xuất đã lấy vợ.
Đây là những phần tử cực kỳ bảo thủ, đa số làm thầy giảng, nối
kết chặt chẽ với Giáo hoàng John Paul II. Người ta còn nhớ ngay ngày đầu
tiên lên làm Giáo hoàng, John Paul II đã đến viếng mộ Balaguer để cầu
nguyện đã ngầm xác nhận tầm quan trọng về sự liên kết với tổ chức
này. Một thời gian ngắn sau đó, Opus Dei được Giáo hoàng John Paul II nâng
cấp tương đương với Hội Đồng Giám Mục – [Personal Prelature] được báo
cáo mọi công việc trực tiếp với thánh Cha [Cũng cần lưu ý một điểm
lịch sử: trong quá khứ Balaguer đã từng tích cực vận động tuyên truyền
vào não trạng của tín hữu niềm tin Do Thái và Hội Tam Điểm (Freemasonry)
đang âm mưu để kiểm soát thế giới; đó là hai đối thủ của Giáo hội
!] . Tới đây ta có thể lần những gút mắt trong mâu thuẩn bạn, thù và
quyền lợi của Vatican.
3.5. Tội ác và hình phạt
[về mục lục]
Những hoạt động kinh tài của Tòa
thánh là cả một sự bí mật truyền thống. Các hoạt động truyền giáo,
thâu nhận tín đồ của chúa Giê Su ngày trước qua Kinh Thánh cũng đầy một
trời bí mật: chúa Giê Su làm phép lạ chửa bệnh cho dân Do Thái thì dặn
tín đồ giữ kín, giảng dạy tín đồ trên núi Sọ cũng căn dặn tín đồ
không được nói cho ai. Sự thể lúc sinh thời, Chúa đầy rẫy kẻ thù
chung quanh. Với truyền thống đó, Vatican răn đe các kẻ thừa hành phải
giữ bí mật mọi hoạt động kinh tài (bằng các phương tiện rất phi tôn
giáo) là một điều hợp với tín lý của họ. Những tác phẩm nghiên cứu
dày đặc về công ty Vatican trong các thập niên vừa qua đã làm cho sự suy
nghĩ và phán xét của nhân loại có đầy đủ các bằng cớ minh bạch về
họ. Nhưng tất nhiên, thái độ của Vatican lúc nào cũng phủ nhận và lên
án. Vatican cho rằng những tác phẩm này là phỉ báng Giáo hội Gia tô La
mã, là những kẻ đố kỵ với "sức mạnh" của Giáo hội, tinh thần
của quỷ să tăng chống lại sự thánh thiện của Thiên Chúa. Sự phủ nhận
và tố ngược này chỉ thật sự câm tiếng sau cái chết của Roberto Calvi,
chủ tịch ngân hàng Banco Ambrosiano. Thật vậy, cái chết của Calvi nó đã
không vùi dập đi tội ác của Vatican vào trong bóng tối, nhưng lại tạo nên
một tia sáng khởi đầu dưới ánh sáng mặt trời trước lương tâm của
nhân loại.
Tất cả mọi âm mưu về hoạt động
kinh tài bất hợp pháp và tội ác này ngưng đọng vào sáng ngày 18 tháng 6
năm 1982, khi tử thi của Calvi treo lủng lẳng dưới chân cầu Blackfriars ở
Luân Đôn được tìm thấy. Vài giờ trước đó tử thi cô Graziella
Corrocher, thư ký của Calvi, được tìm thấy trên tầng lầu bốn của ngân
hàng Ambrosiano. Michael Sindona (ông "xếp" lớn của Roberto Calvi) bị
tư pháp Mỹ và Ý tuyên án rồi trốn thoát qua Thuỵ Sĩ. Nhưng "thiên bất
dung gian", ngày 22/3 năm 1986 Michele Sindona bị mưu sát bằng một ly cà
phê có chứa chất độc. Bí mật của của tổ chức Propaganda-Due (P-2),
bàn tay phù thuỷ của Vatican được lòi ra ánh sáng qua nhiều bằng chứng
tiếp nối. Dư luận quốc tế đã đặt ra một câu hỏi mới: Nếu Calvi bị
mưu sát thì ai là những kẻ chủ mưu ?
Có hai lý thuyết được đưa ra: Thứ
nhất, một số các chế độ quân phiệt ở Châu Mỹ La tinh đã nhúng tay
sâu xa với các tổ chức sản xuất và buôn bán ma tuý. Các dịch vụ này
tạo nên một số tiền tích luỹ rất lớn, do đó họ đã nhắm vào
Vatican như là một nơi giữ tiền và đầu tư an toàn nhất và vì cùng là
công dân của Giáo hội. Roberto Cavi và Licio Gelli đã dùng ngân hàng
Ambrosiano để ký thác những số tiền này, và từ đó chuyển vào ngân
hàng Vatican (Viện Giáo Vụ). Vì vậy khi ngân hàng Ambrosiano bị thâm thủng
tài chính một cách mờ ám, có nghĩa là một phần vốn liếng và lợi tức
của các tổ chức này đã tiêu ma, do đó Calvi bị thanh toán. Trước khi chết,
Calvi từng chuyển những số tiền lớn từ ngân hàng Ambrosiano (chi nhánh
ở Peru, Panama) vào các trương mục ở Thuỵ Sĩ, dưới các tên Licio Gelli
(65 triệu) – Flavio Carboni (30 triệu) để đánh lạc hướng. Vì vậy cái
chết của Calvi không những chỉ làm kẻ thù của ông hả dạ, mà ngay những
anh em trong nhà Chúa cũng được thoải mái hơn.
Lý thuyết thứ hai, theo những lời
khai từ thân nhân của Calvi trước tòa án, lúc còn sống Calvi từng cáo buộc
những tu sĩ như Ortolani, Marcinkus, tổ chức Opus Dei, Propaganda-Due và Vatican
đã chủ động trong những dịch vụ kinh tài bất chính này. Qua sự kiện
này, thì dư luận đã cho rằng Vatican là một trong những kẻ chủ mưu giết
Calvi ("made a killing") để hưởng trọn tất cả số tiền khổng lồ
còn lại từ các ngân hàng hoạt động bất hợp pháp ở hải ngoại, đồng
thời dập tắt luôn manh mối rất tai hại cho uy tín Giáo hội.
Tháng 12 năm 1998, con trai của Calvi là
Carlo Calvi đã trả lời cho tờ Toronto Star rằng " Cha tôi có rất nhiều
kẻ thù trong Vatican... dầu cho Vatican không được coi như một nghi can,
nhưng trong những cuộc điều tra không thể loại trừ yếu tố này". (18) Carlo Calvi còn nói thêm "Vào thời điểm cha tôi
chết, Vatican đang nổ lực bán ra những sở hữu thặng dư
(extra-territories) để kiếm lời. Người ta không biết tới những điều đó,
nhưng thật sự các viên chức Tòa Thánh đã thu hút các số vốn của người
đầu tư để tìm cách trốn thuế và thoát ra khỏi sự kiểm soát lưu hành
tiền tệ". (19)
Nhưng có lẻ lời ta thán ai oán nhất
là của góa phụ Clara Calvi "Vatican đã để cho chồng tôi bị giết nhằm
che đậy sự vở nợ của ngân hàng Vatican" (20)
Cuộc điều tra về tội ác tài
chính của Vatican vẫn tiếp tục tiến hành trong những ngày cuối của thế
kỷ 20. Các chính phủ Ý, Mỹ và một số nước ở Âu Châu đang hợp tác
để đi sâu vào nội vụ, vì ít nhiều số tài chính mất mát, hoạt động
kinh tài đứng lên trên và đứng ngoài luật pháp vẫn ít nhiều có liên
đới tới họ. Ít ra có hai cựu thủ tướng Ý là Bettino Craxi và Silvio
Berlusconi nằm trong mạng lưới kinh tài của Vatican. Còn phải kể thêm các
cánh tay nối dài của Vatican như hồng y Michele Giordano đang bị điều tra về
các tội tống tiền, cho vay nặng lãi, thành viên của tổ chức tội
ác..., và cả giám mục Paolo Hillica (giám mục Hillica là một nhân vật nổi
tiếng trong việc sáng tạo các phép lạ về Đức Mẹ đồng trinh !).
Tháng 6 năm 1984, giáo hoàng John Paul
II lên giọng giảng bài về đức lý hoạt động ngân hàng cho người Thuỵ
Sĩ rằng "Thế giới tài chánh, cũng là thế giới con người, lệ thuộc
vào lương tâm trong mỗi chúng ta" ["The world of finance, too, is a world
of human beings, our world, subject to the conscience of all of us"]. (21) Dẫu vậy người ta vẫn chưa quên Giáo hoàng đã từng
ngửa tay nhận món quà biếu bằng chiếc hộp nhỏ trong có 50 ngàn đô la từ
tay tổng giám mục Cody tại phi trường O’Hare, Chicago trong cuộc viếng
thăm Mỹ vào tháng 10 năm 1979. Giám mục Paul Marcinkus, người được David
Yallop cho là đã "nhúng bàn tay tội ác trực tiếp" ("direct
criminal involvement") vào sự sụp đổ và tiêu huỷ số tiền 1.3 tỉ đô
la của ngân hàng Ambrosiano, được Vatican bao che và cho nghỉ hưu trước khi
Uỷ Ban điều tra gõ cửa Tòa thánh. Licio Gelli, người được Conrad Goering
cho là kẻ tội ác nhất trong thời đại chúng ta bị tòa Milan tuyên xử 18
năm tù vào ngày 16 tháng 4 năm 1992. Trong tổng số 33 nhân vật bị tòa
tuyên án mang những trọng tội âm mưu lừa đảo gian lận tài chánh không
một ai thật sự vào ngồi tù, vì đã đóng tiền thế chân trước đó;
riêng Tòa Thánh và các viên chức của Giáo triều (Hồng y, Giám mục, Đức
ông, Linh mục...) đã gây những khó khăn trong việc điều tra của Tòa Án
Tối Cao, Uỷ Ban Điều Tra của quốc hội Ý vì luật "quyền miễn nhiểm"
(Immunity) ngoại giao của Vatican.
Qua biến cố tội ác kinh tài vừa kể
trên, chúng ta ghi nhận được một yếu tố độc đáo: Vatican vì quyền lợi
đồng tiền đã phải hợp tác với những tổ chức tôn giáo, chính trị
mà trong lịch sử đã chứng minh từng là kẻ thù hoặc ly giáo của mình
như P-2 (Propaganda Due - Hội Tam Điểm), Opus Dei (của dòng Tên), một số đảng
viên của đảng Cộng Sản Ý... Và cũng vì quyền lợi mà những người này
đã ra tay "cứu Giá" cho Giáo Hội trong cơn nguy biến. Nhưng trong
quy luật đấu tranh quyền lực, cũng vì quyền lợi họ vẫn có thể trở
thành những kẻ thù truyền kiếp.
4. Vatican-cuối thế kỷ 20
: một cuộc khủng hoảng toàn diện [về mục lục]
Khủng hoảng là dấu hiệu của sự
suy đồi, rối loạn, tuột dốc, đổ vỡ.. Khủng hoảng diễn biến tiệm
tiến hoặc đột khởi từ nội thân tác động đến đối tượng, và khi
đối tượng nhận lãnh trực tiếp sự khủng hoảng sẽ phản hồi trở lại
nội thân. Đến giai đoạn này chủ thể (nội thân đã phát ra sự khủng
hoảng) sẽ tan rã hoặc biến dạng.
Cuộc khủng hoảng của Giáo Hội Gia
Tô La Mã mang tín hiệu hai chiều: chủ thể (giáo triều Vatican) qua các
hành động vô đạo đi ngược lại với lời tuyên truyền và đối tượng
(tín đồ) qua thái độ bất kính, bất tuân (phá bỏ truyền thống đức vâng
lời) và mất niềm tin vào tín lý đối với Giáo Hội. Ta có thể nói một
cách xác định, đây là một cuộc khủng hoảng toàn diện.
4.1 Khủng hoảng tín lý
[về mục lục]
Trong thập niên 1960, với sự thay đổi
mau chóng của thế giới, Giáo Hội đã đón nhận sự chia xé giữa hai
khuynh hướng bảo thủ và cải cách. Một làn sóng tu sĩ nổi lên chống lại
sự độc tài toàn trị. Có hàng chục ngàn tu sĩ và các chị (Soeurs) khắp
thế giới thoát ly khỏi Giáo Hội. Tu viện bỏ trống. Qua thống kê có đến
một phần tư giới linh mục đòi hỏi La Mã được phép lấy vợ, hàng triệu
tín đồ lìa xa Giáo Hội. Số giáo dân đi lễ ngày chủ nhật chỉ còn một
nữa. Theo các điều tra cho biết có đến 90 phần trăm tín đồ đã lập
gia đình không còn tuân theo các giáo luật của Vatican đối với các vấn
đề xã hội (như ngừa thai, phá thai, đồng tình luyến ái, tình dục
ngoài hôn nhân.v.v...) Sự mất niềm tin lôi kéo theo sự từ chối đóng
góp, cúng dường vật chất cho nhà thờ. Ở trong thập niên 60 số tiền
cúng cho nhà thờ bị cắt còn một nữa; ta có thể tin sự cắt giảm này
sẽ rất nghiêm trọng trong cuối thế kỷ 20. (22)
Tính chất "bí mật và che đậy"
của Vatican không còn giá trị gì nữa khi sự tiến bộ của kỹ thuật
truyền thông đại chúng, nhất là trí tuệ của con người được mở rộng
hơn. Làm thế nào Giáo hoàng có thể răn dạy con chiên của mình tuân phục
trong các vấn đề xã hội như ngăn cấm dùng thuốc ngừa thai, phá thai khi
tín đồ đã biết rõ rằng chính giáo hoàng Pius XII (Eugenio Pacelli) đã từng
bổ nhiệm người cháu mình là Giulio Pacelli làm chủ tịch công ti dược phẩm
sản xuất thuốc ngừa thai của Vatican (Instituo Farmacologio Serono di Roma) lớn
nhất nước Ý (?). Thái độ tiêu cực đối với giáo luật của các con
chiên phụ nữ đã đi từ làm ngơ, giả câm giả điếc, đến bất chấp rồi
phẩn nộ. Những cuộc biểu tình khắp nơi trên đất Mỹ, Âu Châu chống
lại sự can thiệp vào việc sinh đẻ của Tòa Thánh là một bằng chứng.
Tệ hơn nữa, Giáo hội Vatican đã
hoàn toàn bất lực trước vấn đề của đời sống quan trọng khác :
tình dục của giới tu sĩ. Có thật sự Giáo hội bị trói buộc vào những
tín lý của thánh Aquinas, của Giáo luật tự đặt ra hay chỉ vì các đấng
"hy sinh" cao cả này đã hiến dâng một cuộc sống độc thân trọn
vẹn để phụng vụ Thiên Chúa không có một kinh nghiệm nào về đời sống
hôn nhân hay tình dục ?
Năm 1074, Giáo hoàng Gregory VII đã áp
đặt một Giáo luật cho bất cứ ai chịu chức linh mục phải tuyên thề
theo chủ nghĩa độc thân. Và cứ thế theo thời gian, Giáo triều đã lợi
dụng sự "hy sinh" này để dễ bề kiểm soát cán bộ, mang cho
Giáo hội một bộ mặt đạo đức. Nhưng ở nơi cung điện, Giáo hoàng lại
bán rẻ sự hy sinh này. Linh mục John Shuster, thuộc tổ chức "Married
Roman Catholic Priests" trong một bài báo điều nghiên trên mạng lưới
tin học (rentapriest.com) đã tuyên bố rằng "Trong 1200 năm đầu của lịch
sử Giaó hội đã có đến 39 Giáo hoàng có vợ". Linh mục Joseph Mc Cabe
đã công bố đậm nét hơn "Trong số 150 trong 260 Giáo hoàng (chưa kể
J.Paul II !), chúng ta có thể biết chắc về cá tính và bản chất của họ;
có ít nhất 80 ông vi phạm tội tình dục [ trong đó có sáu hoặc bảy ông
mang tật chỉ thích giao hợp bằng hậu môn (Sodomy)], chừng 12 người là kẻ
sát nhân. Số còn lại là những kẻ có cá tính hung dữ, độc ác. Hầu hết
đều phạm tội mua bán chức vụ, gia đình trị (Giáo hoàng cha truyền con
nối, bà con dòng họ giữ các chức vụ quan trọng trong Toà Thánh – ghi
chú của người viết), bao che sự hối lộ và tham ô". (23)
Vatican có thể lên án các sự tiết
lộ này là phỉ báng, bôi nhọ Giáo Hội (Blasphemy) . Nhưng không thể phủ
nhận được đây là những thiên điều tra, nghiên cứu dựa trên sử liệu
và phương pháp khoa học, và nhất là lương tâm trí thức của người viết
ra. Sự lên án để khỏa lấp không thể kéo dài qua thực trạng đã dồn
dập xảy ra. Trong thiên phóng sự điều tra vào tháng 1 năm 2000, phóng viên
Judy L. Thomas của tờ The Star (tiểu bang Kansas) cho biết có hàng trăm tu sĩ
Gia Tô giáo trên nước Mỹ đã chết vì bệnh "liệt kháng" (
"AIDS"), hàng trăm vị khác đang sống trong đau khổ vì nhiểm bệnh.
Tai họa của nó không phải chỉ xảy ra trong các tu viện khép kín, mốc
meo lịch sử, mà ở trong mọi môi trường, lãnh vực. Cái chết của linh mục
Thomas Savage, viện trưởng đại học Rockhurst University đã làm gia tăng sự
cay đắng không riêng gì cho tín đồ, còn làm lay động trái tim của con người
trần thế. Và với tỉ lệ 30 phần trăm tu sĩ đồng tình luyến ái (theo
thống kê) là con số đủ để bứt phá tinh thần đại-phong-kiến của Giáo
triều Vatican. Ở đây, chúng ta có thể thấy được hậu quả nghiêm trọng
của việc bưng bít, khỏa lấp, che đậy theo chiến thuật truyền thống. Hậu
quả của tấn bi kịch không phải là tội lỗi của các linh mục đã và
đang đau khổ. Giáo hoàng và hội đồng quan lại Vatican là kẻ đáng bị
lên án. Chúng ta hãy đọc thử một vài ý kiến trong hàng chục ngàn ý kiến
của tín đồ, tu sĩ được phổ biến trên diễn đàn cuả mạng lưới nhật
báo The Star:
"Tôi không buộc tội tu sĩ. Tôi
lên án Giáo hội, Giáo hoàng , các hồng y, giám mục trong Tòa Thánh. Tôi tự
hỏi: Đến bao giờ quý ngài mới thật sự sống với sự lương thiện của
chính mình ?" ; "Giáo hoàng La Mã và Giáo hội của ông ta thể hiện
tinh thần chống-Giêsu, cũng như cuốn Thánh Kinh; đó là một kỳ công
(Wonder) mà thế giới không thấy được" ; "Tôi là một tu sĩ Gia Tô,
nhưng tôi không lấy làm khó chịu vì sự thật được tiết lộ. Sự thật
cần được giải phóng". (24)
Sự thật ấy là cơn bão táp của tội
lỗi xác thịt : Tu sĩ động dâm với trẻ em; tìm lạc thú trong sự giao hợp
bất bình thường với người cùng phái, thông dâm với nữ giới có gia đình;
nói chung là sự cám dỗ vô cùng tận lẫn khuất trong bóng tối. Bóng tối
ấy đã chập chùng trong sự đồng lõa của Vatican trong hàng thế kỷ, cho
đến lúc Vatican chợt nhận ra sự thiệt hại cho Giáo Hội đã vô phương
cứu vãn, và Giáo Hội lên tiếng. Giáo Hội lên tiếng không phải vì quan
tâm đến sự đánh mất đạo lý, danh dự, bác ái, thánh thiện, nhưng vì
con số của tờ giấy bạc : vào các ngày đầu thế kỉ 21, Giáo hội đã
phải bỏ ra gần một tỉ đô la để bồi thường riêng cho gia đình nạn
nhân có con em bị "sách nhiễu tình dục".
4.2 Chiều rộng của sự
tan ra堼/b>[về mục lục]
Một số lớn tu sĩ sáng suốt thức
tỉnh bắt đầu giải phóng mình ra khỏi sự áp chế, đè nén tinh thần của
Giáo hội. Hội "Cho Thuê Linh Mục" (Rent-a-Priest), là hội của những
linh mục đã cưới vợ công bố danh sách: có trên 20 ngàn tu sĩ, linh mục
lấy vợ và vẫn tiếp tục hành nghề "tư tế tự do" trong tổng số
46 ngàn linh mục trên khắp nước Mỹ, và trên khắp toàn cầu tổng số hội
viên linh mục có vợ lên đến 100 ngàn. Đứng trước thực tại này, Giáo
hoàng John Paul II đã tuyên bố một câu rất dấm dớ, không có nội dung
"Chủ nghĩa độc thân không phải là vấn đề cho đời sống tu
sĩ". Quả thật Giáo hoàng John Paul II là một nhân vật có thành tích về
những câu nói trống, tuyên bố trống và giải pháp trống. Đây có thể
là nghệ thuật trong ngôn ngữ ngoại giao, truyền giáo. Vì đàng nào thì
ngôn ngữ cũng là "lời Chúa" : "Ta sẽ ban cho các con ngôn từ
và sự khôn ngoan mà kẻ thù của chúng con không thể thắng nổi chúng
con". (25) Sự khôn ngoan của Giáo hoàng
chính là "trong những con đường xấu, chọn con đường ít xấu hơn, là
con đường xưng tội trống với Thiên Chúa và với đồng loại"
("Tế cáo trước bàn thờ Quốc Tổ Đại VN", mạng lưới Hội Kitô
học). Và cáo thú tội lỗi công khai trước nhân loại là thủ thuật làm
giảm nhẹ đi cái tội lỗi ấy, khi con người sẽ quên đi qua thời gian hoặc
không biết đến nội dung tội lỗi ấy như thế nào; chỉ thấy hình ảnh
của một Giáo hoàng thiết tha ăn năn, can đảm phi thường.
Hội Kitô học nhận xét "Tội tổ
tông hai cụ Adong Eva trong vườn địa đàng đúng sự thật vỏn vẹn bằng
con chuột, Giáo hội hóa phép, khuếch đại ra to bằng trái núi. Và tội của
Giáo hội to bằng 7 trái núi, Giáo hội hóa phép rút nhỏ lại bằng con chuột".
Tiếc thay dù tội lỗi có nhỏ bằng
con chuột, nhưng lại lan rộng khắp toàn cầu, nơi nào có sự thiết đặt
Hội đồng Giám mục, có nhà thờ và con chiên. Ở trên cao Giáo hội cố
giữ sự im lặng, thì ở dưới chiều rộng tín đồ bật lên những dấu
hiệu tan rã.
Trong thập niên 1980, trong vòng mười
năm số người đi lễ nhà thờ tụt giảm 30 phần trăm ở Mỹ, 60 phần
trăm ở Hòa Lan, 50 phần trăm ở Ý, 20 phần trăm ở Anh và xứ Wales. Mười
năm kế tiếp, ở các quốc gia Pháp, Tay Ban Nha, Ý, Hòa Lan hơn 85 phần
trăm tín đồ không bao giờ lui tới nhà thờ. Ở Hòa Lan có 2500 linh mục ,
5000 sư huynh, các chị (Brothers and Nuns) chạy trốn giáo xứ. Qua nghiên cứu
của Malachi Martin, cho đến năm 1986 – ở các quốc gia nói trên một năm
chỉ có một linh mục được truyền chức. Làn sóng "đức tin bị rỉ
máu" này lan tràn ra khắp nơi. Trong vòng 12 năm (1965-1977) có hơn 14 ngàn
linh mục (toàn cầu) xin từ chức hoặc tự ý bỏ chức; trong các năm
1966-1983 có 60 ngàn nữ tu trốn khỏi tu viện. (26)
Phải nói ngay rằng chưa bao giờ trong lịch sử Giáo hội Gia Tô có con số
cán bộ rả ngũ đáng kinh ngạc như vậy trong một thời gian rất ngắn. Nếu
tính đến đầu thế kỷ 21 con số tu sĩ ly khai, bỏ chức, lấy vợ sẽ bi
đát vô cùng.
Cơn bão lửa mất niềm tin ở Châu Mỹ
La Tinh cũng bùng lên. Cuộc viếng thăm Nicaragua ngày 19/7 năm 1979, Giáo
hoàng đã cay đắng nhận lãnh một "cái tát" tàn nhẫn trước sự
la ó, phản đối của biển người dân Nicaragua "Quyền lực thuộc về
nhân dân. Chúng tôi chỉ nghe lời Hội Đồng Cách Mạng Dân Tộc Nicaragua,
không nghe lời Giáo hoàng. Giáo hội hãy đối thoại với người nghèo
!". (27) Đài phát thanh quốc gia Nicaragua
đã mô tả "Giáo hoàng này là một Giáo hoàng của phương Tây, Giáo
hoàng của chủ nghĩa đế quốc". (28) Một
tổng trưởng trong Hội Đồng chỉ đạo Nicaragua tuyên bố "Giáo hoàng
đừng hòng biến dân tộc Nicaragua thành một Ba Lan thứ hai". (29) Một giáo sĩ dòng Maryknoll bồi đắp thêm "Ông
ta đang đưa Giáo hội vào con đường tự sát". (30)
Phải, đó chính là con đường tự sát,
khi kẻ lãnh đạo tôn giáo lớn mà lời nói luôn chuyên chở nội dung của
thuật ngữ đấy biến ảo, và hành động thì không phân minh thiện ác. Đó
chính là một cuộc khủng hoảng mà hội Kitô học đã mô tả "phải
là kinh hoàng kịch liệt, thậm lấy chí nguy, chín phần chết một phần sống".
(31)
Trong bối cảnh chín phần chết ấy,
Giáo hoàng John Paul II ngày 12/3 năm 2000 đã công khai "xưng thú 7 núi tội
lỗi với nhân loại". Tất nhiên một thời gian dài trước khi xưng tội,
Giáo hoàng đã có một số biện pháp, kế hoặch để cứu nguy Giáo hội rồi.
Nhưng có biện pháp thi hành được, có cái cay đắng đành chịu thôi, bởi
nếu được thi hành thì không khác chi Giáo hoàng tự tuyên bố giải tán
chế độ Giáo triều đại-phong-kiến của mình vậy. Đó là cương quyết
phủ nhận việc thụ phong linh mục cho phụ nữ, tái xác nhận dùng thuốc
ngừa thai và phá thai là trái ý Chúa (nhưng không hiểu nếu giới phụ nữ
dùng thuốc ngừa thai từ viện bào chế của Vatican thì có được tha tội
không ?); riêng vấn đề tu sĩ có vợ thì theo chính sách lững lơ, phó mặc
(laissez-faire). Ngoài ra các vấn đề khác giáo hội Vatican không còn đủ lực
để trì hoãn bánh xe tốc độ của các trào lưu xã hội. Vì vậy một số
biện pháp đã áp dụng, chẳng hạn như sử dụng "cán bộ ngoại
giáo" để bổ sung "quân số" linh mục thất thoát của mình như
chi tiền cho 700 cơ sở, hội đoàn (clubs) của tổ chức ‘Liên Minh Ki
Tô"⠨Christian Coalition) ở Mỹ do Pat Robertson làm thủ lãnh – một mục
sư hung hăng hiếu chiến, luôn luôn xiển dương chiến tranh. (32) Pat Robertson từng tuyên bố rằng " Sẽ không bao
giờ có hòa bình thế giới, cho tới chừng nào nhà Chúa và dân Chúa được
đặt đúng vị trí lãnh đạo lên trên toàn thế giới" (33) ; và đi thêm bước dài hơn nữa là truyền chức
linh mục cho một số mục sư Tin Lành muốn ngã theo mình. Và một kế hoạch
trường kỳ là vươn cánh tay phù thủy qua Á Châu và Ấn Độ dương.
Những thế kỷ trước, nhờ vào
súng đạn của cố quốc, Giáo hội đã đến với Á châu bằng máu và nước
mắt của dân thuộc địa (nhưng thất bại) ; giờ đây trở lại bằng
chiêu bài "hòa bình và yêu thương" biết đâu lại là diệu sách
(?) .
4.3 Chiến thuật mới của
Giáo hoàng John Paul II [về mục lục]
Qua nội dung "7 chương thú mục tội
lỗi" của Vatican, Ki tô học hội đã nhận xét " Trong 7 chương thú
mục tội lỗi, của riêng giáo hội Rô Ma, chỉ có chương 5 và chương 6 là
có nhân chứng, vật chứng và hiện trường trên đất nước Việt
Nam" [Chương 5: Confession of sins committed in actions against love, peace, the
right of peoples, and respect for cultures and religion; Chương 6 : Confession of sins
against the dignity of women and the unity of the human race] (mạng lưới
Vatican:www.vatican.va) .
Tôi xin cảm ơn những người anh em
trong hội Ki Tô học đã chặt dùm những mãnh thuật ngữ "truyền
giáo" (vốn rất điêu luyện của Vatican) thành những sự kiện lịch sử
cụ thể. Chính người anh em đã nói dùm cho chúng tôi về sự thật lịch
sữ qua các hành động xâm phạm chủ quyền, hòa bình, dân quyền, văn hóa,
tôn giáo, chia xé dân tộc... trên đất nước Việt Nam mà Vatican là một
thủ phạm trong quá khứ. Hành động của anh em đã gánh vác cho chúng tôi
công việc khỏi phải chứng minh, giải thích và lý luận. Bởi sự thật
đó luôn luôn là vấn đề lương tâm của kẻ sĩ Việt Nam. Và chúng ta muốn
rằng Vatican phải trực tiếp xin lỗi dân tộc Việt Nam như đã xin lỗi
dân tộc Do Thái. Bởi xin lỗi là thái độ lương thiện đầu tiên của kẻ
biết ăn năn. Nếu Vatican vì sĩ diện không thể làm điều đó thì ít ra
những tín hữu và con cái của Giáo hội như Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam phải làm; cũng như Hội Đồng Giám Mục Guatemala đã làm với dân
chúng họ vậy. Đó là thái độ của kẻ sĩ, kẻ trí hơn người. Cụ Trần
Văn Kha đã nhận xét về sự kiện này rằng "Các giám mục ở
Guatemala đã tỏ ra hết sức lương thiện và can đảm, khi biên thư xin lỗi
dân bản xứ. Còn các Giám Mục VN ? Nghĩ thật là buồn và xót xa cho dân tộc
mình". (34)
Hành động xin lỗi của HĐGMVN có thể
lấy lại được bản sắc của tôn giáo mình, xóa đi hình ảnh Giáo hội
là một "tổ chức tuyên truyền" và "tuyên truyền đi đôi với
che đậy bưng bít mặt tiêu cực – tốt đẹp khoe ra xấu xa đậy lại"
( Hội Kitô học) như của Vatican; hơn nữa nó lấy lại tư cách của một
linh mục VN: hào kiệt, trí tuệ và tự chủ; không chịu cúi mình và uốn
lưỡi như lời của linh mục Nguyễn Văn Tùng "Có gì để phải xin lỗi
? cùng nhau hợp lực để kiến tạo một quốc gia tự do (đặc biệt là tự
do tôn giáo) độc lập, hạnh phúc, phú cường, không thua các lân bang quá
xa để rồi mang họa bị xâm lăng, đó mới là trách nhiệm chung của các
tôn giáo, của mọi con dân Việt". (35)
Tôi nghĩ với sở học về Đông phương
học (tiến sĩ) của linh mục chắc không thể quên : kẻ sĩ thì không thờ
hai Vua, một người yêu nuớc không thờ hai Tổ Quốc. Làm sao đất nước
có độc lập được khi nhân cách chính trị của một công dân chưa độc
lập ? Làm sao đất nước có được phú cường khi quyền lợi của vương
quốc bên ngoài cao hơn quyền lợi của dân tộc ? Tôi nghĩ rằng ở cương
vị của một người lãnh đạo con chiên, quí vị phải làm một ngọn đuốc
soi đường, xoá tan những cặn bả tư duy đã đóng kín não trạng của một
số trí thức Gia Tô trong và ngoài nước; chấp nhận và thử thách con đường
trong sáng của trí tuệ và lương tri trong thời đại mới. Bởi nếu thật
sự có trí tuệ thì người trí thức không thể đắm chìm trong vũng lầy
của lý luận để tự cứu rỗi cho mặc cảm che đậy, khỏa lấp của mình.
Mặc cảm ấy là chuỗi dài kế tục của hàng thế hệ Việt-Gia-Tô khước
từ tội ác lịch sử của Vatican - kẻ chủ đạo âm mưu thống trị của
Giáo hội đối với đất nước Việt Nam.
Một lần nữa, trí thức Gia Tô Nguyễn
Gia Kiểng (chủ bút tạp chí Thông Luận, một trong những kẻ lãnh đạo của
phong trào tranh đấu cho dân chủ đa nguyên ở VN) đã nhìn vấn đề lịch
sử ấy như sau :
"Cuối thế kỷ 17 số người
theo đạo Thiên Chúa ở VN, cả đàng Trong lẫn đàng Ngoài, đã lên tới 10
%, điều này cần được nhắc lại cho những người thường phỉ báng đạo
công giáo là đã đến VN theo gót giày xâm lược của thực dân Pháp, bởi
vì người Pháp đã chỉ đến đặt ách đô hộ lên VN vào cuối thế kỷ
19 sau một cuộc chinh phục khá nhanh chóng và từ đó tỷ lệ người theo
đạo công giáo (8% hiện nay) đã giảm sút hẳn đi chứ không tăng lên, nhưng
điều này cũng cần được nhắc lại để ý thức được rằng ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây tại nước ta đã khá mạnh vào cuối thế kỷ
17". (36)
Ghi lại đoạn văn trên không phải
để hồi đáp, tranh biện cho một hiểu biết lịch sử đầy sơ đẳng và
sơ hở như vậy; nhưng để tái xác nhận một thực trạng người anh em
Gia Tô vẫn còn đeo đẳng một tì vết của đầu óc tưởng đã được cắt
bỏ sau một chuỗi dài xưng thú tội lỗi của Giáo hoàng John Paul II. Và thực
tại của cái tì vết cay nghiệt ấy chỉ có thể giải thích như là một
âm mưu đồng thuận, đồng lõa, đồng tiến với Vatican trên chiến trường
quyền lực ở Việt Nam. Ngày 4/11/1999, Giáo hoàng John Paul II đã hiệp
thông "Thánh ý" với Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ rằng "Cải
đạo cũng là một hành động của Thiên Chúa" (Conversion is also act of
God - bản tin của UNI, mạng lưới rediff.com); và từ một khái niệm đầy
linh hoạt đó chuyển sang một chiến thuật mới ở Á châu mang tính thời
đại hơn "Cải đạo là một nhân quyền" (Conversion is an Human
Right). Với chiến thuật này đã làm cho tinh thần "chống Cộng",
"Tranh đấu cho dân chủ đa nguyên", "Nhân quyền", "Bảo
vệ quyền làm người Việt Nam"... tự dưng cùng vỗ cánh nhịp nhàng,
gắn bó. Cũng như hồng y Carlo Maria Martini của giáo hội Milan đã mơ một
giấc mơ dài "Kinh Thánh là một cuốn sách của tương lai Âu châu"
trước thực trạng giáo hội rã tan từng mãng cũng rất đồng dạng với
ước mơ Kinh Thánh là cuốn "cẩm nang về văn hóa và đạo lý" cho
Việt Nam tương lai của cựu luật sư Nguyễn Văn Chức.
Vậy thì, biến cố xưng thú tội lỗi
của Giáo hoàng John Paul II ngày 12/3 năm 2000 chỉ nói được hai điều :
Trước tiên, cố tạo cho được một sự động tâm, thương cảm của nhân
loại qua sự "can đảm và lương thiện" của mình (nhưng đã thất
bại !); và bước kế tiếp trong âm thầm nhưng cương quyết chuyển mục
tiêu "mưu sinh thoát hiểm" sang Á châu. Nhưng qua các bằng chứng lịch
sử trước mắt, với đồng tiền tội ác Vatican đã không củng cố nổi
chế độ Walesa Gia-Tô ở Ba Lan, không làm chuyển đổi lương tri trí thức
của Âu châu và Bắc Nam Mỹ, thì chắc chắn nó sẽ không đủ sức lay động
nền tảng văn hóa Á châu và các cơ chế chính trị tại đây. Tuy vậy, để
đương đầu với chiến thuật mới của Giáo hội Gia Tô La Mã, sẽ là một
thách thức trí tuệ đối với giai tầng kẻ sĩ của dân tộc Việt Nam
trong đầu thề kỉ 21.
- 29/5/2000
- Nguyễn Văn Hóa
Ghi chú [về mục lục]
1. Guenter Lewy "The Catholic Church and Nazi
Germany",Mc Graw Hill,1964, tr.340
2. Nguyễn Hiến Lê "Lịch Sử Thế Giới",Văn
Nghệ xb., tr.376
3. Bùi Đức Sinh "Lịch Sử Giáo Hội
Công Giáo",Chân Lý-SG,1972, tr.77
4,5. Bùi đức Sinh,sđd, các tr. 171,172
6. Eamon Duffy "Saints&Sinners-A History
of The Popes",Yale U.Press,1997, tr.201
7. Bùi Đức Sinh,sđd, tr.433
8. Nguyễn Hiến Lê,sđd, tr.395
9. Paul Blanshard "P. Blanshard On Vatican
II", Beacon Press,1966, tr.138
10. Nguyễn Hiến Lê,sđd, tr.315
11. Nini Lo Bello "The Vatican
Empire",Trident Press,1968, tr.124
12. Paul I. Murphy "Popessa", Warner
Books,1983, tr.78
13. Malachi Martin "The
Jesuits",Touchtone Book,1987, tr.44
14. David A. Yallop, "In God’’s Name: An
Investigation The Murder of Pope John Paul I", Cori Books, 1997, các trang 426, 427
15. Ibid, coi thêm từ trang 423-425
16. Theo Conrad Goering trong "Through The
Looking Glass-Vatican Politics - the Calvi murder and beyond..." (mạng lưới
Americanetheist.org) và David Yallop (sách đã dẫn) cho rằng đây là một cuộc
"thanh trừng" J.P.I của phe bảo thủ Vatican [chủ trương "Ngựa
theo đường cũ"], trong ý định đưa J.Paul II lên làm Giáo hoàng. Một
tác phẩm lịch sử về các Giáo hoàng "Saints&Sinners" (sđd) của
Eamon Duffy, cũng có đề cập đến cái chết của J.P.I theo dư luận là bị
mưu sát. Vatican loan báo J.Paul I chết vì chứng bệnh nghẻn mạch máu tim
(Coronary Embolism), tr.282.
17,18. Conrad Goeringer, như đã dẫn.
19. Trong "Inside the Vatican" (biện hộ
cho Vatican), linh mục Thomas J. Reese (học giả, tốt nghiệp tiến sĩ chính
tri học, đại học Berkley) kể lại rằng Hồng y Castillo cho là Vatican là
đối tượng của một âm mưu. Hồng y Castillo nói "Ở tại nước Ý
này, bị ảnh hưởng lớn của Hội Tam Điểm trong vài ngân hàng và báo
chí. Chúng đã tấn công rất ác liệt Toà Thánh về mọi chuyện, kể cả
Viện Giáo Vụ" (ngân hàng Vatican) ("Here in Italy there is a big Masonic
influence in some banks and in some newspapers, and they attack very harshly the Holy See
in everything and the IOR", tr.208).
Theo tài liệu báo Thẳng Tiến "Một kẻ
thù ít ai lưu ý, đó là phái Tam Điểm vô thần", ở VN Hội Tam Điểm
du nhập từ thời toàn quyền Pasquier, bành trướng mạnh ở miền Bắc, sau
đó bị phân tán rồi lui vào bóng tối. Đến thời Bảo Đại, họ hoạt
động và xuất hiện dưới nhãn hiệu Đại Việt. Sau khi Ngô đình Diệm bị
lật đổ, hội được Cabot Lodge tích cực nâng đỡ nên mạnh lên. Vương
Quang Nhường, Nguyễn Hữu Trí là những bậc huynh trưởng (Lodge Master). Bùi
Đức Sinh, sách đã dẫn, phần 2, tr.158
20. David Yallop,sđd, tr.436
21. Ibid, tr.463
22. Paul I. Murphy,sđd, tr.307
23. Joseph McCabe trong bài báo "How The
Pope of Peace Traded in Blood", mạng lưới Americanatheist.org
24. Mạng lưới nhật báo Star/Kansas/Aids in
the Catholic Priest/Commentary
25. (Luca 21,15) trích lại từ Linh mục Vũ
Thành "Dòng Máu Anh Hùng" cuốn 2, 1987, tr.2
26. Malachi Martin, sđd,trang 248;(27) tr.119;
(28,29,30) tr.120
31. "Âu Châu Âm Thầm Bỏ Đạo", mạng
lưới tin học Hội Kitô học
32. Felix Alton Marrz bản tin trong mạng lưới
diễn đàn tin học Soc.History
33. Pat Robertson "The New World Order",
World Publishing,1991, tr.227
34. Trần Văn Kha &Trần Thiên Thanh
"Phá Ngục Tù", tác giả xb.1997, tr.582
35. Linh mục Nguyễn Văn Tùng "Cuộc
Cách Mạng của HĐGMVN", mạng lưới Kitô học
36. Nguyễn Gia Kiểng "Để Lịch Sử Đừng Lập Lại",
Thông Luận số 137, mạng lưới TL
