-
- Tôi đọc
- "TRUYỆN KIỀU VÀ
TUỔI TRẺ"
- của
- Lê Hữu Mục, Phạm Thị
Nhung, và Đặng Quốc Cơ
Trần Chung Ngọc
Lời mở đầu:
Trong đầu óc của trí-thức-Catô-La-mã-giáo
có một "cục bướu tinh thần" hay gây nên triệu chứng vừa mặc
cảm lẫn kiêu căng. Mời bạn đọc quan sát tác giả Trần Chung Ngọc nhân đọc "Truyện Kiều và Tuổi trẻ" đã giải phẩu nó ra sao:
- Ego Fum Papa
Đây
không phải là bài "điểm sách" hay "phê bình sách" vì,
thú thực cùng quý độc giả, tôi mới chỉ đọc hết có ba trang "Lời
Nói Đầu" và 20 trang của chương "Tổng Luận về Truyện Kiều"
trong cuốn Truyện Kiều và Tuổi Tre của
ba tác giả: Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung, và Đặng Quốc Cơ, Làng Văn ở
Toronto, Canada, xuất bản, 1998. Chương "Tổng Luận về Truyện Kiều"
do một trong ba tác giả, ông Lê Hữu Mục, viết.
Nhưng, cũng như đối với cuốn Những
Bí Ẩn Đằng Sau Những Cuộc Thánh Chiến... của Lữ Giang, alias Nguyễn
Cần, alias Tú Gàn, sau khi đọc "Lời Phi Lộ" trong cuốn sách trên,
tôi viết một bài nhận xét và, cho tới ngày nay, sau nhiều năm, tôi vẫn
chưa có thì giờ đọc tiếp.
Tôi e rằng, đối với tôi, cuốn Truyện
Kiều và Tuổi Trẻ cũng sẽ chịu chung một số phận. Lý do là, trong
hai phần tôi đọc ở trên, tôi thấy có nhiều sạn quá, có hạt sạn nhỏ,
có hạt sạn to như...hòn cuội. Do đó, dù có đọc tiếp chắc cũng chỉ mất
thời giờ vô ích, không biết hơn được điều gì mới lạ, vì với sự
nhận xét của riêng tôi, và qua vài đoạn trích dẫn mà một độc giả,
ông T.H.D., đã đăng trên tờ Thế Giới, số Tháng 1, 1999, tôi đã thấy
rõ mức độ hiểu biết của các tác giả đối với truyện Kiều, chủ ý
của các tác giả khi viết cuốn trên, và cách đặt vấn đề của các
tác giả trước thế hệ trẻ.
Trong đoạn kết của Lời Nói Đầu,
các tác giả viết: "Tác phẩm của chúng tôi chưa gọi được là một
cảo thơm (sic) cho nên còn tồn tại nhiều khuyết điểm. Chúng tôi
mong sẽ được sự góp ý của quí vị và các bạn trẻ để bổ khuyết".
Vậy thì tôi xin mạo muội "góp ý" cùng các tác giả. Trước khi
đi vào chi tiết, lượm ra một số cuội trong những đoạn tôi đọc, tôi
nghĩ cần phải minh định một điều. Tôi vốn là người kiếm cơm bằng
những kiến thức khoa học chứ không phải bằng vốn liếng văn chương chữ
nghĩa. Tuy nhiên , trong bài này, tôi sẽ "múa dìu qua mắt thợ" để
bàn về văn chương chữ nghĩa cao xa của ba tác giả nói trên qua một hiểu
biết và luận lý (logic) thông thường, nếu có gì không đúng tiêu chuẩn
"văn khoa" của quý vị tác giả, thì đó chỉ là vấn đề căn trí
bất đồng đấy thôi.
Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn
sau đây trong Lời Nói Đầu:
"...chúng tôi muốn giúp cho
các bạn thanh niên hiểu rõ Truyện Kiều, đi sâu vào bản thông điệp của
Nguyễn Du gửi cho thanh niên, yêu cầu họ tin tưởng vào tuổi trẻ của
mình, sống thành thật với bản thân một cách tự do, và biết đấu tranh
quyết liệt với mọi trở ngại, đầu tiên là với chính mình, để có thể
sống một cách trong sạch. Muốn như vậy, các bạn trẻ phải hết sức
can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, đồng thời phải
tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, tỉ
dụ., người đi đạo Phật thì tin tưởng vào Phật, người đi đạo Chúa
thì trông cậy vào tình yêu của Chúa, người theo đạo Khổng thì phải sống
theo đạo đức của Khổng Tử, v..v.."
Có thật chủ ý của Nguyễn Du khi
viết Truyện Kiều chỉ là để đưa ra cái thông điệp cho thanh niên như các
tác giả đã viết ở trên không? Thật ra, nếu chúng ta đọc Truyện Kiều
một cách lặt vặt, ngoài toàn bộ tư tưởng của cuốn truyện (out of
context), chúng ta có thể thấy rất nhiều thông điệp. Thí dụ, Hà Huy
Giáp thấy thông điệp của Nguyễn Du là: "Mơ ước của Nguyễn Du
muốn giải phóng kiếp người bị đày đọa đang được nhân dân ta biến
thành hiện thực, dưới ngọn cờ chiến đấu của chủ nghĩa Mác - Lênin
yêu nước, yêu người của Hồ Chủ tịch, của Đảng Lao Động Việt
Nam." Nhận định hoang tưởng này, xét về bản chất, cũng không
khác chi nhận định của ba tác giả cuốn "Truyện Kiều và Tuổi Trẻ"
về một thông điệp của Nguyễn Du cho giới thanh niên. Bởi vì, cả hai loại
nhận định này đều chỉ dựa trên vài chi tiết nhỏ nhặt trong truyện
Kiều, nương vào đó mà đưa ra một "thông điệp" khác ngoài vấn
đề văn chương chữ nghĩa.
Nếu chúng ta là những người
"học thật", không phải là những "học giả" như ba tác
giả cuốn "Truyện Kiều và Tuổi Trẻ", thì chúng ta phải biết
rằng, giá trị truyện Kiều không nằm nơi cốt truyện, vì cốt truyện
này không có gì đặc biệt, thời nào cũng có những nhân vật và nghịch
cảnh như trong truyện Kiều. Giá trị truyện Kiều nằm nơi văn chương tài
tình của Nguyễn Du, đã biến một chuyện tầm thường trong thời Gia Tĩnh
Triều Minh bên Tàu thành một tác phẩm để đời, vì những câu thơ viết
bằng chữ Nôm trong truyện Kiều đã đi thẳng vào lòng người dân Việt,
từ giới trí thức cho tới giới bình dân, đến độ trong bất cứ hoàn cảnh
nào trong xã hội người ta cũng có thể mượn đôi ba câu trong truyện Kiều
để mô tả, thường gọi là "Lẩy Kiều." Những tên riêng của một
số nhân vật trong truyện Kiều như Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư,
Ưng, Khuyển nay đã thành tên gọi những hạng người đặc biệt trong xã
hội. Những câu thơ tả tình tả cảnh của Nguyễn Du, sau gần 200 năm, vẫn
còn đậm đà, thấm thía và chính xác. Vì mục đích bài viết này không
phải là bàn về văn chương truyện Kiều nên tôi xin được miễn đi vào
các chi tiết. Ở đây, tôi chỉ muốn nói rằng, nếu chúng ta chỉ chú trọng
vào vài chi tiết trong cốt truyện và bỏ qua toàn bộ những tư tưởng,
triết lý trong truyện Kiều, không để ý đến tâm sự của Nguyễn Du khi
viết truyện Kiều trong một bối cảnh lịch sử, xã hội, và cá nhân đặc
biệt thì chúng ta cũng như những người cho cái vòi của con voi là cả con
voi.
Khi người ta nhìn Kiều dưới một
góc độ nhỏ hẹp nào đó thì thường người ta nhìn với một chủ ý. Chủ
ý này, như trên đã nói, là nương vào cái góc độ nhỏ hẹp đó để quảng
bá cho cái góc độ thường cũng rất là nhỏ hẹp của chính mình. Cái
góc độ của ba tác giả viết cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ là như thế
nào? Nó nằm ngay trong câu:
"... các bạn trẻ phải hết
sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, đồng thời phải
tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, tỉ
dụ., người đi đạo Phật thì tin tưởng vào Phật, người đi đạo Chúa
thì trông cậy vào tình yêu của Chúa, người theo đạo Khổng thì phải sống
theo đạo đức của Khổng Tử, v..v.."
Cái "thông điệp" mà các
tác giả muốn gửi cho giới thanh niên là "phải tin vào thế giới
bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên", được ngụy trang sau những
bình phong như "can đảm", "ý chí", "Phật" và
"Khổng tử".
Thật vậy, phân tích câu trên,
chúng ta thấy một sự mâu thuẫn rất lớn, đồng thời để lộ một sự
hiểu biết rất hời hợt về Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Khổng Giáo.
Nếu giới thanh niên phải hết sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh
của ý chí, nghĩa là can đảm đối diện với những thực tế của đời
người, và vận dụng ý chí để thắng những nghịch cảnh thì đây chính
là những hành động với ý "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng
nhiều", do đó chuyện tin vào thế giới bên kia và vào một lực lượng
siêu nhiên nào đó là điều không cần thiếtﬠvì niềm tin này mâu thuẫn
với những đức tính can đảm, dùng ý chí của con người. Những người
sẵn sàng chết vì niềm tin này là những người mê muội, mù quáng, tin
vào một cái bánh vẽ trên trời, chứ không phải là những người can đảm,
có ý chí.
Mặt khác, các tác giả đưa ra thông
điệp trên nhưng không giải thích tại sao ta phải tin vào thế giới bên
kia hay vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, mà lại đưa ra những
tỉ dụ hoàn toàn sai lầm. Chứng minh?
Thứ nhất, Phật tuyệt đối không
phải là một lực lượng siêu nhiên. Phật chỉ là người tỉnh thức,
người giác ngộ, và trong Kinh Pháp Hoa, Phật đã khẳng định rằng: "Nhất
thiết chúng sinh giai hữu Phật Tánh", và "Ta là Phật đã
thành, các ngươi là Phật sẽ thành". Người theo đạo Phật, nếu
có tin thì tin vào khả năng của chính mình, có thể tu tập thành Phật, chứ
không tin Phật với hi vọng Phật là một lực lượng siêu nhiên bốc mình
lên Niết Bàn. Người Phật tử cũng tin có đời sau hay kiếp sau, nhưng kiếp
sau ra sao là do chính cái nghiệp của mình quyết định chứ không phải do
một lực lượng siêu nhiên nào đó quyết định.
Thứ nhì, nói đến tình yêu của
Chúa là nói đến lông rùa, sừng thỏ, là nói đến điều tưởng tượng
của những người không đọc Thánh Kinh. Thật vậy, phải chăng tình yêu của
Chúa nằm trong những lời Chúa phán trong Thánh Kinh như, Lưu Ca (Luke) 19:27 :
"Hãy mang những kẻ thù của
Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng
ngay trước mặt Ta"
(Bring here those enemies of mine who did
not want me to reign over them and slay them before me)
và Matthew 10: 34-36:
"Đừng tưởng rằng Ta xuống
trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang
lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại
cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của
con người ở ngay trong nhà hắn."
(Do not think that I came to bring peace
on earth. I did not come to bring peace but a sword. For I have come to set a man against
his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her
mother-in-law. And a man's foes will be those of his own household.)
Lịch sử Ki Tô Giáo cũng cho chúng
ta thấy rõ rằng, bất cứ Ki Tô Giáo tới đâu là ở đó cũng xảy ra những
điều Chúa phán về "tình yêu của Chúa" như trên.
Thứ ba, về Khổng Giáo thì đạo
đức của Khổng Tử tuyệt đối không phải là một lực lượng siêu
nhiên. Khổng giáo rất thực tế. Khi được hỏi về quan niệm Thần Linh,
Đức Khổng tử đã trả lời: "Chuyện con người còn chưa rõ, nói
chi đến chuyện Thần Linh", và khi được hỏi con người khi chết
sẽ đi về đâu Người đã trả lời: "Chuyện sống còn chưa rõ, kể
chi đến chuyện chết". Vậy đạo đức của Khổng tử đưa ra là
để cho con người sống sao cho phải đạo giữa con người và con người,
được gói ghém trong câu "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân",
cái gì mình không muốn thì đừng có làm cho người khác, chẳng dính dáng
gì tới quan niệm siêu nhiên cả.
Kết luận? Các tác giả cuốn Truyện
Kiều và Tuổi Trẻ nói là để giúp cho giới thanh niên hiểu sâu xa về
thông điệp của Nguyễn Du nhưng thực ra chỉ làm ô nhiễm đầu óc bọn
tre bằng những điều hoang tưởng, không
thích hợp với thời đại văn minh tiến bộ trên thế giới ngày nay, chưa
kể là lạc dẫn giới trẻ bằng những kiến thức hời hợt về Phật
Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Khổng Giáo.
Cái mưu toan dựa vào truyện Kiều
để đưa ra một "thông điệp" tôn giáo của chính mình đã được
các tác giả để lộ trong câu sau đây:
"Cho đến nay, cuốn Truyện
Kiều không phải chỉ là cuốn sách bói cho những người mê tín, nó đã
trở thành cuốn Kinh Thi và đang được cả thế giới tôn trọng như một
cuốn Thánh Kinh mới."
Đây có phải là một lời khen thực
sự Truyện Kiều hay không? Khen quá lố là giả dối, không thật. Tôi nhớ
đến lời Tổng Thống Lyndon Johnson khen ông Ngô Đình Diệm là Winston
Churchill của Đông Nam Á. Khi ký giả Stanley Karnow hỏi Johnson có phải Tổng
Thống thực sự nghĩ như vậy không? Johnson đã trả lời thẳng thừng: "Cục
phân, nó là thằng nhóc duy nhất mà chúng ta có ở đó" (Shit, he is
the only boy we got there).
Truyện Kiều được người Việt
Nam tôn trọng vì nó là một tác phẩm đứng hàng đầu trong nền văn học
nước nhà, không phải vì cốt truyện, mà vì những câu thơ lục bát đầy
âm điệu, đầy ý nghĩa, đối với người Việt Nam. Và chỉ có người Việt
Nam mới cảm nhận được hết cái hay của truyện Kiều. Dịch ra tiếng nước
khác nó trở thành văn xuôi hoặc những câu thơ lủng củng mô tả một
câu chuyện tầm thường, không tài nào lột hết ý và nghệ thuật trong những
câu thơ của Nguyễn Du được. Có bao nhiêu người ngoại quốc biết đến
Truyện Kiều và có được những cảm xúc như người Việt Nam khi đọc
Truyện Kiều? Như vậy thì thế giới nào tôn trọng Truyện Kiều như cuốn
Thánh Kinh mới? Truyện Kiều được tôn trọng trong nền văn học thế giới,
nghĩa là trong giới trí thức với đầu óc suy lý. Thánh Kinh được tôn trọng
trong quần chúng tín đồ mà tuyệt đại đa số là những người kém hiểu
biết, ít học hay vô học, được đầu độc bởi một niềm tin không cần
biết, không cần hiểu. Hai sự tôn trọng này hoàn toàn khác nhau.
Mặt khác, viết rằng: "cả
thế giới tôn trọng Tuyện Kiều như một cuốn Thánh Kinh mới"
hàm ý cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh cũ. Thánh Kinh đây là
Thánh Kinh Ki Tô Giáo. Nhưng có thật là cuốn Thánh Kinh cũ được cả thế
giới tôn trọng hay không. Thánh Kinh là cuốn sách tôn giáo, chỉ được những
tín đồ Ki Tô Giáo, những người không đọc Thánh Kinh, tôn trọng. Truyện
Kiều là một tuyệt phẩm văn chương của người Việt Nam. So sánh Thánh
Kinh với Truyện Kiều là đem giá trị của Truyện Kiều nhận xuống bùn,
cũng như so sánh Tôm với Rồng, Chim Sẻ với Phượng Hoàng. Những lời
Kinh vừa lủng củng, vừa hoang đường, vừa nhảm nhí ở trong Thánh Kinh,
viết bởi những người với trí tuệ của thời bán khai, và dịch (bản
tiếng Việt) bởi những người vừa không biết tiếng Hi Lạp, tiếng Anh,
tiếng Pháp v..v.. vừa không biết tiếng Việt, không thể so sánh với những
vần thơ tuyệt tác trong Truyện Kiều của một Nho gia như Nguyễn Du . Bảo
rằng thế giới tôn trọng Truyện Kiều như là tôn trọng cuốn Thánh Kinh
là coi thường trí tuệ của thế giới. Để cho vấn đề được sáng tỏ,
sau đây tôi xin đưa ra nhận định của một số học giả về cuốn Thánh
Kinh xem họ tôn trọng cuốn đó như thế nào.
Học giả Lloyd M. Graham viết như
sau trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh (Deceptions and
Myths of the Bible,) trang 5:
"Cuốn Thánh Kinh không phải
là "lời của Thượng đế" mà là những cóp nhặt từ những nguồn
tài liệu dân gian. Vườn Địa Đàng, Adam và Eve được lấy từ các chuyện
của dân Babylone; trận "lụt cả"í hay Hồng thủy chỉ là sự
phóng đại của khoảng 400 câu chuyện về những trận lụt; chuyện cái
tàu lớn của Noah chúng ta có thể thấy trong cả tá những huyền thoại về
Hồng thủy; ngay cả tên các con của Noah cũng là những tên cóp nhặt, cũng
như những chuyện như hi sinh Isaac, phán xét Solomon, Samson xô đổ cột; cái
tên Moses cũng lấy từ tên Mises của dân Syrie, các luật của Thượng đế
lấy từ luật của Hammurabi. Đấng cứu thế được dẫn xuất từ đấng
cứu thế Madhi của Ai Cập, một vài câu được chép lại nguyên văn từ
kinh điển Ai Cập. Giữa Giê-su và nhân vật Horus của Ai Cập, Gereald Massey
kiếm thấy 137 điểm tương tự, và giữa đấng Ki Tô và Krishna có đến cả
vài trăm điểm giống nhau. Làm sao mà Thánh Kinh có thể coi là những lời
mặc khải của Thượng đế?"
(The Bible is not "the word of
God" but stolen from pagan sources. Its Eden, Adam and Eve were taken from the
Babylonian account; its Flood or Deluge is but an epitome of some four hundred flood
accounts; it Ark and Ararat have their equivalents in a score of Deluge myths; even the
names of Noah's sons are copies, so also Isaac's sacrifice, Solomon's judgment, and
Samson's pillar act; its Moses is fashioned after the Syrian Mises; its laws after
Hammurabi's code. Its Messiah is derived from the Egyptian Mahdi, Savior, certain verses
are verbatim copies of Egyptian scriptures. Between Jesus and the Egyptian Horus, Gerald
Massey found 137 similarities, and those between Christ and Krishna run into the hundreds.
How can the Bible be a revelation?)
Trong cuốn "Những vị Thần cuối
cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu" ("Mythology's Last Gods: Yahweh
and Jesus", p. 16), Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ GiaTô đã tỉnh
ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các
tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt
uống máu Chúa (Eucharist) mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích này
hàng tuần và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời,
và rằng các Thần hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng
tượng của con người (Dr. Harwood..discovered that the "god-eating"
ritual in which he participated weekly as a believing Christian had existed three thousand
years before Jesus' birth. Not for three years, however, could he fully abandon the
disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods
are as imaginary as fairies), đã viết:
"Người ta đã khám phá ra rằng,
từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện,
những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những
điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên
tri về tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn
sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này
được phổ biến tới đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã
bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi.
Trước nguy cơ bị loại bỏ này,
Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính
ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế
tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo
Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của
Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một
ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi
Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi thì họ không còn là tín đồ
CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát
minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những
sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt
là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải
là một tác phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên
tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương
pháp luận đó là "Thần học"...
Đó là quyền lực của chính trị
Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên
cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho tới
ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo
không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ
bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng."
(One by one the various books of the bible
were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations;
prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved
inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach
general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could
not have hoped to recover.
Facing elimination, the current Pope
appointed his own historians to examine the secular historians' conclusions and find the
flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal
historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the
Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be
Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology
to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of
reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how
severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That
methodology was 'theology'..
...Such was the power of the world's
theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles
refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of
unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of
the population of Christian-dominated societies.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng đã một
thời Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị
xử tịch thu tài sản, bị vạ tuyệt thông, hay bị tử hình. Về sự việc
này, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một tín đồ Gia Tô trong 30 năm thuở thiếu
thời, đã viết như sau trong bài "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa
Giáo":
"Tôi mới đầu không hiểu tại
sao Giáo hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất
là bằng Quốc Ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức
là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ
bới ra được những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy
của Kinh Thánh, những chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh.... Ngày nay người ta
đã bới móc ra rằng Kinh Thánh có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau; năm quyển
Cựu Ước đầu tiên không phải do Maisen viết mà do nhiều người viết về
sau này; Jeremiah, Daniel cũng do nhiều người viết ở nhiều thế kỷ khác
nhau; Thánh thư cho giáo đoàn Hebrews, Thánh thư Thessalonians II, Thánh thư
Peter II không phải do Paul và Peter viết ra. Thực là điên cái đầu..."
Sau nhiều năm nghiên cứu, từ năm
1985, Hội nghị các chuyên gia Ki Tô Giáo nghiên cứu về nhân vật Giê Su
(The Jesus Seminar), gồm khoảng 200 học giả thuộc mọi tông phái trong Ki Tô
giáo, đã viết trong tác phẩm "Năm Phúc Âm" (The Five Gospels,
trg. 2) như sau:
"Chúa Ki Tô (Giê Su) của tín
điều và tín lý, trong thời Trung Cổ đã là một niềm tin vững chắc,
không còn thuyết phục được những người (khoa học gia) đã nhìn thấy
những vòm trời (như trong Thánh Kinh mô tả. TCN) qua Kính Thiên Văn của
Galileo. Những Thần Thánh và Quỷ dữ cổ xưa đã bị quét ra khỏi những
vòm trời đó bằng cái kính đáng kể này. Copernicus, Kepler, và Galileo đã
triệt phá những trụ xứ huyền hoặc (Thiên đường) của các Thần (hay
Thượng Đế) và Satan và để lại cho chúng ta những thiên đường thế tục."
(The Christ of deed and dogma, who had
been firmly in place in the Middle Ages, can no longer command the assent of those who
have seen the heavens through Galileo's telescope. The old deities and demons were swept
from the skies by that remarkable glass. Copernicus, Kepler, and Galileo have dismantled
the mythological abodes of the gods and Satan, and bequeathed us secular heavens.)
Qua những tài liệu trên chúng ta
có thể tin được chăng những lời truyền đạo mới tập sự của các
tác giả trên là cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh? Nếu các tác giả
trên muốn biết thêm về một số nhận định tổng quát về cuốn Thánh
Kinh và tác dụng của nó trên nhân loại thì sau đây là vài tài liệu
khác:
David Voas, Giáo sư đại học tiểu
bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn "Cuốn Thánh Kinh
Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible: The New
Testament", trg. 1 - 2) đã viết như sau:
"Vấn đề là người ta nghĩ
rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất là
Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc
với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ
ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ
như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong Tân Ước cũng còn
ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giê-su không hẳn toàn là
tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn.
Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin xấu."
(The problem is that people think they
know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are
wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not
just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son
seems in the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain
prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)
Linh mục Ernie Bringas viết về ảnh
hưởng của sự tin mù quáng vào Thánh kinh như sau trong cuốn Những Thảm Họa
Trong Quá Khứ và Hiện Tại Do Sự Sùng Tin Thánh Kinh (Going by the Book: Past
and Present Tragedies of Biblical Authority) trg. 17:
"Trải qua nhiều thế kỷ, sự
sùng tín Kinh Thánh đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng,
trong sự khủng bố, ngược đãi người Do Thái vàì những người phi Ki-Tô,
giết hại và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt,
tạo tâm lý tôn sùng, và nhiều lầm lạc khác. Những mô thức hành xử
có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ dàng là chúng bắt
nguồn từ sự tin vào quyền năng tuyệt đối của những điều viết trong
Thánh Kinh."
(Over the past centuries, bibliolatry has
led Christians in bigotry, the persecution of Jews and other non-Christians, murder and
terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult
mentality, and other aberrations. The destructive behavior patterns can be easily traced
to the unchallenged authority accorded biblical writing.)
Robert G. Ingersoll, một tư tưởng
gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra một thách đố:
ông sẽ tặng một giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục
sư nào dám lên bục giảng, giảng những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn
từ Thánh kinh. Trong nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách
đố này cả. Một người có óc suy luận tối thiểu có thể mường tượng
ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh Kinh nó như thế nào. Ông viết
về những tác hại của Thánh Kinh và của niềm tin vào Chúa trên nhân loại:
" Nhân danh Chúa Ki Tô hàng
triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người
đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị
coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ
máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất.
Nhân danh hắn sự tiến bộ của
nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong phúc âm của hắn chúng
ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn, và những lời của hắn
đã gia thêm sự kinh khủng vô tận vào sự chết. Phúc âm của hắn chất
đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức
như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa
ngục, tố cáo tình thương yêu như là thấp hèn và như súc vật, thánh
hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của
con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng
được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được
sinh ra."
(In Christ name millions and millions of
men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name millions and millions
have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been branded as
criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best. In his name
the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the
dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel filled
the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here
the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry
and destroyed the liberty of man. It would be far better had the New Testament never
been written - far better had the theological Christ never lived.)
Ngoài ra, cũng đã có những công cuộc
nghiên cứu và xuất bản những tác phẩm về mọi khía cạnh của Thánh
kinh, thí dụ như: liệt kê những chuyện dâm ô trong Thánh Kinh ("The
X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scriptures", Ben Edward Akerley;
All The Obscenities in the Bible, Kasmar Gene; những mâu thuẫn (contradictions), vô
nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v...v...trong Thánh kinh ("The Bible
Handbook", W.P. Ball, G.W. Foote, John Bowden, Richard M. Smith etc..; "The Born
Again Skeptic's Guide to the Bible", Ruth Hurmence Green; One Hundred Contradictions
in the Bible, Marshall J. Gauvin.; phân tích và phê bình những chuyện trong
Thánh Kinh ("The Bible Unmasked" (Lột Mặt Nạ Thánh Kinh), Joseph Lewis;
phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh ("Christianity
Cross-Examined" (Thẩm vấn KiTô giáo), William Floyd) v...v... và v...v...
Những tín đồ Ki Tô Giáo thường
không đọc Thánh Kinh, khoan nói đến chuyện đọc những tác phẩm thuộc
loại nghiên cứu trên, chỉ tin theo những lời rao giảng sai sự thực của
các đấng bề trên rằng cuốn Thánh Kinh được cả thế giới tôn trọng.
Cũng vì vậy mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đã đưa ra nhận xét sau đây:
"Hầu như không có ai thực sự
đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông
thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy
nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả
cuốn.
Nếu một người thông minh đọc cả
cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó
đi."
(Virtually no one really reads the Bible.
The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but
he never reads it - much less reads all of it. If an intelligent man should critically
read it all, he would certainly reject it.)
Vài tài liệu nêu trên cũng đủ để
chứng tỏ rằng các tác giả cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ chỉ viết lấy
được, làm nhiệm vụ của những Thừa Sai trong thời Trung Cổ (Middle
Ages), còn được gọi là thời kỳ đen tối (Dark Ages) mà các học giả xưa
và nay đều cho rằng đó là "thời kỳ man rợ và đen tối trí thức"
trong suốt 1000 năm ở Âu Châu (The age of barbarism and intellectual darkness).
Nhiều học giả, chuyên gia về tôn
giáo, giáo sư đại học, kể cả những linh mục, mục sư v..v.. đã nhận
xét cuốn Thánh Kinh như trên mà mấy "học giả" An-nam ta vẫn còn
sống trong hoang tưởng. Không những thế, theo độc giả T.H.D viết trong tờ
Thế Giới, ông Lê Hữu Mục còn khẳng định rằng "Phải công nhận
Nguyễn Du đã phải đọc Kinh Thánh mới viết nổi đoạn này."
Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ
19, trên đất nước Việt Nam làm gì có Thánh Kinh mà đọc. Cuốn Thánh
Kinh nằm trong hoang tưởng này của ông Lê Hữu Mục viết bằng tiếng nước
nào, ai dịch và xuất bản năm nào? Tuyệt đại số tín đồ Gia Tô thì
không biết chữ, giới Nho sĩ thì cho Gia Tô Giáo là một tà đạo, vậy mà
ông Lê Hữu Mục cho rằng Cụ Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ Thánh Kinh
để viết ra một đoạn trong Truyện Kiều, phản ánh một sự thiếu hiểu
biết về lịch sử và tình trạng xã hội trong thời của Nguyễn Du. Toàn
Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les
Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck, đã đưa ra một
nhận xét như sau:
"Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ
mà các Hội Truyền Giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông
Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới
cấm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ.
Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong
những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay
lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ."
(In fact during the two centuries and more
that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they
have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and
governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic
missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for
various reasons have been rejected by Annamese society.)
Chúng ta đều biết, Nguyễn Du là một
Nho gia, chịu ảnh hưởng rất nhiều của Phật Giáo, điều này chúng ta
có thể thấy bàng bạc trong khắp Truyện Kiều. Mặt khác. đọc lịch sử
chúng ta thấy rằng, tuy được Bá Đa Lộc giúp để chiến thắng nhà Tây
Sơn, Vua Gia Long rất nghi kỵ Gia Tô Giáo, do đó đã chọn Vua Minh Mạng làm
người nối nghiệp. Chính Vua Gia Long đã mời cụ Nguyễn Du ra làm quan. Vậy
chúng ta có thể tin được chăng là cụ Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ
cuốn Thánh Kinh để viết một đoạn trong truyện Kiều? Kết hợp Thánh
Kinh với một đoạn trong Truyện Kiều đúng là một điều hoang tưởng của
những người cuồng tín. Mà cuồng tín, theo định nghĩa của Giáo sư sử
học Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư:
1954-1963, là sự tổng hợp của đần độn và hợm hĩnh, huênh hoang, khoác
lác. Hơn nữa, chính ông Lê Hữu Mục cũng chưa đọc Thánh Kinh thì làm sao
có thể cho rằng Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh. Vì không đọc Thánh Kinh
nên ông Mục mới cho rằng cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh trong
khi sự thực thì trái ngược hẳn như đã dẫn chứng ở trên. Sau đây
tôi sẽ bình luận về một điểm trong chương "Tổng Luận về Truyện
Kiều" của ông Lê Hữu Mục. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây, trang
111:
"...chữ Nôm cũng như chữ Hán
ngày xưa không hề có dấu chấm câu, và chính cách chấm câu nhiều khi
không đúng của người đọc đã làm cho thơ kém giá trị, tỉ dụ câu: Ngổn
ngang gò đống kéo lên (c.49) đã bị hiểu là "gò đống kéo lên ngổn
ngang". Thông minh như Nguyễn Văn Vĩnh mà cũng dịch câu thơ này là:
Nombreux les tertres et les tumulus défilent sous les yeux des promeneurs et surgissent
de toutes parts (Kim Vân Kiều, Khai Trí, 1970, tr. 17), nghĩa là "ngổn ngang
gò đống diễn hành trước mắt của các khách bộ hành và kéo lên khắp
nơi". Sau đó mấy chục năm, học giả Paul Schneider vẫn không hiểu
khác Nguyễn Văn Vĩnh: Pêle mêle se dressent et défilent tertres et mamelons (Kim
Vân Kiều, Thanh Long, 1986, tr. 7). Ông Đặng Quốc Cơ không chấp nhận cách
đọc này và chủ trương rằng chủ-ngữ của kéo lên là tài tử giai nhân
ở câu 47 trước câu 49 hai câu và nếu cần dịch câu thơ ra tiếng Pháp
thì nên dịch là Hommes de talent et femmes élégantes... pêle-mêle gravissent
tertres et mamelons... Nhiều chữ Nôm của tác giả bị đọc sai cho nên ý nghĩa
của câu thơ cũng bị hiểu sai và từ ngữ bị đánh giá là thiếu trong
sáng, tỉ dụ chữ tạn bị phiên sai là tận, tạn chân trời thành tận
chân trời..."
Như vậy có nghĩa là một bài thơ
hay bài văn bằng tiếng Nôm hay tiếng Hán ai muốn đọc sao thì đọc, chấm
câu ở đâu cũng được hay sao? Trong thể thơ lục bát, một bộ hai câu,
câu sáu câu tám, luôn luôn gói trọn một nghĩa đầy đủ, không làm gì
có chuyện một câu sáu làm chủ ngữ cho câu sáu tiếp theo. Tôi cho rằng
ông Lê Hữu Mục và Đặng Quốc Cơ đã hiểu quá sai mấy câu thơ trên của
Nguyễn Du. Nguyễn Văn Vĩnh và Paul Schneider đã dịch rất đúng ý của Nguyễn
Du tuy phần tiếng Pháp không lột được hết ý của câu thơ. Chứng minh?
Chúng ta không thể chỉ đọc từ câu
"Dập dìu tài tử giai nhân" cho đến hết câu "Ngổn ngang gò
đống kéo lên" và kết luận chủ ngữ của kéo lên là tài tử giai
nhân. Tài tử giai nhân kéo lên đâu? Lên các gò đống ngổn ngang. Kéo lên
đó để làm gì? Để "chơi xuân" như hai chị em nàng Kiều? Thật
là hoang đường. Cụ Nguyễn Du mà biết hậu thề hiểu Kiều như vậy thì
chắc chắn chẳng bao giờ cụ viết Truyện Kiều.
Chúng ta hãy đọc lại Kiều, từ câu
41:
- Cỏ non xanh tận chân trời,
- Cành lê trắng điểm một vài
bông hoa.
- Thanh minh trong tiết tháng ba,
- Lễ là tảo mộ hội là đạp
thanh.
- Gần xa nô nức yến anh
- Chị em sắm sửa bộ hành choi
xuân.
- Dập dìu tài tử giai nhân,
- Ngựa xe như nước áo quần như
nêm.
- Ngổn ngang gò đống kéo lên,
- Thoi vàng vò rắc tro tiền giấy
bay.
Chúng ta thấy ngay rằng hai câu đầu
tả một cảnh mùa xuân. Hai câu tiếp theo cho chúng ta biết đó là vào dịp
lễ tảo mộ. Hai câu tới tả cảnh tượng trong xã hội trong dịp lể tảo
mộ và hai chị em Kiều sửa soạn đi du xuân. Hai câu tiếp tả cảnh nhộn
nhịp của ngày lễ. Hai câu cuối tả cái gì, nếu không phải là quang cảnh
lễ thanh minh?
"Cỏ non xanh tận chân trời"
cho ta thấy cảnh một cánh đồng cỏ mênh mông bát ngát, không có đồi núi
hay gò cao ngăn chặn, làm vướng mắt. Chị em Kiều "bộ hành chơi xuân"
chứ không phải là lái xe Lexus chơi xuân. Do đó, từ đằng xa, bước trên
cỏ (đạp thanh) Kiều chỉ thấy cánh đồng cỏ. Khi gần tới khu vực người
ta đi tảo mộ mới thấy xuất hiện những gò đống nghĩa là mồ mả ngổn
ngang. Ngổn ngang có nghĩa là nhiều, không có thứ tự, hàng lối gì hết.
Đó chính là cảnh những mồ mả, cái to cái nhỏ, cái thấp cái cao, cái
dài cái ngắn v..v.. nằm trong khu vực tảo mộ. Nguyễn Du đã dùng từ kéo
lên rất khéo. Vì từ xa tới gần, đột nhiên ta thấy mồ mả xuất hiện,
mới đầu còn nhỏ, chưa rõ, càng tới gần càng thấy rõ hơn, lớn hơn, làm
cho khách bộ hành có cảm tưởng như các mồ mả được kéo từ dưới đất
lên. Những mồ mả này không được xắp đặt theo một hàng lối nào hết
nên trông chúng có vẻ ngổn ngang. Và trên các mồ mả hay quanh các mồ mả
đó ta thấy gì? Thì đó: "Thoi vàng vò rắc tro tiền giấy bay."
Câu này bổ túc cho câu trên và cho chúng ta hình ảnh trọn vẹn của cảnh
tảo mộ.
Cho nên, Nguyễn Văn Vĩnh dùng động
từ "surgir" để dịch kéo lên là rất đúng, vì surgir có nghĩa là
nhô lên. Còn các ông Lê Hữu Mục và Đặng Quốc Cơ, vì hiểu gò đống
như gò Đống Đa, mà những gò này lại ngổn ngang ở nơi tảo mộ, để
cho tài tử giai nhân kéo nhau lên đó khiêu vũông Lê Hữu Mục giảng dập
dìu là "lượn đi lượn lại chung quanh nhau", nghĩa là khiêu vũ,
ông không nói rõ khiêu vũ điệu gì, Valse, Tango hay Cha Cha Cha), nên đã
dùng động từ "gravir" để dịch từ kéo lên, nhưng gravir lại là
trèo lên chứ không phải là kéo lên. Hiểu như vậy thì nghĩa của câu
này trở thành lạc lõng, đứng một mình, chẳng ăn nhập gì với cảnh
ngày lễ thanh minh cả. Thật là tội nghiệp cho những thanh niên nào đã
được (hay "bị") các ông này vừa giảng vừa giết Kiều như trên.
Mặt khác, ông Lê Hữu Mục cho rằng
trong câu 41 là chữ tạn chứ không phải chữ tận. Ông không giải thích tạn
chân trời có nghĩa gì và khác với tận chân trời ở chỗ nào. Tự điển
Việt-Anh của Nguyễn Văn Khôn lại khẳng định là tạn với tận tuy hai
mà một, không hề khác nhau.
Tôi có nên tiếp tục nhặt sạn nữa
hay không, và có đáng không? Thật ra, muốn phê bình cho đầy đủ hai
mươi trang sách của chương "Tổng Luận về Truyện Kiều" tôi có
thể viết cả một cuốn sách. Nhưng tôi chẳng hơi đâu đi làm cái chuyện
mất thì giờ vô ích để phê bình những điều diễn giải kỳ quặc của
ông Lê Hữu Mục, phản ánh một kiến thức vô cùng giới hạn về các
quan niệm triết lý và về các đạo giáo trên thế giới, thí dụ như:
"Nguyễn Du công nhận quyền lực tối cao của Trời, nghĩa là quyền
sáng tạo ra con người, quyền sáng thế của Tạo Hóa" (ông Lê Hữu Mục
muốn nói đến quyền sáng thế của một ông "mắt sâu, râu rậm, tóc
quăn, mũi lõ ngồi trên vòm trời bằng đồng thau có những cánh cửa để
các thiên thần mở ra cho mưa rơi xuống".TCN); hay giảng ba chữ tài
trong câu "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" chính là tam tài nghĩa
là Thiên, Địa, Nhân; và "tâm Thúy Kiều chính là Chơn Tâm (Phật), đạo
tâm (Nho), thiện tâm (Công Giáo) (cái thiện tâm đã đưa Âu Châu vào thời
đại man rợ và đen tối trí thức suốt 1000 năm với 9 cuộc Thánh Chiến,
những Tòa Án xử Dị Giáo với những cảnh tra tấn man rợ nhất của lịch
sử loài người, những cuộc chiến tranh tôn giáo, những bước song hành với
các thế lực Thực dân v...v.. TCN); và tâm tình (văn hóa Việt Nam). Những
điều gán ghép gượng gạo và kỳ quặc này làm sao có thể thuyết phục
được giới thanh niên tiêu hóa nổi những lời truyền giáo thuộc thời
Trung Cổ. Tôi nghĩ rằng giới thanh niên chẳng ai đọc cuốn Truyện Kiều
và Tuổi Trẻ làm chi. Họ đang sống trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, và
cái thông điệp vào đầu thế kỷ 19 của Nguyễn Du, nếu thực sự là
thông điệp như các tác giả khẳng định, cũng chẳng có ảnh hưởng gì
tới họ. Còn cái thông điệp riêng của các tác giả về niềm tin vào một
lực lượng siêu nhiên thì nó đã mất đi hiệu lực từ mấy thế kỷ nay
rối, họa chăng chỉ còn sót lại trong những thành phần kém nhất và
trong những xã hội kém mở mang nhất trên thế giới. Trong cuốn
Missionaries, một tác phẩm nghiên cứu về những thành quả truyền giáo của
Ki Tô Giáo nói chung trên khắp thế giới, đi kèm với một chương trình TV
6 kỳ của đài BBC, Julian Pettifer & Richard Bradley đã đưa ra nhận định
như sau:
"Đòi hỏi những người Âu
Châu tin vào một thế giới của Thượng đế và Satan có vẻ như là đòi
hỏi họ phải từ bỏ sự thông minh của chính mình. Quan trọng hơn nữa,
những lợi khí của thương vụ thừa sai: củ cà rốt "cứu rỗi"
và cây gậy "đày đọa đởi đời" đã mất đi hiệu lực đe dọa
rồi."
(...Asking Europeans to believe in a world
of God and Satan, seems to be asking them to deny their own intelligence. More
importantly, the tools of the missionaries' trade, the carrot and stick of salvation and
damnation, have lost the power to frighten.)
Để kết luận, tôi cho rằng nhận
xét sau đây của độc giả T.H.D. trên tờ Thế Giới, Tháng 1, 1999, trang
32, rất là chính xác:
"...nếu ai đã đọc Truyện
Kiều và Tuổi Trẻ sẽ không khỏi bực mình và thất vọng với lối ngụy
biện của Giáo sư Lê Hữu Mục. Ông Mục đã diễn giải quan điểm tôn
giáo như một nhà truyền giáo mới tập sự; ông lồng tư tưởng Ki Tô
giáo, Phật Giáo và các đạo khác vào nội dung truyện Kiều một cách gượng
ép, áp đặt và thiếu lương thiện."
Riêng tôi, tôi không cảm thấy bực
mình hay thất vọng, vì tôi đã đọc một số sách thuộc loại trên rồi,
những cuốn sách mà mục đích viết ra là để xuyên tạc, từ bỏ nền văn
hóa dân tộc để quảng bá cho một nền văn hóa "hễ phi dân tộc thì
thể nào cũng phản dân tộc."
Home | Go top page