-
- Chính Sách Của Chính Quyền
Ngô Đình Diệm Đối Với Phật Giáo Miền Nam Trên Lãnh Vực Tư Tưởng –
Chính Trị
-
- Lê Cung
Trong hai bài
trước (1) , chúng tôi đã giới thiệu về những sự kiện đầu tiên trong
Phong Trào Phật giáo miền Nam năm 1963 và diển biến của phong trào này từ
lúc bùng nổ, ngày 7-5-1963, cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD) bị
lật đổ, ngày 1-11-63. Để có cái nhìn toàn
diện về phong trào Phật giáo miền Nam, bài viết này góp phần tìm hiểu
chính sách của chính quyền NĐD đối với Phật giáo miền Nam trên lãnh vực
tư tưởng – chính trị.
Hệ tư tưởng của chế độ NĐD là chủ nghĩa
nhân vị, mà Ngô Đình Nhu là kẻ chủ xướng. Theo Ngô Đình Nhu chỉ có chủ
nghĩa nhân vị mới bài trừ được lạc hậu và đẩy lùi được chủ
nghĩa phát xít, Ngô Đình Nhu viết: “Trong một xã hội hậu tiến như
Việt Nam, nhiều cơ cấu nội bộ không thích hợp với một chế độ kinh
tế lấy nhân vị làm căn bản. Người ta sẽ phí công nếu chỉ bằng
lòng tô sửa lại những đường nứt nẻ ở một tòa nhà lung lay sắp đổ
nát. Nếu là cần, chúng ta phải mạnh dạn đập tan những cơ cấu lỗi thời
ấy đi để đặt nền tảng cho những công cuộc xây dựng mới lấy sự
giải phóng nhân vị làm tiêu chuẩn. Làm như thế, chúng ta sẽ tránh khỏi
sự cám dỗ của chủ nghĩa mác-xít là thuyết đã chủ trương quyền tối
thượng của kinh tế trên nhân vị”. (2)
Trong phần mở đầu bản Hiến pháp của cái
gọi là “nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam” năm 1956, chủ nghĩa
nhân vị được xem như là tiêu điểm mà hầu hết các lãnh vực quốc gia
phải khuôn theo: “Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị” (3).
Từ năm 1956, chủ nghĩa nhân vị được các
linh mục giảng dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, tiếp theo NĐD cho thành
lập Trung tâm Huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long. Ban Giám đốc và Ban Giảng huấn
đều là các linh mục hoặc tín đồ Thiên Chúa giáo (TCG), đặt dưới quyền
quản lý trực tiếp của Ngô Đình Thục. Cán bộ viên chức nhà nước từ
Trung ương xuống địa phương (tỉnh, quận) đều phải về thụ huấn tại
Trung tâm Huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long. Công văn số 678-YT/VP ngày 9-1-1958
của Bộ Y tế gửi các bộ viết: “Để thi hành Thông tư số 172-TTP ngày
31-12-1957 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong phiên họp ngày
28-12-1957, quý vị đã uỷ nhiệm cho tội sắp đặt việc đề cử nhân
viên theo học các khóa huấn luyện nhân vị trong năm 1958.
“Để công việc này được tiến hành một
cách chu đáo với khóa đầu tiên khai giảng vào khoảng đầu tháng 3 dương
lịch 1958 sắp tới, tôi yêu cầu cho gửi đến bộ tôi trước ngày
31-1-1958 một danh sách tổng số nhân viên thuộc quý Bộ đủ điều kiện
văn hóa ấn định trong thông tư chiếu thượng của tổng thống và có thiện
chí học tập được quý Bộ đề cử theo học các khóa huấn luyện nhân
vị trong năm 1958” (4).
Điều cay đắng cho các học viên khi về Vĩnh
Long, họ chỉ nghe các linh mục giảng dạy gần như hoàn toàn giáo lý TCG,
mua chuộc theo TCG, đồng thời chỉ trích giáo lý Phật giáo, gây chia rẽ
trong nội bộ Phật giáo. Tài liệu dùng
cho việc giảng dạy của Trung tâm viết: “Theo Phật giáo nguyên thuỷ,
thì Đức Phật không bàn đến nguồn gốc vũ trụ. Ngài cho rằng vũ trụ
là Brahman (Phạm Thiên) cũng bị lôi cuốn trong vòng biến chuyển ấy. Tư
tưởng này của Đức Thích Ca, được phái Tiểu thừa nhất loạt tuân
theo.
“Nhưng vì thấy quan điểm này quá hẹp
hòi, phản tiến hóa, nên đạo sĩ Ashvagosha mới lập ra phái Đại thừa”
(5).
Đoạn trích dẫn trên rõ ràng là xuyên tạc
có ý thức về tư tưởng của Phật giáo nguyên thuỷ. Nguồn gốc của vũ
trụ, hay thực tướng của vũ trụ, theo tư tưởng của Phật giáo nguyên
thuỷ và Phật giáo Đại thừa là vũ trụ Duyên khởi (Patccasamuppada). Vì vũ
trụ do Duyên khởi, nên câu hỏi về nguồn gốc của nó, hay câu hỏi về
nguyên nhân đầu tiên, trở thành không hợp. Quan điểm của luận sư
Ashvagosha (Mã sinh) là “chân như duyên khởi” hoàn toàn không có gì
trái với quan điểm vũ trụ duyên khởi của Phật giáo nguyên thuỷ.
Do vậy, dù cho dưới chế độ NĐD “mãnh
bằng nhân vị” là điều kiện tối quan trọng để thăng quan tiến chức
hoặc ít nũa cũng tạm thời yên ổn trước sự theo dõi của chế độ,
nhưng vẫn gây không ít bất mãn, chán nản đối với học viên. Đỗ Thọ,
một tuỳ viên thân tín của Diệm trong hồi ký của mình, đã phải chua
chát thừa nhận: “Hình thức tu nghiệp cho công chức ở Vĩnh Long do Đức
Cha khởi xướng, Tổng thống NĐD rất ưa thích. Tổng thống cứ nghĩ rằng
công chức có dịp sẽ tiến bộ về hiệu năng làm việc cũng như hiểu thấu
được chủ nghĩa Nhân vị.
“Nhưng Đức Cha và Tổng thống đâu biết
những lời than trách của các công chức “bị” đi tu nghiệp chủ thuyết.
Trong những dịp đi kinh lý theo Tổng thống, tôi gặp những công chức quen
biết, họ than vãn phải theo học ở Vĩnh Long. Tiền tài tốn kém mà chẳng
bổ ích tí nào. Ở nhà vợ con trông, tiền lương chia ra để tiêu sao mà
đủ được...
“Những
công chức thấp cổ bé miệng họ thân thiết với tôi nhưng cũng nói rất
dè dặt. Và từng ấy cũng đủ cho tôi hiểu và mường tượng sự việc
đi tu nghiệp ở Vĩnh Long” (6).
Trên thực tế đã có những cán bộ viên chức
đã phản ứng bằng cách này hoặc cách khác để lẫn tránh không chịu
tham gia thụ huấn. Chính Công văn số 17096/YT/VP ngày 22-8-1958 của Bộ Y tế
gửi các bộ, đã tiết lộ: “Bộ tôi nhận thấy trong mỗi khóa, khi
danh sách khóa sinh đã lập xong và với sự thỏa thuận của các bộ, vẫn
có những can thiệp vào giờ phút cuối cùng để giữ nhân viên viên lại
làm xáo trộn danh sách và nhiều khi, không đủ số khóa sinh đã định. Vì
vậy, Bộ tôi quyết định, kể từ nay không chấp nhận sự can thiệp tương
tự và đối với những trường hợp chạy chửa riêng để khỏi đi dự
huấn luyện Bộ tôi sẽ trình lên Tổng thống định đoạt” (7).
Mặt khác, trung tâm còn đảm nhận nhiệm vụ
đào tạo những “cán bộ nhân vị” nòng cốt để làm nhiệm vụ
xung kích trong việc tuyên truyền chủ nghĩa nhân vị xuống tận dân. Tài
liệu của chính Trung tâm Huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long cho biết: “Với
mục đích phổ biến lý tưởng nhân vị, mà Trung tâm huấn luyện nhân vị
toàn quốc ở Vĩnh Long, do Đức Cha Ngô Đình Thục sáng lập dưới sự bảo
trợ của chính phủ, trong hai năm này, đã tung ra khắp mọi nơi trên miền
Nam vĩ tuyến, trên hai ngàn cán bộ nhân vị đang âm thầm hoặc công khai
thành tâm phục vụ lý tưởng”. (8)
Khi chủ nghĩa nhân vị xuống tận nông thôn
thì chính sách đối với Phật giáo của chế độ càng trở nên khốc liệt
và là một thảm trạng đối với nhân dân, nhất là các tỉnh miền Trung.
Tại Quảng Ngãi, bằng việc tổ chức các lớp học chủ nghĩa nhân vị,
chính quyền NĐD đã bắt ép dân, chủ yếu là tín đồ Phật giáo bị đả
kích mạnh. Nếu những ai phản đối thì đủ mọi thứ tai ương ập đến.
Chúng ta sẽ có bức tranh chân xác về chính sách nham hiểm đối với Phật
giáo của chế độ NĐD qua một số trích dẫn sau:
Thư đề ngày 23-10-1961 của hội trưởng Hội
Phật giáo Quảng Ngãi gửi Tỉnh trưởng: “Tại Bình Triệu, chính quyền
địa phương đã tổ chức lớp học về duy linh rồi lợi dụng lớp học
ấy mà xuyên tạc đạo Phật của chúng tôi, dọa nạt và bắt hội viên của
chúng tôi phải ký đơn qua TCG, nếu không sẽ đi học tập dài hạn tại
quận và tỉnh...”
“Tại Bình Kỳ, ông hội viên cảnh sát
đã tổ chức một cuộc họp của đội diệt cộng (trong đó đa số là hội
viên Phật giáo). Trong cuộc họp ấy, ông tuyên bố: “Tất cả những
ai trước theo tôn giáo khác nay phải vào TCG hết, nếu không sẽ khai trừ
ra khỏi đội diệt cộng, đồng thời lập hồ sơ đưa về chi công an tỉnh
để học tập dài hạn”. (9)
Thư đề ngày 12-12-1961 của khuôn hội Phật
giáo Hà Nhai gửi Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi viết: “Gần
đây hội đồng xã Sơn Trung có tổ chức một lớp học tại thôn Hà Nhai
về thuyết duy linh thời gian bốn ngày và duy trì thêm một ngày nửa để
buộc hội viên chúng tôi bỏ Phật giáo qua Công giáo. Số lượng hội viên
nói chung toàn trường là 150 người mà phần đông là hội viên Phật
giáo... Lớp học duy linh ấy bài xích Phật giáo và nói đạo Phật là đường
mê muội tối tăm chỉ có TCG có Đức Chúa Giê-su là đấng đáng kính và
có nhiều phép màu nhiệm, người chết thui mà chỉ là sống lại... Trong lớp
học không ai phát biểu và chất vấn nhiều, họ nói biết tin Chúa, tin Trời
là được. Nếu người nào chịu tin Chúa, chưa tin Trời coi như chưa thấm
nhuần tài liệu thì phải đi học mãi, lớp này đến lớp nọ".
(10)
Thư đề ngày 23-9-1961 của khuôn hội Phật
giáo xã Sơn Mỹ gửi Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ngãi cho biết: “Trong
thời gian gần đây cứ theo các vức báo cáo có ông thầy Dư người Công
giáo ở Phú Hòa về giảng đạo và dạy lý thuyết duy linh tại xã Sơn Mỹ,
đi đến thôn ông ấy dùng lời lẽ ép hội viên chính thức của Phật
giáo, buộc họ ký đơn tình nguyện vào TCG, nếu không thì dùng biện pháp
chính quyền khủng bố như ghép vào tội tình nghi, lướng hướng, bắt học
tập, thu giấy căn cước, và thẻ chứng minh của Phật giáo, làm cho sự
sinh hoạt trở ngại”. (11)
Ở Phú Yên, tín đồ Phật giáo cũng bị chính
quyền địa phương bắt ép vào TCG bằng sức ép chính trị. “Biên bản
hội nghị rộng rãi của khuôn hội Phật giáo Hòa Quang”, quận Tuy
Hòa, ngày 13-7-1961 ghi: “Ông Trần Di thôn Mậu Lâm đã đứng lên run rẩy
vì quá xúc động và kính thưa hội viên, với giọng nói nghẹn ngào oán
thán ông đã im bặt một phút cho hàng lệ chảy trên khuôn mặt gầy gò,
làm cho cử tọa bùi ngùi và không khí hội trường trở nên căng thẳng.
Sau đó ông đã thổn thức trình bày rằng: “Vào ngày 6 và 7 tháng 7
liên gia mời toàn thể đồng bào trong thôn tập trung tại 3 địa điểm...
nhưng đến nơi không học tập mà laị được tuyên bố rằng: “Ai
chịu ký tên vào Công giáo thì được về nhà làm ăn, bằng không thì ở
lại học tập mãi bao giờ chịu ký mới về. Sau đó nhiều người cũng
như tôi không chịu về. Hôm sau họ bắt con trai tôi... đi gác một mình
trên núi xa, sau khi về vì sợ hãi quá con tôi phải xin vô Công giáo”.
Hơn thế nữa, những kẻ chủ trì buổi họp đã trắng trợn tuyên bố rằng:
“cấm không được ai qua lại nhà này sang nhà khác ai vi phạm kẻ ấy
là tiếp tế cộng sản hoặc là nói xấu Công giáo sẽ bị bắt bớ đánh
đập”. (12)
Rất nhiều trường hợp, tín đồ Phật giáo
bị bắt bớ, giam cầm, bị đánh đập tra tấn. Thư đề ngày 27-11-1961 của
khuôn hội Phật giáo Hòa Vinh gửi Tỉnh hội Phật giáo Phú Yên cho biết:
“Ông Lê Đức Ngưng Tổng thư ký trong ban trị sự khuôn hội... không
biết lý do gì mà hội đồng xã bắt giam tại trụ sở một tuần nhật rồi
giải về quận gia cầm nay đã gần hai tháng chưa thả.
“Ông Võ Cho 62 tuổi giúp trong ban nghi lễ
khuôn hội không biết lý do gì màHội đồng xã bắt ông tra tấn đánh dập
đến nỗi bệnh mà hiện nay vợ con đến xin ông đại diện cho đem về nhà
dỏ thuốc.
“Đạo hữu trong khuôn hội cũng có một
số bị hội đồng xã bắt giam tại trụ sở 3 ngày rồi trong số ấy người
nào tình nguyện theo Công giáo thì được thả về còn người nào chưa tình
nguyện thì chưa thả”. (13)
Có tín đồ Phật giáo bị thủ tiêu bằng
cách chôn sống như các ông Nguyễn Chuyển, Đỗ Thìn ở thôn Mậu Lâm, xã
Hòa Quang, quận Tuy Hòa.
Để bắt ép tín đồ Phật giáo theo TCG,
chính quyền NĐD còn sử dụng đến cả phương châm “chiếc gậy và củ
cà rốt”, ông Trần Kỷ thôn Phú Xuân, xã Xuân Phước, quận Đồng Xuân
(Phú Yên) cho biết một cán bộ xã đã nói với ông như sau: “Tôi thấy
anh là người trong trắng nên tôi cử anh đi để được quyền tự do hạnh
phúc vì khả năng anh có thể làm được một ông cán bộ, hay ông ấp trưởng
chẳng hạn, tôi nói như vậy chớ vô hay không vô tuỳ anh. Anh coi bửa nay
người ta vô Công giáo hết, còn bao nhiêu thì bị tù, bị bắt cũng là đạo
Phật nhiều hơn, nếu anh có ở trong đó có bị lây thì uổng lắm”.
Ông Trần Kỷ bị hăm dọa: “Bây giờ anh không vô thì không có gì hết
mà không vô thì tôi cho anh biết nội trong năm nay không biết tháng nào anh
cũng bị người ta, anh có biết không? Ông quận trưởng cũng Công giáo,
chi công an cũng Công giáo, đại diện xã cũng Công giáo, tôi thường đi nhà
thờ huyện, tôi biết người ta ngó chăm chăm trong đạo Phật của anh và
nói chung trong gia đình đạo Phật nhiều hơn... những người vô Công giáo
nếu truyền đơn gạc rãi một bên cũng không sao, chứ Phật giáo người
ta túm cổ". (14)
Trên nền tảng của chủ nghĩa nhân vị, gia
đình họ Ngô đẩy mạnh việc xây dựng đảng Cần lao Nhân vị nhằm làm
đội quân chủ lực cho chế độ. Lúc đầu, Ngô Đình Nhu chủ trương lấy
tín đồ TCG làm nồng cốt, nhưng người khác tôn giáo khác vẫn được
thu nạp vào đảng. Từ cuối năm 1957, sau khi tạm thời vượt qua những khó
khăn buổi đầu, chế độ dường như đã vũng mạnh, gia đình họ Ngô chủ
trương phải có một chủ lực thuần nhất, hoàn toàn trung kiên để đối
đầu với lực lượng cách mạng, đảng Cần lao Nhân vị biến thành đảng:
“Cần lao TCG”, lấy tôn giáo làm yếu tố ưu tiên, và độc nhất
cho mọi chính sách, nhất là chính sách nhân sự, nên đảng viên hầu hết
là tín đồ TCG. Kẻ vào đảng phải tuyên thệ có sự chứng giám của một
vị linh mục thề chiến đấu vì Chúa “đem hết thể xác và tinh hồn
cho đến hơi thở cuối cùng để chống cộng sản vô thần, chống Phật
giáo ma quỉ, chống các đảng phái quốc gia”. (15) Kẻ có chân trong đảng
Cần lao là thể hiện sự trung thành đối với chế độ, được chế độ
tin tưởng và cất nhắc, “Cần lao là con đường duy nhất để đưa
người Công giáo, và chỉ người Công giáo mà thôi vào chính quyền”.
(16)
Do chính sách trên đây, bộ máy cai trị của
nhà nước Diệm thể hiện tính chất “giáo trị” một chiều hết
sức cao độ.
Tại Sài Gòn – Chợ Lớn, phó đô trưởng
kiêm thủ lĩnh Thanh niên cộng hòa và hầu hết các quận trưởng là Cần
lao TCG.
Đến đầu năm 1963, hầu hết các tỉnh trưởng,
thị trưởng đều là người Cần lao TCG (trừ tỉnh trưởng tỉnh Thừa
Thiên, Phú Yên và thị trưởng Đà Lạt). Sau khi phong trào Phật giáo miền
Nam bùng nổ (1963), các tỉnh trưởng Thừa Thiên, Phú Yên bị cách chức để
thay thế bằng người Cần lao TCG.
Ở thôn xã, thực hiện chính sách đề cao
TCG, chế độ NĐD đã bãi bỏ các hội đồng dân cử và thay bằng cách
“chỉ định”. “Một trong những khuyết điểm lớn nhất của
Diệm trong năm 1956 là việc các viên chức làng xã được bầu cử đã bị
chính quyền trung ương thay thế một cách độc đoán bằng những kẻ tay
sai được chỉ định”. (17)
Bằng biện pháp trên, chính quyền NĐD đã
nhanh chóng “TCG hóa” bộ máy chính quyền thôn xã. Cho đến năm
1957, hầu hết các xã trưởng, thôn trưởng đều nằm trong tay những người
Cần lao TCG. Do “chế độ chỉ định” nên bộ máy chính quyền
thôn xã ra sức bạo hành ức hiếp lương dân, mà nạn nhân chủ yếu là
những người không cùng tôn giáo với Diệm.
Dưới chế độ NĐD, hiện tượng “linh mục
chế”, một hình thức “siêu chính phủ” rất phổ biến. Các
linh mục có một thế lực chính trị rất lớn. Họ không ngần ngại tìm
cách đưa con chiên của mình vào thay thế các quận trưởng hay xã trưởng
không Công giáo. Nguyễn Chánh Thi, người cầm đầu cuộc đảo chánh
(11-11-60) viết: “Hầu như mỗi tỉnh của miền Nam, nhất là tại miền
Trung, cứ mỗi tỉnh có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai
đả động đến, vì đàng sau linh mục là sức mạnh của chính quyền. Họ
còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào
đơn, đưa đến quận trưởng, tỉnh trưởng, bảo phải xử theo ý linh mục,
không thì mất chức” (18) Theo Chu Bằng Lĩnh: “Thời đó, dân chúng
xầm xì biết bao nhiêu chuyện về cha này, cha nọ... Việc gì khó đến đâu,
cứ đến tay “các cha” cũng xong hết: Mà từ trên địa hạt
nào cũng thấy bóng dáng áo đen lẫn vào: chính trị, kinh tế, thương mại
v.v...” (19)
Hiện tượng “linh mục chế” xuống tận
thôn xã. Một số giaó sĩ và tín đồ cầm nắm hay chi phối tất cả mọi
quyền và lợi, ban này hay ban kia của chính quyền chỉ là công cụ hoặc
áo tuồng mà thôi. (20) Do đó ở nông thôn, nhất là tại các “khu
dinh điền”, “khu trù mật” và đặc biệt là “ấp chiến
lược”, Phật giáo đồ là đối tượng bị ngược đãi và tấn
công của chính quyền NĐD. Ngay cả một xã gồm ba hay bốn làng đi nữa, nếu
chỉ có một người theo TCG, thì người ấy vẫn cẩm đầu hoặc thực sự
khống chế”. (21) “Ấp chiến lược” xét trên tất cả các mặt
“là cơn ác mộng khủng khiếp đố với Phật giáo! Từ hai cái chiêu
bài gọi là “chống cộng hạ tầng” và “dân chủ pháp trị”,
ấp chiến lược thực là chiến lược và chiến thuật vĩ đại của cái
sách “giáo trị một chiều”. Từ sự dụng ý đến sự dụng người,
từ sự đặt để đến sự quản trị, từ sự bố trí đến sự tổ chức,
ấp chiến lược như những chiếc nơm sắt, lớn và chắc, chụp xuống tất
cả tư tưởng, nhất là tín ngưỡng, của dân tộc Việt Nam”. (22)
Trong quân đội, chính sách kỳ thị Phật
giáo, độc tôn TCG của chế độ NĐD cũng thể hiện rất rõ nét. Quân đội
Diệm “xây dựng theo nguyên tắc 3 Đ (Đảng, Đạo, Địa phương)”.
(23) Với nguyên tắc này, dưới chế độ Diệm, “việc bổ nhiệm các
chức vụ quan trọng trong quân đội thường được nhắm vào tiêu chuẩn:
Có chân trong đảng Cần lao (đảng của chính quyền), có đạo Công giáo”.
(24) Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia (một tổ chức vươn dài của
đảng Cần lao) trong quân đội Diệm đã nói với các sĩ quan rằng: “Các
anh có vị thế tốt trong quân đội, nhưng chưa đủ đảm bảo, vì chưa hiều
thấu về chính trị. Cần phải nhập cuộc, nghĩa là tuyên thệ gia nhập
phong trào thì tương lai được đảm bảo hơn”. (25)
Từ năm 1957, chế độ Diệm đã cho thành lập
“Liên đoàn sĩ quan TCG” khu thủ đô do trung tá Nguyễn Văn Châu,
Giám đốc Nha Chiến tranh tâm lý Bộ Quốc phòng, làm chủ tịch, nhằm tập
hợp lực lượng TCG trong quân đội để làm nòng cốt và dùng số này để
khống chế bộ phận sĩ quan không cùng tín ngưỡng.
Do vậy, dù cho quân đội Diệm đa số là
tín đồ Phật giáo, nhưng sĩ quan chỉ huy phần lớn là tín đồ TCG. Trong
số 9 sư đoàn bộ binh của Diệm đã có tới 7 sư đoàn trưởng là tín đồ
TCG. Sĩ quan TCG nắm giữ các chức vụ quan trọng và được thăng chức từ
trung uý lên trung tá, như Lê Quang Tung lúc Diệm mới về nước chỉ là sĩ
quan mới ra trường nhưng đến năm 1963 đã lên đến đại tá, như Trần Ngọc Tám, tay chân thân tín của
Ngô Đình Thục, tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long, từ năm 1954 đến năm 1958 đã
được thăng ba cấp từ thiếu tá
lên thiếu tướng. (26) Trong lúc đó nhiều sĩ quan tín đồ Phật giáo bị
o ép trù dập, khó có thể ngoi lên được, như Linh Quang Viên, khi Diệm mới
lập chính phủ đã là đại tá, nhưng 9 năm sau vẫn là đại tá, như Vĩnh Lộc, Huỳnh Văn Tồn và hàng trăm
sĩ quan khác, trong suốt 9 năm của chế độ Diệm chỉ được thăng lên một
bậc, lại không được giữ chức vụ chỉ huy.
Những bộ phận có quyền và béo bở trong cơ
quan thì hầu hết là người TCG nắm giữ. Thí dụ “trong một cơ sở
an ninh quân đội, có 54 nhân viên mà lại đến 50 người là TCG”. (27)
Sở dĩ có tình trạng này là vì “tại các đơn vị quân đội, đơn vị
trưởng chọn lấy sĩ quan an ninh, nhưng đơn vị trưởng đa số là người
cùng tín ngưỡng TCG với Ngô Tổng thống hoặc chịu sự khống chế của
cố vấn, thì sĩ quan an ninh được lựa chọn hay phải lựa chọn là ai,
và ai là nạn nhân khỏi hỏi và khỏi nói”. (28) Vì vậy, tín đồ Phật
giáo tuy chiếm đa số mà vẫn khiếp sợ trước bộ phận thiểu số TCG.
Trong trang bị, huấn luyện cũng vậy. Donalde
Harington, một mục sư Tin Lành ngày 30-6-1963 diễn thuyết tại nhà thờ lớn
ở New York đã vạch ra rằng: “Các tư lệnh tiểu đoàn TCG trong quân đội
miền Nam VN được trang bị với vũ khí hạng nặng và đầy đủ hơn là
những người không phải là TCG”. (29)
Nổi bật nhất là “chế độ tuyên uý”
trong quân đội từ cấp trung đoàn trở lên trung ương thì có Nha Tuyên uý
dù cho tín đồ TCG trong quân đội Diệm chỉ là thiều số. Trái lại, Phật
giáo dù đa số đông vẫn không có tuyên uý. Để đối phó với sự phản
ứng công khai của tín đồ Phật giáo trong quân đội, Diệm dùng nhiều biện
pháp khác nhau: có lúc Diệm cũng nói đến tuyên úy Phật giáo, “khi
thì nói riêng và nói bằng miệng, khi thì nói trên báo chí, có một lần
nói bằng công văn, nhưng tất cả lời nói ấy đều lỏng lẻo... và công
khai tỏ thaí độ dùng sự chậm trễ của văn thư và nguyên tắc để làm
cho việc thiết lập Tuyên uý Phật giáo không thể thực hiện được”
(30); có lúc ra điều kiện là “Phật giáo, nếu lập tuyên úy, phải đặt
dưới quyền tuyên úy TCG, tăng sĩ Phật giáo phải cởi áo, ăn mặn”.
(31); có lúc “nhằm mục đích chứng tỏ Phật thấp kém bằng cách lựa
chọn một vài vị tăng sĩ đã bị họ bắt đi lính hay một vài Phật tử
thuộc nhiều kinh chú làm “ông sãi” giữ những nơi họ lập ra và
cũng gọi là chùa nhưng kỳ thực chỉ là một cái chòi sơ sài, xơ xác, với
một bàn thờ thảm hại, và “ông sãi” ấy thỉnh thoảng vác mõ đi
đưa những xác chết nào được đưa về quân y viện. Đó là tuyên uý Phật
giáo”. (32)
Cùng với “chế độ tuyên uý”, nhà
thờ TCG mọc lên khắp nơi các doanh trại quân đội. Trong “Việt Nam máu
lửa quê hương tôi”, Đỗ Mậu viết: “Sau khi thăm xong các doanh trại,
Cẩm mời chúng tôi đến chiêm ngưỡng một ngôi “giaó đường”,
to lớn và khang trang. Tôi khen ngợi Cẩm có sáng kiến tốt, đồng thời
cũng có hỏi xem Cẩm có thiết lập một ngôi chùa nào không, Cẩm trả lời
“chưa”. Tôi nổi nóng ngay và la Cẩm: “Ở đây chỉ có
vài trăm binh sĩ theo TCG thì anh lo làm nhà thờ ngay, trong lúc đó có đến
3000 quân nhân theo Phật giáo thì anh không chịu để ý lo phần thiêng
liêng của họ, anh làm vậy binh sĩ sẽ ngờ rằng Tổng thống Diệm chủ
trương kỳ thị tôn giáo, hơn nữa anh là cấp chỉ huy có đạo Thiên
chúa, anh sẽ mang tiếng bất công... Không ngờ những lời tôi la mắng thiếu
tá Cẩm hôm đó đã đem lại hậu quả tai hại cho tôi ngay sau đó”.
(33)
Thảm hại hơn nữa là trong quân đội Diệm
còn có chính sách ưu tiên cho một thứ quân đội, một thứ quân đội không
nằm trong định chế, nhưng lại có đặc quyền kiểm soát, điều động và
khống chế các bộ phận khác, đó là “quân đội Cần lao”. Lực
lượng này khi ẩn khi hiện và chỉ chịu mệnh lệnh của văn phòng cố vấn
mà thôi.
Ở nông thôn Diệm thành lập những đội vũ trang TCG đặt
dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các linh mục Nguyễn Lạc Hóa. Đội
quân này đông tới 1.200 người gồm toàn tín đồ TCG, được Diệm và ngoại
bang ưu tiên trang bị, kể cả việc xây dựng một sân bay lên thẳng. Giới
chỉ huy quân sự Mỹ đã từng tuyên bố Bình
Hưng là “tấm gương cho toàn thể thế giới noi theo”, “chống
lại tinh thần gan dạ này, chủ nghĩa cộng sản dứt khoát không thề thắng
được”. (34) Ở vùng Trà Long (Cần Thơ), một trung tâm TCG, Diệm cũng
cho tổ chức đội vũ trang TCG. Dưới thời Diệm, chỉ riêng vùng châu thổ
sông Cửu Long, Diệm đã thành lập tơi 8 đội quân vũ trang mang danh TCG kiểu Nguyễn Lạc Hóa. Ở miền
Trung, tiêu biểu có đội quân Tổng Giám mục. Tờ Newsweek (N.Y) ngày
27-5-1963 cho biết: “Tại nông thôn, có một số làng mạc đặt dưới
quyền kiểm soát của linh mục, họ có quân đội riêng phòng thủ. Ở
vùng bờ biển phía Bắc quanh Huế có nhiều đơn vị nhỏ trong những đoàn
quân ấy được mệnh danh là “quân
đội Tổng Giám mục” chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng giám
mục và nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ nhà thờ và linh mục. Các linh mục
được trang bị bằng vũ khí Hoa Kỳ và một phần ào được cố vấn Mỹ
huấn luyện”. (35)
Chính sách kỳ thị Phật giáo, độc tôn TCG
của chế độ NĐD trong quân đội là một chính sách “TCG hoá” miền
Nam. Nó là một thảm trạng đối với những người khác tôn giáo với Diệm,
nhất là đối với tín đồ Phật giáo và đã trở thành một trong những
nguồn gốc sâu xa đưa đến sự bất mãn của quân đội Diệm đối với
chế độ, mà cuộc đảo chánh 11-11-1960 và vụ ném bom vào “Dinh Độc
lập” ngày 27-2-1962 là những chứng minh cụ thể.
Ngoài ra, NĐD còn cho thành lập nhiều tổ chức
thanh niên TCG, như: “Thanh niên thôn quê TCG”, “Thanh niên thánh
nghiệp”, “Sinh viên thánh mẫu”, “Phong trào hùng tâm trí”...
Nhiều linh mục có mặt trong tổ chức “Thanh niên cộng hòa”, một
tổ chức “rường cột” của chế độ, nhằm khống chế thanh niên,
khuyến khích thanh niên theo TCG.
* * *
Chúng ta thấy rằng
đối với Phật giáo miền Nam, chính quyền NĐD đã cho thi hành một chính
sách hết sức phản động trên lãnh vực tư tưởng – chính trị. Chủ
nghĩa Nhân vị của Ngô Đình Nhu đã trở nên khó hiểu đối với người
Việt Nam, Jerrold Schecter cho rằng: “Mặc dù nó được nêu ra như là
“một công thức dân tộc” để dung hòa những giá trị của phương
Đông và phương Tây, chủ nghĩa nhân vị chưa bao giờ có một chỗ đứng
ở Việt Nam do tính chất mơ hồ của những tư tưởng của nó và sự bất
lực của gia đình họ Ngô không thể biến tư tưởng thành hành động”.
(36) Chính tay chân của gia đình họ Ngô thừa nhận: “Nhân vị đã được
chính quyền chủ trương, phổ biến... nhưng chưa mấy ai hiểu rõ nhân vị
là gì”. (37) Đúng hơn, dưới con mắt của người Việt Nam, chủ
nghĩa Nhân vị của gia đình họ Ngô là “một thủ đoạn bịp bợm nhằm
làm cho TCG trở nên hấp dẫn, gia đình họ Ngô tượng trưng không chỉ cho
TCG mà cả cho sự can thiệp của nước ngoài”. (38)
Mặt khác, chính sách “TCG hóa” bộ
máy nhà nước từ trung ương xuống địa phương của chính quyền NĐD đã
gây nên những bất mãn và chống đối sâu rộng trong quần chúng Phật
giáo. Nó đã trở thành một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng
nổ Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963. Chính linh mục Cao Văn Luận,
nguyên Viện trưởng Viện đại học Huế, một người thân tín với gia đình
họ Ngô cũng đã thừa nhận. Khi phong trào Phật giáo vừa bùng nổ, chính
Cao Văn Luận đã nói với Ngô Đình Thục rằng: “Sau di cư gần một
triệu dân công giáo từ Bắc vào, con số đông hơn trước nhưng tỷ lệ vẫn
là 10% hay kém hơn trong số dân Việt Nam vậy mà hiện nay mọi chức vụ
lãnh đạo quốc gia đều nằm trong tay người công giáo. Chỉ riêng việc
này cũng có thể gây những bất mãn và chống đối trầm trọng chưa nói
đến những lỗi lầm không thể tránh được của bất cứ chính quyền
nào”. (39)
Chú thích:
(1). Lê Cung “Tìm hiểu những sự kiện đầu
tiên trong phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963”. Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử, số 4 (274), 1994, tr.8-12. Lê Cung “Về phong trào Phật giáo miền
Nam năm 1963”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 (275), 1994, tr.5-8.
(2). Bùi Tuân “Xây dựng trên Nhân vị”,
Nxb. Nhận Thức, Huế, 1956, tr.59.
(3). Dương Thành Mậu “Đường về Nhân vị”,
Trung tâm Huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr.
(4). Công văn số 678-YT/VP ngày 9-1-1958 của Bộ
trưởng Y tế gửi các bộ. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu
SC.01.HS.2412.
(5). Như chú thích (3), tr.77
(6). Đỗ Thọ “Nhật ký Đỗ Thọ”,
Nxb Đồng Nai, Sài Gòn, 1970, tr.61, 62
(7). Công văn số 17096-YP/VP của Bộ Y tế gửi
các bộ ngày 22-8-1958. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu
SC.01.HS.2421
(8).Như chú thích (3), tr.46, 47
(9), (10), (11), (12), (13), (14). Hồ sơ gửi Tổng
thống và Quốc hội của Hội Phật giáo trung phần ngày 20-2-1962. Thư viện
trường Cao cấp Phật học Thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn, 1968
(15). Chu Bằng Lĩnh “Đảng Cần lao”,
Nxb. Mẹ Việt Nam, San Diego, Ca.USA, 1993, tr.165
(16). Như trên, tr.196
(17). Trần Văn Đôn, “Our endless war: Inside
Vietnam”, Presidio Press, San Rafael, Ca. USA, 1978, tr.24
(18). Nguyễn Chánh Thi “Việt Nam một trời
tâm sự”, Nxb Anh Thư, Los Alamitos, Ca., 1987, tr.80
(19). Như chú thích (15), tr.128
(20), (21), (22). Thích Trí Quang “Cuộc vận
động của Phật giáo Việt Nam”, Tuần báo Hải Triều Âm, số 12,
ngày 9-7-1963, tr.2
(23). Cao Văn Lượng “Âm mưu lợi dụng Giáo
hội Thiên Chúa giáo để đàn áp phong trào cách mạng miền Nam của Diệm”,
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 48, tháng 3-1963, tr.2-14
(24). Đỗ Đức Thái “Thảm họa Việt Nam
(Chính trường và chiến trường)”, Sài Gòn, 1964, tr.103
(25). Như chú thích (18)
(26). Như chú thích (23)
(27), (28). Như chú thích (10)
(29). South Vietnam, The mandarin of Hue, copy
from Newsweek, May 27, 1963. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu
TM-HS.209, tr.1-3
(30), (31), (32). Như chú thích (20)
(33). Đỗ Mậu “Việt Nam máu lửa quê hương
tôi” (Hồi ký chính trị). Nxb Văn Nghệ, Wesminster, Ca. USA, 1993,
tr.55, 56
(34). Như chú thích (23)
(35). Như chú thích (24)
(36). Schecter, Jerrold The new face of Buddha,
John Weather Hill, Tohyo, 1967
(37). Như chú thích 93), tr.46
(38). Như chú thích (16), tr.186
(39). Cao Văn Luận “Bên dòng lịch sử”.
Nxb. Trí Dũng, Sài Gòn, 1972, tr.315
Home | Go top page | Về trang mục lục