>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo Miền Nam trên lãnh vực kinh tế – xã hội và văn hoá – giáo dục
 
Lê Cung

Phần II: Về văn hóa – giáo dục

Trên lãnh vực văn hoá giáo dục, chính sách ký thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD) cũng thể hiện rất đậm nét. Trước hết, trong việc trùng tu, xây dựng Nhà thờ, tượng Chúa, chính quyền NĐD đã dành cho Thiên chúa giáo (TCG) nhiều đặc quyền. Ngày 24-5-1956, Chánh sở Nhà thờ Chánh tòa Sái Gòn đã gời đơn cho đại biểu của chính phủ Nam Việt xin dựng tượng Đức Mẹ Hoà bình trước Nhà thờ Đức bà Sài Gòn. Nội dung của đơn xin có đoạn viết: “Tôi xin Ông vui lòng cho phép chúng tôi đặt… một tượng ảnh Đức Mẹ Hoà bình cho xứng với cái tên Công trường Hòa bình.

“Mọi sở phí do chúng tôi chịu và nếu Ông vui lòng đài thọ cho để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ thì Đức Mẹ sẽ vui lòng hơn.

“Đang khi chờ đợi mong phép Ông, tôi cho thợ làm liền cho kịp khánh thành ngày lễ Đức Bà chẳng hề mắc tội tổ tông vào tháng Chạp năm 1956 này.” (1)

Nội dung của đơn xin trên đây tỏ rõ thế lực to lớn của Nhà thờ TCG ngay từ khi chính quyền NĐD vừa mới được thành lập. Nó đặt nhà chức trách trước một sự đã rồi và đòi hỏi một cách “tế nhị” về sự đóng góp của Nhà nước trong việc xây dựng tượng.

Nổi bật nhất là việc chính quyền NĐD cho trùng tu và xây dựng Nhà thờ Đức Mẹ La Vang ở Quảng Trị. Ngô Đình Thục đã từng gọi Nhà thờ này là “tiền đồn tinh thần của quốc gia” và đã vận động nâng nó lên hàng Vương cung Thánh đường. Tạp chí Đức Mẹ La Vang xuất bản năm 1961 “đăng tên những người hảo tâm cúng tiền vào việc xây dựng Vương cung Thánh đường: từ Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đến tất cả các Bộ trưởng, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng, các vị Tổng Giám đốc v.v… Công giáo hay không Công giáo, ai cũng có tên trong danh sách này. Cảnh sát khắp nơi được giao cho bán vé Xổ số Tombola bỏ vào quỹ xây dựng Nhà thờ La Vang” (2).

Vương cung Thánh đường La Vang bị hư hại trong cơn bão năm 1962. Với nghị định số 256-BNV/NĐ ngày 27-4-1963, chính quyền NĐD cho phép “Uỷ ban Quân nhân trùng tu Trung tâm Thánh mẫu La Vang được phép tổ chức, dưới sự chịu trách nhiệm của Trung tướng Trần Văn Minh, Chủ tịch của Uỷ ban này, một cuộc lạc quyên trong giới Công giáo quân đội, bảo an, dân vệ để lấy tiền trùng tu Trung tâm Thánh mẫu La Vang bị hư hại vì trận bão lụt năm 1962” (3).

Trong các ngày lễ của TCG, chính quyền NĐD đã tạo nhiều điều kiện hết sức to lớn cho việc tổ chức hành lễ. Văn thư số 124 ngày 1-8-1963 của Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo (UBLP) gởi ông Frederick E. Nolting, đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh chân xác về việc chính quyền NĐD trưng dụng mọi phương tiện của Nhà nước phục vụ cho những ngày lễ của TCG, nhất là lễ Giáng sinh hàng năm: “Mỗi năm lễ Giáng sinh đều được cử hành với sự tham gia trực tiếp và hữu hiệu của Chính phủ, nào thông điệp của Tổng thống, công sở treo cờ trang hoàng, nào Công giáo độc chiếm Đài quốc gia để phát thanh trong mấy ngày liền trên hệ thống A chính thức, nào bắt toàn thể nhân viên của Phủ Tổng thống, các ông bộ trưởng, các công chức cao cấp, kể cả những người theo đạo Phật phải dự lễ nửa đêm v.v… Quá quắt hơn hết là việc năm rồi, một hang đá được đặt ngay tại Tòa Đô chính làm như toàn Châu thành Sài Gòn là TCG.” (4)

Tại Huế, từ ngày Ngô Đình Thục về nhậm chức Tông Giám mục địa phận thì hàng năm “ngày lễ Giáng sinh được tổ chức rất tưng bừng. Cờ Công giáo treo dọc đường ăn lan đến cầu Trường Tiền. Cổng chào dựng lên khắp nơi, nhất là phía tả ngạn sông Hương. Điều này làm cho quần chúng Phật giáo bất bình. Vì từ xưa những cuộc lễ lớn về Công giáo chỉ tổ chức qui mô trên địa phận Phú Cam mà thôi.” (5)

Lễ khánh thành các nhà thờ mới xây dựng xong cũng được chính quyền NĐD ưu tiên tổ chức. Một nhân chứng viết: “Một đêm tôi tháp tùng Tông thống Diệm và Đức cha Thục bay trên không phận thành phố Vĩnh Long để quan sát nhà thờ mới xây cất xong. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy đèn rực sáng như ban ngày, trong lúc đó thì dân quê vẫn chưa có đủ tiền bạc để mua một cây đèn dầu hỏa. Họ nghèo vì thuế má quá nặng… Trong khi đó thì chính quyền huy động tất cả nhân lực, vật lực cho duy nhất một tôn giáo.” (6)

Ngày 16-2-1959, kỷ niệm 300 năm thành lập Giáo hội TCG VN, Hồng y Agagianian, đại diện cho Giáo hoàng đã đến Sài Gòn chủ tọa buổi lễ và tôn vinh Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn lên hàng Vương cung Thánh đường. “Trong những ngày Đức Hồng y có mặt tại Việt Nam, với những buổi lễ ngoài trời, cờ Tòa thánh chen lẫn với cờ quốc gia tung bay trước công viên Dinh Độc Lập và ở khắp mọi tỉnh, thị tạo nên một khung cảnh náo nhiệt, rộn rã khắp miền Nam.” (7)

Nổi bật hơn cả là việc tổ chức lễ hành hương tại Nhà thờ Đức Mẹ La Vang, ba năm một lần. Đây là dịp để chính quyền NĐD tỏ rõ trách nhiệm của mình trong việc phô trương thế lực của TCG. Công văn số 104/TTP/ĐL ngày 12-8-1958 của Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống gởi các Giám đốc và Chánh Sự vụ các Nha, Sở tại Phủ Tổng thống viết:

“Đại hội Kính Mẹ sẽ cử hành tại La Vang (Quảng Trị) từ ngày 17-8-1958 đến ngày 22-8-1958.

“Những nhân viên muốn đi La Vang dự Đại hội nói trên với phương tiện riêng của mình có thể xin phép nghỉ từ ngày 20 đến cuối ngày 22 tháng 8 d.l. 1958.

“Văn phòng trân trọng yêu cầu quý Ông Giám đốc và Chánh Sự vụ thông báo cho nhân viên trực thuộc rõ và lập gởi đến Văn phòng trước ngày 17-8-1958 danh sách những nhân viên xin đi dự cuộc lễ.” (8)

Đối với những tổ chức được xem là trung kiên của chế độ NĐD, gồm hầu hết là tín đồ TCG như “Phong trào Cách mạng Quốc gia” lại càng được chế độ ngày đặc biệt ưu tiên. Văn thư số 607-LĐCC/VP ngày 13-8-1958 của Ban Chấp hành Quốc gia gởi ông Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống đã viết: “Được Tổng thống cho phép và tiếp theo Thông tư số 602/LĐCC/TC ngày 11-8-1958 của Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia gởi các Chi, Tỉnh đoàn; tôi xin tin để quý Bộ trưởng rõ nhân dịp Đại hội Kính viếng Đức Mẹ La Vang, một Uỷ ban đã được phép tổ chức cuộc hành hương tại La Vang và thăm viếng danh lam, thắng cảnh cùng lăng tẩm tại Huế, vào những ngày từ 17 đến 25-8-1958…

“Trân trọng nhờ quý Bộ trưởng vui lòng cho phổ biến rộng rãi trong giới công chức các cấp thuộc quyền và cho phép những anh chị em muốn tham dự được phép nghĩ trong những ngày hành hương.” (9)

Ba năm sau, ngày 17-8-1961, lễ dâng hiến Trung tâm Thánh mẫu và khánh thành Vương cung Thánh đường tại La Vang được tổ chức rất trọng thể. “Những khải hoàn môn trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ và cờ Công giáo kéo dài từ thành phố Huế đến thành phố Quảng Trị dọc theo quốc lộ số 1” (10). “Hàng vạn giáo dân cùng đại diện của các đoàn thể nô nức tham dự. Đại hội sẽ tiếp tục đến hết ngày 22/8”. (11)  “Vé xe lửa đi La Vang cho các toán hành hương để dự lễ khánh thành được bớt 50%”. (12)

Đối với Phật giáo, chính quyền NĐD đã đối xử như thế nào?

Mới lên nắm chính quyền, NĐD đã tìm cách gây trở ngại đối với Phật giáo trong việc tổ chức hành lễ. Nổi bật nhất là việc NĐD huỷ bỏ ngày nghỉ lễ Phật đản của công chức và binh sĩ.

Có trường hợp, chính quyền NĐD viện lý do an ninh để ngăn cấm những hoạt động tôn giáo của Phật giáo. Năm 1959, Tổng hội PGVN cử một Phái đoàn đi thăm Phật tử ở các “khu dinh”. Tuy nhiên, khi Phái đoàn với đầy đủ giấy phép vừa rời khỏi Sài Gòn và Huế thì chính quyền NĐD ra lệnh đình chỉ vì lý do an ninh (13).

Tại Quảng Ngãi, năm 1961, cũng vịn vào lý do an ninh, chính quyền NĐD đã cấm không cho tổ chức lễ Phật đản mà trước đó chính quyền đã cho phép, trong khi cũng tại đây một hội chợ của các Linh mục đã được tổ chức và đang tiếp tục (14).

Cũng trong năm 1961, tại Quảng Ngãi, chính quyền NĐD âm mưu chiếm đoạt ngôi chùa tại núi Thiên Bút, một di tích lịch sử và văn hóa truyền thống của Phật giáo để làm Nhà thờ TCG. (15)

Tại các “khu dinh điền”, “khu trù mật”, sự áp bức Phật giáo càng nặng nề hơn: “Quyền môn của Phật tử dựng lên để mừng Phật đản, ban đêm bị phá, sáng ngày người dựng bị đánh tàn nhẫn, đến nỗi người được sai bảo triệt hạ (cố nhiên là tín đồ TCG) không thể cầm lòng được phải lên tiếng chất vấn và tố cáo: tại sao các ông (cố nhiên là tín đồ TCG) bảo tôi hạ của người ta rồi lại bắt, đánh người ta? Đó là một trong trăm ngàn sự việc đã xảy ra trước 1-1-1963.” (16)

Trong các “ấp chiến lược, Phật tử trở thành nạn nhân của TCG. Hàng rào “ấp chiến lược” cố ý và tìm cách bỏ ra ngoài rào chùa Phật giáo, nhà Phật tử; và dĩ nhiên ở ngoài “rào” sẽ bị xem là Việt Cộng. “Hàng rào ấy gần như rào chùa và rào cả sự đi lễ chùa của Phật tử, nhất là trong những ngày và những giờ đại lễ Phật giáo thì hàng rào ấy trong không ra, ngoài không vào được.” (17)

Lại có trường hợp tín đồ Phật giáo tụng kinh trong nhà cũng bị chính quyền NĐD phạt vi cảnh như ông Trần Bổ ở thôn Phổ Đồng, tỉnh Bình Định vì tụng kinh mà bị phạt vi cảnh 120$00. (18)

Đối với những tin đồ Phật giáo hăng say, nhiệt thành với công tác của Nhà Phật, bị chính quyền NĐD theo dõi và có khi bị giết như trường hợp một Huynh trưởng Phật tử ở Khuôn hội Kim An, Kim Long, Huế  đã bị giết chết một cách thê thảm chỉ vì “đã hoạt động tổ chức đoàn cung nghinh Xá lợi trong đại lễ Phật đản năm 1955.” (19). Cũng tại Huế, “ngay bên cạnh chùa Từ Đàm, tháng 2-1962, một tăng sĩ trẻ Trần kim Phú đã bị công an mật vụ của chế độ trùm bao bố, bóp cổ, bắt cóc đem giam trên Chín Hầm.” (20)

Chính sách lợi dụng TCG, đàn áp Phật giáo của chính quyền NĐD cũng xâm nhập sâu trong lãnh vực học đường. Diệm dành cho Giáo hội TCG quyền chi phối các trường (kể cả các trường không phải là của TCG) về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dung giáo dục “Duy linh”, “Nhân vị”; mà thực chất, là nội dung thần học theo lối kinh viện thời Trung cổ. Toàn miền Nam có “Văn phòng Trung ương giáo TCG” nằm trong tổ chức “Trung tâm TCG”. Trực thuộc cơ quan này là một Viện Đại học TCG ở Đà Lạt. Miền Nam dưới chính quyền NĐD có 3 Viện Đại học mà các Viện trưởng đều là linh mục: Linh mục Cao Văn Chiểu ở Viện Đại học Sài Gòn, Linh mục Cao Văn Luận ở Viện Đại học Huế, Linh mục Nguyễn Văn Lập ở Viện Đại học TCG Đà Lạt. Hầu hết giáo sư Triết học đều là những linh mục hoặc tín đồ TCG. Phần lớn các học bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên TCG. Cách tuyển chọn thầy giáo cũng như cách đánh giá kết quả học tập của học sinh đều có chủ ý dựa trên ý thức hệ TCG. Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, một ín đồ TCG thì: “Trong lãnh vực nhà trường, người ta có thể ghi nhận những vi phạm sau đây như những hành động chống lại tinh thần dân chủ và tự do tín ngưỡng. Ví dụ, bắt buộc phải theo một tôn giáo và không thể nói khác được, hoặc tuyển mộ giáo sư phải theo tôn giáo, ý thức  hệ mà chính quyền muốn nâng đỡ, phải có thiện cảm hay theo ý thức hệ của chính quyền. Đối với sinh viên, học sinh, thí dụ phải biểu lộ trong bài vở những ý nghĩa, lập trường đối với tôn giáo, ý thức hệ chính thức mới được nhận vào học.” (21)

Đẻ làm rõ hơn vấn đề trên đây, tác giả còn chú thích thêm: “Có nên duyệt lại chương trình dạy Triết, nhất là ở Đệ I, ban C, môn Siêu hình học ? Tin ở Thượng đế có phải là một điều kiện hiểu biết, không cho một học sinh nào dám nói mình không tin.” (22)

Trong lúc đó hệ thống trường tư thục của TCG từ mầm non, mẫu giáo đến tiểu học, trung học, đại học được xây dựng rất sớm. Năm 1958, Ngô Đình Thục đứng ra thành lập trường Đại học TCG Đà Lạt. Để chuẩn bị, từ cuối năm 1957, chính quyền NĐD đã tặng cho trường này đồn điền tại Blao. Công văn số 415-TTP,ĐL/M ngày 4-12-1957 của Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống gời Bộ trưởng Bộ Tài chánh cho biếg: “Do công văn số 1570-BTC/DC/B ngày 5-8-1957, ông Bộ trưởng có đề nghị Tổng thống tặng dữ đồn điền tại Blao, tịch thâu của Lê Văn Viễn, cho trường Đại học sắp thành lập tại Đà Lạt.

“Sự tặng dữ này khi trường Đại học nói trên đã hoàn thành và có tư cách pháp nhân để nhận lãnh.

“Tôi trân trọng tin để ông Bộ trưởng rõ: Tổng thống chấp nhận đề nghị trên đây của ông Bộ trưởng.” (23)

Tiếp theo, theo yêu cầu của Ngô Đình Thục, ngày 31-7-1958, Bộ trưởng Bộ Kiến thiết và Thiết kế đô thị đã gởi Công văn số 1392/BKTĐT/KOC đến NĐD đề nghị cho trường Đại học này được ứng trước 5.000.000  đồng để dùng vào việc xây cất trường. Công văn viết: “Với mục đích giúp phương tiện cho Đức Tổng giám mục, Chưởng ấn trường Đại học Đà Lạt, thực hiện ngay việc xây cất Nhà trường trong dịp nghỉ hè, để kịp khai giảng vào niên khóa 1958-1959, Thiểm bộ kính xin ông Tổng thống cho phép Ngân sách Tự trị Quốc gia Kiến ốc cục, tài khóa 1958, ứng trước ra một ngân khỏan 5.000.000   đồng để sử dụng vào công tác nói trên.” (24)

Để tiến “hợp pháp hóa” việc ứng trước, ngày 2-8-1958, chính quyền NĐD ra nghị định số 272-KT/TKĐT “cho phép mở một kỳ Xổ số đặc biệt để xây dựng trường Đại học Đà Lạt.” (25)

Tuy nhiên 5 triệu đồng vào thời đó quả rất lớn, và việc thực hiện cứ kéo dài mãi vì biết rằng đề nghị trên là bất hợp lý, nhưng để làm vừa lòng gia đình họ Ngô, số tiền trên vẫn được chi, song theo lối “tính cách đặc biệt” và là “một ngoại lệ”, Công văn số 33.275B/19.057-TP/NSNV/CT/3B, ngày 12-8-1958 của Tổng Thư ký Phủ Tổng thống nói rất rõ trường hợp này: “Riêng về phần pháp lý… là một cơ quan tư, trường Đại học Đà Lạt có thể đứng ra vay tiền của Quốc gia Kiến ốc cục. Trên căn bản, cơ quan này khó lòng thỏa mãn đơn vay ấy được, vì trái với mục tiêu cho vay của cơ quan.

Có lẽ vì lý do ấy nên Bộ Kiến thiết mới trình lên Tổng thống để ứng trước, vì là một ngoại lệ. Thủ tục này có phần đúng, nhưng về phương diện tài chánh, một khi Tổng thống cho phép, tất nhiên chính phủ đã mặc nhiên bảo đảm số nợ cho tư nhân, và như vậy Ngân sách Quốc gia bị buộc trả, nên tư nhân không trả được.

Trên nguyên tắc, sự đảm bảo như vậy khó lòng thực hiện được.

Tuy nhiên, nếu việc nâng đỡ trường Đại học Đà Lạt là cần thiết và được thượng cấp chấp nhận; Nha tôi tưởng có thể áp dụng thủ tục sau đây:

“a. Để Hội đồng Quản trị của Quốc gia Kiến ốc cục quyết định về đơn vay của trường Đại học; mặc dầu không đúng với mục tiêu của cơ quan, nhưng Hội đồng có thể xét được vì tánh cách của công tác;

“b. Áp dụng Điều thứ 16 của nghị định ngày 15-6-1951… quyết định cho vay phải được Tổng thống chuẩn y để có hiệu lực thi hành;

“c. như vậy số chi phí trên sẽ được ghi vào Ngân sách của kiến ốc cục.” (26)

Và ngay ngày hôm nay (13-8-1958), bằng Nghị định số 281-KT/TKDT, chính quyền NĐD đã “cho phép Quốc gia Kiến ốc cục ứng trước cho trường Đại học Đà Lạt một số tiền là năm triệu đồng (5.000.000)” (Điều 1) và “trường Đại học Đà Lạt phải hoàn lại số tiền ứng trườc cho Kiến ốc cục khi thâu được lợi tức kỳ Xổ số “Loại đặc biệt Trường Đại học Đà Lạt” phát hành năm 1958” (Điều 3) (27).

Dù Diệm và tay chân có xảo trá như thế nào chăng nữa thì dưới cái nhìn của người theo đạo Phật, trường Đại học Đà Lạt vẫn được xây dựng bằng phương tiện và tài chánh quốc gia, và sự phản ứng của họ được xem như là một điều đương nhiên. Báo Newsweek ra ngày 27-5-1963 viết: “Khi một Viện Đại học TCG được thiết lập tại thành phố miền sơn cước Đà Lạt, một công chức Phật tử đã than phiền rằng: “Chúng tôi là tín đồ Phật giáo nên không thể được như thế.” (28)

Ở địa phương, không có thành phố, thị xã nào lại không có từ hai trường Trung học của TCG trở lên, có cả hệ thống trường nam lẫn trường nữ. Từ cuối những năm 50, ở địa bàn cấp huyện, nhiều nơi trường Trung học công lập đệ nhất cấp chưa xuất hiện thì trường tư thục của TCG đã có, và bằng mọi biện pháp chính quyền NĐD đã cố gắng làm cho một bên phát triển, một bên tàn lụi. “Ngày 23-7-1958, Ngô Đình Nhu mở một Hội nghị toàn quốc tại Sài Gòn về vấn đề giáo dục để xét lại Chương trình giáo dục học đường. Sau Hội gnhị này, một nghị  định của Chính phủ ra đời, trong đó có biện pháp “kiểm soát chặt chẽ các trường tư thục”. Giới TCG nổi lên phản kháng biện pháp kiểm soát củ Ngô Đình Nhu, nhiều tạp chí của TCG tại Sài Gòn đã mở một chiến dịch đả kích biện pháp này. Phong trào đang ồn ào bỗng nhiên dịu xuống một cách đột ngột lạ lùng. Sau đó người ta mới biết hàng giáo phẩm TCG đã được hai ông Nhu và Thục giải thích cho biết biện pháp này phải được công khai ban hành để biện minh cho kế hoạch làm tê liệt các cơ sở giáo dục của Phật giáo.” (29)

Do chính sách trên đây cùng với những đặc quyền mà chế độ NĐD dành cho, hệ thống trường tư thục của TCG phát triển rất nhanh. Avro Manhattan trong “Vietnam: Why did we go?’ cho chúng ta những con số nổi bật: “Từ năm 1953 đến năm 1963, Diệm đã xây dựng 145 trường cấp II và cấp III, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 học sinh. Trong cùng thời gian này, Giáo hội TCG ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trường cấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới 1060 trường.” (30)

Có lúc để đánh lừa dư luận, chính quyền NĐD đã cho thành lập trường tư thục của Phật giáo, nhưng rồi lại tìm cách làm cho nó sớm tan rã. Một số nhân chứng cho biết: “ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, năm 1963, chính quyền NĐD cho phép thành lập một trường Trung học tư thục huyện của Phật giáo ở làng Vĩnh Lại, xã Triệu Phước. Trường vừa khai giảng chưa đầy một tháng thì ngay bên cạnh đó ở làng Mỹ Lộc, xã Triệu Hòa, một vị trí thuận lợi hơn, một trường Trung học của TCG cũng được xây dựng, mặc dầu cách đó không xa tại làng Bố Liêu cũng ở xã Triệu Hòa đã có một trường tư thục TCG đã được xây dựng từ trước. Điều đáng nói hơn, học sinh vào học ở đây chỉ trả học phí bằng nửa học phí của trường tư thục Phật giáo.” (31)

Có nơi dưới áp lực của các Linh mục, trường tư thục của TCG làm tê liệt cả trường công. Don Luce cho biết: “ở làng Thanh Bình, Chánh phủ đã xây dựng một trường học ba lớp, bời vì không có trường công nào khác trong vùng lân cận. Thầy giáo được đào tạo tại tỉnh lỵ, được gời về để khai giảng. Nhưng họ không dạy, vì ngay bên cạnh trường học ba lớp còn trống rỗng của Chánh phủ, một trường học cùng kiểu đang được xây dựng. Vị Linh mục mà dân làng vừa kính trọng, vừa sợ, từ chối việc cho phép con em đi học ở bất cứ trường nào khác, trừ trường của ông ta. Bốn năm sau đó, chúng tôi trở lại Thanh Bình, trường tư của ông (mà học sinh phải trả học phí) vẫn đông đúc học sinh, trong lúc đó ngôi trường của chánh phủ vẫn đang bị tẩy chay và đang đi đến chỗ hư hỏng. Hơn nữa, vị Tỉnh trưởng ở địa phương thú nhận ông ta không can thiệp vào vấn đề này, bời vì ông sợ rằng bất cứ một hành động đụng chạm đến các linh mục, ông sẽ bị mất chức như chơi.” (32)

Đối với việc xét chọn các tác phẩm văn chương hàng năm, những tác phẩm nào nặng lời chỉ trích Phật giáo, đề cao TCG đều được chế độ NĐD đánh giá cao.

Tác phẩm “Văn chương bình dân” của Thanh Lãng khi đề cập đến Phật giáo viết: “Đối với Phật cũng như đối với hạng thầy tu, dân chúng đều coi khinh; theo họ, Phật đi tu vì bất mãn về duyên tình, nhà chùa đi tu vì thích oản chuối… Người Việt Nam có quan niệm rất cao siêu về Trời mà họ coi tin như một Thiên Chúa toàn năng. Người dân quê, qua các tài liệu văn hóa, ta thấy luôn luôn có tính cách chống đối Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo v.v… Nhưng không bao giờ có ý tưởng chống đối Trời.” (33)

Tác phẩm “Xây dựng trên Nhân vị” của Bùi Tuân cũng viết: “Chân lý mặc khải của đạo Công giáo cho ta biết Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài (chỉ có Thiên Chúa, Thiên thần và Người là có vị. Các loài khác đều vô vị (Chú thích của Bùi Tuân).

“Triết lý Đông phương cũng như tôn giáo Tây phương thừa nhận rằng căn bản Nhân vị là ở Trời, tức là Thượng đế hay Thiên Chúa vậy.

“Nói một cách khác, người do từ Thượng đế mà đến. Ở đây, chúng ta chủ trương Nhân vị chủ nghĩa tức là mạnh dạn tỏ ra mình có một quan niệm về người và vũ trụ và quan niệm ấy thừa nhận có một đấng Thượng đế tạo dựng nên người là loài có Nhân vị.” (34)

Cả hai tác phẩm trên đây đã đoạt giải nhất trong số 13 giải được giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1957. (35)

Ngoài ra, các tổ chức TCG tha hồ xuất bản báo chí, kinh sách; Chương trình TCG cũng có trên đài phát thanh… Trong lúc đó Phật giáo bị o ép đủ điều, kinh sách của Phật giáo bị kiểm duyệt gắt gao, đến nỗi trong gần mười năm trời, Phật giáo không dám ra một tờ báo có tính chất quần chúng.

Với chính sánh tôn giáo của chính quyền NĐD trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng – chính trị, kinh tế – xã hội và văn hóa – giáo dục như đã trình bày cho chúng ta thấy chính quyền NĐD có chính sách ưu đãi đối với TCG rất rõ ràng, hết sức tạo điều kiện thuận lợi – cả về vật chất lẫn tinh thần – cho Giáo hội TCG Việt Nam hoạt động và phát triển (37); và điều không thể chối cãi được là “bất chấp mọi điều kiện lịch sử và tâm lý dân tộc, quan thầy và Diệm đã có nhiều cố gắng theo hướng “Công giáo hóa” nhân dân ta, biến TCG thành quốc giáo ở miền Nam” (38). Do đó bộ mặt TCG ở miền Nam dưới thời Diệm đã phát triển nhanh chóng về nhiều mặt. Từ khi được truyền vào nước ta đầu thế kỷ XVI cho đến trước năm 1954, ở miền Nam Giáo hội TCG chỉ có năm giáo phận: Huế, Qui Nhơn, Sài Gòn, Vĩnh Long, Cần Thơ. Nhưng chỉ chín năm dưới chính quyền NĐD, miền Nam có thêm bốn giáo phận: Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên, Đà Nẵng. Số tín đồ TCG gia tăng nhanh hơn bất cứ ở thời nào trước đây, đặc biệt “ở miền Trung, hàng ngàn người, kể cả một số trường hợp tất cả làng đều cải đạo qua TCG để tránh sưu dịch của chánh phủ hoặc tránh đi di dân”. (39) Ký giả của tờ Informations Catholiques Internationales (Paris) số ra ngày 15-3-1963 cho biết: “Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đã nói cho ông ta hay rằng ở Việt Nam có nhiều làng đòi làm lễ rửa tội tập thể một lần tất cả dân chúng trong làng và Giáo hội không đủ sức cung cấp người dạy đạo cho họ”. (40). Chính Cao Văn Luận cũng đã có lần nói với ông Diệm rằng: “Ai cũng thấy từ khi Cụ (chỉ Ngô Đình Diệm – L.C. chú thích) cầm quyền, thì Nhà thờ mọc lên ở khắp nơi, các Nhà thờ bị phá huỷ trong chiến tranh đều đã được tái thiết gần hết, cả những nơi không có bao nhiêu giáo dân cũng có Nhà thờ đồ sộ. Số người theo đạo mới cũng gia tăng mau chóng.” (41)

Tại Sài Gòn, trước năm 1954 chỉ có Nhà thờ Đức Bà, Nhà thờ Huyện Sĩ, Nhà thờ Tân Định, Nhà thờ Ngã Sáu, Nhà thờ Kỳ Đồng, Nhà thờ Chợ Lớn mà tín đồ phần đông là người Pháp, người Pháp gốc Việt và người Trung Quốc. Sau ngày NĐD lên cầm quyền, Nhà thờ, tu viện thi nhau mọc lên, giáo dân sống tràn ngập cả vùng Phú Thọ, vùng Lăng Cha Cả, ngã tư Bảy Hiền, ngã ba Ông Tạ, vùng Hạnh Thông Tây, vùng Tân Sa Châu, ngã ba Chú Tá, vùng Tân Định, Gò Vấp. Khu Phạm Ngũ Lão gần Chợ Lớn – Sài Gòn có các cơ sở thương mại, kinh tế, báo chí thì đa số tín đồ TCG nắm giữ. Khu ngoại vi Sài Gòn – Chợ Lớn, mà nổi bật nhất là dọc xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn và Đà Lạt – Sài Gòn, Nhà thờ mọc lên san sát, khách qua đường có thể nghĩ rằng Sài Gòn và vùng phụ cận, đa số dân cư là tín đồ TCG.

Đoạn mô tả sau đây của Ellen J. Hammer trong cuốn: “A Death in November” cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của TCG miền Nam thông qua chính sách kỳ thị tôn giáo của NĐD: “Tín đồ TCG có vẻ đông hơn vì những cuộc rước kiệu trên đường phố vào những dịp lễ. Những ngày nghỉ lễ của TCG được công khai kỷ niệm nhờ vị Tổng thống ngoan đạo, và trong những dịp lễ chính thức thường có nhiều Linh mục tham dự. Những làng di cư được thiết lập dọc theo theo các quốc lộ giống hệt như các làng ngoài Bắc. Những ngọn tháp giáo đường nổi bật trên các cánh đồng lúa và chuông giáo đường rền vang khắp đồng quê.” (42)

Vấn đề đặt ra là tại sao chính quyền NĐD lại thi hành chính sách kỳ thị Phật giáo, độc tôn TCG?

Trước hết, cần thấy rằng NĐD và gia đình y là tiêu biểu cho tầng lớp đại tư sản, đại địa chủ phản động đội lốt TCG, có nhiều nợ máu với nhân dân và mang nặng ý thức phục thù. Điều này thể hiện trong bức thư của Ngô Đình Thục gởi cho Toàn quyền Jean Decoux khi được biết hai em của mình (NĐD và Ngô Đình Nhu) đang bị thực dân Pháp truy tố. Ngô Đình Thục viết: “Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi của nước Pháp thì – với tư cách của một Giám mục, của một người An Nam , và với tư cách là người con của một gia đình mà phụ thân tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi nước Pháp mới tới An Nam và đã nhiều lần đưa mạng sống ra cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi đã cầm đầu dưới quyền của Nguyễn Thân chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ An va Hà Tĩnh – tôi, tự đáy lòng không chấp nhận… rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi, một gia đình đã tự gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu.” (43)

Mặt khác, chế độ NĐD là sản phẩm của chủ nghĩa “thực dân mới”, NĐD được Mỹ nuôi dưỡng qua bàn tay của trùm gián điệp Hồng y Spellman. Thông qua Spellman, NĐD được Mỹ đưa về làm thủ tướng rồi Tổng thống ở miền Nam. Nhà sử học Buttinger cho rằng: “Hồng y Spellman chắc chắn là người Mỹ đầu tiên đã nuôi ý tưởng về một Chính phủ Việt Nam do tín đồ TCG NĐD cầm đầu”. (44) Vì vậy “việc lựa chọn Diệm đã được thực hiện dưới sức ép nặng nề của Mỹ và bằng sự can thiệp của Hồng Y Spellman”. (45) Sau khi cầm quyền ở miền Nam, NĐD quyết tâm thực hiện vũ khí tôn giáo do chính Spellman đã trao cho y. Tại Hội nghị “Liên minh chống Cộng Á châu” họp tại Sài Gòn tháng 5-1957, NĐD đã tuyên bố: “Chúng ta đừng quên vũ khí chân lý có sẵn trong kho tàng tôn giáo. Sử dụng vũ khí đó là mục tiêu của Liên minh chống Cộng châu Á”. (46)

Hơn thế nũa, trong những năm 50, dưới con mắt của các nhà chiến lược Mỹ thì “trong cuộc chiến đấu chống Cộng, việc dùng mọi khí giới và phương tiện vật chất là một lỗi lầm nặng. Càng tiến hành theo phương pháp này, cộng sản càng thắng. Phải kết hợp cho được mọi lực lượng chung quanh một lý tưởng cao siêu là tôn giáo” (47) và “sự nghiệp truyền đạo là thành luỹ chống Cộng”, là “tiền đồn của chủ nghĩa tư bản” (48)

Qua nghiên cứu của chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền NĐD như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nhận định chủ yếu sau đây:

Một là, chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền NĐD là toàn diện và có hệ thống trên tất cả các lãnh vực tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục; với nhiều biện pháp gian manh, tàn bạo từ mua chuộc, dụ dỗ đến đàn áp, khủng bố quyết liệt, kể cả việc bắn giết, thủ tiêu những người khác tôn giáo với họ Ngô. Đó là quá trình từ đầu đến cuối, thống nhất trong một chính thể, từ chủ thuyết Nhân vị đến việc NĐD cho ra đời Hiến pháp 1956, rồi tiếp theo là ban hành chính sách “tố Cộng”, “diệt Cộng”; từ việc NĐD cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Nhân vị tại Vĩnh Long đến việc nâng nhà thờ La Vang (Quảng Trị) lên hàng Vương cung Thánh đường; từ việc trấn áp dữ dội đối với người khác tôn giáo dưới bàn tay hung thủ Ngô Đình Cẩn đến “quốc sách ấp chiến lược” mà Ngô Đình Nhu là kẻ chủ xướng, v.v… Tất cả các biện pháp này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau nhằm thực hiện “ý chí” và quyết tâm “TCG hóa” miền Nam của chính quyền NĐD. Điều này giải thích tại sao trong suốt chín năm thống trị miền Nam, chính quyền NĐD vẫn tiếp tục duy trì Dụ số 10 (8-10-1950), một đạo Dụ đặt các tôn giáo vào phạm vi Hiệp hội, trừ TCG. Do đó một số lập luận cho rằng: “cho đến năm 1962 ít có bằng chứng về sự ngược đãi đối với tín đồ Phật giáo, mặc dầu Diệm là một tín đồ TCG nhiệt thành và sự mong muốn của Nhu là làm cho “chủ nghĩa Nhân vị” trở thành triết học nhà nước” (49); hoặc “biến cố  Phật giáo là một biến cố giả tạo do những người chống đối NĐD gây ra” (50) là hoàn toàn không có cơ sở đứng vững.

Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền NĐD được đẩy mạnh hơn từ năm 1957, khi mà các lực lượng đối lập (trừ lực lượng cách mạng) đã bị loại bỏ và ác liệt nhất là từ năm 1960 trở đi, khi mà nĐD và tay chân cho rằng chế độ của chúng ta đã vững vàng, đủ thực lực để tiến hành chính sách “TCG hóa” miền Nam đã có những bước phát triển nhảy vọt từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công NĐD thì chính trong thời kỳ này, chính quyền NĐD ra sức khủng bố, bắt ép những người khác tôn giáo, trước hết là tín đồ Phật giáo, đi theo TCG, mà điển hình nhất là ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Don Luce và John Summer trong “Vietnam: The Unheard Voices” đã có một cái nhìn rất đúng về vấn đề này: “khi cuộc nổi dậy của những người cộng sản gia tăng, Diệm càng ngày càng trở nên hoảng sợ, ông càng tin tưởng vào những người mà ông có thể tin được: những người Thiên Chúa giáo”. (51)

Hai là, chính sách kỳ thị Phật giáo, độc tôn TCG của chế độ NĐD tiến hành trong suốt chín năm NĐD thống trị miền Nam, xét trên thực tế trước mắt là một sự tấn công quy mô, toàn diện trên tất cả các lãnh vực tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục đối với Phật giáo. Xét về mục tiêu lâu dài cần đạt được thì chính sách kỳ thị tôn giáo trên đây được chính quyền NĐD xem như là một trong những biện phap hữu hiệu để đẩy lùi lực lượng cách mạng, đẩy lùi kháng chiến, để giữ chặt miền Nam trong quỹ đạo của chủ nghĩa “thực dân mới”.

Cần nói thêm rằng dưới “con mắt” của chính quyền NĐD, để thực hiện chính sách “TCG hóa” miền Nam thì Phật giáo chiếm đa số trong nhân dân miền Nam. Hơn thế nữa, trong thực tế lịch sử, Phật giáo Việt Nam đã có một sự gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc, tăng ni, Phật tử Viết Nam qua các thời kỳ lịch sử đã tham gia tích cực trong những công cuộc phục hưng đất nước, NĐD, kẻ dựa vào ngoại bang để nắm lấy quyền lực thì y cũng không lạ gì khi y thực hiện những chính sách đi ngược lại với quyền lợi dân tộc, mà ở đây chính sách kỳ thị Phật giáo, độc tôn TCG là một trong những chính sách điển hình.

Ba là, chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ NĐD đã gây nên biết bao nỗi đau thương, khổ nhục, uất hận đối với nhân dân miền Nam, đối với những người khác tôn giáo với họ Ngô, nhất là đối với tín đồ Phật giáo. Chính sự chồng chất những nỗi đau thương bất công do chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền NĐD gây ra, đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng nổ Phong trào Phật giáo ở miền Nam trước đây.

Chú thích:

[1]. Văn thư ngày 24-5-1956 của Chánh sở Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TTLTQG). Ký hiệu tài liệu SC.01-HS.1383.

[2]. Nguyễn Lang “Việt Nam Phật giáo sử luận”, tập III. Nxb Văn học, Hà Nội, 1994, tr.384.

[3]. Công báo VNCH, ngày 27-8-1963. TTLTQG II. Ký hiệu tài liệu J.425.

[4]. Văn thư số 124 ngày 1-8-1963 của Uỷ ban Bảo vệ Phật giáo (UBBVPG) kính gởi ông Frederick E. Nolting, Đại sứ Hoa kỳ tại Sài Gòn. Hồ sơ lưu trữ tại chùa Từ Đàm, Huế.

[5]. Đỗ Thọ “Nhật ký Đỗ Thọ”, Nxb Đồng Nai, SG, 1970, tr.59.

[6]. Nguyễn Chánh Thi, “Việt Nam : Một trời tâm sự”, Nxb Anh Thư, Los Alamitos, Ca., USA, 1987, tr.80.

[7]. Đoàn Thêm, “Hai mươi năm 1ua. Việc từng ngày (1945-1964)”, Nxb Nam Chi tùng thư, SG, 1966, tr.208.

[8]. Công văn số 33.275B/19.057-TTP/NSNV/CT/3B ngày 12-8-1958 của Tổng Giám đốc Ngân sách và Ngoại viện kính gởi ông Tổng Thư ký Phủ Tổng thống. TTLTQG II. Ký hiệu tài liệu SC.13-HS.23.993.

[9]]. Công văn số 607?LĐCC/VP ngày 13-8-1958 của Ban Chấp hành Thanh niên Liên đoàn Công chức Cách mạng QG kính gởi ông Bộ trưởng Phủ Tổng thống. TTLTQG II. Ký hiệu tài liệu số SC.01-HS.1946.

[10]. Đỗ Mậu, “Tâm sự tướng lưu vong”, (Hồi ký) Nxb Công an ND, Hà Nội, 1991, tr.430.

[11]. Như chú thích (47), tr.303.

[12]. Như chú thích (42), tr.384.

[13-14]. Thích Trí Quang, “Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam”, Tuần báo Hải Triều Âm, số 17, ngày 19-8-1964, tr.2

[15]. Hồ sơ kết quả điều tra về việc khiếu nại của Phật giáo VN”, TTLTQG II. Ký hiệu tài liệu số SC.04-HS.8356.

[16-17]. Thích Trí Quang, “Cuộc vận độngcủa Phât giáo VN”, Tuần báo HTÂ, số 13, ngày 16-7-1964, tr.2.

[18]. V. Xuyên, “Những tội… tức cười”, Nguyệt san Liên Hoa số 1, huế 1964,tr.27-28.

[19]. Thích Trí Quang, như trên, tr.2.

[20]. Hồ sơ gời Tổng thống và Quốc hội của Hội PG Trung phần ngày 20-2-1962 (bản đánh máy). Thư viện trường Cao cấp Phật học TP. Hồ Chí Minh, SG, 1968, tr.1-50.

[21-22]. Nguyễn Văn Trung, “Chính trị hóa giáo dục”, Bách Khoa số 175, ngày 15-4-1964, tr.37-43.

[23]. Công văn số 415-TTP-ĐM/M ngày 4-12-1957 của Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống kính gởi ông Bộ trưởng bộ Tài chính. TTLTQG II. Ký hiệi tài liệu SC.03-HS.23993.

[24]. Công văn số 1392/BKTĐT/KOC ngày 31-7-1958 của Bộ trưởng bộ Kiến thiết đô thị kính gời Tổng thống VNCH. TTLTQG II. Tài liệu số SC.03-HS.23993.

[25]. Nghị định số 281-KT/TKĐT ngày 13-8-1958 của Tổng Thống - VNCH cho phép Quốc gia kiến ốc cục ứng trước cho trường Đại học Đà Lạt một khoản tiền 5.000.000.$00 để xây cất Viện đại học này. TTLTQG II. Tài liệu số SC.13-HS.23.773.

[26]. Công văn số 33.275B/19.057-TTP/NSNV/CT/3B ngày 12-8-1958 của Tổng Giám đốc ngân sách và Ngoại viện kính gởi ông Tổng Thư ký Phủ Tổng thống. TTLTQG II. Tài liệu số SC.13.HS.23.993.

[27]. Như chú thích (25).

[28]. “South Vietnam: The mandarin of Hue”, copy from Newsweek, May 27, 1963. TTLTQG II. Tài liệu số TM-HS.209, tr.1-3.

[29]. Như chú thích (50), tr.398

[30]. Manhattan, Avro, “Vietnam Why did we go?”, Chick Pub.,Ca. USA, 1984, tr.85.

[31]. Phỏng vấn đạo hữu Tâm Chính và Tâm Phò ngày 15-5-1993 tại Đông Hà, Quảng Trị.

[32]. Luce, Don & Sommer, John, “Vietnam: The unheard Voices”. Cornell University Press, Ithaca, USA, 1969, tr.111.

[33]. Thanh Lãng, “Văn chương bình dân”, Nxb Phong trào Văn hóa, hà Nội, 1954, tr.225-226.

[34]. Bùi Tuân, “Xây dựng trên Nhân vị”, Nxb Nhận thức, huế, 1956, tr.23.

[35]. Như chú thích (47), tr.239.

[36-37]. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia. Viện Sử học, “Lịch sử VN (1954-1965), Nxb KHXH, Hà Nội, 1995, tr.173-174.

[38]. Fitgerald, Frances, “Fire in the Lake”. An Atlantic Monthly Press Book, Boston, USA, 1972, tr.104.

[39]. Như chú thích (42), tr.393.

[40]. Cao Văn Luận, “Bên dòng lịch sử”, Nxb Trí Dũng, SG, 1972, tr.318.

[41]. Hammer, Ellen J., “A Death in November (American in Vietnam in 1963)”, E.p. Dutton, New York, USA, 1987, tr.106.

[42]. Lê Trọng Văn, “Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ NĐD”, Nxb Mẹ Việt Nam, San Diego, Ca., USA, 1989, tr.23-24.

[43-44]. Buttinger, Joseph, “Vietnam: A Political History”, Ffrederick A. Praeger, Inc. Publisher, New york, USA, 1968, tr.385-386.

[45,46,47]. Cao Văn Lượng, “A⭠mưu lợi dụng Giáo hội TCG để đàn áp phong trào cách mạng miền Nam của M.-Diệm”, Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, số 48, tháng 3, 1963, tr.2-11.

[48]. Smith, R. D., “An International History of Vietnam War”   (Volume II), St. Maritn Press, New York, 1987, tr.149.

[49]. Nguyễn Trân “Công và tội – những sự thật lịch sử”, Nxb Xuân Thu, Los Alamitos, Ca. USA, 1992, tr.416.

[50]. Như chú thích (32), tr.114.

[51]. Như  chú thích trên.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........