>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

* * *

Vài lời với độc giả Giao Điểm: Trong hơn sáu tháng qua, với nội dung của mạng lưới Giao Điểm, quý độc giả đã nhìn thấy rõ chủ trương đích thực của GĐ. Riêng về mặt "giải hoặc Ca-tô", không hẳn chúng tôi chỉ nhắm cái đích vào Vatican và các Giáo hội thừa sai ở bản xứ của họ, nhưng còn "đối trị" với bất cứ tổ chức giáo hội nào còn dựa vào tinh thần Thần quyền đen tối nhằm phục vụ cho quyền lợi thế trị của các nước lớn đối với các dân tộc đang phát triển. Trên quan điểm lịch sử, Luther và Calvin là các bực thầy tổ của đạo Phản Thệ (Protestant), đã thổi bùng một làn sóng cách mạng tôn giáo chống lại quyền lực độc thần đại phong kiến Ca-tô Rô-ma, thoát ly khỏi vòng kiềm tỏa và đàn áp để tìm đến các vùng đất mới có những mặt lịch sử tích cực của nó, thế nhưng yếu tố tích cực này không phải là cơ sở để Giao Điểm phải mặc nhiên đứng trong thế "liên minh" với hàng chục giáo phái phân ly sau vài trăm năm của họ như hiện nay trên đất Mỹ. Bởi tinh thần "giải hoặc" trước hết là trình bày sự thật, công bố các khai quật lịch sử bằng những chứng cớ khoa học, mà luận lý chỉ là phương tiện để nâng sự thật có khả năng giải hóa và thuyết phục . Tất cả, là để gìn giữ và đắp bồi nền văn hóa khai phóng của dân tộc, trong trào lưu khai phóng của nhân loại qua các phương tiện kỹ thuật thông tin toàn cầu hóa. Chính vì vậy trong những loạt bài báo, hoặc các tác phẩm đã xuất bản, Giao Điểm đã trực diện hoặc gián tiếp "đập vỡ" những nõa lực mang tinh thần Ki-tô nói chung. Có lẽ vì vậy trong thời gian qua, chúng tôi đã nhận được nhiều điện thư (có khi lập lại nhiều lần cùng nội dung) từ một vài cá nhân, các Mục sư từ các trang nhà điện tử khác nhau, hoặc để gián tiếp tự quãng cáo, hoặc muốn được chia xẻ những khía cạnh tâm lý như chúng tôi vừa nêu ra. Trong số này, có Mục sư Nguyễn thanh Vũ đã giới thiệu cuốn sách "Từ áo Cà sa đến Thập-tự-giá" của Nguyễn hữu Nhật (mà có thể ông không biết GĐ đã phê phán, vạch rõ những sai trái từ lâu), và một bài báo khác "Từ cội Bồ đề đến chân Thập-tự" của sư cô Diệu Thông (?) với nội dung mang tính tiểu thuyết hóa với một kỹ thuật được tạo dựng rất thô thiển. Về cá nhân, có ông Minh Trí (Ngô văn Tài) ở Việt Nam đã gởi cho chúng tôi lá thư dài kèm theo bài phê bình hai tác giả của GĐ là giáo sư Trần chung Ngọc và Tỳ kheo Thích Nhật Từ với những nhận xét rất võ đoán và chủ quan về cuốn sách "Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo" mà GĐ đã xuất bản trong năm 2000. Lẽ ra chúng tôi sẽ không lên tiếng cho đến lúc biết được cuốn sách của ông MT đã xuất bản, nhưng bởi cảm thông lòng nao núng của ông khi gởi điện thư cho chúng tôi nhiều lần kèm theo lá thư với nội dung trần tình thiết tha, chúng tôi đành phổ biến lá thư của tác giả Trần Chung Ngọc gởi cho ông để độc giả được thông tường. Đây cũng là một cách đáp lễ cho người "anh em" đã dùng cây bút như một nghiệp dĩ vậy. Phần còn lại là một chút lấn cấn để chúng tôi tự hỏi thầm : tại sao ông Minh Trí lại không can đảm tự nhận mình là một tín đồ hay một chức sắc nào đó của đạo Phản Thệ mà lại nhận "lầm" là một Phật tử ?, bởi cung cách, tâm lý và ngôn ngữ của Minh Trí đã bung bức mọi nổ lực tự che đậy tấm lưng mình. Nếu điều này đúng, thì sự thiếu ngay thẳng là một vết nức mở toang khởi đầu trong một cuộc đối thoại. Sự thành thực, dù có khi đến ngỡ ngàng vẫn là điều trân quý. Nhân tiện, chúng tôi giới thiệu với độc giả sau khi đọc xong lá thư của tác giả TCN, xin trở lại đây để đọc một quãng cáo hết sức thành thực và sống động:

Để trở thành một Mục sư linh hướng hợp pháp trong vòng 48 giờ

đang được Mục sư Charles Simpson phổ biến trên mạng lưới toàn cầu. Đây là một business đang nở rộ trong môi trường xã hội dân-chủ-đa-nguyên rất Mỹ, mà không cần phải nhọc công dùng nguỵ ngôn để che đậy bất cứ một sự thật nào.Giao Điểm.


Thư của Gs Trần Chung Ngọc gởi tác giả Minh Trí (Ngô Văn Tài)

* * *

Kính gửi ông Ngô Văn Tài, bút hiệu Minh Trí, tác giả cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô Hữu":

Tôi đường đột gửi tới ông thư này, mong ông tha lỗi. Lý do là Thầy Nhật Từ có chuyển cho tôi bản thảo cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô Hữu" của ông vì trong cuốn này có đoạn phê bình một hai câu trong cuốn "Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo" mà tôi và Thầy Nhật Từ là đồng tác giả. Hiện nay Thầy Nhật Từ đang rất bận nên Thầy nói tôi đọc trước và cho ý kiến, nếu có, theo lời yêu cầu của tác giả Minh Trí. Sau này, nếu có thì giờ Thầy sẽ đọc kỹ và có thể có hồi âm.

Trước hết, để tránh cho độc giả khỏi ngộ nhận khi đọc tới câu "tự nhận mình là "Phật tử" đối thoại với anh em "Kitô hữu" của tôi.." của ông, tôi nghĩ ông nên khẳng định ông là một Phật-tử, vì "tự nhận" hàm ý cái mà mình nhận không chắc có thật. Thí dụ, Chúa Giê-su tự nhận là Con Một Của Thiên Chúa, là Đấng Cứu Tinh (Messiah) của Dân Do Thái nhưng thực ra, theo những kết quả nghiên cứu của đa số các học giả, chuyên gia về tôn giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, trong những xã hội tiến bộ trí thức Tây Phương ngày nay, thì ông ta chỉ là một người thường như mọi người thường khác, mắc benh chứng hoang tưởng. Tôi không biết ở Việt Nam quan niệm của giới trí thức về Giê-su ra sao, chứ trong các thế giới tiến bộ Âu Mỹ thì quan niệm đồng thuận của giới thức giả về Chúa Giê-su được tóm tắt trong câu sau đây của học giả Russell Shorto, người đã nghiên cứu và tổng hợp những kết quả nghiên cứu về Tân ước và nhân vật Giê-su trong 200 năm nay, trong cuốn Sự Thật Phúc Âm (Gospels Truth), trang 14:

"các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay ố rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người sống với một ảo tưởng (ảo tưởng tin rằng mình chính là con của Thần Do Thái và là đấng cứu tinh của dân Do Thái. TCN) ố họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. (..for decades, scholars have known the truth ố that Jesus was nothing more than a man with a vision ố for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Đây không phải là nhận định duy nhất về con người Giê-su lịch sử, mà còn rất nhiều nhận định tương tự của các học giả trên khắp thế giới. Chúng ta cũng nên biết rằng Linh Mục John P. Meier đã xuất bản một bộ 2 cuốn, mỗi cuốn dày trên dưới 700 trang, với tên The Marginal Jew : Rethinking The Historical Jesus, xuất bản năm 1991 và 1994, với Imprimatur của Vatican, về nhân vật Giê-su, trong đó ông cũng đưa ra những nhận định tương tự, bác bỏ mọi phép lạ của Giê-su, và đưa ra nhiều bằng chứng về sự "bất khả đồng trinh" của bà Maria. Lẽ dĩ nhiên, những tác phẩm nghiên cứu này chỉ được biết tới trong giới trí thức, chứ còn các tín đồ thông thường thì vẫn tiếp tục sống trong bóng tối qua chính sách bưng bít của giáo hội.

Vậy vấn đề lương tâm trí thức của chúng ta là có nên kéo họ ra khỏi bóng tối hay không, hay là vì tinh thần đối thoại theo định nghĩa của riêng ta, ta vẫn tiếp tục nuôi dưỡng họ trong vòng đen tối trí thức? Như vậy, chúng ta có mang tội với dân tộc và lịch sử hay không? Đó là sự trăn trở của nhiều người còn tha thiết với tiền đồ dân tộc.

Nếu cuốn "Đối Thoại Với Ki-Tô Hữu" là của một trí thức Công Giáo thì tôi sẽ chờ cho cuốn sách đó xuất bản rồi sẽ phê bình tương tự như đối với cuốn Hành Hương Đất Phật của Phan Thiết. Nhưng vì đó là của một người "tự nhận" là Phật tử, nên với tình đồng đạo, tôi xin góp vài ý kiến xây dựng. Xin ông hiểu cho rằng đây chỉ là những ý kiến cá nhân, không phải là tôi trả lời thay cho Thầy Nhật Từ, vì tôi không đủ tư cách.

Trước hết tôi xin có vài nhận xét tổng quát, sau đó tôi sẽ đi vào một vài chi tiết điển hình để góp ý cùng ông. Lẽ dĩ nhiên, tôi không có thì giờ và hiện nay cũng không có ý định phê bình cả cuốn sách.

Nhận xét tổng quát thứ nhất của tôi về cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô Hữu" là từ "đối thoại" không phù hợp với nội dung cuốn sách. Đúng hơn, đó là một cuốn giảng đạo theo lối mới, nếu không muốn nói là thuộc môn "Thần học Ki Tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu", nghĩa là vẫn bám chặt vào những tín điều của Ca Tô Giáo đồng thời mượn những tư tưởng Á Đông, những tư tưởng trong Phật Giáo, diễn giải, so sánh lệch lạc và gượng ép để giải thích lại những tín điều này cho phù hợp với người Á Đông. Điểm sai lầm căn bản trong lối giảng đạo mới này là vẫn dựa trên một tiền đề: "tất cả những gì viết trong Thánh Kinh đều đúng, không thể sai lầm" cho nên thường trích dẫn vụn vặt và vô trách nhiệm những câu trong Thánh Kinh một cách ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) và cho đó là những sự thực hay chân lý và tìm cách giải thích những "sự thực" này cho phù hợp với các tư tưởng trong các tôn giáo khác. Lối giảng đạo này không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu kỹ nhất, chi tiết nhất, và mới nhất của rất nhiều học giả trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội Ca-Tô, về cuốn Thánh Kinh cũng như về các giáo điều, tín lý v..v.. của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng.

Nhận xét tổng quát thứ hai của tôi là tác giả có bỏ công nghiên cứu về Phật Giáo, nhưng không phải với mục đích suy niệm giáo lý của Đức Phật, mà để tìm ra những tương đồng biểu kiến, có nghĩa là tương đồng trên mặt văn tự, từ đó giải thích khác đi với mục đích đánh đồng với những quan niệm trong Ca Tô Giáo.

Nhận xét tổng quát thứ ba là tác giả đồng nhất hóa sự hiểu biết và cách diễn giải của riêng mình với kiến thức của tất cả các Phật tử khác.

Nhận xét thứ tư là tác giả đã nêu lên một vài công án trong Phật Giáo ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) với cách đặt câu có thể gây hiểu lầm tai hại cho giới Phật tử. Sau đây tôi xin đi vào phần phân tích.

Trước hết tôi xin có vài nhận xét về những lời phê bình của ông đối với một câu của Thầy Nhật Từ và hai câu của tôi trong cuốn "Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo". Tôi phải nói ngay rằng ông đã "quá vô ý" khi đọc và trích dẫn những câu trên tạo thành những sự hiểu lầm đáng lẽ không nên có trong giới độc giả. Không biết ông dùng ấn bản nào vì trong ấn bản gốc của chúng tôi, câu của Thầy Nhật Từ là ở cuối trang 96 (không phải là 118) và câu của tôi ở trang 287 (không phải là trang 299). Cho nên trong ấn bản đó, nếu có những gì không đúng với ấn bản chính thì chúng tôi không có trách nhiệm.

Ông viết:

Đại đức Thích Nhật Từ khẳng định "Khái niệm tội tổ tông của Kitô giáo khởi đầu từ cái dâm dục của Adam và Eva huyền thoại" (tr.118).

Và phê bình là Thầy Nhật Từ viết như trên để "trả đũa" Phan Thiết. Thực ra thì ông đã trích dẫn câu của Thầy Nhật Từ nửa chừng cho nên nó không đủ nghĩa. Toàn câu của Thầy Nhật Từ như sau, trang 96:

"Khái niệm tội tổ tông của Kitô giáo khởi đầu từ cái dâm dục (Kamacchanda) của Ađam và Eva huyền thoại, với phương thức "con dại thì cái mang" để liên kết hành vi cứu chuộc giả tạo của thiên chúa, qua hình ảnh của Giê-su lịch sử."

Câu này viết rõ ràng, đầy đủ ý nghĩa, bởi vì Thầy Nhật Từ viết về "Khái niệm tội tổ tông" chứ không phải là "tự thân tội tổ tông". Hơn nữa, nếu ông nghiên cứu về Ca Tô Giáo thì sẽ thấy rằng, theo quan điểm của khá nhiều Thánh trong Công Giáo, điển hình là Thánh Augustine, Chrysostom, Thomas Aquinas v..v.. họ đều liên kết tội tổ tông kiểu "cha truyền con nối" này có nguồn gốc chính là "sex", nghĩa là dâm dục hay nhục dục. Không có nhục dục thì tội tổ tông mất hết ý nghĩa. Thánh Augustine cho rằng trước khi sa ngã (fall) thì Adam và Eva phải có nhục dục. Augustine, trước khi tìm thấy ánh sáng Ki Tô khi gần 40 tuổi, là một kẻ chơi bời phóng đãng, có nhiều nhân tình và con rơi con vãi, cho nên ông ta hiểu sự quyến rũ và đòi hỏi của xác thịt là như thế nào. (Có quan niệm cho rằng vì Augustine chơi bời quá độ, khi gần 40 tuổi sinh ra bất lực, rồi mới đi tu, và do đó trở nên "thù ghét" và lên án triệt để vấn đề nhục dục, lý do không phải vì đạo đức tôn giáo (nhục dục là một đòi hỏi thường tình thế gian) mà vì xung quanh ông có những cảnh "giải trí" mà bấy giờ ông không làm được: Xin đọc The Happy Heretic của Judith Hayes) Việc sa ngã của Adam là do Eva thúc đẩy, mà Eva là nguồn cám dỗ xác thịt khó cưỡng. Điều này thật là hiển nhiên cho tới ngày nay. Trong Cựu Ước không thiếu gì những chuyện dâm loạn. Trong lịch sử Công Giáo cũng không thiếu gì các giáo hoàng dâm loạn. Và ngày nay cũng không thiếu gì các linh mục dâm loạn đi hiếp dâm trẻ con, và thay vì đi chơi bời ở ngoài, lại đi hiếp dâm cả những bà sơ trong 23 quốc gia để tránh bệnh AIDS. Báo chí đăng tải rộng rãi, và tòa Thánh Vatican cũng đã phải công nhận sự kiện ô nhục trong giới lãnh đạo này. Không hiểu ở Việt Nam ông có biết đến những thông tin này hay không? Nếu ông muốn phê bình câu trên của Thầy Nhật Từ thì chỉ có một điểm. Đó là Thầy viết "hình ảnh của Giê-su lịch sử" thay vì đáng lẽ ra phải viết là "hình ảnh của Giê-su huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo dựng lên". Hai hình ảnh này hoàn toàn khác nhau. Hình ảnh của Giê-su lịch sử là hình ảnh thực của con người Giê-su, khác xa với hình ảnh của Giê-su thần thánh do nền Thần học Ki Tô Giáo dựng lên. Vậy, trích dẫn cắt ngắn một câu rồi dựa vào đó để mà phê bình sai lạc đi là điều người Phật tử trí thức chúng ta không nên làm.

Đối với tôi, ông viết: "Còn ông Trần Chung Ngọc thì cho rằng: "Thánh Linh là Thánh Ma" (Maria). Ông Ngọc viết : "à Theo học thuyết Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, Thánh Ma là một, do đó vừa là cha vừa là chồng vừa là con của bà Maria? à Thánh kinh viết rõ như vậy, mở thánh kinh ra mà đọc..."(tr.299)." và cho rằng tôi đã viết láo. Tôi nghĩ rằng ông chưa nghiên cứu sâu xa về Công Giáo và nhất là không đọc kỹ bài viết của tôi, chứ không phải là ông viết với ý xuyên tạc để dựa vào đó mà phê bình. Cuối trang 279 trong bản chính, tôi có viết: Chúa Trời của Phan Thiết thật là đặc biệt, có lẽ vì là con của Thánh Linh hay Thánh Ma (Holy Ghost) với bà Maria... như vậy thì không có cách nào có thể hiểu là tôi cho rằng Thánh Ma là bà Maria. Tôi đã cẩn thận chua thêm trong dấu ngoặc đơn hai chữ Holy Ghost sau chữ Thánh Ma. Khi viết về Thánh Ma về sau tôi không nhắc lại phần tiếng Anh nữa. Vì không đọc kỹ bài của tôi nên sau đó ông viết:

Không biết đã có Phật tử nào nghe lời "xúi dại" đó chưa? Khi học thuyết cốt lõi nhất của Kitô giáo là học thuyết "Nhất thể tam vị" mà ông Ngọc gọi "Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà Maria" . Điều đó lại là một "hiểu biết chính xác, có thể dùng làm căn bản để Phật tử đối thoại với Kitô giáo". "Xúi dại" kiểu đó chẳng khác nào vừa "khinh thường" Phật tử, vừa muốn đẩy Phật tử vào "chỗ chết".

Chắc ông cũng biết rằng Giao Điểm viết lời giới thiệu. Nhưng thật ra đó có phải là những lời xúi dại hay không? Có lẽ vì ông sống ở Việt Nam, không có nhiều tài liệu, thông tin về tôn giáo, cho nên không hiểu rằng, trong Ca Tô Giáo, Thánh Linh chính là Thánh Ma. Thánh Ma là tôi dịch nguyên văn từ chữ Holy Ghost mà ra. Nếu ông mở cuốn Tự Điển Anh Việt của Lê Bá Kông (một giáo sư theo đạo Công Giáo), cuốn The American Heritage Dictionary, cuốn tự điển Encarta mới xuất bản năm 2001, cuốn tự điển Evangelical Dictionary of Theology của Walter A. Elwell xuất bản năm 2001, thì ông sẽ thấy từ Holy Ghost (Thánh Ma) được giải thích chính là Thánh Linh (Holy Spirit). Ngay trong cuốn Từ Điển Anh-Việt do Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam xuất bản tại Thành Phố Hồ Chí Minh năm 1993 cũng có từ Holy Ghost chính là Holy Spirit. Ông Lê Bá Kông dịch Holy Ghost là Chúa Thánh Thần theo cách gọi của người Ca Tô. Ngoài ra, không phải từ Holy Ghost chỉ có trong các tự điển mà còn có trong Thánh Kinh, những ấn bản cũ. Ngày nay, từ Holy Ghost ít thông dụng nên những ấn bản Thánh Kinh mới đều thay Holy Ghost bằng Holy Spirit. Nếu ông mở cuốn tự điển The New Strong's Concise Concordance and Vine's Concise Dictionary of the Bible do nhà xuất bản Thomas Nelson phát hành năm 1999, tra từ Holy thì ông sẽ thấy từ Holy Ghost xuất hiện trong Thánh Kinh trong Matthew 1:20, Matthew 3:11, Mark 1:8, Luke 1:15, 35, Luke 4:1, John 1:37, Acts 2:4, 38; 5:3; 7:15; 10:38; 15:28; 19:2; và Roman 14:17. Trong một ấn bản cũ của cuốn Thánh Kinh (King James Version) người ta đếm được trên 80 từ Holy Ghost trong khi chỉ có 4 từ Holy Spirit. Cuốn Thánh Kinh New King James Version đã thay tất cả từ Holy Ghost thành Holy Spirit. Ở trên đất Mỹ, khi ông nói Holy Ghost thì ai cũng hiểu đó là Holy Spirit. Cho nên không làm gì có chuyện "ông Ngọc gọi "Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà Maria""

Vậy khi ông phê bình tôi là: Khi học thuyết cốt lõi nhất của Kitô giáo là học thuyết "Nhất thể tam vị" mà ông Ngọc gọi "Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà Maria" . Điều đó lại là một "hiểu biết chính xác, có thể dùng làm căn bản để Phật tử đối thoại với Kitô giáo" thì có phải là ông đã dùng cái "không biết" của ông để lên án cái "biết" của người khác hay không, khoan nói đến chuyện ông cố ý xuyên tạc câu viết của tôi? Lý luận của tôi là nếu ba chỉ là một (nhất thể , same substance) mà giới học giả Tây phương gọi đó là một sự điên rồ toán học (mathematical insanity) thì Giê-su vừa là Cha, vừa là Chồng, vừa là con của bà Maria, bởi vì Chúa Cha là Cha của nhân loại cho nên là Cha của bà Maria, Thánh Linh là chồng của bà Maria vì đã làm cho bà mang thai, và Giê-su là con do bà Maria sinh ra. Nay cả ba là một thì lý luận nào có thể bác bỏ được luận cứ của tôi. Mà thật ra đó cũng chẳng phải là luận cứ của tôi mà là của một số người phân tích Thánh Kinh. Như vậy phải chăng là tôi xui dại Phật tử hay là tôi đã cung cấp cho họ một hiểu biết chính xác? Trong cuốn "Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm", Charlie Nguyễn, một tín đồ Ca Tô tỉnh ngộ dù đã nhiều đời theo đạo, cũng phải thú nhận rằng giáo hội Ca Tô đã bịa đặt ra cái "Thuyết Chúa Ba Ngôi loạn luân" để lừa bịp giáo dân.

Tiếp theo, ông cũng phê bình câu tôi dịch trong Thánh Kinh:

Trong phần "Phê bình Phan Thiết viết về Kitô giáo". Tác giả Trần Chung Ngọc trích dẫn một câu Thánh kinh trong John 2:4: "Jesus trả lời mẹ khi bà nói với Jesus là rượu đã hết trong một tiệc cưới: Người đàn bà kia, sự quan tâm của bà có liên quan gì đến ta. Chưa đến lúc ta trổ tài". Tài gì? Tài biến nước thành rượu".

rồi phê bình là tôi dịch láo vì ông kiếm trong các cuốn Thánh Kinh không thấy chỗ nào dịch "My hour has not yet come" là "Chưa đến lúc ta trổ tài." Muốn hiểu rõ chuyện này chúng ta phải đọc lại Kinh Thánh. Cuốn Kinh Thánh tiếng Việt do American Bible Society xuất bản dịch câu "Woman, what does your concern have to do with Me? My hour has not yet come" như sau: "Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến" Tôi đố các độc giả hiểu được câu "giờ ta chưa đến" của Giê-su trả lời mẹ khi bà ta nói với ông là tiệc cưới đã hết rượu là giờ gì? Vì có đọc tiếp Thánh Kinh ta mới thấy rằng ngay sau đó Giê-su trổ tài biến 6 chum nước lã thành rượu. Vậy tôi dịch thoát nghĩa để khỏi cần phải giải thích câu "Giờ Ta chưa đến" của Giê-su thì có gì sai với ý trong Thánh Kinh đâu. Ông cũng nên hiểu rằng tôi trích dẫn câu trên trong Thánh Kinh không phải để quảng cáo cái tài biến nước thành rượu của Giê-su mà để nói lên sự mất nết của Giê-su, trả lời hỗn xược với mẹ mình. Ông cũng nên biết trong cuốn Thánh Kinh tiếng Việt khác do International Bible Society phát hành năm 1994, họ đã gian dối dịch câu "Woman, what does your concern have to do with me? My hour has not yet come" là "Thưa mẹ, việc ấy có liên hệ gì đến mẹ và con? Chưa phải lúc con nên hành động" để dấu đi cái tư cách mất nết thực sự của Giê-su. Thực ra, tôi đã dịch câu trên nhẹ bớt đi, bởi vì để phù hợp với quan niệm của Giê-su đối với gia đình và với những câu trả lời của Giê-su đối với bố (Joseph) và mẹ ở vài nơi khác trong Thánh Kinh thì tôi phải dịch là "Mụ đàn bà kia! Sự quan tâm của mu thì mắc mớ gì tới tôi. Giờ tôi làm phép lạ chưa tới" Lẽ dĩ nhiên phép lạ đây là biến nước thành rượu.

Nói tóm lại, từ những phê bình sai lạc của ông đối với Thầy Nhật Từ và tôi, từ sự hiểu biết chưa đầy đủ về các vấn đề thảo luận, cho nên ông đã kết luận là Phan Thiết đã bắt được hai "con mồi sân si" là Thầy Nhật Từ với tôi, loại ngôn từ có tính cách phỉ báng cá nhân vì không đúng sự thật. Không đúng sự thật vì ông yên trí là Thầy Nhật Từ và tôi viết cuốn Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo từ một tâm cảnh sân si và để đập Phan Thiết. Nếu ông đọc kỹ nội dung cuốn sách đó thì ông sẽ thấy rằng chúng tôi coi Phan Thiết không đáng để đối thoại mà thật ra là Phan Thiết đã cung cấp cơ hội cho chúng tôi trình bày những điều mà chúng tôi nghĩ rằng quảng đại quần chúng cần phải biết trong chủ trương mở mang dân trí và tôn trọng sự thật lịch sử của chúng tôi. Ngoài ra, không đúng sự thật vì nó là sản phẩm của một kiến thức rất thiếu sót của ông như tôi vừa trình bày ở trên. Thật là đáng tiếc cho một người có thể gọi là trí thức như ông.

Sau đây tôi xin góp vài ý kiến về vấn đề viết về tôn giáo. Khi viết về tôn giáo của người khác chúng ta cần phải viết hết sức cẩn thận, vì đó là vấn đề nhạy cảm, để ra những sơ hở thì khó mà có thể chống đỡ, trừ phi chúng ta chỉ cốt viết cho thỏa ý, đạt được mục đích riêng tư cho đạo của ta bất kể đến sự thật. Nếu cuốn Đối Thoại Với Ki Tô Hữu là của một tín đồ Ca Tô thì không nói làm chi, vì họ viết sao là quyền của họ, và chúng ta cũng đã thừa biết là họ hiếm khi có sự lương thiện trí thức trong nghề viết. Nhưng nếu chúng ta đứng trên cương vị của một người ngoại đạo, thí dụ như của một Phật-tử, để viết về Ca Tô Giáo, thì chúng ta lại cần phải thận trọng hơn nhiều, không thể viết bậy viết bạ được. Nghệ thuật viết một bài hay một cuốn sách có tính cách đối thoại cần có một số tiêu chuẩn. Thứ nhất, không bao giờ dùng cái hiểu về tôn giáo của mình hay triết lý trong tôn giáo của mình để diễn giải tôn giáo của người khác. Thí dụ, quan niệm về salvation trong CaTô Giáo và trong Phật Giáo hoàn toàn khác hẳn nhau. Trong Ca Tô giáo chỉ cần tin vào Giê-su hay Thiên Chúa là được saved. Trái lại trong Phật Giáo con người không được saved bởi bất cứ ai mà là tự giải thoát khi nhìn được thực tướng của vạn Pháp (see things as they really are, như thực tri kiến). Thứ nhì, thảo luận trên các chủ đề chứ không moi móc đời tư cá nhân của người chúng ta muốn phê bình tác phẩm của họ. Thứ ba, mọi luận cứ phải có căn bản thuyết phục theo sát với mức tiến bộ của nhân loại, không thể viết vu vơ hay thuộc loại "Thánh Kinh viết vậy..". Thứ tư, không bao giờ được tổng quát hóa ý kiến của riêng mình thành ý kiến của mọi người khác có cùng tín ngưỡng với mình. Từ những điều căn bản này, bây giờ tôi xin đi vào phần phân tích vài điểm điển hình trong phần đầu cuốn sách của ông.

Ngay trong đoạn đầu ông đã vấp phải nhiều sai lầm căn bản. Ông viết:

Dòng dõi Abraham bắt đầu từ Môsê (dân Israen) đã là một dòng dõi được chọn. "Một quốc gia thánh thiện, một dân tộc tư tế" (Xh19,6). Đó chính là lời giao ước của Thượng đế với Abraham. Đó cũng là cuộc can thiệp đầu tiên của Thượng đế đối với lịch sử của một dân tộc. Mục đích của sự can thiệp đặc biệt này là để thiết lập một dân tộc có nhiệm vụ loan báo cho nhân loại biết về Thượng đế.

Thứ nhất, dòng dõi Abraham không bắt đầu từ Mô-sê mà bắt đầu từ Isaac rồi tới Jacob rồi tới 70 thế hệ nữa mới tới Mô-sê. Abraham và Mô-sê sống cách nhau khoảng 750 năm, vậy dòng dõi Abraham không thể bắt đầu từ Mô-se. Ông viết như vậy thì người Công Giáo sẽ cười cho và có thể cho rằng ông không đọc Thánh Kinh mà viết bậy về Thánh kinh, cũng giống như Phan Thiết, không đọc kinh điển Phật Giáo mà dám viết bậy về Phật Giáo.

Thứ nhì, dân Do Thái tin rằng mình là dân được Thượng đế của họ chọn. Nhưng bảo rằng được Thượng đế chọn cho nên đương nhiên trở thành một quốc gia thánh thiện, một dân tộc tư tế, thì hoàn toàn sai. Vì lịch sử Do Thái là một lịch sử tàn bạo vào bậc nhất thế giới khi họ theo đúng những lời dạy của Thượng đế của họ. Cho tới ngày nay, năm 2001, người Do Thái vẫn áp dụng điều lệnh "mắt đổi mắt, răng đổi răng" của Thượng đế của họ trong Cựu Ước và gia tăng sự tàn bạo thành "mắt đổi 10 mắt, răng đổi 10 răng" mà họ đang thi hành đối với dân Palestine. Cách đây hơn hai thế kỷ, vào cuối thế kỷ 18, Thomas Paine, tác giả cuốn Thời Đại Lý Trí , đã phải viết, (Foner, Philip S., Editor, The Life and Major Writings of Thomas Paine: "The Age of Reason", p. 539):

Nếu chúng ta có thể tự cho phép để cho rằng Đấng Toàn Năng đã phân biệt một quốc gia nào đó và gọi là Dân Được Ngài Chọn Lựa thì chúng ta phải cho rằng dân tộc đó là một gương mẫu cho phần còn lại của thế giới về hiếu kính và nhân đạo thuần khiết nhất, chứ không phải là một dân tộc của những kẻ côn đồ và giết người như là dân Do Thái cổ xưa, một dân tộc đồi bại vì phỏng theo những con quái vật và mạo danh như là Moses và Aaron, Joshua, Samuel và David, một dân tộc đã làm cho chính mình nổi bật hơn mọi dân tộc khác trên thế giới về sự man rợ và độc ác.

Thứ ba, ở đây ông lại trích dẫn vụn vặt từ Thánh Kinh và diễn giải sai lệch. Câu đầy đủ trong Xuất Hành 19:6 là "Và đối với Ta các ngươi sẽ là một vương quốc của các thầy tư tế và một quốc gia thánh thiện". Đó là những lời mà ngươi (Mô-sê) sẽ nói cho con dân Israel nghe."

(Exodus 19: 6: "And you shall be to Me a kingdom of priests and a holy nation." These are the words which you shall speak to the children of Israel)

Đọc câu trên và câu trước đó, Exodus 19: 5, chúng ta phải hiểu rằng, nếu dân Israel giữ những lời giao ước giữa Abraham và Thượng đế thì đối với Thượng đế, chứ không phải là đối với mọi dân tộc khác trên thế giới, Israel sẽ là một nước của những thầy tư tế (kingdom of priests) và thánh thiện. Ở đây, chúng ta cũng phải hiểu rằng, quan niệm thánh thiện (holy) theo Thượng đế là chỉ được thờ phụng một Thượng đế đó mà thôi và phải tuân theo những luật của Thượng đế dù trong những điều luật này có rất nhiều điều rất quái gở, tàn bạo chứ không phải là sống đạo đức thánh thiện theo quan niệm của người Á Đông.

Sau cùng Thượng đế chỉ bảo Moses nói câu đó cho dân Israel nghe chứ không phải là dân Israel có nhiệm vụ loan báo cho nhân loại biết về Thượng đế, như ông đã viết ở trên. Theo tôi, nhân loại không có lý do gì để kính trọng và thờ phụng một ông Thượng đế ác ôn của dân tộc Do Thái cho nên chẳng cần biết đến ông Thượng đế đó làm chi. Nếu ông là một tín đồ Ca-Tô mà viết sai lầm như trên thì tôi chẳng mấy khi để ý vì tôi biết tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô vẫn thường có những điểm mù trí thức do chính sách nhồi sọ của giáo hội cấy những điều diễn giải sai lầm Thánh Kinh vào đầu óc họ từ khi còn nhỏ. Nhưng vì ông là một Phật tử cho nên tôi nghĩ tình đồng đạo vạch ra những thiếu sót trong sự hiểu biết của ông với hi vọng ông có thể tránh được những phản bác về sau.

Ông viết tiếp:

Sách Ngôn sứ Giêrêmia loan báo: "Ta ký kết với Israen một giao ước mới... Ta sẽ đặt luật của ta trong họ..." Đức Giêsu chính là người được phái đến để thực thi giao ước: "Thượng đế đã sai con mình đến, sinh làm con một người đàn bà và sống dưới lề luật để chúng ta được nhận ơn làm con của Thượng đế" (Gl 4: 4,5). Đức Giêsu Kitô chính là trung tâm của một "kế hoạch". Một chương mới của lịch sử được mở ra. Đó là "Lịch sử ơn cứu độ". Chương này được viết bằng máu và mạng sống của chính Đức Giêsu. Đây là một "biến cố lịch sử" đã được dự báo trước mà Kitô hữu xác tín : "Một kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa". Chương trình hành động của Đức Giêsu đã được thực hiện một cách triệt để, trọn vẹn. Các tông đồ của Ngài bắt đầu hoạt động rao giảng. Từ Giacôbê hoạt động ở quê nhà Do Thái đến Phaolô, Phêrô hoạt động tại Syria, Rôma, Hy Lạp. Gioan, Tôma thì mang Tin Mừng đến tận vùng Tây Á. Vào thời điểm đó Kitô giáo bắt đầu bao trùm cả vùng Địa Trung Hải. Sứ điệp Kitô giáo bắt đầu thâm nhập từ Giêrusalem đến Rôma, từ Êphêxô, Côrintô đến Antiôkia, Alêxandria. Các tông đồ đã thổi luồng sinh khí vào những nơi mà họ đến. Phaolô phấn khởi viết: "Tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô , và Đức Kitô lại thuộc về Thượng Đế"(1Cr 3:22,23).

Thực tình tôi không hiểu đoạn trên là những lời giảng đạo của các thừa sai trong thế kỷ 19 hay là những lời đối thoại với Ki Tô hữu của ông trong thế kỷ 21?. Nếu đối thoại thì đối thoại theo nghĩa nào, trên chủ đề nào? Tại sao lại đưa ra những khẳng định một chiều và sai lầm của các Ki Tô Hữu, làm như tất cả những gì viết trong Thánh Kinh thì không thể sai lầm? Ông có biết rằng trong Thánh Kinh có rất nhiều sai lầm, về thần học, về những lời tiên tri, cũng như về khoa học? Thật ra thì câu mà ông trích dẫn trong Sách ngôn sứ Giêrêmia là Jeremiah 31: 31, 33:

Chúa nói, Này, có ngày ta sẽ lập một giao ước mới với dân Israel và dân Judah (Bắc Do Thái).. Sau những ngày đó, đây là giao ước của Ta với dân Israel: Ta sẽ đặt luật của Ta vào trong đầu óc họ, và viết luật đó vào trong tim họ; và Ta sẽ là Thượng đế của họ, và họ sẽ là dân của Ta. (Behold, the days are coming, says the Lord, when I will make a new covenant with the house of Israel and with the house of Judah... But this is the covenant that I will make with the house of Israel after those days, says the Lord: I will put My law in their minds, and write it in their hearts; and I will be their God, and they shall be My people.)

Điều rõ ràng ở đây là Thượng đế chỉ quan tâm tới dân Israel mà thôi, và giao ước của Thượng đế với dân Israel chẳng ăn nhằm gì tới các dân tộc khác. Do đó, khi ông viết: Đức Giêsu chính là người được phái đến để thực thi giao ước: "Thượng đế đã sai con mình đến, sinh làm con một người đàn bà và sống dưới lề luật để chúng ta được nhận ơn làm con của Thượng đế" (Gl 4: 4,5). thì chữ chúng ta trong câu này vô nghĩa, bởi vì chúng ta gồm có cả ông và tôi trong đó, ngoài 70 triệu người dân Việt không hề quan tâm đến cái ơn, nếu có thể gọi là ơn, làm con của một ông Thượng đế của người Do Thái mà những đặc tính như là tàn bạo, ghen tuông, thích trả thù v..v.., như được viết trong Cựu Ước, hoàn toàn không thích hợp với nền luân lý đạo đức của Việt Nam. Hơn nữa, Thượng đế là Thượng đế của người Do Thái, và Giê-su được phái xuống trần để dạy người Do Thái sống dưới luật Thượng đế của họ, như lời Giê-su đã khẳng định, Matthew 15: 24: "Ta được sai xuống đây chỉ để cứu những con chiên lạc đàn của dân Israel mà thôi" (I was not sent except to the lost sheep of the house of Israel). Vậy khi ông viết Một chương mới của lịch sử được mở ra. Đó là "Lịch sử ơn cứu độ". Chương này được viết bằng máu và mạng sống của chính Đức Giêsu. Đây là một "biến cố lịch sử" đã được dự báo trước mà Kitô hữu xác tín : "Một kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa" thì cái "lịch sử cứu độ" của Giê-su chẳng ăn nhằm gì tới các dân tộc khác ngoài dân Do Thái. Do đó, tôi đề nghị ông viết cho rõ, đó là lịch sử của dân Do Thái chứ không phải là lịch sử của nhân loại. Điều này thật là rõ ràng, vì những người viết Phúc Âm đều không biết là trái đất hình cầu, cho nên ít ra là không biết đến một nửa thế giới phía bên kia địa cầu của miền Trung Đông. Điều rõ ràng hơn nữa là các nhà truyền giáo đã diễn giải méo mó Thánh Kinh để nâng Giê-su lên địa vị đấng cứu thế của cả nhân loại trong khi nhân loại hoàn toàn không cần gì đến cái ơn cứu rỗi của Giê-su. Cho nên, xác tín của các Ki Tô hữu về "Một kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa" thì đó chẳng qua bắt nguồn từ sự nhẹ dạ cả tin vào những lời truyền giáo bậy bạ của các thừa sai để kiếm thêm tín đồ, chứ chẳng có căn bản thực tế nào, dù là ở trong Thánh Kinh.

Câu Chương này được viết bằng máu và mạng sống của chính Đức Giêsu là viết theo lời "giáo hội dạy rằng", không hề để ý đến sự mâu thuẫn trong lý luận thần học của cây thập giá (theology of the cross). Bởi vì, theo thần học Ki Tô Giáo thì Giê-su đã sống lại và bay lên trời ngự bên phải của Chúa Cha. Như vậy thì mạng sống của ông ta đâu có mất? Nếu Giê-su chết thật thì người ta có thể tạm tin là ông ta hy sinh tính mạng để chuộc tội cho thiên hạ dù rằng ngày nay, trước những bằng chứng bất khả phủ bác về nguồn gốc vũ trụ, tuổi của trái đất, lịch sử loài người, thuyết tiến hóa v..v.., tội tổ tông đã trở thành điều hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường viết trong Kinh Thánh. Nhưng vấn đề chính là Giê-su lại chỉ giả vờ chết trong 2 đêm và 1 ngày, từ chiều thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật, rồi bay lên thiên đường sống sung sướng đời đời bên Chúa Cha. Vậy ông ta có hy sinh quái gì đâu mà gọi là chương mới của lịch sử Do Thái được viết bằng máu và mạng sống của Giê-su? Như vậy mà gọi là hy sinh để chuộc tội cho nhân loại hay sao? Trong một đoạn sau ông lại viết "cuộc tử nạn của Đức Ki Tô..."... Thật là mâu thuẫn với thuyết cứu rỗi vì "tử nạn" đương nhiên xóa bỏ huyền thoại Đức Ki Tô chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Cái chết của Giê-su chẳng qua chỉ là một tai nạn chứ không còn ý nghĩa gì khác.

Do đó, câu tiếp theo của ông là một khẳng định huênh hoang khó nghe: Chương trình hành động của Đức Giêsu đã được thực hiện một cách triệt để, trọn vẹn. Triệt để thì có nhưng trọn vẹn thì như thế nào? Bao nhiêu nhà trí thức, kể cả Toàn Quyền Đông Dương De Lanessan, đã khẳng định là đạo công giáo chỉ thịnh hành nơi đám dân ngu dốt, hoặc ở những kẻ chẳng có gì để mà trông ngóng trên cõi đời này. Hơn 2/3 dân số thế giới ngày nay vẫn không đếm xỉa gì đến "kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa". Ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, giới chăn chiên cũng như con chiên càng ngày càng có nhiều người bỏ đạo để theo đạo khác hoặc không theo đạo nào. Vậy mà có thể gọi là "thực hiện trọn vẹn" được hay sao? Lịch sử Công giáo cho thấy rõ, sự bành trướng của Công Giáo ở Âu Châu trước đây và ở một vài thuộc địa ở Á Châu không phải vì giáo lý, lý tưởng hay, hay đạo đức tôn giáo, mà do sách lược "cường quyền thắng công lý", "bạo lực thắng lý lẽ" của giáo hội. Những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Án Xử Dị Giáo, và sự đồng hành với những cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân đã chứng tỏ như vậy.

Về sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đi kèm với sách lược truyền giáo của giáo hội, ông viết: "Khi chủ nghĩa thực dân Tây phương bành trướng mạnh. Châu Á, Châu Phi trở thành thuộc địa của các cường quốc Tây phương". Ông không đọc lịch sử. Châu Á chưa bao giờ trở thành thuộc địa của Tây phương, trừ vài nước nhỏ bất hạnh như Phi Luật Tân và Đông Dương trong đó có Việt Nam. Các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan chưa bao giờ là thuộc địa của Tây phương. Ông toan tính đối thoại với các Ki Tô hữu của ông nhưng lại dựa trên những hiểu biết sai lầm sơ đẳng, về tôn giáo của họ cũng như về lịch sử thế giới, vậy ông hi vọng có thể thuyết phục được họ hay sao? Dù trong tinh thần đối thoại của riêng ông, ông muốn ca ngợi, đánh bóng tôn giáo của họ để làm đẹp lòng họ, nhưng ít ra ông cũng phải viết cho khéo léo, không để lộ những sơ hở mà người đọc có thể nhận ra ngay. Nếu mục đích đối thoại của ông là tiếp tục đầu độc họ bằng những điều lỗi thời và sai sự thực thì đó lại là chuyện khác.

Ông viết:

Ngày nay, con người như đang xích lại gần nhau hơn. Các dân tộc, các tôn giáo, ý thức hệ... Nói chung, các nền văn hóa trên thế giới đang có xu thế hội nhập, giao lưu nhau. Trong bối cảnh đó, Giáo hội Công giáo đã khởi xướng công cuộc đối thoại.

Phần trên trong đoạn này thì đúng, nhưng câu cuối thì sai, vì không phải là giáo hội Công Giáo đã khởi xướng công cuộc đối thoại mà là bị đưa vào thế phải đối thoại nếu không muốn bị đào thải. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn "Tài Liệu Vatican II Với Những Ghi Chú, Bình Luận Của Những Giới Chức Có Thẩm Quyền Ca-Tô, Tin Lành và Chính Thống Giáo" (The Documents of Vatican II: With Notes and Comments by Catholic, Protestant and Orthodox Authorities):

"Trong nhiều thập niên, mỗi năm vào tháng Giêng, Ca Tô Rô Ma để ra 8 ngày để cầu nguyện cho sự thống nhất giáo hội. Cho đến năm 1959, ý tưởng trong những ngày đó, từ 18 đến 25 tháng 1, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ "trở lại" giáo hội chân thật duy nhất (sic) và Chính Thống Giáo sẽ cáo chung.

Cũng trong những thập niên này, những tín đồ Tin Lành đã tham gia vào cái về sau được gọi là "phong trào hợp tác tôn giáo". Sự phát triển thành hình Công Đồng Giáo Hội Toàn Cầu, sự gia tăng trong việc tập hợp các giáo hội Tin Lành địa phương trên hoàn cầu, sự kết hợp của các giáo hội, tất cả những hoạt động trên biểu thị một đường hướng thống nhất. Giáo hội Ca Tô Rô Ma vẫn đứng ở ngoài xa. Ở Âu Châu có những trung tâm điều nghiên của Ca Tô Giáo quan sát, canh chừng những sự phát triển này, nhưng đại cương thì giáo hội chỉ canh chừng và cầu nguyện, chứ không tham gia cuộc đối thoại hay cầu nguyện của các giáo hội Tin lành. Thế rồi Giáo hoàng John XXIII lên ngôi và ngày 25 tháng 7 năm 1959 ngài loan báo ý định triệu tập một cộng đồng hợp tác tôn giáo."

(Each year in January, for many decades, Roman Catholics have offered 8 days of prayer for Church unity. Until 1959, the general idea behind those days of prayer, January 18-25, was the hope that the Protestants would "return" to the one true Church, and the Orthodox schism would end. %Throughout those same decades, Protestant became more and more involved in what had come to be called the "ecumenical movement". The development of the World Council of Churches, the merges of churches - all these expresses the grouping toward unity. The Roman Catholic Church remained aloof. There were Catholic centers of studies in Europe that watched developments, but, in general, the Church watched and prayed without joining in the dialogue and prayer of the Protestant churches. Then came Pope John XXIII and, on January 25, 1959, he announcement of his intention to call an Ecunemical Council.)

Sau khi tham gia cuộc đối thoại, giáo hội Ca Tô bèn tuyên truyền trong đám tín đồ kém hiểu biết là chính giáo hội đã khởi xướng cuộc đối thoại. Nếu ông đã đọc bài "Cái Nhìn Của Một Phật Tử Về Vấn Đề Hợp Tác Tôn Giáo" mà tôi viết cách đây vài năm và đã được đăng trên một số báo Phật Giáo hải ngoại và trên trang nhà www.giaodiem.com thì ông có thể biết thêm nhiều chi tiết về bản chất của cái gọi là "chương trình đối thoại" của Ca Tô giáo. Tôi có cảm tưởng là những điều ông viết về giáo hội Ca-Tô trong đề tài "đối thoại" của ông không ngoài sự nhắc lại và quảng cáo cho những điều "giáo hội dạy rằng" vì một người thực sự là một bậc trí thức thì không thể không biết đến thực chất của giáo hội Ca Tô Rô Ma.

Sau khi viết lạng quạng về những điều "giáo hội dạy rằng" về Ki Tô Giáo và về Tịnh Độ Tông trong Phật Giáo, ông viết:

Gút lại, đối với Kitô hữu, từ những nguồn cung cấp về Phật giáo của các tri thức Tây phương cho thấy nơi tôn giáo được gọi là minh triết (prajna) như Phật giáo thực chất cũng chỉ là một tôn giáo "cầu xin sự ban bố" (bhakti) từ những thế lực siêu nhiên. Khái niệm "cứu độ" được lồng ghép vào tạo màu sắc "tha lực", hình thành chiếc cầu nối giữa Phật giáo và Kitô giáo hầu tạo điều kiện thuận lợi trong đối thoại.

Ông lại viết sai nữa rồi vì ông thừa biết rằng Phật Giáo có nhiều Tông phái như trong một lời chú thích của ông dù trong đó ông đã lầm phân biệt Pháp Hoa Tông với Thiên Thai Tông coi như hai Tông riêng biệt, trong khi thực ra chỉ có Thiên Thai Tông, Tông này lấy Kinh Pháp Hoa làm căn bản. Nếu Tịnh Độ Tông chỉ là một tông phái trong Phật Giáo thì ông không thể nào viết là Phật giáo thực chất cũng chỉ là một tôn giáo "cầu xin sự ban bố" (bhakti) từ những thế lực siêu nhiên. Viết như vậy là ông đã cho cái vòi của con voi là cả con voi. Tôi không thể tưởng tượng là một trí thức Phật Giáo như ông lại có thể viết một cách quá sơ hở như vậy. Ngoài ra, tôi cũng nghi ngờ sự hiểu biết của ông về Tịnh Độ Tông và căn bản đàng sau phương pháp niệm "lục tự hồng danh" trong Phật Giáo. Ông cũng đã viết rằng con người căn tánh bất đồng. Đúng vậy, và hiển nhiên Đức Phật là một lương y, không thể nào dùng một phương thuốc duy nhất để chữa bách bệnh của con người. Chỉ có những kẻ ngu nhất hạng mới đưa ra một phương thuốc "đức tin" (mù quáng) hay "cứu rỗi" chung cho tất cả mọi người có căn tánh bất đồng. Nhưng đây không phải là chỗ tôi luận về Tịnh Độ Tông.

Theo đúng sách lược truyền đạo trong thế kỷ 19 của các thừa sai, ông viết:

Phải nhìn nhận rằng, các hình thức mê tín xuất hiện ở Phật giáo nhiều hơn Kitô giáo. Đã có Kitô hữu trách cứ Phật giáo quá nhiều mê tín, những hình thức xin xâm, bói toán, xem ngày, xem giờ, thờ thần tài, thổ địa, Quan công bên cạnh thờ Phật, vốn là những hình thức không phải của Phật giáo lại được các tín đồ Phật giáo dung nạp vào như một phần sinh hoạt tinh thần không thể thiếu đối với họ, lại có những hình thức mang vẻ cao siêu huyền bí như soi hồn, soi kiếp v.và Oái oăm ở chỗ chính những tu sĩ là những người thực hiện những hình thức mê tín này để thỏa mãn niềm tin của tín đồ.

Ông đã cố ý gán những hình thức mê tín như xin xâm, bói toán, xem ngày, xem giờ, thờ thần tài, thổ địa v..v.. cho Phật Giáo trong khi đó là những hình thức mê tín của dân gian, không liên quan gì đến Phật Giáo. Ông thử tìm trong Kinh Điển Phật Giáo xem có chỗ nào Đức Phật hay các đại đệ tử dạy quần chúng những hình thức mê tín như trên? Những sự mê tín trên là do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc, một nền văn hóa ngự trị trong xã hội Việt Nam cả ngàn năm. Phật Giáo đi theo con đường trí tuệ, chuyển hóa, hay theo danh từ ông dùng, hóa độ, nhưng không can thiệp vào những niềm tin của dân gian. Một khi trí tuệ của con người tiến bộ, hiểu thấu và hành trì đúng theo Phật Pháp thì tự nhiên con người sẽ từ bỏ những sự mê tín. Nhưng nói cho cùng, thì những sự mê tín trên vô hại, chỉ tốn tiền của người mê tín, không làm hại đến ai, không bắt buộc ai cũng phải mê tín như mình. Trái lại, sự mê tín về một sự cứu rỗi của một người Do Thái chết rồi lại sống lại đã gây ra bao nhiêu là thảm cảnh cho nhân loại và luôn luôn muốn ép người khác cũng phải mê tín như mình. Đó là sự khác biệt giữa những sự mê tín dân gian, không phải mê tín của Phật Giáo, và những sự mê tín trong Ki Tô Giáo.

Trên đây, tôi mới chỉ phê bình một đoạn ngắn trong phần đầu cuốn sách của ông. Phần còn lại tôi cần một cuốn sách khoảng 200 trang mới có thể tạm gọi là phê bình đầy đủ. Có một điểm tôi khuyên ông nên rất thận trọng khi đưa ra những tư tưởng trong hai tôn giáo, Công Giáo và Phật Giáo, mà ông cho là tương đồng. Như trên tôi đã nói, một trong những nguyên tắc viết về tôn giáo của người khác là không bao giờ nên lấy sự hiểu biết theo tôn giáo của mình về một vấn đề nào đó để diễn giải cùng một vấn đề trong tôn giáo khác. Hơn nữa, nếu ta chưa hiểu kỹ mỗi triết lý trong mỗi tôn giáo thì công việc tương đồng hóa những chuyện có vẻ giống nhau trong hai tôn giáo là một điều nguy hiểm. Thí dụ, ý nghĩa và triết lý trong chuyện "cùng tử" trong Kinh Pháp Hoa và Thánh Kinh hoàn toàn khác nhau, không có cách nào có thể đánh đồng giải thích khập khiễng như ông được. Cũng như vậy, khái niệm về tội tổ tông và câu của Lục Tổ Huệ Năng "bất tư thiện, bất tư ác" cũng không thể giải thích như ông được.

Sau cùng, trong nhiều đoạn tôi có cảm tưởng là ông muốn thay mặt cho mọi Phật-tử để mà viết đại khái như sau: Phật tử có thể nghĩ thế này, Phật tử hiểu như thế này, Phật tử nói rằng v..v.. Xin ông làm ơn viết rõ rằng đó chỉ là những ý kiến hoặc hiểu biết của riêng ông chứ không phải của tất cả các Phật tử. Có những câu, không hiểu vì vô tình hay cố ý, ông viết có thể gây sự hiểu lầm tai hại trong giới Phật tử và cả cho những người ngoại đạo. Tôi lấy một thí dụ:

Trong khi Kitô hữu xác tín rằng: Đức Giêsu Kitô vị giáo chủ của họ đồng thời cũng chính là Thiên Chúa, chủ tể muôn loài, muôn vật, Đấng tạo dựng vũ trụ. Thì Phật tử lại nói : "Phật chỉ là cục cứt khô" hoặc "Nếu lỡ nhắc tới tên Phật thì phải đi súc miệng".

Viết như trên là viết bậy, vì không phải là tất cả các Phật tử đều có thể nói như trên về Đức Phật. Trong mỗi trường hợp, chỉ có một người nói, và người nói đó là một thiền sư ngộ đạo, nói trong một trường hợp đặc biệt, với một đệ tử đặc biệt, và với mục đích đặc biệt để khai ngộ cho người đệ tử mà tâm thức đã chín mùi. Do đó, những câu thuộc loại này không thể nào tổng quát hóa một cách vô trách nhiệm, cho đó là ý nghĩ hay nhận định của Phật tử. Ông nên cẩn thận khi trích dẫn những câu thuộc loại công án thiền này.

Tôi hi vọng ông đọc lại toàn bộ cuốn sách của ông, đặc biệt là những đoạn ông viết về Ki Tô Giáo và Phật Giáo, kiểm điểm lại sự hiểu biết của mình. Điều này có thể hơi khó vì ở Việt Nam ông không có những tài liệu mới nhất, chính xác nhất về Ki Tô Giáo cũng như Phật Giáo cho nên không thể cập nhật hóa kiến thức của mình. Cho nên ông cần cẩn thận hơn nhiều khi viết về Ki Tô Giáo và Phật Giáo, nhất là với ý định so sánh đánh đồng vài tư tưởng hay triết lý trong hai tôn giáo. Ông cũng nên rà xoát lại những câu trong Thánh Kinh xem đó có phải là những tư tưởng nhất quán hay trong Thánh Kinh còn có những câu mâu thuẫn, tương phản với những câu ông trích dẫn, điều này thì ông có thể làm được nếu muốn. Được như vậy là ông đã làm ơn cho tôi, để tôi khỏi mất thì giờ phê bình cuốn sách của một đồng đạo, một điều mà tôi không thể không làm dù thực tâm chẳng bao giờ muốn làm.

Nay Kính
Trần Chung Ngọc
Tháng 10, 2001

 

 

Home


©   Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........