-
* * *
Vài lời với
độc giả Giao Điểm: Trong hơn sáu tháng qua, với nội dung của
mạng lưới Giao Điểm, quý độc giả đã nhìn thấy rõ chủ trương đích
thực của GĐ. Riêng về mặt "giải hoặc Ca-tô", không hẳn chúng
tôi chỉ nhắm cái đích vào Vatican và các Giáo hội thừa sai ở bản xứ
của họ, nhưng còn "đối trị" với bất cứ tổ chức giáo hội
nào còn dựa vào tinh thần Thần quyền đen tối nhằm phục vụ cho quyền
lợi thế trị của các nước lớn đối với các dân tộc đang phát triển.
Trên quan điểm lịch sử, Luther và Calvin là các bực thầy tổ của đạo
Phản Thệ (Protestant), đã thổi bùng một làn sóng cách mạng tôn giáo chống
lại quyền lực độc thần đại phong kiến Ca-tô Rô-ma, thoát ly khỏi
vòng kiềm tỏa và đàn áp để tìm đến các vùng đất mới có những mặt
lịch sử tích cực của nó, thế nhưng yếu tố tích cực này không phải
là cơ sở để Giao Điểm phải mặc nhiên đứng trong thế "liên
minh" với hàng chục giáo phái phân ly sau vài trăm năm của họ như hiện
nay trên đất Mỹ. Bởi tinh thần "giải hoặc" trước hết là
trình bày sự thật, công bố các khai quật lịch sử bằng những chứng cớ
khoa học, mà luận lý chỉ là phương tiện để nâng sự thật có khả năng
giải hóa và thuyết phục . Tất cả, là để gìn giữ và đắp bồi nền
văn hóa khai phóng của dân tộc, trong trào lưu khai phóng của nhân loại
qua các phương tiện kỹ thuật thông tin toàn cầu hóa. Chính vì vậy trong
những loạt bài báo, hoặc các tác phẩm đã xuất bản, Giao Điểm đã trực
diện hoặc gián tiếp "đập vỡ" những nõa lực mang tinh thần
Ki-tô nói chung. Có lẽ vì vậy trong thời gian qua, chúng tôi đã nhận được
nhiều điện thư (có khi lập lại nhiều lần cùng nội dung) từ một vài
cá nhân, các Mục sư từ các trang nhà điện tử khác nhau, hoặc để gián
tiếp tự quãng cáo, hoặc muốn được chia xẻ những khía cạnh tâm lý như
chúng tôi vừa nêu ra. Trong số này, có Mục sư Nguyễn thanh Vũ đã giới
thiệu cuốn sách "Từ áo Cà sa đến Thập-tự-giá" của Nguyễn hữu
Nhật (mà có thể ông không biết GĐ đã phê phán, vạch rõ những sai trái
từ lâu), và một bài báo khác "Từ cội Bồ đề đến chân Thập-tự"
của sư cô Diệu Thông (?) với nội dung mang tính tiểu thuyết hóa với một
kỹ thuật được tạo dựng rất thô thiển. Về cá nhân, có ông Minh Trí
(Ngô văn Tài) ở Việt Nam đã gởi cho chúng tôi lá thư dài kèm theo bài
phê bình hai tác giả của GĐ là giáo sư Trần chung Ngọc và Tỳ kheo Thích
Nhật Từ với những nhận xét rất võ đoán và chủ quan về cuốn sách
"Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo" mà GĐ đã xuất bản
trong năm 2000. Lẽ ra chúng tôi sẽ không lên tiếng cho đến lúc biết được
cuốn sách của ông MT đã xuất bản, nhưng bởi cảm thông lòng nao núng của
ông khi gởi điện thư cho chúng tôi nhiều lần kèm theo lá thư với nội
dung trần tình thiết tha, chúng tôi đành phổ biến lá thư của tác giả
Trần Chung Ngọc gởi cho ông để độc giả được thông tường. Đây cũng
là một cách đáp lễ cho người "anh em" đã dùng cây bút như một
nghiệp dĩ vậy. Phần còn lại là một chút lấn cấn để chúng tôi tự hỏi
thầm : tại sao ông Minh Trí lại không can đảm tự nhận mình là một tín
đồ hay một chức sắc nào đó của đạo Phản Thệ mà lại nhận "lầm"
là một Phật tử ?, bởi cung cách, tâm lý và ngôn ngữ của Minh Trí đã
bung bức mọi nổ lực tự che đậy tấm lưng mình. Nếu điều này đúng,
thì sự thiếu ngay thẳng là một vết nức mở toang khởi đầu trong một
cuộc đối thoại. Sự thành thực, dù có khi đến ngỡ ngàng vẫn là điều
trân quý. Nhân tiện, chúng tôi giới thiệu với độc giả sau khi đọc
xong lá thư của tác giả TCN, xin trở lại đây để đọc một quãng cáo hết
sức thành thực và sống động:
Để trở thành một Mục sư linh hướng hợp pháp trong vòng 48
giờ
đang được Mục sư Charles Simpson
phổ biến trên mạng lưới toàn cầu. Đây là một business đang nở rộ
trong môi trường xã hội dân-chủ-đa-nguyên rất Mỹ, mà không cần phải
nhọc công dùng nguỵ ngôn để che đậy bất cứ một sự thật nào.Giao
Điểm.
Thư của Gs
Trần Chung Ngọc gởi tác giả Minh Trí (Ngô Văn Tài)
* * *
Kính gửi ông Ngô
Văn Tài, bút hiệu Minh Trí, tác giả cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô
Hữu":
Tôi đường đột gửi tới ông thư
này, mong ông tha lỗi. Lý do là Thầy Nhật Từ có chuyển cho tôi bản thảo
cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô Hữu" của ông vì trong cuốn này có
đoạn phê bình một hai câu trong cuốn "Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật
Giáo" mà tôi và Thầy Nhật Từ là đồng tác giả. Hiện nay Thầy Nhật
Từ đang rất bận nên Thầy nói tôi đọc trước và cho ý kiến, nếu có,
theo lời yêu cầu của tác giả Minh Trí. Sau này, nếu có thì giờ Thầy sẽ
đọc kỹ và có thể có hồi âm.
Trước hết, để tránh cho độc giả
khỏi ngộ nhận khi đọc tới câu "tự nhận mình là "Phật tử"
đối thoại với anh em "Kitô hữu" của tôi.." của ông, tôi
nghĩ ông nên khẳng định ông là một Phật-tử, vì "tự nhận"
hàm ý cái mà mình nhận không chắc có thật. Thí dụ, Chúa Giê-su tự nhận
là Con Một Của Thiên Chúa, là Đấng Cứu Tinh (Messiah) của Dân Do Thái nhưng
thực ra, theo những kết quả nghiên cứu của đa số các học giả, chuyên
gia về tôn giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, trong những xã hội
tiến bộ trí thức Tây Phương ngày nay, thì ông ta chỉ là một người
thường như mọi người thường khác, mắc benh chứng hoang tưởng. Tôi
không biết ở Việt Nam quan niệm của giới trí thức về Giê-su ra sao, chứ
trong các thế giới tiến bộ Âu Mỹ thì quan niệm đồng thuận của giới
thức giả về Chúa Giê-su được tóm tắt trong câu sau đây của học giả
Russell Shorto, người đã nghiên cứu và tổng hợp những kết quả nghiên cứu
về Tân ước và nhân vật Giê-su trong 200 năm nay, trong cuốn Sự Thật Phúc
Âm (Gospels Truth), trang 14:
"các học giả đã biết rõ
sự thật từ nhiều thập niên nay ố rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một
người sống với một ảo tưởng (ảo tưởng tin rằng mình chính là con của
Thần Do Thái và là đấng cứu tinh của dân Do Thái. TCN) ố họ đã dạy
điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị
này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản
ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống
trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường. (..for decades,
scholars have known the truth ố that Jesus was nothing more than a man with a vision ố
for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass
it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in
the dark are ordinary Christians.)
Đây không phải là nhận định duy
nhất về con người Giê-su lịch sử, mà còn rất nhiều nhận định
tương tự của các học giả trên khắp thế giới. Chúng ta cũng nên biết
rằng Linh Mục John P. Meier đã xuất bản một bộ 2 cuốn, mỗi cuốn dày
trên dưới 700 trang, với tên The Marginal Jew : Rethinking The Historical Jesus, xuất
bản năm 1991 và 1994, với Imprimatur của Vatican, về nhân vật Giê-su, trong
đó ông cũng đưa ra những nhận định tương tự, bác bỏ mọi phép lạ của
Giê-su, và đưa ra nhiều bằng chứng về sự "bất khả đồng
trinh" của bà Maria. Lẽ dĩ nhiên, những tác phẩm nghiên cứu này chỉ
được biết tới trong giới trí thức, chứ còn các tín đồ thông thường
thì vẫn tiếp tục sống trong bóng tối qua chính sách bưng bít của giáo hội.
Vậy vấn đề lương tâm trí thức
của chúng ta là có nên kéo họ ra khỏi bóng tối hay không, hay là vì tinh
thần đối thoại theo định nghĩa của riêng ta, ta vẫn tiếp tục nuôi dưỡng
họ trong vòng đen tối trí thức? Như vậy, chúng ta có mang tội với dân tộc
và lịch sử hay không? Đó là sự trăn trở của nhiều người còn tha thiết
với tiền đồ dân tộc.
Nếu cuốn "Đối Thoại Với
Ki-Tô Hữu" là của một trí thức Công Giáo thì tôi sẽ chờ cho cuốn
sách đó xuất bản rồi sẽ phê bình tương tự như đối với cuốn Hành
Hương Đất Phật của Phan Thiết. Nhưng vì đó là của một người "tự
nhận" là Phật tử, nên với tình đồng đạo, tôi xin góp vài ý kiến
xây dựng. Xin ông hiểu cho rằng đây chỉ là những ý kiến cá nhân,
không phải là tôi trả lời thay cho Thầy Nhật Từ, vì tôi không đủ tư
cách.
Trước hết tôi xin có vài nhận
xét tổng quát, sau đó tôi sẽ đi vào một vài chi tiết điển hình để góp
ý cùng ông. Lẽ dĩ nhiên, tôi không có thì giờ và hiện nay cũng không có
ý định phê bình cả cuốn sách.
Nhận xét tổng quát thứ nhất của
tôi về cuốn "Đối Thoại Với Ki Tô Hữu" là từ "đối thoại"
không phù hợp với nội dung cuốn sách. Đúng hơn, đó là một cuốn giảng
đạo theo lối mới, nếu không muốn nói là thuộc môn "Thần học Ki
Tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu", nghĩa là vẫn bám chặt vào những tín
điều của Ca Tô Giáo đồng thời mượn những tư tưởng Á Đông, những
tư tưởng trong Phật Giáo, diễn giải, so sánh lệch lạc và gượng ép để
giải thích lại những tín điều này cho phù hợp với người Á Đông. Điểm
sai lầm căn bản trong lối giảng đạo mới này là vẫn dựa trên một tiền
đề: "tất cả những gì viết trong Thánh Kinh đều đúng, không thể
sai lầm" cho nên thường trích dẫn vụn vặt và vô trách nhiệm những
câu trong Thánh Kinh một cách ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) và cho
đó là những sự thực hay chân lý và tìm cách giải thích những "sự
thực" này cho phù hợp với các tư tưởng trong các tôn giáo khác. Lối
giảng đạo này không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu kỹ nhất,
chi tiết nhất, và mới nhất của rất nhiều học giả trên thế giới,
ở trong cũng như ở ngoài giáo hội Ca-Tô, về cuốn Thánh Kinh cũng như về
các giáo điều, tín lý v..v.. của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói
riêng.
Nhận xét tổng quát thứ hai của
tôi là tác giả có bỏ công nghiên cứu về Phật Giáo, nhưng không phải với
mục đích suy niệm giáo lý của Đức Phật, mà để tìm ra những tương
đồng biểu kiến, có nghĩa là tương đồng trên mặt văn tự, từ đó giải
thích khác đi với mục đích đánh đồng với những quan niệm trong Ca Tô
Giáo.
Nhận xét tổng quát thứ ba là tác
giả đồng nhất hóa sự hiểu biết và cách diễn giải của riêng mình với
kiến thức của tất cả các Phật tử khác.
Nhận xét thứ tư là tác giả đã
nêu lên một vài công án trong Phật Giáo ngoài toàn bộ vấn đề (out of
context) với cách đặt câu có thể gây hiểu lầm tai hại cho giới Phật tử.
Sau đây tôi xin đi vào phần phân tích.
Trước hết tôi xin có vài nhận
xét về những lời phê bình của ông đối với một câu của Thầy Nhật
Từ và hai câu của tôi trong cuốn "Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật
Giáo". Tôi phải nói ngay rằng ông đã "quá vô ý" khi đọc và
trích dẫn những câu trên tạo thành những sự hiểu lầm đáng lẽ không
nên có trong giới độc giả. Không biết ông dùng ấn bản nào vì trong ấn
bản gốc của chúng tôi, câu của Thầy Nhật Từ là ở cuối trang 96
(không phải là 118) và câu của tôi ở trang 287 (không phải là trang 299).
Cho nên trong ấn bản đó, nếu có những gì không đúng với ấn bản
chính thì chúng tôi không có trách nhiệm.
Ông viết:
Đại đức Thích Nhật Từ khẳng
định "Khái niệm tội tổ tông của Kitô giáo khởi đầu từ cái dâm
dục của Adam và Eva huyền thoại" (tr.118).
Và phê bình là Thầy Nhật Từ viết
như trên để "trả đũa" Phan Thiết. Thực ra thì ông đã trích dẫn
câu của Thầy Nhật Từ nửa chừng cho nên nó không đủ nghĩa. Toàn câu của
Thầy Nhật Từ như sau, trang 96:
"Khái niệm tội tổ tông của
Kitô giáo khởi đầu từ cái dâm dục (Kamacchanda) của Ađam và Eva huyền
thoại, với phương thức "con dại thì cái mang" để liên kết
hành vi cứu chuộc giả tạo của thiên chúa, qua hình ảnh của Giê-su lịch
sử."
Câu này viết rõ ràng, đầy đủ
ý nghĩa, bởi vì Thầy Nhật Từ viết về "Khái niệm tội tổ
tông" chứ không phải là "tự thân tội tổ tông". Hơn nữa, nếu
ông nghiên cứu về Ca Tô Giáo thì sẽ thấy rằng, theo quan điểm của khá
nhiều Thánh trong Công Giáo, điển hình là Thánh Augustine, Chrysostom, Thomas
Aquinas v..v.. họ đều liên kết tội tổ tông kiểu "cha truyền con nối"
này có nguồn gốc chính là "sex", nghĩa là dâm dục hay nhục dục.
Không có nhục dục thì tội tổ tông mất hết ý nghĩa. Thánh Augustine cho
rằng trước khi sa ngã (fall) thì Adam và Eva phải có nhục dục. Augustine,
trước khi tìm thấy ánh sáng Ki Tô khi gần 40 tuổi, là một kẻ chơi bời
phóng đãng, có nhiều nhân tình và con rơi con vãi, cho nên ông ta hiểu sự
quyến rũ và đòi hỏi của xác thịt là như thế nào. (Có quan niệm cho rằng
vì Augustine chơi bời quá độ, khi gần 40 tuổi sinh ra bất lực, rồi mới
đi tu, và do đó trở nên "thù ghét" và lên án triệt để vấn đề
nhục dục, lý do không phải vì đạo đức tôn giáo (nhục dục là một đòi
hỏi thường tình thế gian) mà vì xung quanh ông có những cảnh "giải
trí" mà bấy giờ ông không làm được: Xin đọc The Happy Heretic của
Judith Hayes) Việc sa ngã của Adam là do Eva thúc đẩy, mà Eva là nguồn cám
dỗ xác thịt khó cưỡng. Điều này thật là hiển nhiên cho tới ngày nay.
Trong Cựu Ước không thiếu gì những chuyện dâm loạn. Trong lịch sử
Công Giáo cũng không thiếu gì các giáo hoàng dâm loạn. Và ngày nay cũng không
thiếu gì các linh mục dâm loạn đi hiếp dâm trẻ con, và thay vì đi chơi
bời ở ngoài, lại đi hiếp dâm cả những bà sơ trong 23 quốc gia để tránh
bệnh AIDS. Báo chí đăng tải rộng rãi, và tòa Thánh Vatican cũng đã phải
công nhận sự kiện ô nhục trong giới lãnh đạo này. Không hiểu ở Việt
Nam ông có biết đến những thông tin này hay không? Nếu ông muốn phê
bình câu trên của Thầy Nhật Từ thì chỉ có một điểm. Đó là Thầy viết
"hình ảnh của Giê-su lịch sử" thay vì đáng lẽ ra phải viết
là "hình ảnh của Giê-su huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo dựng
lên". Hai hình ảnh này hoàn toàn khác nhau. Hình ảnh của Giê-su lịch
sử là hình ảnh thực của con người Giê-su, khác xa với hình ảnh của
Giê-su thần thánh do nền Thần học Ki Tô Giáo dựng lên. Vậy, trích dẫn
cắt ngắn một câu rồi dựa vào đó để mà phê bình sai lạc đi là điều
người Phật tử trí thức chúng ta không nên làm.
Đối với tôi, ông viết: "Còn
ông Trần Chung Ngọc thì cho rằng: "Thánh Linh là Thánh Ma" (Maria).
Ông Ngọc viết : "à Theo học thuyết Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con,
Thánh Ma là một, do đó vừa là cha vừa là chồng vừa là con của bà
Maria? à Thánh kinh viết rõ như vậy, mở thánh kinh ra mà đọc..."(tr.299)."
và cho rằng tôi đã viết láo. Tôi nghĩ rằng ông chưa nghiên cứu sâu xa về
Công Giáo và nhất là không đọc kỹ bài viết của tôi, chứ không phải
là ông viết với ý xuyên tạc để dựa vào đó mà phê bình. Cuối trang
279 trong bản chính, tôi có viết: Chúa Trời của Phan Thiết thật là đặc
biệt, có lẽ vì là con của Thánh Linh hay Thánh Ma (Holy Ghost) với bà
Maria... như vậy thì không có cách nào có thể hiểu là tôi cho rằng Thánh
Ma là bà Maria. Tôi đã cẩn thận chua thêm trong dấu ngoặc đơn hai chữ
Holy Ghost sau chữ Thánh Ma. Khi viết về Thánh Ma về sau tôi không nhắc lại
phần tiếng Anh nữa. Vì không đọc kỹ bài của tôi nên sau đó ông viết:
Không biết đã có Phật tử nào
nghe lời "xúi dại" đó chưa? Khi học thuyết cốt lõi nhất của
Kitô giáo là học thuyết "Nhất thể tam vị" mà ông Ngọc gọi
"Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà Maria" . Điều
đó lại là một "hiểu biết chính xác, có thể dùng làm căn bản để
Phật tử đối thoại với Kitô giáo". "Xúi dại" kiểu đó chẳng
khác nào vừa "khinh thường" Phật tử, vừa muốn đẩy Phật tử
vào "chỗ chết".
Chắc ông cũng biết rằng Giao Điểm
viết lời giới thiệu. Nhưng thật ra đó có phải là những lời xúi dại
hay không? Có lẽ vì ông sống ở Việt Nam, không có nhiều tài liệu,
thông tin về tôn giáo, cho nên không hiểu rằng, trong Ca Tô Giáo, Thánh Linh
chính là Thánh Ma. Thánh Ma là tôi dịch nguyên văn từ chữ Holy Ghost mà ra.
Nếu ông mở cuốn Tự Điển Anh Việt của Lê Bá Kông (một giáo sư theo
đạo Công Giáo), cuốn The American Heritage Dictionary, cuốn tự điển Encarta
mới xuất bản năm 2001, cuốn tự điển Evangelical Dictionary of Theology của
Walter A. Elwell xuất bản năm 2001, thì ông sẽ thấy từ Holy Ghost (Thánh Ma)
được giải thích chính là Thánh Linh (Holy Spirit). Ngay trong cuốn Từ Điển
Anh-Việt do Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam xuất bản tại Thành Phố Hồ
Chí Minh năm 1993 cũng có từ Holy Ghost chính là Holy Spirit. Ông Lê Bá Kông dịch
Holy Ghost là Chúa Thánh Thần theo cách gọi của người Ca Tô. Ngoài ra,
không phải từ Holy Ghost chỉ có trong các tự điển mà còn có trong Thánh
Kinh, những ấn bản cũ. Ngày nay, từ Holy Ghost ít thông dụng nên những
ấn bản Thánh Kinh mới đều thay Holy Ghost bằng Holy Spirit. Nếu ông mở cuốn
tự điển The New Strong's Concise Concordance and Vine's Concise Dictionary of the
Bible do nhà xuất bản Thomas Nelson phát hành năm 1999, tra từ Holy thì ông sẽ
thấy từ Holy Ghost xuất hiện trong Thánh Kinh trong Matthew 1:20, Matthew 3:11,
Mark 1:8, Luke 1:15, 35, Luke 4:1, John 1:37, Acts 2:4, 38; 5:3; 7:15; 10:38; 15:28; 19:2;
và Roman 14:17. Trong một ấn bản cũ của cuốn Thánh Kinh (King James Version)
người ta đếm được trên 80 từ Holy Ghost trong khi chỉ có 4 từ Holy
Spirit. Cuốn Thánh Kinh New King James Version đã thay tất cả từ Holy Ghost
thành Holy Spirit. Ở trên đất Mỹ, khi ông nói Holy Ghost thì ai cũng hiểu
đó là Holy Spirit. Cho nên không làm gì có chuyện "ông Ngọc gọi
"Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà Maria""
Vậy khi ông phê bình tôi là: Khi học
thuyết cốt lõi nhất của Kitô giáo là học thuyết "Nhất thể tam vị"
mà ông Ngọc gọi "Ngôi thứ ba" là "Thánh Ma" tức "bà
Maria" . Điều đó lại là một "hiểu biết chính xác, có thể
dùng làm căn bản để Phật tử đối thoại với Kitô giáo" thì có phải
là ông đã dùng cái "không biết" của ông để lên án cái "biết"
của người khác hay không, khoan nói đến chuyện ông cố ý xuyên tạc câu
viết của tôi? Lý luận của tôi là nếu ba chỉ là một (nhất thể ,
same substance) mà giới học giả Tây phương gọi đó là một sự điên rồ
toán học (mathematical insanity) thì Giê-su vừa là Cha, vừa là Chồng, vừa
là con của bà Maria, bởi vì Chúa Cha là Cha của nhân loại cho nên là Cha của
bà Maria, Thánh Linh là chồng của bà Maria vì đã làm cho bà mang thai, và
Giê-su là con do bà Maria sinh ra. Nay cả ba là một thì lý luận nào có thể
bác bỏ được luận cứ của tôi. Mà thật ra đó cũng chẳng phải là luận
cứ của tôi mà là của một số người phân tích Thánh Kinh. Như vậy phải
chăng là tôi xui dại Phật tử hay là tôi đã cung cấp cho họ một hiểu
biết chính xác? Trong cuốn "Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm", Charlie
Nguyễn, một tín đồ Ca Tô tỉnh ngộ dù đã nhiều đời theo đạo, cũng
phải thú nhận rằng giáo hội Ca Tô đã bịa đặt ra cái "Thuyết
Chúa Ba Ngôi loạn luân" để lừa bịp giáo dân.
Tiếp theo, ông cũng phê bình câu
tôi dịch trong Thánh Kinh:
Trong phần "Phê bình Phan Thiết
viết về Kitô giáo". Tác giả Trần Chung Ngọc trích dẫn một câu
Thánh kinh trong John 2:4: "Jesus trả lời mẹ khi bà nói với Jesus là rượu
đã hết trong một tiệc cưới: Người đàn bà kia, sự quan tâm của bà
có liên quan gì đến ta. Chưa đến lúc ta trổ tài". Tài gì? Tài biến
nước thành rượu".
rồi phê bình là tôi dịch láo vì
ông kiếm trong các cuốn Thánh Kinh không thấy chỗ nào dịch "My hour
has not yet come" là "Chưa đến lúc ta trổ tài." Muốn hiểu rõ
chuyện này chúng ta phải đọc lại Kinh Thánh. Cuốn Kinh Thánh tiếng Việt
do American Bible Society xuất bản dịch câu "Woman, what does your concern
have to do with Me? My hour has not yet come" như sau: "Hỡi đàn bà kia, ta
với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến" Tôi đố các độc
giả hiểu được câu "giờ ta chưa đến" của Giê-su trả lời mẹ
khi bà ta nói với ông là tiệc cưới đã hết rượu là giờ gì? Vì
có đọc tiếp Thánh Kinh ta mới thấy rằng ngay sau đó Giê-su trổ tài biến
6 chum nước lã thành rượu. Vậy tôi dịch thoát nghĩa để khỏi cần phải
giải thích câu "Giờ Ta chưa đến" của Giê-su thì có gì sai với
ý trong Thánh Kinh đâu. Ông cũng nên hiểu rằng tôi trích dẫn câu trên
trong Thánh Kinh không phải để quảng cáo cái tài biến nước thành rượu
của Giê-su mà để nói lên sự mất nết của Giê-su, trả lời hỗn xược
với mẹ mình. Ông cũng nên biết trong cuốn Thánh Kinh tiếng Việt khác do
International Bible Society phát hành năm 1994, họ đã gian dối dịch câu
"Woman, what does your concern have to do with me? My hour has not yet come" là
"Thưa mẹ, việc ấy có liên hệ gì đến mẹ và con? Chưa phải lúc
con nên hành động" để dấu đi cái tư cách mất nết thực sự của
Giê-su. Thực ra, tôi đã dịch câu trên nhẹ bớt đi, bởi vì để phù
hợp với quan niệm của Giê-su đối với gia đình và với những câu trả
lời của Giê-su đối với bố (Joseph) và mẹ ở vài nơi khác trong Thánh
Kinh thì tôi phải dịch là "Mụ đàn bà kia! Sự quan tâm của mu thì
mắc mớ gì tới tôi. Giờ tôi làm phép lạ chưa tới" Lẽ dĩ nhiên
phép lạ đây là biến nước thành rượu.
Nói tóm lại, từ những phê bình
sai lạc của ông đối với Thầy Nhật Từ và tôi, từ sự hiểu biết chưa
đầy đủ về các vấn đề thảo luận, cho nên ông đã kết luận là Phan
Thiết đã bắt được hai "con mồi sân si" là Thầy Nhật Từ với
tôi, loại ngôn từ có tính cách phỉ báng cá nhân vì không đúng sự thật.
Không đúng sự thật vì ông yên trí là Thầy Nhật Từ và tôi viết cuốn
Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo từ một tâm cảnh sân si và để
đập Phan Thiết. Nếu ông đọc kỹ nội dung cuốn sách đó thì ông sẽ thấy
rằng chúng tôi coi Phan Thiết không đáng để đối thoại mà thật ra là
Phan Thiết đã cung cấp cơ hội cho chúng tôi trình bày những điều mà
chúng tôi nghĩ rằng quảng đại quần chúng cần phải biết trong chủ trương
mở mang dân trí và tôn trọng sự thật lịch sử của chúng tôi. Ngoài ra,
không đúng sự thật vì nó là sản phẩm của một kiến thức rất thiếu
sót của ông như tôi vừa trình bày ở trên. Thật là đáng tiếc cho một
người có thể gọi là trí thức như ông.
Sau đây tôi xin góp vài ý kiến về
vấn đề viết về tôn giáo. Khi viết về tôn giáo của người khác chúng
ta cần phải viết hết sức cẩn thận, vì đó là vấn đề nhạy cảm, để
ra những sơ hở thì khó mà có thể chống đỡ, trừ phi chúng ta chỉ cốt
viết cho thỏa ý, đạt được mục đích riêng tư cho đạo của ta bất kể
đến sự thật. Nếu cuốn Đối Thoại Với Ki Tô Hữu là của một tín đồ
Ca Tô thì không nói làm chi, vì họ viết sao là quyền của họ, và chúng
ta cũng đã thừa biết là họ hiếm khi có sự lương thiện trí thức trong
nghề viết. Nhưng nếu chúng ta đứng trên cương vị của một người ngoại
đạo, thí dụ như của một Phật-tử, để viết về Ca Tô Giáo, thì
chúng ta lại cần phải thận trọng hơn nhiều, không thể viết bậy viết
bạ được. Nghệ thuật viết một bài hay một cuốn sách có tính cách đối
thoại cần có một số tiêu chuẩn. Thứ nhất, không bao giờ dùng cái hiểu
về tôn giáo của mình hay triết lý trong tôn giáo của mình để diễn giải
tôn giáo của người khác. Thí dụ, quan niệm về salvation trong CaTô Giáo
và trong Phật Giáo hoàn toàn khác hẳn nhau. Trong Ca Tô giáo chỉ cần tin
vào Giê-su hay Thiên Chúa là được saved. Trái lại trong Phật Giáo con người
không được saved bởi bất cứ ai mà là tự giải thoát khi nhìn được thực
tướng của vạn Pháp (see things as they really are, như thực tri kiến). Thứ
nhì, thảo luận trên các chủ đề chứ không moi móc đời tư cá nhân của
người chúng ta muốn phê bình tác phẩm của họ. Thứ ba, mọi luận cứ
phải có căn bản thuyết phục theo sát với mức tiến bộ của nhân loại,
không thể viết vu vơ hay thuộc loại "Thánh Kinh viết vậy..". Thứ
tư, không bao giờ được tổng quát hóa ý kiến của riêng mình thành ý kiến
của mọi người khác có cùng tín ngưỡng với mình. Từ những điều căn
bản này, bây giờ tôi xin đi vào phần phân tích vài điểm điển hình
trong phần đầu cuốn sách của ông.
Ngay trong đoạn đầu ông đã vấp
phải nhiều sai lầm căn bản. Ông viết:
Dòng dõi Abraham bắt đầu từ Môsê
(dân Israen) đã là một dòng dõi được chọn. "Một quốc gia thánh
thiện, một dân tộc tư tế" (Xh19,6). Đó chính là lời giao ước của
Thượng đế với Abraham. Đó cũng là cuộc can thiệp đầu tiên của Thượng
đế đối với lịch sử của một dân tộc. Mục đích của sự can thiệp
đặc biệt này là để thiết lập một dân tộc có nhiệm vụ loan báo cho
nhân loại biết về Thượng đế.
Thứ nhất, dòng dõi Abraham không bắt
đầu từ Mô-sê mà bắt đầu từ Isaac rồi tới Jacob rồi tới 70 thế hệ
nữa mới tới Mô-sê. Abraham và Mô-sê sống cách nhau khoảng 750 năm, vậy
dòng dõi Abraham không thể bắt đầu từ Mô-se. Ông viết như vậy thì người
Công Giáo sẽ cười cho và có thể cho rằng ông không đọc Thánh Kinh mà
viết bậy về Thánh kinh, cũng giống như Phan Thiết, không đọc kinh điển
Phật Giáo mà dám viết bậy về Phật Giáo.
Thứ nhì, dân Do Thái tin rằng mình
là dân được Thượng đế của họ chọn. Nhưng bảo rằng được Thượng
đế chọn cho nên đương nhiên trở thành một quốc gia thánh thiện, một
dân tộc tư tế, thì hoàn toàn sai. Vì lịch sử Do Thái là một lịch sử
tàn bạo vào bậc nhất thế giới khi họ theo đúng những lời dạy của
Thượng đế của họ. Cho tới ngày nay, năm 2001, người Do Thái vẫn áp dụng
điều lệnh "mắt đổi mắt, răng đổi răng" của Thượng đế của
họ trong Cựu Ước và gia tăng sự tàn bạo thành "mắt đổi 10 mắt,
răng đổi 10 răng" mà họ đang thi hành đối với dân Palestine. Cách đây
hơn hai thế kỷ, vào cuối thế kỷ 18, Thomas Paine, tác giả cuốn Thời Đại
Lý Trí , đã phải viết, (Foner, Philip S., Editor, The Life and Major Writings of
Thomas Paine: "The Age of Reason", p. 539):
Nếu chúng ta có thể tự cho phép
để cho rằng Đấng Toàn Năng đã phân biệt một quốc gia nào đó và gọi
là Dân Được Ngài Chọn Lựa thì chúng ta phải cho rằng dân tộc đó là
một gương mẫu cho phần còn lại của thế giới về hiếu kính và nhân
đạo thuần khiết nhất, chứ không phải là một dân tộc của những kẻ
côn đồ và giết người như là dân Do Thái cổ xưa, một dân tộc đồi bại
vì phỏng theo những con quái vật và mạo danh như là Moses và Aaron, Joshua,
Samuel và David, một dân tộc đã làm cho chính mình nổi bật hơn mọi dân
tộc khác trên thế giới về sự man rợ và độc ác.
Thứ ba, ở đây ông lại trích dẫn
vụn vặt từ Thánh Kinh và diễn giải sai lệch. Câu đầy đủ trong Xuất
Hành 19:6 là "Và đối với Ta các ngươi sẽ là một vương quốc của
các thầy tư tế và một quốc gia thánh thiện". Đó là những lời
mà ngươi (Mô-sê) sẽ nói cho con dân Israel nghe."
(Exodus 19: 6: "And you shall be to
Me a kingdom of priests and a holy nation." These are the words which you shall speak
to the children of Israel)
Đọc câu trên và câu trước đó,
Exodus 19: 5, chúng ta phải hiểu rằng, nếu dân Israel giữ những lời giao
ước giữa Abraham và Thượng đế thì đối với Thượng đế, chứ không
phải là đối với mọi dân tộc khác trên thế giới, Israel sẽ là một nước
của những thầy tư tế (kingdom of priests) và thánh thiện. Ở đây, chúng
ta cũng phải hiểu rằng, quan niệm thánh thiện (holy) theo Thượng đế là
chỉ được thờ phụng một Thượng đế đó mà thôi và phải tuân theo những
luật của Thượng đế dù trong những điều luật này có rất nhiều điều
rất quái gở, tàn bạo chứ không phải là sống đạo đức thánh thiện
theo quan niệm của người Á Đông.
Sau cùng Thượng đế chỉ bảo
Moses nói câu đó cho dân Israel nghe chứ không phải là dân Israel có nhiệm
vụ loan báo cho nhân loại biết về Thượng đế, như ông đã viết ở
trên. Theo tôi, nhân loại không có lý do gì để kính trọng và thờ phụng
một ông Thượng đế ác ôn của dân tộc Do Thái cho nên chẳng cần biết
đến ông Thượng đế đó làm chi. Nếu ông là một tín đồ Ca-Tô mà viết
sai lầm như trên thì tôi chẳng mấy khi để ý vì tôi biết tuyệt đại
đa số tín đồ Ca-Tô vẫn thường có những điểm mù trí thức do chính
sách nhồi sọ của giáo hội cấy những điều diễn giải sai lầm Thánh
Kinh vào đầu óc họ từ khi còn nhỏ. Nhưng vì ông là một Phật tử cho
nên tôi nghĩ tình đồng đạo vạch ra những thiếu sót trong sự hiểu biết
của ông với hi vọng ông có thể tránh được những phản bác về sau.
Ông viết tiếp:
Sách Ngôn sứ Giêrêmia loan báo:
"Ta ký kết với Israen một giao ước mới... Ta sẽ đặt luật của
ta trong họ..." Đức Giêsu chính là người được phái đến để thực
thi giao ước: "Thượng đế đã sai con mình đến, sinh làm con một người
đàn bà và sống dưới lề luật để chúng ta được nhận ơn làm con của
Thượng đế" (Gl 4: 4,5). Đức Giêsu Kitô chính là trung tâm của một
"kế hoạch". Một chương mới của lịch sử được mở ra. Đó
là "Lịch sử ơn cứu độ". Chương này được viết bằng máu và
mạng sống của chính Đức Giêsu. Đây là một "biến cố lịch sử"
đã được dự báo trước mà Kitô hữu xác tín : "Một kế hoạch quan
phòng vĩ đại của Thiên Chúa". Chương trình hành động của Đức Giêsu
đã được thực hiện một cách triệt để, trọn vẹn. Các tông đồ của
Ngài bắt đầu hoạt động rao giảng. Từ Giacôbê hoạt động ở quê nhà
Do Thái đến Phaolô, Phêrô hoạt động tại Syria, Rôma, Hy Lạp. Gioan, Tôma
thì mang Tin Mừng đến tận vùng Tây Á. Vào thời điểm đó Kitô giáo bắt
đầu bao trùm cả vùng Địa Trung Hải. Sứ điệp Kitô giáo bắt đầu thâm
nhập từ Giêrusalem đến Rôma, từ Êphêxô, Côrintô đến Antiôkia,
Alêxandria. Các tông đồ đã thổi luồng sinh khí vào những nơi mà họ đến.
Phaolô phấn khởi viết: "Tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc
về Đức Kitô , và Đức Kitô lại thuộc về Thượng Đế"(1Cr
3:22,23).
Thực tình tôi không hiểu đoạn trên
là những lời giảng đạo của các thừa sai trong thế kỷ 19 hay là những
lời đối thoại với Ki Tô hữu của ông trong thế kỷ 21?. Nếu đối thoại
thì đối thoại theo nghĩa nào, trên chủ đề nào? Tại sao lại đưa ra những
khẳng định một chiều và sai lầm của các Ki Tô Hữu, làm như tất cả
những gì viết trong Thánh Kinh thì không thể sai lầm? Ông có biết rằng
trong Thánh Kinh có rất nhiều sai lầm, về thần học, về những lời tiên
tri, cũng như về khoa học? Thật ra thì câu mà ông trích dẫn trong Sách
ngôn sứ Giêrêmia là Jeremiah 31: 31, 33:
Chúa nói, Này, có ngày ta sẽ lập
một giao ước mới với dân Israel và dân Judah (Bắc Do Thái).. Sau những
ngày đó, đây là giao ước của Ta với dân Israel: Ta sẽ đặt luật của
Ta vào trong đầu óc họ, và viết luật đó vào trong tim họ; và Ta sẽ là
Thượng đế của họ, và họ sẽ là dân của Ta. (Behold, the days are
coming, says the Lord, when I will make a new covenant with the house of Israel and with
the house of Judah... But this is the covenant that I will make with the house of Israel
after those days, says the Lord: I will put My law in their minds, and write it in their
hearts; and I will be their God, and they shall be My people.)
Điều rõ ràng ở đây là Thượng
đế chỉ quan tâm tới dân Israel mà thôi, và giao ước của Thượng đế với
dân Israel chẳng ăn nhằm gì tới các dân tộc khác. Do đó, khi ông viết:
Đức Giêsu chính là người được phái đến để thực thi giao ước:
"Thượng đế đã sai con mình đến, sinh làm con một người đàn bà
và sống dưới lề luật để chúng ta được nhận ơn làm con của Thượng
đế" (Gl 4: 4,5). thì chữ chúng ta trong câu này vô nghĩa, bởi vì chúng
ta gồm có cả ông và tôi trong đó, ngoài 70 triệu người dân Việt không
hề quan tâm đến cái ơn, nếu có thể gọi là ơn, làm con của một ông
Thượng đế của người Do Thái mà những đặc tính như là tàn bạo, ghen
tuông, thích trả thù v..v.., như được viết trong Cựu Ước, hoàn toàn
không thích hợp với nền luân lý đạo đức của Việt Nam. Hơn nữa, Thượng
đế là Thượng đế của người Do Thái, và Giê-su được phái xuống trần
để dạy người Do Thái sống dưới luật Thượng đế của họ, như lời
Giê-su đã khẳng định, Matthew 15: 24: "Ta được sai xuống đây chỉ để
cứu những con chiên lạc đàn của dân Israel mà thôi" (I was not sent
except to the lost sheep of the house of Israel). Vậy khi ông viết Một chương mới
của lịch sử được mở ra. Đó là "Lịch sử ơn cứu độ".
Chương này được viết bằng máu và mạng sống của chính Đức Giêsu. Đây
là một "biến cố lịch sử" đã được dự báo trước mà Kitô hữu
xác tín : "Một kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa" thì
cái "lịch sử cứu độ" của Giê-su chẳng ăn nhằm gì tới các
dân tộc khác ngoài dân Do Thái. Do đó, tôi đề nghị ông viết cho rõ,
đó là lịch sử của dân Do Thái chứ không phải là lịch sử của nhân
loại. Điều này thật là rõ ràng, vì những người viết Phúc Âm đều không
biết là trái đất hình cầu, cho nên ít ra là không biết đến một nửa
thế giới phía bên kia địa cầu của miền Trung Đông. Điều rõ ràng hơn
nữa là các nhà truyền giáo đã diễn giải méo mó Thánh Kinh để nâng
Giê-su lên địa vị đấng cứu thế của cả nhân loại trong khi nhân loại
hoàn toàn không cần gì đến cái ơn cứu rỗi của Giê-su. Cho nên, xác
tín của các Ki Tô hữu về "Một kế hoạch quan phòng vĩ đại của
Thiên Chúa" thì đó chẳng qua bắt nguồn từ sự nhẹ dạ cả tin vào
những lời truyền giáo bậy bạ của các thừa sai để kiếm thêm tín đồ,
chứ chẳng có căn bản thực tế nào, dù là ở trong Thánh Kinh.
Câu Chương này được viết bằng
máu và mạng sống của chính Đức Giêsu là viết theo lời "giáo hội
dạy rằng", không hề để ý đến sự mâu thuẫn trong lý luận thần
học của cây thập giá (theology of the cross). Bởi vì, theo thần học Ki Tô
Giáo thì Giê-su đã sống lại và bay lên trời ngự bên phải của Chúa
Cha. Như vậy thì mạng sống của ông ta đâu có mất? Nếu Giê-su chết thật
thì người ta có thể tạm tin là ông ta hy sinh tính mạng để chuộc tội
cho thiên hạ dù rằng ngày nay, trước những bằng chứng bất khả phủ bác
về nguồn gốc vũ trụ, tuổi của trái đất, lịch sử loài người, thuyết
tiến hóa v..v.., tội tổ tông đã trở thành điều hoang đường nhất
trong những chuyện hoang đường viết trong Kinh Thánh. Nhưng vấn đề chính
là Giê-su lại chỉ giả vờ chết trong 2 đêm và 1 ngày, từ chiều thứ
Sáu đến sáng Chủ Nhật, rồi bay lên thiên đường sống sung sướng đời
đời bên Chúa Cha. Vậy ông ta có hy sinh quái gì đâu mà gọi là chương mới
của lịch sử Do Thái được viết bằng máu và mạng sống của Giê-su? Như
vậy mà gọi là hy sinh để chuộc tội cho nhân loại hay sao? Trong một đoạn
sau ông lại viết "cuộc tử nạn của Đức Ki Tô..."... Thật là
mâu thuẫn với thuyết cứu rỗi vì "tử nạn" đương nhiên xóa bỏ
huyền thoại Đức Ki Tô chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Cái chết
của Giê-su chẳng qua chỉ là một tai nạn chứ không còn ý nghĩa gì khác.
Do đó, câu tiếp theo của ông là một
khẳng định huênh hoang khó nghe: Chương trình hành động của Đức Giêsu
đã được thực hiện một cách triệt để, trọn vẹn. Triệt để thì
có nhưng trọn vẹn thì như thế nào? Bao nhiêu nhà trí thức, kể cả Toàn
Quyền Đông Dương De Lanessan, đã khẳng định là đạo công giáo chỉ thịnh
hành nơi đám dân ngu dốt, hoặc ở những kẻ chẳng có gì để mà trông
ngóng trên cõi đời này. Hơn 2/3 dân số thế giới ngày nay vẫn không đếm
xỉa gì đến "kế hoạch quan phòng vĩ đại của Thiên Chúa". Ở
các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, giới chăn chiên cũng như con chiên
càng ngày càng có nhiều người bỏ đạo để theo đạo khác hoặc không
theo đạo nào. Vậy mà có thể gọi là "thực hiện trọn vẹn"
được hay sao? Lịch sử Công giáo cho thấy rõ, sự bành trướng của Công
Giáo ở Âu Châu trước đây và ở một vài thuộc địa ở Á Châu không
phải vì giáo lý, lý tưởng hay, hay đạo đức tôn giáo, mà do sách lược
"cường quyền thắng công lý", "bạo lực thắng lý lẽ" của
giáo hội. Những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Án Xử Dị Giáo, và sự đồng
hành với những cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân đã chứng tỏ
như vậy.
Về sự bành trướng của chủ
nghĩa thực dân đi kèm với sách lược truyền giáo của giáo hội, ông viết:
"Khi chủ nghĩa thực dân Tây phương bành trướng mạnh. Châu Á,
Châu Phi trở thành thuộc địa của các cường quốc Tây phương". Ông
không đọc lịch sử. Châu Á chưa bao giờ trở thành thuộc địa của Tây
phương, trừ vài nước nhỏ bất hạnh như Phi Luật Tân và Đông Dương
trong đó có Việt Nam. Các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan chưa
bao giờ là thuộc địa của Tây phương. Ông toan tính đối thoại với các
Ki Tô hữu của ông nhưng lại dựa trên những hiểu biết sai lầm sơ đẳng,
về tôn giáo của họ cũng như về lịch sử thế giới, vậy ông hi vọng
có thể thuyết phục được họ hay sao? Dù trong tinh thần đối thoại của
riêng ông, ông muốn ca ngợi, đánh bóng tôn giáo của họ để làm đẹp lòng
họ, nhưng ít ra ông cũng phải viết cho khéo léo, không để lộ những sơ
hở mà người đọc có thể nhận ra ngay. Nếu mục đích đối thoại của
ông là tiếp tục đầu độc họ bằng những điều lỗi thời và sai sự
thực thì đó lại là chuyện khác.
Ông viết:
Ngày nay, con người như đang xích
lại gần nhau hơn. Các dân tộc, các tôn giáo, ý thức hệ... Nói chung,
các nền văn hóa trên thế giới đang có xu thế hội nhập, giao lưu nhau.
Trong bối cảnh đó, Giáo hội Công giáo đã khởi xướng công cuộc đối
thoại.
Phần trên trong đoạn này thì đúng,
nhưng câu cuối thì sai, vì không phải là giáo hội Công Giáo đã khởi xướng
công cuộc đối thoại mà là bị đưa vào thế phải đối thoại nếu không
muốn bị đào thải. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn
"Tài Liệu Vatican II Với Những Ghi Chú, Bình Luận Của Những Giới Chức
Có Thẩm Quyền Ca-Tô, Tin Lành và Chính Thống Giáo" (The Documents of
Vatican II: With Notes and Comments by Catholic, Protestant and Orthodox Authorities):
"Trong nhiều thập niên, mỗi năm
vào tháng Giêng, Ca Tô Rô Ma để ra 8 ngày để cầu nguyện cho sự thống
nhất giáo hội. Cho đến năm 1959, ý tưởng trong những ngày đó, từ 18
đến 25 tháng 1, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ "trở lại" giáo
hội chân thật duy nhất (sic) và Chính Thống Giáo sẽ cáo chung.
Cũng trong những thập niên này, những
tín đồ Tin Lành đã tham gia vào cái về sau được gọi là "phong trào
hợp tác tôn giáo". Sự phát triển thành hình Công Đồng Giáo Hội
Toàn Cầu, sự gia tăng trong việc tập hợp các giáo hội Tin Lành địa
phương trên hoàn cầu, sự kết hợp của các giáo hội, tất cả những hoạt
động trên biểu thị một đường hướng thống nhất. Giáo hội Ca Tô Rô
Ma vẫn đứng ở ngoài xa. Ở Âu Châu có những trung tâm điều nghiên của
Ca Tô Giáo quan sát, canh chừng những sự phát triển này, nhưng đại
cương thì giáo hội chỉ canh chừng và cầu nguyện, chứ không tham gia cuộc
đối thoại hay cầu nguyện của các giáo hội Tin lành. Thế rồi Giáo
hoàng John XXIII lên ngôi và ngày 25 tháng 7 năm 1959 ngài loan báo ý định
triệu tập một cộng đồng hợp tác tôn giáo."
(Each year in January, for many decades,
Roman Catholics have offered 8 days of prayer for Church unity. Until 1959, the general
idea behind those days of prayer, January 18-25, was the hope that the Protestants would
"return" to the one true Church, and the Orthodox schism would end. %Throughout
those same decades, Protestant became more and more involved in what had come to be called
the "ecumenical movement". The development of the World Council of Churches, the
merges of churches - all these expresses the grouping toward unity. The Roman Catholic
Church remained aloof. There were Catholic centers of studies in Europe that watched
developments, but, in general, the Church watched and prayed without joining in the
dialogue and prayer of the Protestant churches. Then came Pope John XXIII and, on January
25, 1959, he announcement of his intention to call an Ecunemical Council.)
Sau khi tham gia cuộc đối thoại, giáo
hội Ca Tô bèn tuyên truyền trong đám tín đồ kém hiểu biết là chính
giáo hội đã khởi xướng cuộc đối thoại. Nếu ông đã đọc bài
"Cái Nhìn Của Một Phật Tử Về Vấn Đề Hợp Tác Tôn Giáo" mà
tôi viết cách đây vài năm và đã được đăng trên một số báo Phật
Giáo hải ngoại và trên trang nhà www.giaodiem.com thì ông có thể biết thêm
nhiều chi tiết về bản chất của cái gọi là "chương trình đối thoại"
của Ca Tô giáo. Tôi có cảm tưởng là những điều ông viết về giáo hội
Ca-Tô trong đề tài "đối thoại" của ông không ngoài sự nhắc lại
và quảng cáo cho những điều "giáo hội dạy rằng" vì một người
thực sự là một bậc trí thức thì không thể không biết đến thực chất
của giáo hội Ca Tô Rô Ma.
Sau khi viết lạng quạng về những
điều "giáo hội dạy rằng" về Ki Tô Giáo và về Tịnh Độ Tông
trong Phật Giáo, ông viết:
Gút lại, đối với Kitô hữu, từ
những nguồn cung cấp về Phật giáo của các tri thức Tây phương cho thấy
nơi tôn giáo được gọi là minh triết (prajna) như Phật giáo thực chất cũng
chỉ là một tôn giáo "cầu xin sự ban bố" (bhakti) từ những thế
lực siêu nhiên. Khái niệm "cứu độ" được lồng ghép vào tạo
màu sắc "tha lực", hình thành chiếc cầu nối giữa Phật giáo và
Kitô giáo hầu tạo điều kiện thuận lợi trong đối thoại.
Ông lại viết sai nữa rồi vì ông
thừa biết rằng Phật Giáo có nhiều Tông phái như trong một lời chú
thích của ông dù trong đó ông đã lầm phân biệt Pháp Hoa Tông với Thiên
Thai Tông coi như hai Tông riêng biệt, trong khi thực ra chỉ có Thiên Thai
Tông, Tông này lấy Kinh Pháp Hoa làm căn bản. Nếu Tịnh Độ Tông chỉ là
một tông phái trong Phật Giáo thì ông không thể nào viết là Phật giáo
thực chất cũng chỉ là một tôn giáo "cầu xin sự ban bố"
(bhakti) từ những thế lực siêu nhiên. Viết như vậy là ông đã cho cái
vòi của con voi là cả con voi. Tôi không thể tưởng tượng là một trí thức
Phật Giáo như ông lại có thể viết một cách quá sơ hở như vậy. Ngoài
ra, tôi cũng nghi ngờ sự hiểu biết của ông về Tịnh Độ Tông và căn bản
đàng sau phương pháp niệm "lục tự hồng danh" trong Phật Giáo.
Ông cũng đã viết rằng con người căn tánh bất đồng. Đúng vậy, và hiển
nhiên Đức Phật là một lương y, không thể nào dùng một phương thuốc
duy nhất để chữa bách bệnh của con người. Chỉ có những kẻ ngu nhất
hạng mới đưa ra một phương thuốc "đức tin" (mù quáng) hay
"cứu rỗi" chung cho tất cả mọi người có căn tánh bất đồng.
Nhưng đây không phải là chỗ tôi luận về Tịnh Độ Tông.
Theo đúng sách lược truyền đạo
trong thế kỷ 19 của các thừa sai, ông viết:
Phải nhìn nhận rằng, các hình
thức mê tín xuất hiện ở Phật giáo nhiều hơn Kitô giáo. Đã có Kitô hữu
trách cứ Phật giáo quá nhiều mê tín, những hình thức xin xâm, bói toán,
xem ngày, xem giờ, thờ thần tài, thổ địa, Quan công bên cạnh thờ Phật,
vốn là những hình thức không phải của Phật giáo lại được các tín
đồ Phật giáo dung nạp vào như một phần sinh hoạt tinh thần không thể
thiếu đối với họ, lại có những hình thức mang vẻ cao siêu huyền bí
như soi hồn, soi kiếp v.và Oái oăm ở chỗ chính những tu sĩ là những người
thực hiện những hình thức mê tín này để thỏa mãn niềm tin của tín
đồ.
Ông đã cố ý gán những hình thức
mê tín như xin xâm, bói toán, xem ngày, xem giờ, thờ thần tài, thổ địa
v..v.. cho Phật Giáo trong khi đó là những hình thức mê tín của dân
gian, không liên quan gì đến Phật Giáo. Ông thử tìm trong Kinh Điển Phật
Giáo xem có chỗ nào Đức Phật hay các đại đệ tử dạy quần chúng những
hình thức mê tín như trên? Những sự mê tín trên là do ảnh hưởng của
nền văn hóa Trung Quốc, một nền văn hóa ngự trị trong xã hội Việt Nam
cả ngàn năm. Phật Giáo đi theo con đường trí tuệ, chuyển hóa, hay theo
danh từ ông dùng, hóa độ, nhưng không can thiệp vào những niềm tin của
dân gian. Một khi trí tuệ của con người tiến bộ, hiểu thấu và hành
trì đúng theo Phật Pháp thì tự nhiên con người sẽ từ bỏ những sự mê
tín. Nhưng nói cho cùng, thì những sự mê tín trên vô hại, chỉ tốn tiền
của người mê tín, không làm hại đến ai, không bắt buộc ai cũng phải
mê tín như mình. Trái lại, sự mê tín về một sự cứu rỗi của một người
Do Thái chết rồi lại sống lại đã gây ra bao nhiêu là thảm cảnh cho
nhân loại và luôn luôn muốn ép người khác cũng phải mê tín như mình.
Đó là sự khác biệt giữa những sự mê tín dân gian, không phải mê tín
của Phật Giáo, và những sự mê tín trong Ki Tô Giáo.
Trên đây, tôi mới chỉ phê bình một
đoạn ngắn trong phần đầu cuốn sách của ông. Phần còn lại tôi cần một
cuốn sách khoảng 200 trang mới có thể tạm gọi là phê bình đầy đủ. Có
một điểm tôi khuyên ông nên rất thận trọng khi đưa ra những tư tưởng
trong hai tôn giáo, Công Giáo và Phật Giáo, mà ông cho là tương đồng. Như
trên tôi đã nói, một trong những nguyên tắc viết về tôn giáo của người
khác là không bao giờ nên lấy sự hiểu biết theo tôn giáo của mình về
một vấn đề nào đó để diễn giải cùng một vấn đề trong tôn giáo
khác. Hơn nữa, nếu ta chưa hiểu kỹ mỗi triết lý trong mỗi tôn giáo
thì công việc tương đồng hóa những chuyện có vẻ giống nhau trong hai
tôn giáo là một điều nguy hiểm. Thí dụ, ý nghĩa và triết lý trong chuyện
"cùng tử" trong Kinh Pháp Hoa và Thánh Kinh hoàn toàn khác nhau, không
có cách nào có thể đánh đồng giải thích khập khiễng như ông được.
Cũng như vậy, khái niệm về tội tổ tông và câu của Lục Tổ Huệ Năng
"bất tư thiện, bất tư ác" cũng không thể giải thích như ông
được.
Sau cùng, trong nhiều đoạn tôi có
cảm tưởng là ông muốn thay mặt cho mọi Phật-tử để mà viết đại khái
như sau: Phật tử có thể nghĩ thế này, Phật tử hiểu như thế này, Phật
tử nói rằng v..v.. Xin ông làm ơn viết rõ rằng đó chỉ là những ý kiến
hoặc hiểu biết của riêng ông chứ không phải của tất cả các Phật tử.
Có những câu, không hiểu vì vô tình hay cố ý, ông viết có thể gây sự
hiểu lầm tai hại trong giới Phật tử và cả cho những người ngoại đạo.
Tôi lấy một thí dụ:
Trong khi Kitô hữu xác tín rằng:
Đức Giêsu Kitô vị giáo chủ của họ đồng thời cũng chính là Thiên
Chúa, chủ tể muôn loài, muôn vật, Đấng tạo dựng vũ trụ. Thì Phật tử
lại nói : "Phật chỉ là cục cứt khô" hoặc "Nếu lỡ nhắc
tới tên Phật thì phải đi súc miệng".
Viết như trên là viết bậy, vì
không phải là tất cả các Phật tử đều có thể nói như trên về Đức
Phật. Trong mỗi trường hợp, chỉ có một người nói, và người nói đó
là một thiền sư ngộ đạo, nói trong một trường hợp đặc biệt, với
một đệ tử đặc biệt, và với mục đích đặc biệt để khai ngộ cho
người đệ tử mà tâm thức đã chín mùi. Do đó, những câu thuộc loại
này không thể nào tổng quát hóa một cách vô trách nhiệm, cho đó là ý
nghĩ hay nhận định của Phật tử. Ông nên cẩn thận khi trích dẫn những
câu thuộc loại công án thiền này.
Tôi hi vọng ông đọc lại toàn bộ
cuốn sách của ông, đặc biệt là những đoạn ông viết về Ki Tô Giáo
và Phật Giáo, kiểm điểm lại sự hiểu biết của mình. Điều này có thể
hơi khó vì ở Việt Nam ông không có những tài liệu mới nhất, chính xác
nhất về Ki Tô Giáo cũng như Phật Giáo cho nên không thể cập nhật hóa
kiến thức của mình. Cho nên ông cần cẩn thận hơn nhiều khi viết về
Ki Tô Giáo và Phật Giáo, nhất là với ý định so sánh đánh đồng vài tư
tưởng hay triết lý trong hai tôn giáo. Ông cũng nên rà xoát lại những
câu trong Thánh Kinh xem đó có phải là những tư tưởng nhất quán hay trong
Thánh Kinh còn có những câu mâu thuẫn, tương phản với những câu ông
trích dẫn, điều này thì ông có thể làm được nếu muốn. Được như vậy
là ông đã làm ơn cho tôi, để tôi khỏi mất thì giờ phê bình cuốn
sách của một đồng đạo, một điều mà tôi không thể không làm dù thực
tâm chẳng bao giờ muốn làm.
- Nay Kính
- Trần Chung Ngọc
- Tháng 10, 2001
Home