-
- Vị trí của Nguyễn Gia Kiểng
trong đại gia đình VN
- Đại Dương
Nhà hoạt động chính trị Nguyễn
Gia Kiểng chỉ trích gay gắt người Việt Nam đã bóp méo lịch sử hầu phục
vụ cho mục tiêu chính trị ngắn hạn <<Cách viết sử này..... không
những tai hại mà còn nguy hiểm, bởi vì qua các anh hùng, một số giá trị
bệnh hoạn được lưu truyền và làm ô nhiễm trí tuệ. tr. 149>> Ông
Kiểng đã đọc, hiểu, phê phán Việt sử một cách khách quan hay đã
chính-trị-hóa lịch sử? Việt sử đã bị ông Kiểng vo tròn, bóp méo để
cho lọt vào chiếc hũ "phi bạo lực và dân chủ đa nguyên" do nhóm
Thông Luận chủ trương. Vì thế, Nguyễn Gia Kiểng khép tội dân tộc Việt
Nam mang tâm lý tôn sùng bạo lực nên đã chọn anh hùng thuộc hàng võ tướng
<<Nguyễn Huệ tiêu biểu cho những giá trị mà chúng ta cần đánh đổ:
võ biền, độc đoán, hung bạo, lật lọng và trái ngược với những giá
trị mà ta cần phát huy; hòa bình, bao dung, hòa giải, lương thiện, tr.
172>>. <<người Việt Nam chúng ta nói chung viết sử một cách
không đứng đắn và cũng đọc sử một cách không đứng đắn, tr.
xiii".>>. Ông Kiểng đã chê trách tác giả Việt Nam Sử lược
<<vì không viết sách với mục đích giảng dạy, ông Trần Trọng Kim
đã không cảm thấy có bổn phận phải tuyệt đối khách quan >>.
Trong lời Tựa, ông Trần Trọng Kim viết "Soạn giả [TTK] đã cố sức
xem xét và góp nhặt những sự ghi chép ở các sách chữ Nho và chữ Pháp
(kể riêng ra ở trang cuối quyển này, để độc giả có nghi hoặc điều
gì, thì có thể tìm những sách ấy mà tra soát lại bộ Sử lược chỉ cốt
ghi chép những chuyện trọng yếu để tạm giúp cho những người hiếu học
có sẵn quyển sách mà xem cho tiện. Còn như làm thành bộ sử thật là đích
đáng, kê cứu và phê bình rất tường tận, thì xin để dành cho những bậc
tài danh sau này". Khó ai tin rằng ông Kim là người thiếu-cẩn-trọng
khi soạn Sử lược cho học sinh. Ông Kiểng trích dẫn câu nói của Hồ
Chí Minh <<Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có
thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không thể nào thay đổi. Ở
vào thời điểm 1969..là một khẩu hiệu chiến tranh..mọi người đều đã
hiểu như vậy và đúng là phải hiểu như vậy, tr 143>>. Khi bị ông Vương
Hữu Bột chất vấn thì ông Kiểng xác định câu nói đó trích từ diễn
văn của ông Hồ đọc trước Hội nghị hiệp thương chính trị trung
ương ngày 17-7-1967. Tuy nhiên, người ta chỉ tìm thấy câu nói đó trong thư
của ông Hồ gởi đồng bào Nam Bộ ngày 31-5-1946 "Đồng bào Nam Bộ đã
hy sinh đấu tranh mấy tháng trường để giữ gìn non sông cho toàn nước
Việt Nam..Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi
có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi". Theo Hồ Chí
Minh toàn tập. Thành ngữ "sông cạn, núi mòn" phù hợp với trường
hợp sau hơn. Những chữ trong ngoặc <<...>> được trích từ cuốn
Tổ Quốc Ăn Năn. Nguyễn Gia Kiểng với con Rồng cháu Tiên. Ông Kiểng nhận
xét về Huyền thoại con Rồng cháu Tiên << Chuyện Lạc Long Quân đem
năm mươi con xuống vùng bể Nam Hải có thể coi là một đợt di dân. tr.
122.. đất nước của Việt Nam được coi như là đất của một sắc tộc,
sắc tộc Kinh, tr. 124>>. Mục đích của Huyền sử nhằm giải thích
nguồn gốc chủng tộc, quá trình dựng và giữ nước. Nó chứa đựng những
ẩn dụ sâu xa nhưng dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng. Chuyện
100 cái trứng cùng một bọc ngụ ý "con dân nước Việt cùng một mẹ
sinh ra dù là Kinh hay Thượng". Chữ "đồng bào" xuất phát từ
Huyền sử đó. Người Việt cổ thông thạo nghề hàng hải song song với
nông nghiệp. Lạc Long quân dẫn 50 đứa con xuống biển là để thực hành
nghề hàng hải. Ông Vũ Hữu San trình bày nghề đi biển của người Việt
cổ trong cuốn Địa lý Biển Đông với nhiều dẫn chứng cụ thể. Do đó,
người Việt Nam dùng chữ "nước hoặc đất nước" để chỉ
"quốc gia". Tại Hoa Kỳ, văn hóa, luật pháp đều ghi đậm sắc thái
người Mỹ da trắng hiện chiếm đa số. Dấu ấn văn hóa, luật pháp ở nước
Pháp, đều phản ảnh sinh hoạt của sắc tộc Gaulois. Đó là điều rất tự
nhiên trong xã hội loài người vì phải chấp nhận giải pháp đa số
tương đối. Đa số người Việt Nam thuộc sắc tộc Kinh và tiến bộ hơn
những sắc tộc thiểu số khác nên ảnh hưởng sâu đậm đến sinh hoạt
quốc gia cũng là chuyện thường tình. Huyền sử hun đúc niềm tự hào
dân tộc để mọi người dốc tâm bảo vệ khi Tổ Quốc lâm ngụy Vì thế,
ông Kiểng mới có những người bạn như <<Vũ Tiến Đạt nói không
dám đi lính là hèn.. và vào các đơn vị tác chiến, tr. VỊ. Một thiếu
tá tiểu đoàn phó Dù và đơn vị của hắn vẫn chiến đấu dũng cảm cho
tới giờ phút chót>>. Thái độ đó khác hẳn với ông Kiểng chỉ
tìm chữ "thọ và vinh thân" trong chính phủ Đệ nhị Cộng Hòa cũng
như chữ "an toàn" dưới chế độ Cộng sản. Bởi vì, ông Kiểng
không cảm nhận được tâm tình dân Việt chuyên chở trong Huyền sử. Nguyễn
Huệ: nạn nhân của thiên kiến. Việc trẻ em Việt Nam thán phục anh hùng
Nguyễn Huệ khiến cho ông Kiểng lồng lộn <<Quang Trung Nguyễn Huệ ,
một con người vô cùng hung bạo và hiếu sát..Còn về kiến thức binh bị
thì nếu sống lại bây giờ, tôi không chắc là ông ấy có được một nữa
kiến thức của một hạ sĩ quan, tr 151>>. Nhưng ở tr. 96, ông Kiểng lại
viết <<Nguyễn Huệ nhờ tài dùng binh mà lên làm vua>>. Không ai
nói hạ sĩ quan có tài dụng binh. Sự mâu thuẫn đó chứng tỏ lòng thù hận
đã làm cho ông Kiểng mờ cả lý trí khi mô tả một nhân vật lịch sử.
<<Ông Kim..dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh, không có
trong một sử liệu nào, để thổi phồng trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn
Huệ 'đại phá quân Thanh'>>. Ông Kiểng dựa vào bài báo xuất phát từ
bài thuyết trình tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn vào năm 1958 của ông Tưởng
Quân Chương, chuyên gia Đài Loan về vấn đề Việt Nam <<Tôn Sĩ Nghị
tổng đốc Lưỡng Quảng đã đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt Nam để phô
trương thanh thế và làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống, tr. 156>>.
Sau 43 năm, con số do bộ nhớ của ông Kiểng ghi lại còn trung thực hay
không khi đem so với các sử liệu được nghiên cứu công phu sau đậy
Trong cuốn "Một vài sử liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ"
ghi theo tài liệu của Hội truyền giao Pháp "Ngày 17, một phần quân đội
Trung Hoa vào thủ đô cùng với Vua Lê Chiêu Thống. Ngày 19, sứ giả của
hoàng đế Trung Hoa là đại tướng chỉ huy quân đội thiên hoàng, tên gọi
là Tổng Đốc (Tôn Sĩ Nghị), đã nhiệm mệnh và và tuyên bố Chiêu Thống
làm vua Bắc Kỳ..Viện binh Trung Hoa gồm 280,000 ngườị.Ngay đến Hoàng đế
Trung Hoa cũng có vẻ vì nể Tân Attila này vì ngài vừa mới phong ông làm
vua Bắc Kỳ qua trung gian một vị đại sứ, quên cả việc 50,000 binh lính
Trung Hoa đã chết vì tay Tiếm Vương năm ngoáị.". Trích Tạp chí Người
Dân số tháng 7-01. Cuốn Đại Nam Liệt Truyện Chính biên, Ngụy Tây do các
sử quan nhà Nguyễn soạn "Tôn Sĩ Nghị một mình vâng chiếu đem hai lộ
quân hai mươi vạn (200,000) của Quảng Đông Quảng Tây và Vân Nam Quý Châu
tiến theo hai ngả Lạng Sơn và Tuyên Quang". Theo Người Dân tiên dẫn.
Mỗi sử gia đều mang chút tâm tình, thiên kiến, chủ đích vào tác phẩm
khi góp nhặt tài liệu Vì thế, cần so sánh, đối chiếu với nhiều tài
liệu khác nhau và một đầu óc phán đoán khi đọc sử, nhất là để phê
bình, chỉ trích. Nhà chính luận Nguyễn Gia Kiểng đã dùng các dữ kiện
thiếu tính thuyết phục để chứng minh cho con số sáu ngàn quân Thanh.
<<Tôn Sĩ Nghị sang bằng đường bộ, mà đường bộ thì bị vách
núi dày đặc ngăn cách không thể di chuyển một số quân khổng lồ như vậy,
tr. 155>>. Quân Nguyên từng đem 50 vạn quân xâm lăng nước ta lần thứ
nhất (1284), lần thứ hai (1287) với 30 vạn. Đại đa số bằng đường bộ.
Đường thủy chủ yếu dùng vận chuyển lương thực. Hầu hết những lần
xâm phạm bờ cỏi nước Nam, người Tàu thường lấy quân của Lưỡng Quảng
và Vân Nam. Có lý nào, 500 năm sau, quân Tàu lại không vượt qua được vách
núi mà họ đã sử dụng đến mòn nhẳn? Và Lưỡng Quảng không đủ khả
năng cung cấp 20 vạn lính như suy luận của ông Kiểng. Trước khi quân
nhà Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam để tấn phong ắt phải biết
rõ quân tình nước ta thời đó. Yếu tố Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ không
cho phép Tôn Sĩ Nghị mang theo một số quân ít ỏi. <<quân Tây Sơn tiến
vào Ngọc Hồi (Đống Đa) bị quân Thanh đánh bật ra, hàng ngũ rối loạn.
Lúc đó, đích thân Nguyễn Huệ từ dưới xông lên, múa gươm chém chết mấy
chục quân Thanh, làm chúng hoảng sợ bỏ chạy Theo cách mô tả của một
giáo sĩ thì trận Đống Đa không thể lớn được, tr. 157.. chứng tỏ quân
Tây Sơn chỉ có 600 người, tr. 168 mâu thuẫn với tầm vóc hai chục vạn
quan Thanh>>. Ngọc Hồi phải là một cứ điểm chiến lược của quân
Thanh nên mới do chủ soái Nguyễn Huệ đích thân chỉ hụy Lối hành quân
thần tốc của Bắc Bình Vương là một yếu tố bất ngờ khiến cho các
đơn vị quân Thanh sững sờ và không thể tiếp ứng cho nhạu Làm tướng
để điều khiển trận địa và sẵn sàng xông vào lằn tên mũi đạn khi
nguy biến mới đem lại chiến thắng hoặc lật ngược thế cờ. Đó là
cách ứng xử của Nã Phá Luân, Nguyễn Huệ..Người ta kể rằng một sư
đoàn Do Thái trong trận chiến với Ai Cập chỉ còn lại một thượng sĩ
chỉ huy khi tướng lãnh, sĩ quan lần lượt hy sinh vì dẫn đầu đoàn
quân. Chả trách, quân đội dưới quyền của họ tiến như chẻ trẹ
<<Nguyễn Huệ dừng ở Tam Điệp để mộ quân..các tướng của Quang
Trung cởi ngựa, lên một gò cao nhìn vào làng theo số nóc nhà mà ước lượng
số quân phải nạp>>. Một nhà chiến lược quân sự dạn dày kinh
nghiệm như Nguyễn Huệ không bao giờ quyết định đem 600 quân, tương
đương với một đoàn hộ giá, để đánh binh Thiên Triều. Bắc Bình Vương
nhất định phải tung hết đoàn quân tinh nhuệ ở Phú Xuân vào trận đánh
quyết định này. Vùng Tam Điệp dưới quyền của nhà Tây Sơn nên họ phải
áp dụng chính sách "động vi binh tĩnh vi dân" để chuẩn bị lực
lượng. Do đó, nông dân không lạ với tác chiến. Tầm vóc của đại phá
quân Thanh được các sử quan nhà Nguyễn mô tả trong Ngụy Tây "Huệ
xua quân nhập thành [Thăng Long], áo chiến bào biến thành màu đen vì thuốc
súng..người nhà Thanh chấn động dữ dội, già trẻ dắt dìu nhau chạy về
hướng Bắc. Cả trăm dặm tuyệt không có người và khói bếp". Theo
Người Dân tiên dẫn. Người Tàu đã có kinh nghiệm về vụ Lý Thường Kiệt
chinh phạt châu Ung và châu Khâm dưới triều Lý nên vội vã cao bay xa chạy
Kinh nghiệm bại trận của quân Nguyên vào 5 thế kỷ trước và thanh thế
của Tây Sơn buộc Vua Càn Long không dám phát binh phục thù mà đành phong Vương
cho Nguyễn Huệ. Anh hùng nước Nam Nguyễn Gia Kiểng chê trách thậm tệ những
anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lai, Nguyễn
Huệ.. Nhưng, đặc biệt thán phục Lê Chiêu Thống. Ông cũng lên án người
Việt Nam đã tàn phá đất nước vì tâm lý tôn sùng bạo lực suốt chiều
dài lịch sử. Ông Kiểng không đặt các nhân vật anh hùng trong bối cảnh
lịch sử khi phê phán. Thời đại chiếm hữu nô lệ, lãnh chúa, sứ quân,
vua chúa đã ngự trị toàn cầu. Đâu đâu cũng diễn ra tình trạng "mạnh
được, yếu thua", kể cả tôn giáo. Tranh giành địa vị, thứ bậc xảy
ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến là căn bệnh thời đại Không
chỉ riêng tại Việt Nam. Không dựa vào sức mạnh chưa chắc đã giữ được
mạng sống, gia đình thân tộc còn nói gì đến đất nước dân tộc. Nước
ta là một nhược tiểu sống bên cạnh người láng giềng phương Bắc khổng
lồ, đầy tham vọng. Suy yếu là bị nuốt chững, sát nhập hoặc đồng hóa.
Người láng giềng phương Nam như Chiêm Thành thường dấy binh cướp bóc
sát hại dân Việt? Lịch sử dân Việt hàng ngàn năm đã chứng thực điều
này. Nguyễn Trải, nhân vật được ông Kiểng ca tụng cũng đã phải sử
dụng bạo lực trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Ông Kiểng hành động
như thế nào nếu sống vào thời đại của những anh hùng dân tộc? Nài nĩ?
Van xin như Lê Chiêu Thống? Cắt đất cầu thân như Mạc Đăng Dung? Hoặc cầm
gươm bảo vệ giang sơn nòi giống? Khó tưởng tượng nước ta còn tồn tại
bên cạnh Trung Quốc nếu ai cũng chán ghét bạo lực như nhóm Thông Luận.
Ông Kiểng tin quân Thanh để yên cho Lê Chiêu Thống làm vua thực sự trong
khi bên cạnh chỉ có <<vài quan văn và khoảng 10 lính hầu, tr.
160>>?. Hay Lê Chiêu Thống chỉ là một loại vua bù nhìn? Không người
Việt Nam nào phủ nhận công lao của Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Lê Văn Hưu,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương..nhưng không ở tầm vóc cứu quốc, gìn giữ
giang san cỏi bờ. Ai cũng có thể lợi dụng lịch sử để vận động sức
mạnh của quần chúng. Đó là nghệ thuật quân sự. Nhưng, không vì thế
mà kết tội người quốc gia làm lợi cho Cộng sản khi ca tụng Nguyễn Huệ.
Người Việt thán phục Nguyễn Huệ trước khi đảng Cộng sản ra đời.
Việt sử kết bằng xương máu của mọi tầng lớp con Hồng cháu Lạc suốt
chiều dài dựng và giữ nước. Vinh nhục cũng nhiều. Người vì dân vì nước
chẳng hiếm. Bọn phá tán thời nào cũng có. Ông Nguyễn Gia Kiểng tự xếp
vào hạng nào trong đại gia đình Việt Nam?
Trang
Chính