tôi… tôi không có quyền chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của Giáo Hội…" hoặc những luận điệu bênh vực cho Giáo Hội La Mã, bênh vực cho bọn Việt gian Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Trần Lục vân vân trong các ấn phẩm của những người Gia-tô cuồng tín viết.. Căn cứ vào những điều những người Gia-tô cuồng tín đã tuyên bố như trên và những điều họ viết trong các ấn phẩm Việt Nam Giáo Sử, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan, v.v.. hay bất kỳ ấn phẩm nào của những người Gia-tô viết ra nhằm để suy tôn và chạy tội cho những hoạt động bất chính của Giáo Hội La Mã chống lại tổ quốc Việt Nam hay để chạy tội cho bonia-tô Việt gian làm tay sai cho cả Thập Ác Vatican lẫn Pháp và Nhật Bản, tất cả đều là những bọn Việt gian cả. Chỉ có những người tín đồ Gia-tô cuồng tín "Thà mất nước, chứ không thà mất chúa", gục mặt cúi đầu đi trên bốn chân mới có thể đành lòng làm như vậy được. Tất cả cho ta thấy rõ "Hễ đã là tín đồ Gia-tô cuồng tín thì không thể là người Việt Nam yêu nước được, và chỉ có thể là Việt gian bán nước cho Đế Quốc Thập Ác Vatican.". Cái bản chất thực sự của bọn người này chỉ là những tên Việt gian không còn biết tổ quốc và dân tộc Việt Nam là gì nữa. Trong thâm tâm, họ chỉ biết tuyệt đối trung thành và phục vụ cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Thập Ác Vatican. Có lẽ vì vậy mà tác giả bài viết "Núi Sông Có Mấy Nẻo Tình" mới viết trong mục "Trí Thức và Sĩ Phu" về sự khác biệt giữa những người "kẻ sĩ" hay "sĩ phu" với người "trí thức" (do Vatican và Pháp đào tạo) như sau:
"Ngày xưa, ở Sàigòn đã có một thời người ta đem so sánh định nghĩa "trí thức" và "kẻ sĩ" nữa cơ. Họ cố gắng ghép hai ý niệm này làm một. Hồ đồ vậy! Cho dù chữ trí thức mới xuất hiện từ ngày văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam để chỉ đám có khoa bảng. Nhưng ấn tượng của nó trong tiếng Việt lại khác. Người ta đã tưởng nó có thể thay thế được chữ "Kẻ Sĩ hay Sĩ Phu" cơ đấy. Hai cái ý niệm Đông Tây đối chọi này làm sao mà thế cho nhau được cớ chứ! Đã bảo cái dân tộc này văn hóa nó lạ lắm. Cái gì cũng mang nặng ý nghĩa tinh thần văn hóa. Kẻ Sĩ của Việt Nam, ngoài cái nghĩa "bậc Trí giả, bậc Thức giả " của Nho sĩ cũ, nó còn mang nặng cái đức hạnh của bậc quân tử, một thứ đức hạnh đặc tính văn hóa Việt Nam nữa., thấy ở ông Cao Bá Quát, Ngô Thời Nhậm. Không phải quân tử Tầu! Chữ "Kẻ Sĩ" hay "Sĩ Phu" nó hàm chứa một hệ tư tưởng nhập thế, cả một nhân cách và đại tâm với nhân quần xã hội, với đất nước và nhân dân. Trong khi chữ "trí thức" chuyển dịch từ chữ "intellectual, intellectuelle" của Âu Tây, chỉ mang ý nghĩa kiến văn, tài năng, mà không có phần đức độ nhân cách và chí khí. Người Việt chỉ ông Ất, bà Giáp mà nói họ thuộc giới trí thức, có nghĩa là chỉ nói ông, bà ấy có khoa bảng, có bằng cấp chuyên môn nào đó. Nhưng nếu gọi ai là Kẻ sĩ hay Sĩ Phu, như ông ấy là một Sĩ Phu thì tự nó đã có sự ngưỡng kính, ngoài tài năng, còn có đức độ, nhân cách bất khuất, trách nhiệm với xã hội, với chân lý, với lẽ phải nữa. Từ "Sĩ Phu" nó là một ý niệm tư tưởng.
Sĩ Phu hay Kẻ Sĩ, không bao giờ quỵ lụy hay đứng chung với cường quyền, mà họ luôn luôn đứng về phía nhân dân, dân tộc. Nó ngược lại với cái căn tính của giới khoa bảng trí thức vẫn thường luôn xu phụ, phục vụ quyền bính, lợi lộc, để ăn trên ngồi chốc, sống tách rời quần chúng nhân dân. Trí thức có thể làm tay sai, Việt gian, bán nước. Những Sĩ Phu hay Kẻ Sĩ thì tuyệt đối không bao (làm như vậy). Sĩ Phu thời bình là công dân đóng góp công sức, trí tuệ; thời nhiễu nhương, nhân dân đói khổ thì Sĩ Phu là người vì dân chống cường quyền, vì nước quét sạch tham ô; thời loạn,ĩ Phu là anh hùng dân tộc. Không thể khác. Chữ "Sĩ Phu" nó đòi những đặc tính, phẩm tính này. Đó là thuộc tính bất khả phân của từ "Sĩ Phu". Nếu không có thuộc tính như thế thì anh Ất, cô Giáp chỉ là một lũ dài lưng tốn vải, một lũ "đầu đội mão cánh chuồn, quì gối mòn sân trướng phủ". … Cụ Nguyễn Trãi ngày xưa than: "Nhân tài như nước mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sớm", nhưng Sĩ Phu như nước sông Hồng, sông Bạch Đằng. Cho nên "thẹn ngàn thu" mới "rửa sạch làu làu". Sĩ Phu, trên hết, không phải là một định nghĩa, mà là một quan niệm sống hành xử nhập thế của con người Việt Nam khoa bảng hay không khoa bảng. Chứ cái hạng mình đây, vài mảnh giấy lộn che lưng, cũng khoe trí thức, nhân tài, tuấn kiệt mà sĩ khí rụt rè như gà phải cáo! Khí gì khí gió. Chỉ cứ lăm le viết trích ngang trích dọc để xin việc kiếm tiền, may ra có thêm cái danh xưng in cho dài cái danh thiếp! Nói ra thấy nhục. Kể ra mình cũng thuộc loại mặt trơ mày đá có hạng!…" (Nguyên Kh Phạm Thành Chương. "Núi Sông Có Mấy Nẻo Tình" Thăng Long Số 311 (Boston) Ngày 3 tháng 4 năm 2001.
Tinh thần "vô úy" trên đây đã hòa lẫn vào từng "gene" trong tất cả nhiễm thể nằm trong các tế bào trong tâm não, xương tủy, huyết quản và thớ thịt trong cơ thể của bất kỳ một kẻ sĩ nào. Nhờ vậy mà ngày nay Việt Nam ta không những đã có thế đứng vững mạnh trong công đồng nhân loại, mà còn khiến cho người người khắp trong năm châu bốn bể nể người Việt Nam ta:
"Tháng 2 năm 1984, Hội Hoàng Gia Anh tức Viện Khoa Học Hoàng Gia (Royal Society) đã tổ chức một phiên họp để lựa chọn các tướng soái lừng danh thế giới qua các thời đại, từ thời cổ đến trung đại, cận đại và hiện đại. Việc làm này nhằm để chuẩn bị cho việc xuất bản cuốn bách khoa toàn thư nước Anh.
Trong phiên họp, 478 nhà khoa học về lịch sử quân sự của các nước đã có mặt. Họ đề cử để lập một danh sách gồm 98 thống soái của các nước trên thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Cũng ngay tại phiên họp này, các nhà viết lịch sử quân sự và phần đông cũng là nhà quân sự có vai vế của thế kỷ, đã bầu ra 10 vị tướng soái kiệt xuất trong lịch sử nhân loại.
Trong số 10 vị thống soái này, có 2 người là tướng soái của dân tộc Việt Nam. Đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (cháu vua Trần Thái Tông, đời nhà Trần), một danh tướng kiệt xuất đã 3 lần thống lĩnh quân đội chống lại quân xâm lược Nguyên Mông thiện chiến nhất thế giới ở thế kỷ 13 đã từng chinh phục cả phần lớn Châu Á va Châu Âu. Người thứ hai là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, người anh hùng đã chiến thắng quân Pháp xâm lược ở Điện Biên Phủ và là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Viêt Nam đánh bại thực dân Pháp trong kháng chiến 9 năm (1945-1954).
Từ số phiêu bầu trong Hội Nghị dành cho mỗi người trong số 10 người, chúng ta có thể so sánh để thấy rõ tầm vóc và vị trí trong lịch sử nhân loại của mỗi vị đó.
Thời Cổ Đại: có 3 vị tướng soái được bình chọn: Aniban (Hy Lạp), Cesar (La Mã), A. Macedoine (Nam Tư cũ). Cả 3 vị đều được 100% số phiếu.
Thời Trung Đại: chỉ có Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được chọn với 100% số phiếu. Trong số phiếu này có ghi thêm Trần Quốc Tuấn là người đã đánh thắng kẻ thù mạnh nhất thế giới là quân Nguyên-Mông.
Thời Cận Đại: có 4 vị tướng được chọn: Cromwell (Anh) 70% số phiếu, Pierre Đại Đế (Nga) 71% số phiếu., Napoleon (Pháp) 100% số phiếu, Cutujov (Nga) 72% số phiếu.
Thời Hiện Đại: có 2 vị được chọn là Jukov (Liên Xô cũ) 100% số phiếu và Võ Nguyên Giáp (Việt Nam) 100%.. (Theo Bách Khoa Toàn Thư của Anh, xuất bản tại Luân Đôn 1985) " (Tạ Xuân Linh. "Việt Nam Có Những Vị Tướng Lừng Danh Thế Giới Qua Nhiều Thời Đại." Kiến Thức Ngày nay số 147. (Hà Nội) Tháng 8 năm 1994 ).
Trên đây là nói về kẻ sĩ hay sĩ phu và cũng là nói về cái đạo xử thế của người quân tử. Dưới đây, chúng tôi xin nói sơ qua về loại người đối nghịch với loại người "quân tử" tức là kẻ "tiểu nhân". Người "quân tử" khác kẻ "tiểu nhân" như thế nao? Sách Nho Giáo viết
"Người quân tử dịch sử các vật, kẻ tiểu nhân để cho ngoại vật dịch sử được (Quân tử dịch vật, tiểu nhân dich ư vật). Người đã để cho ngoại vật dịch sử được thì thành ra mất tự chủ….Người quân tử mở rông cái tâm ra thì hợp với Trời mà thuận theo, thu cái tâm lại thì lo sợ điều nghĩa mà có tiết độ… Kẻ tiểu nhân thì không thế, mở rộng cái tâm ra thì ngạo mạn mà bạo ngược, thu nhỏ cái tâm lại thì dâm đãng mà nghiêng lệnh….
Kẻ tiểu nhân hay làm những điều không thật mà muốn người ta tin mình, hay làm những điều gian trá mà muốn người ta thân mình, làm những việc cầm thú mà muốn cho mình là phải, nghĩ thì khó biết, làm thì khó yên, giữ thì khó vững, thành đạt thì ắt không được cái mình muốn mà ắt gặp cái mình ghét… Người quân tử có tin rồi mới muốn người ta tin mình, ngay thẳng rồi mới muốn người ta thân mình, sửa cho trung chính, trị sự biền biệt, rồi mới muốn người ta cho mình là phải, nghĩ thì dễ biết, làm thì dễ yên, giữ thì dễ vững, thành đat ắt được cái mình muốn, không gặp cái mình ghét, vậy nên cùng thì không ai ẩn tế được, thông thì rất sáng rõ, thân chết mà cái danh càng minh bạch.
Kẻ tiểu nhân thì không lúc nào là không vươn cổ nhón chân mà muốn rằng mình khôn ngoan tài giỏi hơn người, chứ không biết rằng cái mình có và cái người ta có không khác gì nhau, chỉ khác có sự chú thố của người quân tử thì chính đáng, mà sự chú thố của mình (tiểu nhân) thì quá đo.馣133;
Người quân tử nói cái thường thì kẻ tiểu nhân nói cái quái lạ (cố quân tử đạo ký thường nhi tiểu nhân đạo kỳ quái.)
Người quân tử không có tước mà quí, không có lộc mà giầu, không nói mà tin, không giận mà có oai, ở chỗ cùng khổ mà vinh, ở một mình mà vui, há lại không phải là cái tình chí tôn, chí phú, chí trọng, chí nghiêm đều tích cả ở đó hay sao? Cho nên người quân tử chỉ vụ sửa lấy bề trong mà nhường ở bề ngoài, vụ tích đức ở thân mình mà xử lấy theo đạo. Như thế cái danh quí khởi lên như mật trời mặt trăng, tiếng thiên hạ hưởng ứng như sấm sét.
Người quân tử có thể làm cho mình khả quí, không thể khiến người ta tất phải quí minh; có thể làm cho mình khả tín, không thể khiến người ta tất phải tin mình; có thể làm cho mình khả dùng được, không thể khiến người ta tất phải dùng mình. Cho nên người quân tử thẹn không sửa mình, chứ không thẹn người ta làm ô-uế mình; thẹn không tin mình được, chú không thẹn vì người ta không tin; thẹn mình không giỏi, chứ không thẹn người ta không dùng mình. Thế mới không bị lời khen quyến dụ, không sợ lời chê bai, cứ theo đạo mà đi, đoan nhiên giữ mình cho ngay chính. Thế gọi là thật quân tử.
Người quân tử sở dĩ hơn người là lúc nào cũng biết theo cái công nghĩa mà không theo cái tư dục… Ngưới quân tử chỉ cốt lúc nào cũng sửa mình và làm điều nhân nghĩa, trí dũng, trung hiếu để cho trọn cái danh nghĩa làm người ở đời.
Người tiểu nhân thì không thế, trong bụng giả dối mà chỉ cầu lấy được cái danh vọng ở ngoài. Kẻ tiểu nhân không thành thực ở trong bụng mà cầu cái ở ngoài (Tiểu nhân nân bất thành ư nội, nhi cầu chi ư ngoại.). Vậy nên kẻ tiểu nhân dầu không khéo thế nào cũng vẫn là kẻ tiểu nhân." (Trần Trọng Kim. Nho Giáo. Sđd., trang 274-277).
![]()
| © Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com |