-
- Tìm về nguồn gốc
dân tộc Việt Nam qua di truyền học:
- Một vài phát hiện ban đầu
và đường hướng nghiên cứu
-
- Nguyễn Văn Tuấn
Cách
đây vài tháng, nhân điểm qua cuốn sách “Eden in the East” (tạm dịch: Địa đàng ở phương Đông) của Tác giả
Stephen Oppenheimer, tôi có đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam
[1]. Bài điểm
sách đã được một số tạp chí in lại, và qua đó đã được nhiều bạn
đọc quan tâm đến vấn đề ở trong và ngoài nước đón nhận một cách
nồng nhiệt. Một số bạn đọc viết
thư riêng đề nghị chúng tôi nên tiến
hành một nghiên cứu sinh học để xác định rõ hơn mối quan hệ giữa dân
tộc Việt và các dân tộc khác trong vùng Đông Nam Á châu. Một số bạn đọc khai triển thêm đề tài
này và đề nghị nên cẩn thận trong khi diễn dịch các số liệu và dữ
kiện khảo cổ học (xem chẳng hạn như bài viết của Tác giả Nguyễn
Quang Trọng trên Hợp Lưu [2]). Tuy nhiên bên
cạnh đó, cũng có người cho rằng không cần phải đặt lại vấn đề
nguồn gốc dân tộc Việt, vì trong quá khứ đã có tác giả, chẳng hạn
như Bình Nguyên Lộc, đã “chứng minh” nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt [3].
Tuy nhiên, người viết bài này tin rằng một
quan điểm mang tính khẳng định cao như thế rất nguy hiểm cho tiến bộ
khoa học, vì nó hàm ý cho rằng câu chuyện đã chấm dứt, câu trả lời
đã dứt khoát, không còn vấn đề gì để bàn thảo nữa, cũng như không
có gì để phải nghiên cứu thêm. Thực
ra, vấn đề [nguồn gốc dân tộc Việt] chưa được giải quyết thỏa đáng. Chưa ai chứng minh một cách khoa học rằng
dân tộc Việt có nguồn gốc Mã Lai, và thậm chí câu hỏi vẫn chưa được
đặt ra một cách có hệ thống. Tôi
cho rằng vấn đề cần phải được đặt lại.
Tại sao? Ngoài những dữ
kiện trong sách “Eden in the East” của Oppenheimer mà tôi đã trình bày,
tôi thấy còn có vài lý do quan trọng khác để chúng ta đặt lại vấn đề
nguồn gốc dân tộc Việt.
Thứ nhất, giả thuyết về nguồn gốc Mã
Lai của dân tộc Việt chỉ là một giả thuyết trong nhiều giả thuyết
khác nhau. Giả thuyết này, phần lớn,
dựa vào các dữ kiện khảo cổ và ngôn ngữ.
Những dữ kiện về đặc tính cơ thể và các chỉ số nhân trắc
(như màu da, xương, sọ, khuôn mặt, v.v..) từng được dùng làm các đơn vị
thông tin để nghiên cứu nguồn gốc dân tộc và sự tiến hóa của loài
người. Nhưng các đặc tính này thay
đổi theo thời gian, và chịu ảnh hưởng vào môi trường sinh sống. Chẳng hạn như chiều cao của con người
trong vòng 200 năm qua đã tăng một cách đáng kể do những cải thiện về
dinh dưỡng và môi trường sinh sống. Ngay
cả cấu trúc xương cũng thay đổi theo thời gian và môi trường. Do đó các đặc tính nêu trên không phải
là những thông tin lý tưởng cho việc nghiên cứu lịch sử di truyền của
con người.
Những dữ kiện về ngôn ngữ cũng có nhiều
khiếm khuyết, vì mức độ tương đương về từ ngữ không thể nói lên
một cách đầy đủ khuynh hướng di cư của các sắc dân. Ngay cả việc xác định mức độ tương
đồng từ ngữ giữa các ngôn ngữ cũng là một vấn đề mang tính kỹ thuật
mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa đồng ý về phương pháp làm. Vả lại, sự tương đồng giữa các ngôn
ngữ có thể là một hằng số mang tính văn hóa, chứ không hẳn do các cơ
chế sinh học và di truyền. Nói tóm lại,
những bằng chứng khảo cổ và ngôn ngữ không phải là những loại thông
số đáng tin cậy để xác định nguồn gốc dân tộc.
Thứ hai, có thể nói ngay rằng các giả thuyết
về nguồn gốc dân tộc Việt Nam của một số tác giả người Việt trước
đây thiếu tính khoa học hay “bán khoa học” [4]. Những dữ kiện dùng để đặt giả thuyết
trước đây chưa bao giờ được xử lý bằng cách phương pháp khoa học,
không đánh giá được mức độ biến thiên của dữ kiện, nghĩa là định
lượng xem mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó có tỷ lệ bao
nhiêu là do các yếu tố ngẫu nhiên gây nên, và bao nhiêu là do các yếu tố
không ngẫu nhiên tạo thành.
Người thông minh có thể có nhiều cách giải
thích rất hay cho những quan điểm sai lầm.
Ai cũng có thể phát biểu một giả thuyết, nhưng một giả
thuyết khoa học khác với một giả thuyết phi khoa học ở chỗ một giả
thuyết khoa học có thể thử nghiệm được.
Điều quan trọng là một giả thuyết khoa học cần phải được thử
nghiệm một cách khách quan, và cần phải được “phản nghiệm”
(falsify) một cách độc lập.
Vì thế, cần phải nói rõ rằng việc phát
triển một giả thuyết khoa học không chỉ đơn thuần gói gọn trong việc
in vài ý kiến thành sách và cho đó là “khoa học”, là những giả thuyết
mà ai cũng cần phải đọc, cần phải ghi nhận.
Stephen Jay Gould (nhà tiến hóa học danh tiếng vừa mới qua đời),
trước khi phát biểu một giả thuyết về sinh học tiến hóa đã từng
làm nhiều nghiên cứu và từng công bố kết quả nghiên cứu trong hàng trăm
bài báo khoa học trên các tập san chuyên môn.
Stephen Oppenheimer cũng thế: trước khi cho in những giả thuyết của mình
thành sách, ông ta đã phải bỏ ra hàng chục năm đi thu thập dữ kiện, thử
nghiệm, phân tích, và công bố nhiều bài báo khoa học trên các tập san
chuyên môn danh tiếng trên thế giới. Nhìn
lại trường hợp Việt Nam, chúng ta có thể nói không một giả thuyết
nào về nguồn gốc dân tộc Việt Nam được kiểm tra bởi các đồng nghiệp
chuyên môn trên thế giới (peer review), hay được công bố trên các tập
san hàn lâm trên thế giới, hay dựa vào những bằng chứng chặt chẽ về
sinh học. Thành ra, chưa một giả thuyết nào của các tác giả
Việt Nam được trình bày một cách có hệ thống và được đồng nghiệp
trên thế giới công nhận.
Thứ ba, như đã nói trên nguồn gốc Mã Lai của
dân tộc Việt Nam mà Bình Nguyên Lộc đề xướng là một giả thuyết. Không có ai có thể chứng minh một giả
thuyết. Những gì mà người ta có thể
“chứng minh” là các dữ kiện có nhất quán hay phù hợp với giả thuyết
hay không. Khi có dữ kiện mới giả
thuyết sẽ được phát biểu lại. Do
đó, cần phải nhấn mạnh rằng không có một giả thuyết nào được xem
là bất biến. Ngay cả giả thuyết về
nguồn gốc con người hiện đại cũng đã trải qua nhiều nghiên cứu, thảo
luận hàng nửa thế kỷ nay, với hàng ngàn bài báo khoa học và hàng trăm
cuốn sách đã viết về đề tài này. Điều
này cũng không nên lấy làm ngạc nhiên, bởi vì quá trình phát triển khoa
học nằm trong một chu trình đặt vấn đề hay giả thuyết, thu thập dữ
kiện, thử nghiệm giả thuyết, và đặt lại vấn đề. Sự tích lũy dữ kiện theo thời gian sẽ
soi sáng và góp phần kiểm tra lại giả thuyết ban đầu. Thành ra, cần phải đặt lại vấn đề,
cần phải nêu những câu hỏi tốt để đi tìm những câu trả lời thích
hợp và hữu dụng.
Trong quá khứ, giới khảo cổ học và nhân
chủng học dựa vào các bằng chứng về khảo cổ, xương, hóa thạch, v.v…
để phát triển lý thuyết, nhưng những đối tượng này hàm chứa nhiều
hạn chế thông tin về tiến hóa, vì mối quan hệ phức tạp giữa môi trường
và tiến hóa. Hậu quả của sự tập
trung vào các đối tượng như thế trong một thời gian dài đã làm cho
chúng ta xao lãng các dữ kiện cho chúng ta nhiều thông tin hơn: đó là gien. Không giống như xương sọ, những thay đổi
trong gien thường xảy ra theo những qui luật mà chúng ta hiểu khá rõ, và
vì thế gien và các đặc điểm của gien, như tầng số gien, cấu trúc DNA,
phân phối gien, v.v... cho chúng ta những thông tin cực kỳ quí giá về sự
tiến hóa của con người. Ngày nay, những
tiến bộ phi thường trong ngành di truyền học và sinh học phân tử
(molecular biology) trong mấy năm gần đây đã cung cấp cho ngành nhân chủng
học một phương tiện cực kỳ quan trọng trong việc xác định lịch sử
tiến hóa của con người và mối liên hệ giữa các dân tộc. Nhưng trong khi khả năng và kỹ thuật
càng ngày càng hiện đại thì những thay đổi trong xã hội trong các nước
đang phát triển có nguy cơ làm nhòa đi tính “tinh khiết” của những người
dân chính gốc ở Việt Nam. Vì thế,
đặt vấn đề nguồn gốc dân tộc cũng có nghĩa là tìm một sự phối hợp
có tổ chức để thu thập và duy trì những thông tin sinh học về quá khứ
của chúng ta, những người Việt Nam.
Giá trị của di truyền học trong việc truy tầm
nguồn gốc dân tộc đã được đánh giá cao về mức độ tin cậy. Di truyền học là một cửa sổ để chúng
ta nhìn lại quá khứ của chúng ta. Tuy
nhiên, những nghiên cứu về di truyền học trong người Việt còn cực kỳ
khiêm tốn, nếu không muốn nói là không đáng kể. Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây,
đã có một số bằng chứng, tuy gián tiếp, nhưng cũng đủ để chúng ta
có lý do để xem xét lại lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt. Những bằng chứng này là:
(a) Năm 1998, Giáo sư
Chu và đồng nghiệp (thuộc Trường Đại học Texas) phân tích 15 đến 30 mẫu
“vi vệ tinh” DNA (microsatellites) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền
trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông
Nam Á (hai thuộc thổ dân Mỹ, một thuộc thổ dân Úc châu, và một thuộc
Tân Guinea), 4 nhóm dân da trắng (Caucasian), và 3 nhóm dân Phi châu. Bằng một phương pháp phân tích thống
kê có tên là “phân tích phát sinh chủng loại”
(Phylogenetic analysis)”, một số kết quả đáng ghi nhận như sau:
hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất
là Phi châu và các dân không thuộc Phi châu;
tất cả các nhóm dân Đông Nam Á “tập hợp”
thành một nhóm, và nhóm dân có đặc tính di truyền gần họ nhất là người
thổ dân Mỹ châu, kế đến là thổ dân Úc châu, và Tân Guinea (Những kết
quả này cũng phù hợp với thời gian định cư ở Úc châu (khoảng 60,000
đến 50,000 năm trước đây, và thời gian định cư ở Mỹ châu (từ 30,000
đến 15,000 năm trước đây);
các nhóm dân miền nam Trung Quốc phân phối
thành ba nhóm, gọi là S1, S2, và S3 (ngoại trừ nhóm S2 là người Hán từ tỉnh
Henan, phần còn lại (S1 và S3) gồm các sắc dân trong vùng Yunnan); và
các sắc dân miền bắc Trung Quốc phân phối
thành hai nhóm, gọi là N1 và N2. Nhóm
N1 gồm 6 sắc dân nói tiếng Altaic, một nhóm Hán tộc miền bắc từ tỉnh
Yunnan. Nhóm N2 gồm 4 sắc tộc thiểu
số có lịch sử sinh sống lâu đời ở miền bắc, trong đó có một sắc
tộc từ tỉnh Ninxia [5].
Từ những phát hiện trên, chúng ta có thể
đặt ra một số mô hình để giải thích [6], nhưng
mô hình thích hợp với dữ kiện của Giáo sư Chu và đồng nghiệp là các
dân tộc miền Bắc Á được tiến hóa từ các dân tộc Đông Nam Á châu. Các dữ kiện liên quan đến răng, sọ [7,8,] cũng nhất quán với mô hình này. Do đó, Giáo sư Chu và đồng nghiệp kết
luận rằng: “Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ
Đông Nam Á.” Nói một cách khác,
các dữ kiện di truyền học của Giáo sư Chu và đồng nghiệp cho thấy tổ
tiên của những người nói tiếng Altaic từ Đông Á đã di cư vào Á châu
từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á.
(b) Nhưng
nghiên cứu của Giáo sư Chu và đồng nghiệp có một điểm yếu, đó là họ
dựa vào vi vệ tinh DNA, một chất liệu di truyền rất “nhạy”
(sensitive) và dễ bị đột biến (mutation [9]). Để khắc phục nhược điểm này, một
nhóm nghiên cứu khác đã tiến hành một nghiên cứu độc lập và qui mô hơn
để xác định nguồn gốc Đông Nam Á của dân tộc Trung Hoa. Nhóm nghiên cứu Mỹ – Trung Quốc phân
tích DNA trong nhiễm sắc thể Y [10] trong các nhóm
dân Hán (thuộc 22 tỉnh của Trung Quốc), 3 nhóm dân Đông Bắc Á (Buryat, Đại
Hàn, và Nhật Bản), 5 nhóm dân Đông Nam Á (Cambốt, Thái Lan, Mã Lai, Batak,
và Java), và 12 nhóm dân ngoài Á châu (3 nhóm từ Phi châu, 3 từ Mỹ châu, 2
từ Âu châu, và 4 từ châu Đại dương).
Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ biến thiên đa hình thái
(polymorphic variation) trong các nhóm dân Đông Nam Á cao hơn trong các nhóm dân
thuộc vùng Bắc Á. Điều này có nghĩa
là các sắc dân ở Đông Nam Á có một quá trình định cư lâu dài hơn là
các nhóm dân Bắc Á. Dùng các phương
pháp phân tích di truyền quần thể (population genetics), các nhà nghiên cứu
kết luận rằng con người thời đó đã di cư từ Phi châu sang đến Đông
Nam Á [11] vào khoảng 60 ngàn năm về trước, và
sau đó đã di chuyển lên phía Bắc Á (kể cả Trung Quốc ngày nay) và
Siberia [12]. Ngoài
ra, còn có bằng chứng di truyền cho thấy các nhóm dân Polynesians cũng có
nguồn gốc từ Đông Nam Á [13].
(c) Trong
một nghiên cứu trên 103 người ở Hà Nội [14],
các nhà nghiên cứu Việt – Pháp phân tích DNA trong hai gien (HLA-DR và DQB1),
và so sánh kết quả này với các sắc
dân thuộc châu Đại Dương (Oceania) và Đông Á.
Sau khi ước tính khoảng cách di truyền [15]
giữa các sắc dân, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cấu trúc di truyền
của hai gien này trong người Việt gần với người Thái và người Hoa. Các nhà nghiên cứu này kết luận rằng dữ
kiện của họ phù hợp với giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ
người Trung Hoa và Thái-Nam Dương.
Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ phần phương pháp nghiên cứu,
tôi có lý do để cho rằng kết luận này rất có thể không đúng. Những lý do này là: Thứ nhất, nghiên cứu
này chỉ dựa vào hai gien mà thôi (con người có khoảng 35 đến 39 ngàn
gien), và với những yếu điểm của mtDNA, các ước đoán về khoảng cách
di truyền không ổn định. Thứ hai,
ngay cả trong bài báo các nhà nghiên cứu không xây dựng được một cây
di truyền nào, và cũng chẳng phân tích phát sinh chủng loại thì không thể phán đoán về chiều hướng di cư
hay nguồn gốc dân tộc được.
(d) Khoảng
2 năm sau, các nhà nghiên cứu này lại tiến hành một nghiên cứu khác
trên 50 người cũng ở Hà Nội [16], và cũng qua dùng
kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) họ phân tích 6 “restriction enzymes”,
và ghi nhận khoảng cách di truyền giữa người Việt và người Hoa rất thấp
(chỉ 0.0022), nhưng giữa người Việt và Ấn Độ thì tương đối cao hơn
(0.0468), có nghĩa là quan hệ giữa giống người Việt và Hoa gần nhau hơn
so với quan hệ Việt và Ấn.
Nghiên cứu này cũng có những yếu điểm
như nghiên cứu trình bày phần (c), tức là số lượng gien quá ít (trong trường
hợp này chỉ có một gien), và tác giả cũng không tính toán mức độ biến
thiên của chỉ số khoảng cách di truyền, nên không thể nào phát biểu
khoảng cách giữa Việt – Hoa gần hơn khoảng cách giữa Việt – Ấn. Thực ra, sau khi tính toán lại, tôi thấy
hai khoảng cách di truyền (Việt – Hoa và
Việt – Ấn) không có sự khác biệt đáng kể (non-significant)!
(e) Tuy
nhiên, một nghiên cứu khác trên 5 gien trong nhiễm sắc thể Y trong hai nhóm
dân: Bắc Á (Bắc Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Mông Cổ), và Nam Á (Nam
Dương, Phi Luật Tân, Thái, và Việt Nam) cho thấy người Việt gần với các
nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á [17]! Chúng ta biết
rằng, qua nghiên cứu của Giáo sư Chu, người Hoa phía Bắc Trung Quốc có cấu
trúc di truyền khác với người Hoa phía Nam Trung Quốc. Do đó, phát hiện này quả rất khó giải
thích. Càng khó giải thích hơn nữa
khi phần lớn những người Việt trong nghiên cứu này là cư dân ở Hà Nội,
tức gần miền Nam Trung Quốc.
(f) Trong
một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger và đồng nghiệp [18]
ghi nhận rằng chỉ số biến thiên (trong di truyền học gọi là F-value)
trong người Việt cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, các tác giả kết luận một
cách mơ hồ rằng các dữ kiện này cho thấy “người Á châu có nguồn gốc
từ nhóm dân Nam Mông” (nguyên văn: “The
greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII morph 1 were
observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians”).
Thực ra, các dữ kiện mà tác giả trình bày
không cho phép họ kết luận như thế, bởi vì họ chỉ 7 nhóm dân Á châu
mà thôi, và cũng chỉ nghiên cứu trên vài mẫu gien rất nhỏ. Nhưng qua số liệu của các nhà nghiên cứu
này, chúng ta có thể phát biểu rằng trong
hai gien mà họ nghiên cứu, người Việt có lẽ là một sắc dân cổ nhất
trong vùng Đông Nam Á.
Qua các nghiên cứu di truyền dựa vào nhiễm
sắc thể Y và mtDNA mà tôi vừa tóm lược và nhận xét, chúng ta có thể
rút ra một vài điểm chung như sau:
Thứ nhất, các nhóm dân Đông Á có cùng một
nguồn gốc chung, đó là tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Cũng dựa theo các dữ kiện mới này, các
nhà nghiên cứu ước đoán rằng đợt người đầu tiên di cư đến Đông
Nam Á xảy ra vào khoảng 18.000 đến 60.000 năm trước đây, và sau đó từ
đây một đợt di cư về phía Bắc. Một
đợt khác cũng từ Đông Nam Á di cư sang các quần đảo Thái Bình Dương
qua ngả Mã Lai Á ngày nay. Tất nhiên,
đây chỉ là “câu chuyện” mới được phát họa, nhiều chi tiết vẫn
còn trong vòng nghiên cứu thêm.
Thứ hai, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt
vẫn còn là một bí mật chưa được khai thác.
Tất cả các nghiên cứu qui mô của đều không có dữ kiện gien của
người Việt. Ngược lại những nghiên
cứu có dữ kiện của người Việt thì lại chưa được tiến hành có hệ
thống và qui mô, nếu không muốn nói là còn rất hạn chế. Vì thế, các nghiên cứu gần đây hoàn
toàn không cho phép chúng ta phát biểu gì về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt như có người đặt giả thuyết.
Thứ ba, những kết quả của các nghiên cứu
này đã cung cấp thông tin cho chúng ta để phát biểu một giả thuyết mới,
rằng người Hoa ngày nay có thể xuất phát từ phía Nam, mà cụ thể hơn là
Đông Nam Á; và có bằng chứng [tuy chưa đầy đủ] cho thấy người Việt
có thể là một dân tộc cổ nhất trong vùng Đông Nam Á; cho nên có thể
người Việt cũng có thể chính là tổ tiên của người Hoa ngày nay, nhất
là các sắc dân ở miền Nam Trung Quốc. Cố
nhiên, đó chỉ là một giả thuyết cần được thử nghiệm.
Do đó, vấn đề quan trọng trước mắt là cần xác định
mối liên hệ di truyền (genetic relationships) giữa các nhóm dân trong vùng Đông
Nam Á (và Việt Nam), các nhóm dân miền Nam và Bắc Trung Quốc, cũng như các
nhóm dân thuộc Nam Đảo, Polynesians, v.v... Với những kết quả này cộng với
các dữ kiện trình bày trong kho tàng khảo cổ và nhân chủng học cũng
như trong cuốn “Eden in the East” chúng
ta sẽ có một phối cảnh rõ ràng hơn về quá khứ. Hiện nay, chúng tôi đang xúc tiến một
nghiên cứu di truyền học và cộng tác với các nhà nghiên cứu khác trên
thế giới để nhằm tìm một câu trả lời cho vấn đề này. Chúng tôi dự tính sẽ thu thập và phân
tích dữ kiện di truyền (chủ yếu qua phân tích DNA với khoảng 50 gien và
các nhiễm sắc thể Y) trong khoảng 200 đến 300 người Việt, và sẽ dùng
kết quả này để so sánh với các dân tộc khác trong vùng Đông Nam Á cũng
như người Hoa để xác định xu hướng di cư của các nhóm dân này. Chúng tôi sẽ dùng những dữ kiện DNA để
tiến hành một phân tích phát sinh chủng loại
nhằm thử giả thuyết giả thuyết “Bắc tiến” (người Hoa có nguồn gốc
từ phương Nam) hay “Nam tiến” (người phương Nam xuất phát từ người
Hoa). Hy vọng trong tương lai, chúng
tôi sẽ có các dữ kiện di truyền học để đi đến một so sánh có ý
nghĩa và có thể phát biểu một cách có cơ sở khoa học hơn.
Nguồn gốc con người hiện đại, mà đặc
biệt là nguồn gốc dân tộc Việt, là một câu hỏi đơn giản, nhưng câu
trả lời thì không đơn giản chút nào. Tổ
tiên chúng ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam bằng cách nào, vẫn
còn là những vấn đề khoa học “nóng”, đòi hỏi nhiều nghiên cứu về
di truyền học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học. Tuy nhiên, với sự tiến bộ phi thường về
khoa học di truyền và công nghệ sinh học trong khoảng mười năm qua, chúng
tôi tin rằng việc nghiên cứu quá trình lịch sử di truyền của người Việt
chúng ta sẽ đem lại nhiều kết quả thích thú và làm sáng tỏ hơn về
nguồn gốc tổ tiên của chúng ta.
Tài liệu tham khảo
và chú thích:
[1] Xem “Nhân dọc Eden in the East, đặt lại vấn đề
nguồn gốc dân tộc Việt Nam," Tập
san Tư Tưởng, số 15, Tháng 8, năm 2001; và Thế
Kỷ 21, số 152, tháng 12, 2001.
[2] “Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và ‘Địa đàng
ở phương Đông’”, Nguyễn Quang Trọng, Hợp
Lưu, số tháng Tư năm 2002.
[3] Xem bài “Giải đáp thắc mắc của ông Nguyễn Văn
Tuấn …,” Lê Quấc Tuấn, Thế Kỷ 21,
số 157, tháng 5, 2002. (Thực ra, ngay cả
cái tựa đề cũng không hợp lý, vì tôi chẳng “thắc mắc” gì cả.) Trong bài viết này, tác giả dùng một văn
phong rất trịch thượng và thiếu nghiêm túc và trong thảo luận. Nhưng quan trọng hơn, tác giả đã hiểu lầm
bài viết của tôi và hình như chưa nắm vững nội dung cuốn sách của
Stephen Oppenheimer. Trong Eden in the East, Stephen Oppenheimer không đưa
ra một giả thuyết Nam tiến hay Bắc tiến nào cả, ông cũng chẳng đưa ra
một giả thuyết nào về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Những luận án chính của Oppenheimer là:
(a) Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay; (b) Những dân tộc
thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, mà có nguồn
gốc từ Đông Nam Á; và (c) Người Đông Nam Á, chứ không phải Trung Hoa,
là những người đã phát triển kỹ thuật trồng lúa đầu tiên trên thế
giới, và là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên của nhân loại. Dựa vào một số kết quả nghiên cứu gần
đây và luận điểm của Stephen Oppenheimer, tôi muốn đặt lại vấn đề
nguồn gốc Trung Hoa của dân tộc Việt Nam.
Cần phải nói thêm rằng đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc
không phải vì những chuyện nhảm nhí như “lo xa”, hay trẻ con như “bực
bội”, hay để, một cách cải lương, khôi phục “tự hào dân tộc”,
mà để đi tìm sự thật, và để đi tìm phương pháp cho một câu trả lời. Câu trả lời chỉ có ý nghĩa nếu câu hỏi
được suy nghĩ cẩn thận.
[4] Thế nào là
“khoa học”? Nói một cách ngắn gọn
và theo quan điểm của người viết bài này, khoa học là tập hợp những
phương pháp trí tuệ và phương pháp thực tiễn dùng để diễn tả và giải
thích những hiện tượng quan sát được hay suy đoán được, trong quá khứ
hay hiện tại, nhằm xây dựng một hệ thống tri thức mà chúng ta có thể
bác bỏ hay xác nhận được. Những phương pháp trí tuệ bao gồm linh cảm,
ước đoán, tư tưởng, giả thuyết, lý thuyết, và mô hình. Những phương
pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, quá trình thu thập
dữ kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm,
tìm tòi và khám phá, phân tích thống kê, viết báo cáo khoa học, trình
bày trong các hội nghị khoa học, và công bố kết quả nghiên cứu.
Khoa học
dựa vào sự thật (facts). Những sự
thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa
học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề
đang được điều tra. Những sự thật
này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii)
độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng
cho suy luận. Một đặc tính quan trọng
trong phát biểu trên về khoa học là những lý thuyết của khoa học có thể
bác bỏ được. Cụm từ “có thể
bác bỏ” ở đây cần phải hiểu một cách rộng rãi hơn, rằng tất cả
các lý thuyết, nếu mang danh nghĩa khoa học, là những thuyết có thể thử
nghiệm được, có thể tái xác nhận được bằng dữ kiện mới và độc
lập. Và chính đặc tính này phân biệt
rành mạch sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học (pseudoscience). Trong ngụy khoa học, các lý thuyết, chẳng
hạn như thuyết tạo hóa (creationism) trong tôn giáo, đều không thể kiểm
chứng hay thử nghiệm được. Nói một
cách khác, một trong những tiêu chuẩn cho một lý thuyết khoa học là “khả
năng phản nghiệm” (falsibility) của nó. (Có
thể xem thêm vấn đề “phản nghiệm” này trong sách “The logic of
scientific discovery,” Karl Popper, London: Hitchinson, 1972).
[5] Xem bài “Genetic
relationship of populations in China,” tác giả
J. Y. Chu và đồng nghiệp, Tập san Proceedings
of the National Academy of Science (USA) 1998; số 95, trang 11763-11768.
[6] Chẳng hạn như
mô hình thứ nhất: các nhóm dân miền Đông Bắc di cư xuống miền Nam, và
hòa hợp với các nhóm dân Nam Á (Australoids, tức là người thổ dân Úc
và Tân Guinea), những người đã từng định cư tại vùng Đông Nam Á châu
trước đây. Theo mô hình này, có một
nhóm người “gây giống” hiện diện ở Đông Nam Á khoảng 30 ngàn đến
50 ngàn năm trước đây. Mô hình này
cũng phù hợp với bản đồ phân phối các ngôn ngữ ở Trung Quốc. Từ bản đồ này, chúng ta có thể phỏng
đoán rằng miền bắc Trung Quốc từng được các dân tộc nói tiếng Trung
Hoa và các ngôn ngữ Trung Hoa – Tây Tạng (Sino-Tibetan languages) định cư, còn
miền nam Trung Quốc thì được các dân tộc nói tiếng Nam Á (Austro-Asiatic
languages), Austronesian, Miao-Yao, và Daic định cư.
Sau đó (khoảng 3000 năm trước đây, tức dưới triều đại Zhao) ngôn
ngữ Trung Hoa – Tây Tạng dần dần thay thế các ngôn ngữ khác ở phía
nam Trung Quốc, cũng giống như một quá trình truyền bá của các ngôn ngữ
Ấn-Âu ở Âu châu.
Hay mô
hình thứ hai: các nhóm dân miền bắc và nam Trung Quốc tiến hóa cùng một
lượt kể từ thời đại Pleistocene (tức khoảng 10,000 năm trước đây). Mô hình này phù hợp với các dữ kiện
khảo cổ học, và theo đó, có ít nhất là ba trung tâm nông nghiệp và các
nền văn hóa Đồ đá mới cùng hình thành ở Trung Quốc. Đây là các văn hóa: (i) Yangshao (miền bắc,
và miền trung sông Hoàng) khoảng 8000 năm trước đây, nơi mà cây kê là một
cây trồng phổ biến nhất, lợn, chó được thuần hóa; (ii) Văn hóa
Ta-Pen-Keng, cũng hình thành vào khoảng 8000 năm trước đây dọc theo bờ biển
phía nam, kể cả Đài Loan, nơi mà sản phẩm chính là lúa gạo; (iii) Văn hóa
Qing-Lien-Kang, hình thành vào khoảng 1000 năm trước đây, trong vùng hạ lưu
sông Dương Tử, nơi mà cây lúa được trồng và thú vật như chó, lợn
được thuần hóa.
[7] Xem bài “Major
features of Sundadonty and Sinodonty, including suggestions about East Asian
microevolution, population history, and late Pleistocene relationships with Australian
aboriginals”, C. G. Turner, Tập san American
Journal of Physical Anthropology, năm1990; bộ 82, trang 295-317.
[8] Xem bài “Population prehistory of east Asia and the
Pacific as viewed from craniofacial morphology: the basic populations in east Asia, VII”
T. Hanihara, American Journal of Physical
Anthropology, năm1990, năm 1993, bộ 91, trang 173-87.
[9] Đột biến
(mutation) là một sự kiện sinh học xảy ra ở trong tế bào. Gien được cấu trúc bằng một chuỗi DNA
gồm 4 mẫu tự A, G, C, T. Khi một chuỗi
DNA bị thay đổi, tức đột biến (chẳng hạn như từ GCAATGGCCC thành
GCAACGGCCC) thì các đặc tính sinh học liên quan đến gien, chẳng hạn như mật
độ xương, có thể bị thay đổi.
[10] Con người được cấu tạo bằng nhiều tỷ tế bào. Tất cả các tế bào đều có cấu trúc
giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm chính giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu
di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ deoxyribonucleic
acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu
DNA. DNA gồm có bốn mẫu tự (yếu tố
hóa học): A (adeline), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền
hay nhiễm sắc thể, còn gọi là chromosome. Con người có 23 nhiễm sắc thể.
Không như
DNA nằm trong nhân của tế bào, Mitochondrial DNA (mtDNA) nằm ngoài nhân của
tế bào. MtDNA chỉ lưu truyền trong giống
cái (ví dụ như từ mẹ sang con gái) do đó chúng rất có ích trong việc
trùy tìm những mối quan hệ di truyền giữa các nhóm dân. Nhưng mtDNA có hai nhược điểm: (i) mtDNA có
nhiễm sắc rất nhỏ, chỉ khoảng 16500 mẫu tự (tức chỉ khoảng 16
kilobases); và (ii) sự phân phối của các mẫu tự cũng không đồng đều.
Nhiễm sắc
thể Y (hay “Y chromosome”) là một đối tượng lý tưởng để truy tầm
nguồn gốc dân tộc, bởi vì nó không có những nhược điểm như mtDNA. Ngược lại với mtDNA, nhiễm sắc thể Y
chỉ lưu truyền trong giống đực. Nhiễm
sắc thể Y chứa nhiều mẫu tự hơn mtDNA (khoảng 60 megebases, tức 4000 lần
cao hơn mtDNA), và do đó cho chúng ta nhiều thông tin về di truyền hơn là
mtDNA. Ngoài ra, khi nhiễm sắc thể Y
được phân tích bằng tập hợp nhiều kiểu
di truyền (tức “genotypes”) thành “haplotype”, các nhà nghiên cứu
có thể biết được “dấu vết di cư’” của một nhóm dân, và qua đó
có thể ước đoán được tuổi của tổ tiên.
Tuy nhiên, nhiễm sắc thể Y cũng có một vài nhược điểm, nhất là
phân phối của haplotypes có thể bị ảnh hưởng bởi khả năng tái sản
sinh của giống đực.
[11] Xem bài “African origin of modern humans in East Asia: a
tale of 12000 Y chromosomes,” tác giả Yuehai Ke và đồng nghiệp, [Tập san] Science, năm 2001, bộ 292, trang 1151-1153.
[12] Xem bài “Y-chromosome evidence for a northward migration of
modern humans into eastern Asia during the last Ice Age,” tác giả Bing Su và đồng
nghiệp, [Tập san] American Journal of Human
Genetics, năm 1999, bộ 65, trang 1718-1724.
[13] Xem bài báo
khoa học “Polynesian origins: insights from the Y chromosome,” tác giả Bing Su
và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the
National Academy of Science (USA), năm 2000, bộ 97, trang 8225-8228.
[14] Xem bài “HLA-DR
and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population in Ha Noi”, tác giả A.
Vu-Trieu và đồng nghiệp, Tập san European
Journal of Immunogenetics, năm 1997, bộ 24, trang 345-356.
[15] Khoảng cách
di truyền (hay còn gọi là genetic distance) là một thông số di truyền học
đo lường mức độ khác nhau giữa các nhóm dân.
Chỉ số này có giá trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống
nhau về mặt di truyền), và giá trị tối đa là 1 (tức hai nhóm dân hoàn
toàn khác nhau).
[16] Xem bài “Mitochondrial
DNA polymorphism in the Vietnamese population”, tác giả R. Ivanova và đồng nghiệp,
Tập san European Journal of Immunogenetics,
năm 1999, bộ 26, trang 417-422.
[17] Xem bài “Y
chromosomal DNA variation in East Asian populations and its potential for inferring the
peopling of Korea”, tác giả W. Kim và đồng nghiệp, Tập san Journal of Human Genetics, năm 2000; bộ 45,
trang 76-83.
[18] Xem bài “Southeast Asian mitochondrialDNA analysis reveals
genetic continuity of ancient Mongoloid migration,” tác giả S. W. Ballinger và đồng
nghiệp, Tập san Genetics, năm 1992, bộ
130, trang 139-45.
Home | Go top page | Về trang mục lục