-
Những Người
Mù Húp Cháo
Hoàng Nguyên Nhuận
- Dalai Lama and President Bush
* * *
Đây
là thời đại toàn cầu hóa. Biến cố 11.9.2001 ở Mỹ đã trở thành một
vấn đề toàn cầu nên những buồn giận sầu lo phát xuất từ vụ đó
không thể chỉ là phản ứng của người dân Mỹ thôi.
Suy nghĩ của Hoàng tôi về vụ
11.9.2001 trước tiên khởi từ một lý do khá riêng tư đó là con cháu, anh
em, thầy trò, bè bạn thân sơ xa gần của tôi đầy dẫy bên Mỹ. Chính
quyền Mỹ hắt hơi là những người dân Mỹ bình thường - kể cả những
người thân của tôi, sẽ không tránh khỏi cúm, cảm sốt, thương hàn. Đó
là lý do ích kỷ khiến tôi không muốn ai khổ cả, không thích thấy ai khổ
cả, không muốn nước Mỹ rơi vào tình trạng dầu sôi lửa bỏng như từ
hôm 11.9.2001 đến nay.
Một Ốc Đảo
An Toàn Tuyệt Đối
Tổng Thống G.W. Bush nhậm chức
chưa đầy một năm, khai sáng một thời đại trong đó nước Mỹ có vẻ
muốn chứng tỏ cho thế giới thấy rằng mình đủ điều kiện để thực
hiện một thế cô lập an toàn sau hàng rào điện tử và phi đạn chống
phi đạn. T.T Bush công khai hô hào tái tục chương trình Star Wars bị T.T
Clinton gát qua một bên. Nếu chương trình Star Wars thành công thì Mỹ sẽ
thừa khả năng hăm dọa dùng vũ khí nguyên tử để đánh phá bất cứ nơi
nào trên thế giới mà đối phương khó lòng trả đũa. Danh sách của những
nước này hình như đã được liệt kê dưới cái tên "những nước bất
hảo lộn xộn lạc đàn" - rogue nations. Một số người trong chính quyền
Bush đã không ngần ngại gọi thế kỷ 21 là "thế kỷ của Hoa Kỳ".
Dưới nhản quan cô lập an toàn tuyệt
đối đó, T.T Bush đã mạnh dạn hủy bỏ thỏa hiệp tài giảm phi đạn liên
lục địa với Nga, đã dẹp xó Hiệp định thư Tokyo nhằm thanh lọc môi
sinh, đã chối từ không ký vào thỏa ước thanh sát vũ khí sinh hoá đã
được 143 quốc gia ký tên đồng ý sau ngót cả chục năm thương lượng,
đã tỉnh bơ khi bị loại khỏi các tổ chức bảo vệ nhân quyền và tổ
chức chống ma túy của Liên Hiệp Quốc, đã cố làm lơ phần đóng góp của
mình vào qũy điều hành của Liên Hiệp Quốc.
Mỹ có vẻ như không cần ai nữa cả.
Mỹ có thể tồn tại như một ốc đảo an toàn vĩ đại. Biến cố
11.9.2001 biến cảm nghĩ an toàn đó thành ảo tưởng kinh hoàng.
Pháo lũy kinh tài ở New York bị đánh
sập thành bình địa - ground zero, bộ chỉ huy quân sự Ngũ Giác Đài bị tấn
công, trùng độc hăm dọa Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội, Tối Cao Pháp Viện, Bộ
Ngoại Giao, Bộ Tư Pháp, Bộ Y Tế, tổng hành dinh CIA, một số cơ quan truyền
thông chủ chốt, một số trạm bưu điện, bệnh viện ở New York, một số
Tòa Đại Sứ Mỹ ở ngoại quốc ... Đó chỉ mới là trùng độc bệnh
than, chưa nói đến những thứ độc hại khác như bệnh đậu mùa, bệnh
ebola và vi khuẩn phá hoại các máy điện toán. Kẻ thù vô hình chứng tỏ
họ không có khả năng tàn sát nhưng đủ sức gây hốt hoảng khiếp đảm,
đủ sức làm cho người dân Mỹ bình thường phải mất ăn mất ngủ vì
thấy rằng không còn nơi nào là an toàn tuyệt đối ngay trên nước Mỹ.
Lần đầu tiên, nước Mỹ bị tấn
công ngay trên đất mình mà vô phương chống đỡ. Lần đầu tiên người
dân Mỹ thấy rằng chính phủ mỗi năm bỏ ra 183 tỷ tiền thuế mình đóng
để lo cho an ninh quốc phòng đã thất bại. Thế an toàn của Mỹ nhờ những
chiến lũy thiên nhiên vĩ đại là các Đại Tây Dương và Thái Bình Dương
cũng hết hiệu nghiệm. Khả năng giáng trả khủng khiếp của Mỹ dựa
vào hỏa lực hải, lục, không quân, cọng thêm kỹ thuật truyền tin điện
tử tối tân và các biện pháp phong tỏa kinh tài vẫn không thể làm cho đối
phương phải e ngại dừng tay chùn bước. Vì kẻ thù ở đây không có
lãnh thổ, không có căn cứ địa nên Mỹ không thể răn đe kiểu san bằng
Hiroshima và Nagazaki bằng bom nguyên tử, chà láng Bắc Việt bằng B.52, oanh
tạc Yugoslavia, ồ ạt đánh phá rồi phong tỏa kinh tế Iraq. Những đòn trừng
phạt răn đe đó chẳng ích gì với quân khủng bố hay đối phương vô
hình của Mỹ hôm nay, vì đám này không có lãnh thổ để chịu trận, mà
lại cũng không sợ chết. Cùi không sợ lở, biết đâu giết được họ,
họ còn cám ơn vì đã tạo cơ hội cho họ lên thiên đàng chóng vánh trót
lọt? Giết họ là tạo cơ hội để họ tuyển mộ thêm thánh tử đạo, cảm
tử quân?
Không Theo Ta Là
Kẻ Thù Của Ta
Sắt máu bạo động là điều phải
chống. Giết hại, nhất là giết hại những người dân thường vô can là
điều phải chống.
Hoàng tôi xót xa thương cảm những
nạn nhân trong nấm mồ vĩ đại nơi vùng bình địa, và những thân nhân của
họ ở New York. Tôi xót xa thương cảm cho những nạn nhân ở Ngũ Giác Đài,
cũng như những nạn nhân của độc khuẩn Anthrax. Tôi không thể không
phân vân khi nghe T.T Bush bảo dân Mỹ chỉ có hai đường lựa chọn. Một,
theo ông đem hỏa tiễn, bom đạn dội xuống Afganistan để truy lùng Osama
bin Laden và tổ chức Al Qaida và để trừng trị Afganistan về cái tội chấp
chứa bin Laden. Hai, theo những kẻ cướp tàu bay đánh sập hai cao ốc ở
New York và Ngũ Giác Đài hay dùng vũ khí sinh hóa để giết người. Mắt đổi
mắt, răng đền răng có thể là điều "công bằng", nhưng cứ đền
cứ đổi kiểu đó thì không khéo cuộc đời rồi sẽ chỉ còn những ...
người mù húp cháo.
Nước Mỹ Vĩ Đại
Mới hơn hai trăm năm lập quốc,
người Mỹ đã thực hiện được điều không một nước nào khác làm
được đó là làm cho quốc gia mình trở nên giàu nhất, mạnh nhất, tự
do dân chủ nhất. Hoa Kỳ là quốc gia của những điều vĩ đại. Là một
quốc gia vĩ đại, Mỹ phải có những hành động vĩ đại và những thành
tích vĩ đại. Hành động và thành tích đó đòi hỏi một nhà lãnh đạo
vĩ đại cân xứng. Trách nhiệm và thiên chức thực hiện những thành
tích vĩ đại đó trước hết phải bắt đầu từ kẻ đang nắm vận mạng
nước Mỹ là T.T Bush.
Lãnh đạo là kẻ lo trước cái lo
của dân, vui sau cái vui của dân - tiên thiên hạ chi ưu hậu thiên hạ chi
lạc. Khi đất nước biến động hay đại họa xảy ra -bất kể là thiên
tai hay nhân họa, minh quân minh chúa thường ăn chay nằm đất, sám hối tội
lỗi, sáng suốt trầm tĩnh tìm giải pháp.
Lãnh đạo là kẻ phải tự trách
mình trước, rồi mới trách thiên hạ sau -tiên trách kỷ hậu trách nhân.
Người Thiên chúa giáo trong những hoàn cảnh đó thường đấm ngực ăn
năn: Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi mọi đàng! Nghĩa là khiêm nhường nhận
hết lỗi về mình trước khi đổ lỗi hay lên án kẻ khác. T.T Bush không
thể phủ nhận là kể từ ngày nhậm chức, ông đã không thành công trong
việc tiên liệu, đề phòng, ngăn chận những kẻ khủng bố gây tội ác
như thế. Ít nữa cũng là từ khi chiến hạm USS Cole bị tấn bằng chất nổ.
T.T Bush chưa hề xin lỗi dân chúng Mỹ về sự thiếu sót hay bất lực đó
trước khi đòi hỏi họ phải thế này thế khác.
Truyền thông kể lại chuyện Thị
Trưởng New York Giuliani hướng dẫn phái đoàn của một tiểu quốc Á Rập
thân Mỹ đi thăm vùng bình địa và nấm mồ vô danh vĩ đại của New York.
Người trưởng phái đoàn tặng cho qũy cứu trợ 10 triệu và nói một câu
đại ý chính quyền Mỹ cũng nên nghĩ lại chính sách đối với người
Palestine. Giuliani đùng đùng nổi giận, vứt trả lại tấm ngân phiếu và
đuổi khách ra về. Phản ứng của Giuliani thật là điều khó hiểu. Thứ
nhất, quan hôn tang tế là những cơ hội mà chủ nhà phải tuyệt đối nhún
nhường lễ độ với khách. Khách có mất dạy chủ nhà cũng phải cắn
răng chịu đựng. Trước câu nói nghịch nhĩ của khách, Giuliani có thể nhẹ
nhàng trả đòn: "Trong lúc tang gia bối rối, tôi không có thì giờ thưa
rõ chuyện với ngài, nhưng tôi có thể nói ngay rằng ngài không phải là
người đầu tiên hiểu lầm chúng tôi. Nước Mỹ là bạn của người Do
Thái mà cũng là bạn của người Palestine." Nghe vậy, khách của
Giuliani có điên mới nói tiếp. Thứ hai, khách tặng 10 triệu cho nạn nhân
và thân nhân của nạn nhân chứ đâu có cho cá nhân Giuliani, Giuliani có quyền
gì mà vứt trả lại? Giuliani trả lại rồi lấy tiền túi ra bù vào hay
Giuliani nghĩ mình là đại diện New York, đại diện cho những người đã
chết oan mạng và thân nhân của họ? Chưa chắc! Vì những người này nếu
khôn thiêng hay sống dậy thì họ sẽ níu áo Giuliani về cái tội bất
tài, bất lực, bất cẩn đã để cho thảm cảnh bình địa xảy ra mà
không làm gì được. Thứ ba, Giuliani có biết rằng hành động nóng nảy bộp
chộp của mình là phản tuyên truyền vì đã làm cho người bàng quang, người
Á Rập và chính người khách bị xúc phạm thấy rõ là họ đã chạm
trúng vào một tử huyệt trong chính sách đối ngoại của Mỹ ở Trung Đông?
Thứ tư, hành vi của Giuliani biết đâu đã vô tình tạo nên một bin Laden,
hay ít ra là một đồng chí, một cảm tình viên cho bin Laden nữa?
Cuồng Nộ Hốt
Hoảng
Phản ứng của Giuliani biểu hiện
một tâm trạng chung của hầu hết giới chức Mỹ sau biến cố 11.9.2001.
Cuồng nộ hoảng hốt.
Chính quyền Mỹ nhắc đi nhắc lại
sẽ trừng trị bọn khủng bố và những kẻ chứa chấp bọn này, rằng đây
chỉ là chiến tranh chống khủng bố chứ không chống người Á Rập,
không chống Hồi giáo. Thế nhưng T.T Bush đã nhại lại Thánh Kinh: Ai không
theo ta là kẻ thù của ta! T.T Bush đã gọi chiến tranh chống khủng bố đó
là thánh chiến - crusade, và đặt tên chiến dịch đánh vào nơi được coi
là hang ổ của khủng bố là chiến dịch Công Lý Vô Hạn - Infinite Justice,
nghĩa là những chữ Thập Tự Quân của Công giáo La-Mã ngày xưa dùng trong
chiến dịch bách hại dân Hồi giáo và làm cỏ thánh địa Jerusalem của họ.
Mấy hôm sau cả hai tiếng đó đều biến mất, phải chăng vì T.T Bush thấy
mình đã nói lịu không đúng lúc đúng chỗ? T.T Bush hằng ngày trấn an
dân chúng đừng hoảng hốt, phải tiếp tục ăn làm bình thường, yên tâm
dùng máy bay để đi lại, trong lúc đó T.T và Phó T.T lại cứ như mặt
trăng mặt trời, T.T ở một nơi thì Phó T.T phải ở một nơi khác hoàn
toàn bí mật để đề phòng bị tấn công. T.T ở nơi nào thì những phi trường
quanh đó đều đóng cửa vì sợ không tặc khủng bố. Chưa kể, Chủ Tịch
Thượng Viện, nhân vật quyền thế thứ ba của quốc gia đã bị Anthrax trực
tiếp hăm dọa. T.T là kẻ quyền uy dũng mãnh nhất nhân loại, là nhân vật
trọng yếu nhất của quốc gia mà còn không bảo đảm an toàn thì làm sao
thuyết phục người dân rằng mọi chuyện đều bình thường?
Sau cơn trời sập xuống New York và
Ngũ Giác Đài, Quốc Hội Mỹ đã cho T.T Bush khoảng 80 tỉ MK và đặc quyền
hành động. Với tiền, quyền và chỉ số dư luận quần chúng ủng hộ
dâng cao, T.T Bush đã một mặt mở chiến dịch toàn cầu và toàn quốc chống
khủng bố, một mặt vừa ra lệnh lùng diệt Osama bin Laden, đổ quân xuống
Afganistan và vừa ném bom phóng hỏa tiễn, vừa thả lương khô để triệt
hạ tổ chức Al Qaida của bin Laden và trừng trị chính quyền Taliban đã chứa
chấp bin Laden.
Quốc Hội Mỹ gần như cho T.T Bush
muốn gì được nấy. Đây không phải là lần đầu tiên Quốc Hội phản
ứng kiểu rửa tay như Pontius Pilate đó. Quốc Hội đã cho T.T Johnson toàn
quyền trả đũa ở Việt Nam sau vụ Vịnh Bắc Việt năm 1964. Cho T.T
Carter toàn quyền đối phó sau khi Iran trắng trợn xâm phạm Tòa Đại Sứ
Mỹ ở Teheran 1979. Cho T.T Reagan toàn quyền truy bức Qaddafi của Libya sau trận
không chiến chớp nhoáng trên vịnh Sidra năm 1981 và nhất là sau khi Tòa Đại
Sứ và rồi trại Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Beirut bị đặt bom sập
năm 1983(1). Cho T.T Bush bố toàn quyền trừng trị Iraq sau khi Iraq tấn công
Kuwait năm 1991. Cho TT Clinton toàn quyền hành động ở Phi châu sau khi xác mấy
quân nhân Mỹ bị đám thổ phỉ của Farah Aidid kéo lê trên đường phố
Somalia và nhất là sau khi Tòa Đại sứ Mỹ ở Nairobi thủ đô Kenya và ở
Dar es Salam thủ đô Tanzania bị đánh bom năm 1998. Ngày 20.8.1998, T.T.
Clinton đã ra lệnh dùng 100 hỏa tiển viễn khiển trung tầm - cruise missile,
oanh tạc Afganistan, đòi Taliban giao nạp Osama bin Laden để Mỹ trừng trị tội
nhúng tay vào các vụ đặt bom ở Nairobi và Dar es Salam. Hậu quả của những
cuộc ủy quyền và hành động giáng trả đó như thế nào? Không biết ai
đã nói câu: Bài học lịch sử qúy giá nhất là không ai chịu học lịch
sử cả? Ví dụ điển hình là vụ Vịnh Bắc Việt năm 1964 và vụ Iran năm
1979...
Năm 1964, khi vụ Vịnh Bắc Việt xảy
ra, Quốc Hội Mỹ với 88 phiếu thuận và 2 phiếu chống ở Thượng Viện,
416 phiếu thuận và 0 phiếu chống ở Hạ Viện đã trao toàn quyền cho T.T
Johnson "leo thang trả đũa" Việt Nam. Mấy năm sau thì T.T Johnson
thân bại danh liệt "xuống thang rút lui" khỏi chính trường. Cuộc
cách mạng 1979 biến Iran hành một quốc gia Hồi giáo chính thống toàn trị
đầu tiên thời hiện đại. Iran cũng là quốc gia tiên phong phát động chiến
dịch khủng bố chống Mỹ công khai quyết liệt và trắng trợn nhất ở
Trung Đông. Từ sau thế chiến thứ hai đến năm 1979, Iran là con domino quý
của Mỹ, và là giếng dầu vĩ đại do công ty Standard Oil độc quyền khai
thác. Hoàng đế Iran do Mỹ bảo dưỡng. Iran là địa bàn hoạt động tấp
nập nhất của CIA ở Trung Đông. Nhưng Mỹ đã không ngăn được Ayatollah
Khomeini lật đổ chế độ Shah hoàng. Iran thừa thắng xông lên, bất chấp
dư luận và công pháp quốc tế, bất chấp mọi nghi thức ngoại giao, xông
vào Tòa Đại Sứ Mỹ, bắt 52 nhân viên Mỹ giam 444 ngày và chỉ phóng
thích những người này sau khi Mỹ chấp nhận mấy điều kiện của Iran công
khai đưa ra là Mỹ phải cam đoan không can thiệp vào nội tình Iran, không
đòi Iran bồi thường thiệt hại, trả lại 8 tỉ MK tài vật đã phong tỏa
của Iran, trả lại cho Iran tài sản của hoàng gia Iran mà Mỹ đang giữ. Bi
hài hơn nữa là Mỹ không chỉ nhận những điều kiện đó thôi mà còn
cung cấp vũ khí cho Iran qua cuộc chiến Iran-Iraq. Đó là vụ xì-can-đan
Irangate đã làm cho T.T Carter thất cử và T.T Reagan điên đầu xấc bấc
xang bang. Không rút tĩa kinh nghiệm từ những bài học đó thì không khéo lại
còn những ủy quyền quá trớn chỉ đẩy Hành Pháp đến chỗ sa lầy, xã
hội đến chỗ hoảng loạn?
Xung Đột Hồi
Giáo - Tây Phương Trong Thời Đại Mới
Vụ Tòa Đại Sứ Mỹ ở Teheran
năm 1979 cũng như vụ sát hại T.T Ai Cập Anwar Sadat năm 1981 là những hồi
chuông báo động thực sự mở màn cho cuộc chiến không biên giới giữa Mỹ
- Tây phương và cái gọi là khối Hồi giáo.
Cây cao gió lớn, hoan lạc vĩ đại
thì khổ đau cũng vĩ đại, thán phục vĩ đại thì ganh ghét cũng vĩ đại,
quyền lực vĩ đại thì hận thù cũng vĩ đại. Hoa Kỳ đã và đang phải
đối phó với hận thù vĩ đại của một số người nhân danh Hồi giáo
mà Mỹ gọi là những người Hồi giáo cực đoan. Đó là chữ của Charles
Krauthammer của tờ Washington Post khi ông này viết: Kẻ thù đã tự phát hiện
một cách minh nhiên và công khai. Tư cách tế nhị của chúng ta đã ngăn không
cho chúng ta gọi tên kẻ thù. Tên đó là Hồi giáo cực đoan(2). Hồi giáo
cực đoan đó là ai? Thủ Tướng Anh Tony Blair trả lời cho phóng viên đài
CNN của Mỹ rằng: Đây là một cuộc chiến giữa thế giới văn minh và hạng
cuồng tín ... những kẻ không từ nan bất cứ một hành động nào(3). Thủ
Tướng Ý Silvio Berlusconi còn nói rõ hơn: Chúng ta tự hào rằng nền văn
minh của chúng ta là thượng đẳng. Chúng ta phải ý thức sức mạnh của
nền văn minh của chúng ta, của tất cả những cuộc chinh phục mà chúng
ta đã thực hiện và của chính lòng yêu chuộng tự do. Đây không phải
là di sản của những nền văn minh khác, như văn minh Hồi giáo chẳng hạng(4).
Tội nghiệp, không phải chỉ một mình T.T Bush nói lịu đâu, xin đừng vội
thở dài buồn ông.
Hồi giáo không phải là một khối
nhất phiến, dĩ nhiên. Nhân loại có khoảng 1,2 tỉ người theo đạo Hồi.
Nhưng - chưa kể những dị biệt tông phái trong từng quốc gia, Hồi giáo của
Iran đâu có giống Hồi giáo Iraq, Hồi giáo Iraq không giống Hồi giáo Saudi
Arabia, Hồi giáo Saudi Arabia không giống Hồi giáo Pakistan, Hồi giáo Pakistan
không giống hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ, và Hồi giáo của Agfganistan hôm nay
loay hoay quyết phá sập mấy tượng Phật cổ ở Bamiyan đương nhiên là
khác với Hồi giáo ở Indonesia đang gìn giữ từng viên đá viên gạch của
Phật tích Borobudour gần Yogyakarta. Đọc quyển Vườn Hương của Shaykh
Nefzawi(5) có ai dám ngờ là có ngày mấy ông Taliban đối xử với phụ nữ
như những nô lệ đến mức đó? Cho nên, vơ đũa cả nắm bảo rằng thế
giới Hồi giáo nhất trí ủng hộ hành động khủng bố ở New York thì cũng
chẳng khác gì nói rằng thế giới Công giáo nhất trí ủng hộ các tòa
án dị giáo sắt máu thời Trung cổ ở Âu Châu, cuộc tàn sát ở Rwanda năm
1994 hay cuộc thánh chiến Tin Lành-Công giáo ở Bắc Ái Nhĩ Lan hôm nay.
Nhưng Hồi giáo ôn hòa hay Hồi
giáo cực đoan quá khích, Hồi giáo khủng bố hay Hồi giáo hiếu hòa có
điểm tối thiểu nào giống nhau không? Piers Akerman của tờ Daily Telegraph
ở đã Sydney đặt câu hỏi: Đâu là điểm khác biệt trong quan điểm của
những cư dân Hồi giáo ở Úc và quan điểm của đám Taliban hay dám làm
chuyện bạo tàn như thế?(6) Robert Fisk gián tiếp trả lời câu hỏi ấy
khi ông nói rằng đó là những người đều chia sẻ một cảm thức như
nhau đối với người Mỹ: nếu không chống ra mặt thì cũng không thật
lòng tin tưởng Mỹ, nếu không oán hận thì cũng có những điều muộn phiền
đối với Mỹ. Fisk giải thích: "... Tại sao có nhiều người Hồi giáo
ghét Tây phương đến như thế ... Vì gia đình họ cháy nát bởi bom đạn
của Mỹ làm ra. Họ nghĩ rằng trên đời này chẳng còn ai cứu giúp được
họ ngoài Thượng Đế. Thần học chống thần học. Ôm bom quyết tử để
chống lại quyền lực nguyên tử."(7)
Trong 13 năm bị Nga Sô trực tiếp
đô hộ từ 1979 đến 1992, người Afganistan một tay ôm AK do tiền Mỹ bỏ
ra mua cho, một tay ôm kinh Koran và đuổi được đạo quân viễn chinh sắt
máu của một đế quốc hùng mạnh nhất nhì thế giới khỏi lãnh thổ,
gián tiếp giúp cho Mỹ rửa được mối hận Việt Nam. Suốt thời kỳ chiến
tranh lạnh Cộng Sản-Tư Bản, Hồi giáo là khối mặc nhiên theo Mỹ một
cách keo sơn nhất trong khi Chính Thống giáo đầu hàng cộng sản Nga và
Yugoslavia, Công giáo đầu hàng cộng sản ở Đông Âu, Cuba, Bắc Việt và
hô hào theo Xã Hội chủ nghĩa ở Nam Mỹ. Người Hồi giáo -nhất là hạng
có học, làm thế nào quên được điều đó, làm thế nào không khỏi buồn
phiền thấy rằng không những Mỹ quên công lao, không đền bù tưởng thưởng
cho người bạn Hồi giáo đồng minh ý thức hệ, mà Mỹ lại chỉ lo bảo
vệ, nuôi dưỡng những chính phủ thiểu số độc tài tham lam ở Saudi
Arabia, Kuwait, Pakistan, Indonesia, Iran, Zaire, Somalia ... Chưa kể nỗi đắng cay
dai dẳng Do Thái-Palestine.
Do Thái có những đau khổ lo âu của
Do Thái ít người cảm thấu. Khổ nạn của Do Thái dưới thời Đức Quốc
Xã là niềm đau chung của loài người. Ý chí lập quốc của người Do Thái
là một hứng khởi cho những ai phải làm con dân lưu lạc của một quốc
gia bị đọa đày. Sự sống còn và an ninh của Do Thái hôm nay đang trở thành
một điểm bức xúc trong thế trận xung đối Hồi giáo và Tây phương Âu
Mỹ. Là một quốc gia chỉ khoảng 6 triệu dân, là một tôn giáo chỉ vỏn
vẹn 13 triệu tín đồ, thế nhưng Do Thái và Do Thái giáo đang trở thành một
điểm nóng bỏng lan khắp thế giới cách này hay cách khác. Đáng buồn lo
là điểm nóng đó đã cuốn hút và đốt cháy bao nhiêu tâm sức của người
Do Thái. Hồi nhỏ, Hoàng tôi rất thương bài Summer Time, nhất là qua cuốn
phim Mirage de la Vie (Imitation of Life?) với Lana Turner đẹp áo não. Chẳng hiểu
sao tôi cứ nghĩ tác giả bài nhạc ấy là một người nô lệ da đen, mãi
cho đến năm 1980 nói chuyện với một người bạn Mỹ trong trại tị nạn
tôi mới biết bản nhạc ấy là của một người Do Thái. Bất công với
tác giả thật. Chắc hẳn Hoàng tôi không phải là người duy nhất đã
quên những đóng góp lớn lao của người Do Thái lưu lạc cho nền nghệ
thuật, văn chương, khoa học, triết học của nhân loại. Những đóng góp
đó hình như đã ngày một thưa dần trong hàng ngũ những người Do Thái đã
rời bỏ chốn tạm dung để trở về cố quốc. Phải chăng vì bao nhiêu
tâm sức của họ đã không thể đổ dồn vào sáng tạo mà phải tập chú
vào cái đầu ruồi trên nòng súng?
Palestine -cũng như Do Thái, không
còn chỉ là một vấn đề của Á Rập hay Hồi giáo. Thật vậy, báo The
Guardian của Anh loan tin rằng 75 % người Palestine đã lên án cuộc tấn
công vào Mỹ ngày 11.9, và 89% người Palestine đã lên án cuộc tấn công
Afganistan. Nói thế khác, thế giới cũng như riêng người Palestine không hề
mù quáng trách hận Mỹ, Anh hay Tây phương. Không trách hận nhưng có những
điều khó hoàn toàn chấp nhận. Nhân danh những bất công đau nhục kéo
dài mà người Palestine đã và đang chịu. Như nỗi khổ của người Do Thái
trước ngày lập quốc, nỗi khổ của người Palestine cũng trở thành điểm
ray rứt lương tâm của nhân loại, của những người nghĩ rằng là người
thì phải "sống mỗi người một nhà, chết mỗi người một mồ."
Nhưng bức xúc hơn và đáng lo ngại hơn là Palestine đã trở thành nỗi
đau riêng của người Ả Rập đồng chủng, và nguy hiểm hơn nữa là đã
trở thành lý do sống động cho những người muốn lấy Hồi giáo làm ý
thức hệ chống Do Thái, chống Mỹ, chống Tây phương và những gì không
phải là Hồi giáo. Mấy tượng Phật cổ ở Afganistann là "nạn
nhân" điển hình của ý đồ chính trị vơ đũa cả nắm này.
Con Ruồi Giữa
Hai Con Bò Mộng
Osama bin Laden không phải là kẻ khủng
bố chống Mỹ sừng sỏ nhất thế giới, Al Qaida không phải là tổ chức
khủng bố duy nhất đáng gờm, và Taliban của Afganistan cũng không phải là
chính quyền duy nhất can tội "khủng bố" Mỹ.
Thật vậy, trước Osama bin Laden đã
có Abu Nidal, Carlos The Jackal, Sheik Fadlallah. Trước Muhammad Omar quốc trưởng
của Taliban đã có Qaddafi của Libya, Khomeini của Iran, Sadam Hussein của Iraq.
Trước Afganistan đã có Iran, Libya, Lebanon, Somalia, Yemen. Trước Al Qaida đã
có Hizbollah, Intifada, Mujahedeen, Jihad. Chưa kể những băng đảng khủng bố
tuy không trực tiếp nhắm vào Mỹ nhưng chắc chắn là không thương gì Mỹ
như Toàn Chân phái và Hồng Quân ở Nhật, Hồng Vệ Binh ở Ý,
Baaden-Meinhof ở Đức, Tamil Tiger ở Shri Lanka, IRA ở Bắc Ái Nhĩ Lan, nhóm
Abu Sayad ở Phi Luật Tân. Mấy ai quên được chuyện T.T Reagan đã điên đầu
gọi Qaddafi là "con chó điên vùng Trung Đông"?(8)
Mỹ là một văn minh non trẻ chỉ mới
200 năm như đang lâm vào thế con ruồi kẹt giữa hai con bò mộng già hơn cả
ngàn năm đó là văn minh Do Thái giáo và văn minh Hồi giáo. Do Thái giáo
của người Do Thái và Hồi giáo của người Palestine đều là hai tín ngưỡng
độc thần. Đặc điểm của độc thần giáo là tự cho mình gần Thượng
Đế nhất nên có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn kẻ khác. Vì là con cưng
của Thượng Đế nên cũng là kẻ trung thành đáng sống đáng sung sướng,
trong khi những ai không biết đến Thượng Đế đó đều bị coi là kẻ bội
tín ma qủy đáng phạt đáng chết.
Thế giới đã không có nước Mỹ
nếu ở Âu châu có thời tôn giáo và chính trị tách rời nhau, nếu tôn
giáo độc trị của Vatican không dùng chính trị như phương tiện để đàn
áp các giáo phái thiểu số bất phục khiến cho những giáo phái này phải
vượt biên lánh nạn. Cho nên, hơn ai hết, Mỹ là quốc gia thấy rõ sự cần
thiết phải phân tách thần quyền khỏi thế quyền, phải bảo vệ thế
quyền khỏi những khuynh loát lạm dụng của thần quyền. Thế đó mà nửa
thế kỷ qua, Mỹ lại kẹt vào vũng lầy Do Thái giáo-Hồi giáo là hai tôn
giáo chủ trương thế quyền và thần quyền là một, và hơn nữa thế quyền
chỉ là một phương tiện thực hiện thánh ý của thần quyền.
Mỹ trở thành một hậu cứ cho Do
Thái và Do Thái là căn cứ tiền phương của Mỹ giữa biển cát Hồi giáo
mênh mông ở Trung Đông. Trong khoảng thời gian 1964-1970, Mỹ đã đổ vào
Do Thái 221.782.000 MK vũ khí, gần gấp đôi số vũ khí đổ vào Iran và gấp
50 lần số bán cho Saudi Arabia vốn là đồng minh thân thiết của Mỹ thời
đó(9). Đã hẳn, người Palestine chẳng nhận được một viên đạn nào
mà cũng chẳng mua được một khẩu súng nào của Mỹ. Ở Mỹ có 5.600.000
người Do Thái xấp xỉ bằng dân số chính quốc, trong khi chính quốc Do
Thái chỉ có khoảng 4.500.000 người theo Do Thái giáo. Trăm dâu đổ đầu tằm,
mọi oán than thù hận của người Hồi giáo đều đổ lên đầu Mỹ, ít
ra cũng là từ ngày Do Thái lập quốc năm 1948 đến nay.
Palestine! Ôi,
Palestine!
Năm 1944 trước viễn tượng lấn
đất cắm dùi Do Thái- Palestine, T.T Roosevelt cam đoan với vua Ibn Saud của
Saudi Arabia rằng Mỹ sẽ không để cho dân Palestine mất một tất đất nào
vào tay Do Thái. Năm 1991, T.T Bush bố đã hứa hẹn cho Palestine "một ốc
đảo an bình" ở Trung Đông để ve vãn khối Á Rập ủng hộ Mỹ trong
chiến tranh chống Iraq. Thế đó mà năm 2001 Palestine trở thành tiếng trống
trận thúc đẩy những người muốn biến Hồi giáo thành một ý thức hệ
chống Tây phương và chống Mỹ.
Do Thái và Palestine đều nhận mình
là con cháu của Tổ phụ Abraham và Moses, đều tin vào một Thượng Đế toàn
năng mà Palestine gọi là Allah, Do Thái gọi là Jahweh hay Jehovah. Điều lạ lùng
trớ trêu là Thượng Đế toàn năng đó đã chỉ vùng đất Palestine hôm
nay cho những người Do Thái, và bảo họ rằng: Ngươi và con cháu ngươi là
dân tộc ta đã chọn để sinh sôi nảy nở nơi đây để làm sáng danh ta.
Trong khi cũng Thượng Đế toàn năng đó lại chỉ y nguyên phần đất
Palestine sỏi đá đó cho người Palestine và bảo rằng: Đây là quê hương
của ngươi, đứa nào láng cháng đến thì đuổi nó đi để làm sáng danh
ta. Cả người Do Thái lẫn người Palestine đều tin lời đó là thật cho
nên nhất quyết theo đúng lời Thượng Đế toàn năng dạy phải ăn miếng
trả miếng, mắt đổi mắt, răng đền răng bằng cách riêng và bằng phương
tiện riêng của mình. Cuộc xung đột Do Thái - Palestine trở thành cuộc chiến
giữa hai giáo chủ Moses và Mahomet, giữa thánh thư Talmud và Koran.
Palestine là vùng đất mà cả người
Do Thái, Hồi giáo và các hệ phái Thiên chúa giáo đều coi là thánh địa
của riêng mình. Đến thể kỷ thứ hai thì coi như không còn người Do Thái
nào hiện diện trên vùng đất đó nữa. Qua thế chiến 1914-1918, Palestine
thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và rồi bị Anh cướp mất mở đường kích thích người
Do Thái lưu vong bắt đầu trở về. Họ phải chiến đấu chống người
Anh để bám đất, và đồng thời với dân bản địa Palestine(10). Năm
1947, Liên Hiệp Quốc phân chia Palestine thành hai phần cho người Palestine và
Do Thái dưới quyền giám định của Anh. Năm 1948, Anh chém vè rút khỏi
Palestine. Người Do Thái lợi dụng khoảng trống đó tuyên bố thành lập
quốc gia Israel và bắt đầu xua đuổi người Palestine như những kẻ cư ngụ
bất hợp pháp khỏi quốc gia Israel, ngay cả những người Palestine ở trên
phần đất đã được Liên Hiệp Quốc phân chia cho họ năm 1947. Bốn triệu
người Palestine phải tha phương cầu thực khắp các quốc gia đồng đạo
vùng Trung Đông. Trong khi 750.000 người Palestine bị tống khỏi những vùng
đã được phân chia cho họ trở hành những kẻ không đất cắm dùi lui về
cố bám lấy vùng Tây ngạn sông Jordan và dải Gaza. Năm 1967, Do Thái lấn
vào hai vùng này và người Palestine bị dồn vào chân tường phải vùng
lên. Danh từ Intifada, Jihad bắt đầu được thế giới nhắc đến từ đó.
Cuối cùng Do Thái đã nhượng cho Palestine 17% vùng Tây ngạn sông Jordan và
60% dải Gaza. Người Do Thái tiếp tục dành đất, và hiện có 400.000 Do
Thái trên những phần đất thuộc quyền quản trị của Palestine. Trước
1967, mật độ chung Do Thái là 278 người trên một cây số vuông trong khi
ở dải Gaza, mật độ đó là 3138 người. Nguồn nước uống, những đường
thông thương ra biển, đa số công ăn việc làm và chuyện học hành của
Palestine đều do Do Thái kiểm soát. Kinh tế của Palestine giảm 1/3 trong giai
đoạn 1992-1996, số thất nghiệp lên đến 20%. Lợi tức đồng niên của
người Do Thái là 36.000 MK, cao gấp 12 lần cao hơn người Palestine trong khi
đó viện trợ Mỹ hàng năm cho Do Thái là 1000 MK cho mỗi đầu người, ở
các nơi khác vùng Phi Châu 6 MK cho mỗi người. Năm 1991, Cộng Sản sụp đổ
cộng thêm chiến tranh với Iraq, liên minh Mỹ-Hồi giáo hình thành nhưng rồi
các đồng minh Hồi giáo của Mỹ đã dần dần rút lui vì Mỹ không giải
quyết xong những đau khổ của Palestine và Iraq.
Khốn Đốn Vì Dầu
Hỏa
Dầu càng ngày càng trở thành nhu yếu
nhất là sau khi Tây phương dùng dầu thế than đá. Nhưng Mỹ và Tây phương
chỉ sản xuất được 20% dầu tiêu dùng, 80% còn lại phải lệ thuộc vào
các nước khác, nhất là Trung Đông. Hai phần ba dầu khí cung cấp cho Tây
phương đi qua vùng này, và đây cũng là vùng chất chứa khoảng 1/2 trử lượng
dầu của thế giới đã được khám phá, chưa kể số lượng dầu của các
cộng hòa trong liêng bang sô viết cũ quanh đó.
Có thể nói G.W Bush là Tổng Thống
của kỹ nghệ dầu hỏa và khí đốt. Bush là một triệu phú nhờ dầu
khí. Kỹ nghệ dầu khí tài trợ cho cuộc tranh cử của Bush khoảng 100 triệu.
Phó T.T Dick Cheney là Bộ Trưởng Quốc Phòng của T.T Bush bố, trong thời
gian Mỹ đánh nhau với Iraq để dành quyền kiểm soát dầu hỏa và khí đốt
quanh Vùng Vịnh. Năm 1992 Bush bố thất cử, Cheney về làm cho hảng
Halliburton, hệ thống bán xăng dầu lớn nhất hế giới. Cheney cũng có
chân trong ban giám đốc đại công ty TRW chế tạo khí giới.
Trong năm 2000, số lời của các đại
công ty dầu khí là 80 tỉ, trong đó Exxon Mobil của Mỹ chiếm 34 tỉ. Exxon
bị các nhà bảo vệ môi sinh tố cáo là chủ chốt trong vụ phá hoại Hiệp
định thư Kyoto. Tổ chức The International Labor Rights Fund đang truy tố Exxon
Mobil ra trước tòa án Mỹ về tội yễm trợ lực lượng an ninh Indonesia
ở Aceh trong chiến dịch tàn sát phe đấu tranh đòi tự trị cho Aceh. Exxon
bị cáo là để bảo vệ công việc khai thác khí đốt ở vùng này, Exxon
đã tiếp tay với lực lượng an ninh Indonesia trong việc đào các mồ chôn
tập thể, cũng như việc xây cất các trung tâm giam giữ và thẩm vấn.
Chevron mới sát nhập với Texaco,
là một công ty lớn khác của Mỹ. Chevron có nhiều quyền lợi ở Nigeria
và Saudi Arabia. Chevron là công ty hưởng lợi khi Bush chấp nhận cho khai thác
dầu ở vùng hoang dã Alaska.
Đế quốc Nga Sô tan rã, Mỹ và
Tây Âu cũng như Trung Hoa, Ấn Độ đều tìm cách bành trướng ảnh hưởng
và thế lực vào các quốc gia quanh biển Caspian. Để tranh phần sản phẩm
chiến lược là dầu hỏa và khí đốt. Ngay từ tháng 9 năm 1997, tờ New
York Times đã tiết lộ: Khối lượng tài nguyên cô đọng nhất chưa được
khám phá được biết là ở trong những vùng chứa dầu hỏa và khí đốt
dưới lòng biển Caspian và những vùng đất quanh biển đó. Những cập lụy
chiến lược của cuộc khám phá bất ngờ này đã làm hết hồn hết vía
các nhà hoạch định chiến lược an ninh Tây phương cũng như đã khiến
cho mấy ông chủ hãng xăng dầu phải xiêu hồn bạt vía. Những công ty dầu
khí đa quốc đã hoạch định kế hoạch thiết lập những ống dẫn từ các
vùng dự trữ này đến Âu châu ngang qua vùng Balkans. Tờ báo này cũng ước
tính tài nguyên đó trị giá khoảng 6.000 tỉ MK.(11)
Điều may và cũng là điều khốn nạn
cho Afganistan là Afganistan ở ngay cửa ngỏ dẫn vào khu vực biển Caspian và
những quốc gia quanh vùng biển này như Azerbaijan, Kazakhstan, Turmenistan. Cho nên
Afganistan đã kẹt vào thế tranh giữa Mỹ, Nga, Trung Hoa, Ấn Độ và
Pakistan trong việc khai thác và chuyển vận dầu khí từ biển Caspian và
các vùng chung quanh đến Hắc Hải, Địa Trung Hải qua Thổ Nhĩ Kỳ, đến
Vịnh Á Rập qua Iran, Pakistan và Afganistan, và theo đường bộ đến Iran,
Ấn Độ, Pakistan, Trung Hoa, Nam Cao Ly rồi Nhật.(12)
Năm 1997, công ty Unocal của Mỹ bắt
đầu thương lượng với Taliban để xây một hệ thống ống dẫn qua
Afganistan chuyển vận dầu khí từ Turkmenistan, qua Afganistan xuống tận
Pakistan ra biển và xâm nhập thị trường vĩ đại của Ấn Độ. Dự án
này được hai bên thoả thuận vào tháng 1.1998 nhưng rồi bị bỏ dở vì
tình hình không thuận lợi. Sau đó Mỹ lại tính thiết lập một hệ thống
ống dẫn dầu khí về hướng Tây từ Kazakhstan qua biển Caspian đến
Azerbaijan xuyên qua Hắc Hải đến vùng Balkans. Một trong những lý do chính
khiến NATO oanh tạc Yugoslavia tưng bừng năm 1999 cũng là vì thiên hạ muốn
cho vùng này yên ổn để vững bụng ăn làm, bất kể chế độ nào, bất
kể tôn giáo nào.
Liên Hệ Chính
Trị-Quân Sự-Doanh Thương
Các báo Việt ngữ loan tin một triệu
phú gốc Việt ở Mỹ đã cúng cho quỷ ủy lạo nạn nhân New York và Ngũ
Giác Đài hai triệu MK, một vài tổ chức khác cũng hồ hởi gây quỹ ủy
lạo. Không biết có đại công ty Mỹ gốc Mỹ nào góp gì cho chiến dịch
ủy lạo này không? Năm ngoái, kỹ nghệ dược phòng ở Mỹ đã lời 13.5 tỉ
MK. Các công ty dược phẩm sản xuất trụ sinh chống Anthrax có giảm giá
các khế ước sản xuất không, có đóng góp đồng nào cho quỹ ủy lạo nạn
nhân New York và Ngũ Giác Đài không?
Quan hệ chính quyền, các đại công
ty và các tướng lãnh là một quan hệ thiết thân còn hơn ruột thịt.
Thomas Friedman từng chua chát bảo rằng cánh tay bí mật của thị trường sẽ
không bao giờ hoạt động hữu hiệu nếu không có quả đấm bí mật. Đã
có McDonald thì phải có công ty chế tạo vũ khí McDonnnell Douglas, đã có
Silicon Valley sản xuất điện toán thì phải có lục quân, không quân, Thủy
Quân Lục Chiến.
Trong cuộc tấn công vào Afganistan,
ba thứ vũ khí được nhắc đến nhiều nhất là oanh tạc cơ tàng hình
B-2, hỏa tiễn Tomahawk, và chiến đấu cơ JSF - Joint Strike Fighter, tức loại
phản lực có thể lên xuống như trực thăng. Không lực Mỹ có một phi đội
20 chiếc B-2 do công ty Northrop Grumman sản xuất với giá 2.6 tỉ MK một chiếc.
Raytheon chế tạo Tomahawk với giá 600.000 MK một chiếc. Trong ngày đầu oanh
tạc Afganistan Mỹ đã tiêu 30 triệu riêng cho hỏa tiễn Tomahawk thôi.
Lockheed Martin vừa trúng thầu 200 tỉ MK để sản xuất chiến đấu cơ JSF
cho cả không lực Mỹ và Anh. Sau biến động 11.9, giá cổ phần của
Lockheed Martin tăng hơn 30% và Lockheed Martin vừa cho biết là lợi nhuận
trong quý 3 năm 2001 của công ty là 213 triệu MK. Lockheed Martin là công ty chế
tạo vũ khi lớn nhất thế giới. Khối NATO, các nước Đông Âu, Do Thái
và Saudi Arabia là khách hàng chính của công ty này.
Ngoài các công ty đó ra còn phải kể
TRW và Boeing. Thương số của Boeing là 100 tỉ mỗi năm, khách hàng chính của
Boeing là Trung Hoa và Saudi Arabia. Tất cả đại công ty vừa kể chắc chắn
sẽ ăn ra làm nên nếu chương trình Star Wars được thực hiện. Đây là
lý do tại sao tất cả công ty này đều ủng hộ T.T Bush đẩy mạnh cuộc
chiến vào Afganistan và những nơi mà T.T Bush gọi là những nước làm loạn.
Quan hệ thiết cốt chính trị,
quân sự và đại kỷ nghệ này đã được Tướng Smedley Butler nói rõ như
sau: Tôi đã tích cực phục vụ trong binh chủng TQLC 34 năm tròn. Trong thời
gian đó, tôi đã hầu như dốc hết tâm sức phục vụ các doanh nghiệp lớn,
phục vụ Wall Street và các ngân hàng ... Tôi đã tiếp sức làm cho Mexico
thành một nơi an toàn cho các quyền lợi dầu hỏa của Mỹ năm 1914. Tôi
đã giúp biến Haiti và Cuba thành nơi ổn cố cho City Bank thu tiền lời ...
(13). Tướng Smedley Butler là sĩ quan cao cấp từng chỉ huy nhiều chiến dịch
bình định các quốc gia Trung Mỹ để bảo vệ cho quyền lợi của các
doanh gia Mỹ hồi đầu thế kỷ này. Ngoài những chiến công vừa kể, ông
còn là thần giữ của cho ngân hàng Brown Brothers ở Nicaragua thời gian
1909-1921, bảo vệ quyền lợi về đường của Mỹ ở Cộng Hòa Dominique năm
1916, và các công ty chuối của Mỹ ở Honduras năm 1903.
Có điều gì tương đồng giữa công
trạng đánh Đông dẹp Bắc của Tướng Butler hồi đầu thế kỷ và các
chiến tướng của Mỹ như Tư Lệnh Westmoreland trong chiến tranh Việt Nam,
Tư Lệnh Schwarzkopt trong chiến tranh Vùng Vịnh và Tư Lệnh Tommy Franks trong
chiến tranh Afganistan hôm nay?
Làm Gì Để Chống
Khủng Bố?
Trong cơn quốc biến hôm nay, chính
quyền của T.T Bush muốn vùng vẫy cũng gặp phải nhiều giới hạn, đặc
biệt là ba giới hạn sau đây. Thứ nhất, quyền lợi và ảnh hưởng của
Mỹ ở Trung Đông nhất là Vùng Vịnh hay Biển Á Rập. Thứ hai, số Do
Thái có quyền lực ở Mỹ nơi mà số người Mỹ gốc Do Thái còn đông hơn
là dân số của chính quốc Do Thái và họ lại không phải là những người
nghèo khó thất nghiệp thất học. Thứ ba, quan hệ gắn bó sinh tử giữa
chính quyền-kinh tài- quân sự. Quân sự lệ thuộc vào chính quyền, chính
quyền lệ thuộc vào tài phiệt, và tài phiệt lê thuộc vào lợi nhuận
hay đồng tiền. Đồng tiền là chúa tể. Những quyết định chính trị
có khi chỉ là tiếng vang của những toan tính tài lợi của phe nầy nhóm
khác mà thôi. Ví dụ như trong cảnh dầu sôi lửa bỏng hiện nay, Hạ Viện
Mỹ đã thông qua một dự luật nói là để kích động nền kinh tế đi tới
bằng cách bơm thêm vào thị trường 100 tỉ MK. Điểm chính của dự luật
này là giảm thuế. Nhưng ai là thành phần hưởng lợi nhiều nhất nhờ biện
pháp này? Giới nghiệp đoàn Mỹ thở than rằng 90% số thuế được cắt
giảm sẽ lọt vào tay các đại công ty và nhà giàu. IBM sẽ được bồi hoàn
1.4 tỉ và 13 công ty cở lớn khác mỗi công ty sẽ được hưởng 100 triệu
thuế bồi hoàn. Giới thợ thuyền cũng than là Quốc Hội vừa châm cho kỹ
nghệ hàng không 15 tỉ mà đâu có ngăn được các công ty hàng không thải
hồi 140.000 nhân viên.
Sở dĩ chính sách đối ngoại của
Mỹ lùng bùng khốn tới khốn lui đó cũng là vì áp lực tròng tréo của
những điều vừa kể. Đây là điều gây ra những hiện tượng ngoài ý muốn
trong chính sách đối ngoại của Mỹ, gọi là hiên tượng backflow hay
blowback, tương tự như hiện tượng "ống cống nghẹt" trồi nước
dơ trở lại. Có lẽ cũng vì hiện tượng ống cống nghẹt đó mà một số
những đồng minh Á Rập của Mỹ cuối cùng đều phản Mỹ như Iran năm
1979, Libya năm 1981, Lebanon năm 1983, Iraq năm 1991. Osama bin Laden và nhóm
Taliban cũng là một đặc sản trong chính sách đối ngoại của Mỹ, do Mỹ
huấn luyện, nuôi dưỡng, tài trợ để chống Nga Sô. Những người mà T.T
Bush con hôm nay gọi là quỷ dữ - eveil, lại cũng chính là những người mà
T.T Reagan và T.T Bush bố trước đây từng ca tụng là những chiến sĩ của
tự do - freedom fighters.
Tôi thông cảm nỗi lo sợ âm thầm
sâu kín của T.T Bush khi nghĩ đến hoàn cảnh chua chát của thân phụ. Năm
1992, T.T Bush bố chiến thắng vẽ vang trên chiến trường Vùng Vịnh nhưng
thất bại trên mặt trận kinh tế nên phải ê chề nhường ghế Tổng Thống
lại cho Clinton. Mỗi quyết định hôm nay của T.T Bush hẳn đều phải cân
nhắc qua kinh nghiệm đau đớn đó. Ông thận trọng là phải. Nhưng trách
nhiệm của ông không phải là dậm chưng tại chỗ hay hoảng loạn thụt lùi,
trách niệm của ông là dẫn nước Mỹ đi tới, để nước Mỹ dẫn nhân
loại đi tới. Muốn vậy thì ông phải biết nước Mỹ hiện đang đứng
ở đâu? Trước nấm mồ vĩ đại trên vùng bình địa ở New York, câu hỏi
mà ai cũng nghĩ tới, và ai cũng cố tránh không thốt ra đó là Tại Sao? Tại
sao Mỹ bị một số người thù ghét đến như thế? Hỏi như vậy tức là
hỏi nền văn minh, văn hóa Mỹ có gì cần thay đổi không? Và tại sao phải
thay đổi?
Đối ngoại không chỉ có cây gậy
và củ cà rốt mà phải có lòng nữa. Có uy thì cũng phải có ân. "Đại
nghĩa" mới thắng được "hung tàn", đó là bài học của tổ
tiên người Việt ước mong chia xẻ với người Mỹ. Mỹ là quốc gia giàu
tiền giàu bạc nhất thế giới. Có tiền mua gì cũng được, ngay cả
tương lai(14). Đây là cơ duyên cho T.T Bush và dân chúng Mỹ nghĩ đến chuyện
"mua" một tương lai tốt đẹp hơn cho mình và cho cả nhân loại.
Mua tương lai là một dự án vĩ đại, mua được là một thành tích vĩ đại
vậy.
Nhân loại không thiếu gì những nền
văn minh, những đế quốc thịnh trị nhưng rồi đã tàn lụi vô phương cứu
chữa. Một phần vì thiên tai quá ác liệt, một phần vì nhân họa quá bạo
tàn, nhưng phần khác cũng vì chủ nhân của những nền văn minh và đế quốc
đó đã không tiên liệu và đổi thay thích ứng kịp thời để đối phó
với những hoàn cảnh nghiệt ngã. Mỹ là nước tự do dân chủ đầu đàn.
Dân chủ tự do đó chính là cái gối đệm, cái ống nhún thuận lợi lớn
lao của Mỹ, nhờ đó mà nếu cần quặn mình thay đổi, nếu cần nhảy vọt
để tiến lên thì người Mỹ cũng bớt lo là hụt chân cụp lưng u đầu xể
trán hay vong mạng.
Có người thì cũng phải có ta, có
ta nhưng cũng phải có người. Nước Mỹ đang đối diện với tình trạng
tiến thối lưỡng nan cục bộ và toàn cầu, quốc gia và quốc tế. Nước
Mỹ giàu có cường thịnh nhờ thị trường chứng khoán và các định chế
kinh tài liên hệ mà hình như lại quên một điều là các định chế kinh
tài này đã thực tế xóa mất những biên giới quốc gia. Một mặt người
Mỹ bỏ tiền ra thu mua tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, dầu khí, lao động
chân tay và trí óc khắp nhân loại về cho mình, một mặt cứ lầm bầm
God bless America! God bless America! chứ không phải God bless the world! God bless
the whole world! và thuyết phục thiên hạ ăn MacDonald, uống coca-cola, hút
Lucky, đi giày Nike, dùng Microsoft Word 2000, và xem những phim do ủy ban Oscar
tuyển chọn cho. Điều thứ hai cũng đáng cho người Mỹ phải suy nghĩ đó
là nền an ninh quốc phòng Mỹ chỉ là của thời chiến tranh lạnh, có
biên cương, có quốc gia thù nghịch, có mặt trận, có mục tiêu chiến lược
chiến thuật hẳn hòi, trong khi cái gọi là "khủng bố" là một thứ
chiến tranh không biên giới, bạn thù lấp lững, chiến hòa bất minh. Đối
thủ của Mỹ muốn gì qua vụ tấn công New York và Ngũ Giác Đài? Mỹ nhắm
đến cái gì khi vừa oanh kích Afganistan vừa treo đầu bin Laden với giá 50
triệu MK, vừa cho biết độc khuẩn Anthrax là một thứ homemade -nghĩa là
không phải nhập cảng từ Afganistan, Iran hay Iraq vào? Qua cuộc chiến chống
khủng bố này, đến lúc nào, với điều kiện nào thì người Mỹ mới cảm
thấy an toàn như trước ngày 11.9.2001?
Sau ngày 11.9, không biết bao nhiêu
phim Hollywood hoàn thành sắp tung ra thị trường thì đã tự ý đình lại.
Có thể nói đây là lần đầu tiên nước Mỹ tự ý kiểm duyệt vì lương
tâm tự giác và hối hận chứ không phải vì nhu cầu an ninh quốc phòng
hay chống khủng bố. Lần đầu tiên một số người Mỹ biết tự vạch một
biên giới minh định tự do đến mức nào là đủ, vượt mức nào là quá
đáng?
Mức giới hạn trong phạm vi nghệ
thuật điện ảnh đó có thể đặt ra tương tự cho những đại nạn khác
như tự do mua giữ súng đạn, ma túy, bạo động, thụ hưởng và phung
phí, tính dục luông tuồng, tôn giáo qủy quái, thờ ơ với đồng bào đồng
loại ... không? Nấm mồ vô danh vĩ đại ở New York đã đủ cho người ta
tự hỏi tài lợi có phải là mục tiêu của hiện hữu không? và có nên
đặt lợi lạc lên trên những giá trị nhân sinh khác không? Có nên lấy
việc bán vũ khí làm phương tiện kinh doanh không?
Phải chăng đã đến lúc phải xét
lại câu nói thời danh của Franklin Roosevelt: Hắn là một thằng chó đẻ,
nhưng là thằng chó đẻ của chúng ta(15). Xét lại câu nói đó để khỏi
mang tiếng ủng hộ những người anh em độc tài khát máu như Sadam Hussein,
Shah hoàng, Slobodan Milosevic, Noriega, Suharto?
Phải chăng đã đến lúc xóa lần
nợ cho những nước nghèo và biến viện trợ quân sự thành viện trợ
kinh tế cho những nước nghèo và cho chính dân nghèo trong nước Mỹ?
Bình tâm nghĩ lại thì những câu hỏi
ấy là nỗi ưu tư không phải chỉ của người Mỹ hữu tâm mà là của
nhiều người, trong đó có Thầy Nhất Hạnh vậy.
Thầy Nhất Hạnh
và Những Người Thích Uống Thuốc An Thần
Đối với một số người Mỹ, nhất
là mộ số những đồng hương của tôi ở Mỹ, tốt hơn hết hình như là
đừng nói gì về vụ khủng bố 11.9 cả trong lúc này. Sự thật là điều
đáng quý, nhưng có những lúc người ta không đủ can đảm để chấp nhận
sự thật.
Thảm trạng 11.9.2001 là điều một
số đồng hương của tôi ở Mỹ không muốn nghĩ tới và không dám nghĩ tới.
Lý do là vì họ cuống cuồng di tản, tất tả vượt biên thập tử nhất
sinh đến "thiên đường hạ giới", cày ngày cày đêm mới được
như hôm nay, đời nào họ muốn có khủng hoảng lộn xộn để họ bị mất
việc, để nhìn thấy giá cổ phần của mình đang tan tành mây khói, để
thấy quán hàng, dịch vụ của mình thưa thớt ế ẩm, để trơ mắt nhìn
chủ nợ xiếc nhà xiếc xe vì nợ không trả nổi. Họ đến đây không phải
để mà sợ đi máy bay, sợ đi tàu hỏa, sợ dùng nước máy, sợ đến chỗ
đông người, sợ nhận thư mở thư, sợ bệnh than bệnh đậu mùa bệnh
ebola, sợ computer bị virus, sợ mấy chiếc ATM làm reo không cho rút tiền. Từ
hôm 11.9.2001 đến nay, số tiền số quà gửi về quê nhà giảm xuống hẳn.
Họ không muốn nghĩ đến chuyện phải liên lạc về Việt Nam để thở
than xin ủng hộ như thân nhân của họ từ Việt Nam đã thở than xin viện
trợ bao nhiêu năm qua. Họ không muốn nghĩ đến chuyện chẳng đặng đừng
khiếp hoảng quá phải "bỏ ra sáu cây" vượt biên lần nữa. Cho
nên, họ không muốn nghe nói đến chuyện khủng bố, hoặc bất đắc dĩ
phải nghe thì họ chỉ muốn nghe những chuyện không làm cho họ phải suy
nghĩ, ngay cả suy nghĩ chuyện ... con bò trắng răng.
Hạng thứ hai, không muốn nghe chuyện
nghịch nhĩ đau đầu không phải vì sợ vượt biên lần nữa nhưng là vì
đầu óc đã bị đông lạnh, tâm tư đã bị hóa thạch, họ không thể nghĩ
một cái gì khác, không thể nhận một cái gì mới ngoài những cái mà họ
đã nhận được suốt mấy chục năm nay qua những cuộc tẫy não hoán não
của sinh hoạt cộng đồng, cầu nguyện, sách báo, radio, tivi, rĩ tai đàn
đúm hội đoàn, náo nhiệt đa nguyên nhưng thực tế chỉ do một thiểu số
treo đầu heo bán thịt chó, xúi trẻ bốc cứt gà, lợi dụng kẻ khác làm
ngựa cho mình cưỡi để phục vụ cuồng vọng cá nhân hay những ý đồ tôn
chính quốc tế. Họ chạy trốn "cộng sản" độc tài thì lại gặp
phải "cộng đồng" độc tôn độc thiện do chính đồng hương gây
ra. Họ là nạn nhân điển hình của thảm họa "tị nạn hại thuyền
nhân".
Thứ ba là hạng của một số người
hoặc nặng tình ân nghĩa, hoặc xu phụ, bảo hoàng hơn vua, cảm thấy đây
là cơ hội phải trả nợ cho những người từng cư mang họ qua các chương
trình Hè 64, chương trình CPS, chương trình Du Ca, chương trình Xây Dựng
Nông Thôn, chương trình trí thức vận JUSPAO, Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Ái
Quốc, chương trình ODP, chương trình HO. Nuôi quân ba năm, dùng quân một giờ,
đây là cơ hội cho một số đồng hương thuộc các "diện" này trả
nợ áo cơm, dù phải giả câm giả điếc, dù phải trấn áp lý trí, dù phải
bẻ cong ngòi bút.
Ba hạng đồng hương vừa kể là
những người chỉ thích thuốc an thần. Họ không muốn nghe nói đến chuyện
khủng bố, hoặc bất đắc dĩ phải nghe thì họ chỉ muốn nghe T.T Bush
nói, bất đắc dĩ cần nói thì phải nói như T.T Bush thôi. Để họ khỏi
phải suy nghĩ gì cả, vì họ biết có suy nghĩ thì cũng chỉ lo như lo con bò
trắng răng.
Thầy Nhất Hạnh chỉ hớ một câu:
"300 ngàn nóc gia ở Bến Tre" mà đã vô tình gây nên một trận
bão trong khạp nước. Nếu Thầy cũng nói hớ, nhưng không hớ lên mà lại
hớ xuống ví dụ như 30, 300 hay cả 3000 nóc gia ở Bến Tre thay vì 300 ngàn
thì những người ồn ào chống Thầy mấy hôm trước đây chắc đã vái
Thầy làm Vô Thượng Sư rồi!
Chuyện phải san Bến Tre thành bình
địa để cứu Bến Tre trong Tết Mậu Thân là chuyện có thật. Nguyên văn
câu nói do miệng một Thiếu Tá Mỹ đó là "It became necessary to destroy
the town to save it."(16) Chuyện này do Peter Arnett của hãng thông tấn AP
độc quyền khui ra. Arnett là người đầu tiên loan tin Toà Đại Sứ Mỹ
ở Saigon đã bị cọng sản chiếm đóng một phần trong Tết Mậu Thân.
Arnett là một trong những ký giả có tên trong sổ bìa đen của giới chức
thông tin Việt Mỹ như David Halberstam vì những bài viết về cuộc đàn áp
Phật giáo, Malcolm Browne vì những bức ảnh Quảng Đức tự thiêu, Eddie
Adams vì bức ảnh chụp một Tướng Việt Nam kê súng bắn vào đầu một tù
binh đang bị trói thúc ké, và Seymour M. Hersh vì phanh phui vụ Mỹ Lai 4.
Chuyện Bến Tre là một chuyện có
thật, nhưng đó là một sự thật quá nặng nề đối với lương tâm của
một số người. Thầy Nhất Hạnh cũng từng cảm thấy sức ép đó nhưng
khác với những người khác là Thầy đã xả được. Bằng thơ, bằng những
hồi kinh, những lời khấn nguyện như ở New York vừa qua. Tiếng nói của
Thầy không phải đơn điệu lạc lõng. Tiếng nói của Thầy hòa trong một
biển tiếng nói đồng điệu ... Thật vậy, trong lúc New York đang còn khói
bụi mịt mù thì đã có hàng chục ngàn người biểu tình dương cao khẩu
hiệu: New York: xin đừng nhân danh chúng tôi (NY: Not in our name), Mắt đổi mắt
và toàn thế giới sẽ mù (An eye for an eye and the whole world is blind), 4000 người
ở Berkeley tham dự lễ cầu nguyện với khẩu hiệu: Đừng biến thảm kịch
thành chiến tranh (Don't turn a tragedy into a war), 10.000 người diễn hành phản
chiến ở Washington, 1000 sinh viên đại học Iowa biểu tình chống chiến
tranh, 300 người vừa Do Thái vừa Á Rập dẫn đầu cuộc tuần hành cầu
nguyện tại Oakland, San Francisco với 10.000 tham dự trong đó ca sĩ Michael
Franti của ban nhạc Spearhead đã tuyên bố: Chúng ta cần tham giai một cuộc
chiến chống chiến tranh (We need to be in a war against war). 50 ngàn biểu tình
ở London, 100.000 ở Ý, 3000 ở Sydney, 1500 ở Adelaide, 1000 ở Melbourne, 300
ở Brisbane, 150 ở Canberra, 100 ở Perth. Chưa kể Pakistan, Nam Cao Ly, Nigeria với
200 bị lực lượng an ninh bắn chết. Chưa kể lời kêu gọi ôn hòa của
Đức Giáo Hoàng, của Đức Đạt Lai Lạt Ma, của Jessie Jackson ... Đó là
những ngày qua, chưa kể những ngày tới.
* * *
Cách nào đi nữa thì nước Mỹ
cũng không còn là nước Mỹ trước ngày 11.9.2001 nữa. Chấp nhận những
quặn mình nhức nhối hôm nay để nhìn vào một ngày mai có mình có ta,
hài hòa, công chính thì vẫn hơn là gậm nhấm những bực tức, thất vọng,
lo âu, tiếc nuối để hận mình, hận người và bám vào những ảo tưởng
đã hiện hình thành ảo tưởng.
- Hoàng Nguyên Nhuận
- Phong Trang 1.11.2001.

Ghi Chú:
1- Bob Woodward - Veil: The Secret Wars of
the CIA, Simon Schuster, London 1987.
2- The enemy has identified itself openly
and in public. Our delicate sensibilities have prevented us from pronouncing its name. Its
name is radical Islam.
3- It is a war, between the civilised
world and fanaticism ... There are people who will stop at nothing.
4 - We are proudly conscious that ours is
a superior civilisation. We must be aware of the strength of our civilisation, of all the
conquests we've made and of the love of freedom itself. This is not a heritage of other
civilisation such as Islam.
5- Shaykh Nefzawi - The Perfumed Garden,
Sir Richard Burton dịch ra tiếng Anh, Connoisseur Publishing Company, Ohio.
6- How do Muslim residents in Australia
differ in their view from those of the Taliban or others capable of ordering these
atrocities?
7- Why so manyMuslim had come to hate the
West ... Their families burnt by American-made bombs and weapons. They talked about how no
one would helpe them but God. Theology vs theology, the suicide bomber against nuclear
power.
8- Harry Gregory - Khadaffy, PaperJacks,
NY 1986.
9- Charles A. Kupchan - The Persian Gulf
and the West , Allen & Unwin, Boston1987.
10- Giới Tử - Đôi Mắt Đã Hớp Hồn
Tôi, Chuyển Luân số 9.
11- The most concentrated mass of untapped
wealth known to exist anywhere is in the oil and gas field beneath the Caspian Sea and the
lands around it. The strategic implications of this bonanza hypnotic Western security
planners as completely as the finances transfix oil executives. Leading oil multinationals
were making plans for new pipelines that would connect theses reserves to Europe through
the Balkans."
12- Tad Tietze - Bush's Real War Aims,
Socialist Workers 5.10.2001.
13- I have spent 34 years in active
service as a member of the Marine Corps. And during this period I spent most of my time
being a high class muscle man for big business, for Wall Street and for the bankers ... I
helped make Mexico safe for American oil interests in 1914. I helped make Haiti and Cuba
decent place for the national City Bank to collect revenues.
14- Anthony Sampson - The Midas Touch,
Coronet Bo oks, London 1989.
15- He is a son of bitch, but he is our
son of bitch.
16- Don Oberdorfer - TET!, A Da Capo
Paperback 1984.
Home