-
Vài
lời của Giao Điểm:
Trong quý đầu của năm 2002,
trong lúc ở hải ngoại chiến dịch chống chính phủ ‘Việt cộng’ ‘bán
đất biên giới, lãnh hãi’ cho Trung cộng đang lúc cao trào, trang nhà GĐ
đã đăng tãi các bài tham luận của Bàn Tân Định, ký sự của Văn Khoa,
ý kiến của Nhật Nam gây rộn ràng thích thú trong dư luận độc giả. Bất
ngờ ngày 29/8/2002 vừa qua, nhật báo điện tử Nhân Dân trong nước chính
thức công bố Hiệp ước về biên giới, lãnh hải được ký kết vào
ngày 30/12/1999 giữa hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc và Nghị Quyết của
Quốc Hội VN phê chuẩn Hiệp ước Biên giới ký ngày 09/6/2000. Những người
chống cộng ở hải ngoại ngỡ ngàng, cụt hứng, chứng tỏ những việc
đấu tranh của họ có nhiều bất túc, thiếu nghiên cứu sâu sát. Nhưng
qua các việc làm ấy đã bộc lộ tinh thần tha thiết với đất nước, dân
tộc của người Việt hải ngoại rất cao. Với tinh thần này, chúng ta tin
tưởng vào sự đoàn kết dân tộc để vận động tinh thần Hội nghị Diên
Hồng lịch sử lần thứ hai khi cần, không phải là chuyện khó. Lần này
Giao Điểm xin giới thiệu bài báo của giáo sư Nguyễn Khắc Viện (1979) với
lời bàn của Nhật Nam (2002) vẫn còn chuyên chở tính chất thời sự nóng
bỏng của nó.
CON ĐƯỜNG LỊCH SỬ HÀ NỘI – LẠNG
SƠN
19-4-1979 – Thành phố Lạng Sơn vắng vẻ, bọn
Trung Quốc rút đi đã phá hầu hết những tòa nhà quan trọng. Chúng không
chiếm được toàn bộ thành phố, và cũng chỉ vào được trong ba ngày, ba
ngày luôn luôn bị quân ta phản công, nhưng cũng đủ thì giờ để chúng
biến Lạng Sơn thành một nơi hoang tàn. Cảnh Lạng Sơn rất nên thơ với
những hàng cây long não đã già, một khung cảnh núi bao bọc, núi đá vôi
dựng đứng với nhiều hang động, chen giữa những đồi đất đỏ thoải
mái; khắp nơi đồi nào cũng mang trên mình những vệt dài, như những mạchmáu,
đó là những chiến hào bà con đã đào từ mấy tháng nay.
Sông Kỳ
Cùng nước trong xanh, hai bờ khá cao; chúng đã phá sập cầu ô tô và hỏa
xa, đồng bào phải gánh gồng lội qua sông, may mà chưa đến mùa mưa. Qua
sông là phố Kỳ Lừa, và hai động Tam Thanh Nhị Thanh; chúng cho bộc phá
hang động, chỉ vì đây là những nơi mà nhân dân Việt Nam thường nhắc
nhỡ, còn về quân sự thì chẳng có ý nghĩa gì. Cũng như chúng đã phá
tan di tích Pác Bó. Nhớ lại chỉ thị của vua Minh cho Trương Phụ phải hủy
sạch sách vở và các di tích văn hóa để người Việt Nam quên hết cả
nguồn gốc truyền thống dân tộc.
Qua bờ bắc
sông Kỳ Cùng, đường xe lửa bị bóc, cầu cống sụp đổ, đường ô tô
lâu lâu lại mang những lỗ sâu hoắm do pháo gây ra. Hai bên đường một số
thanh niên các bản làng đã trở về chăm sóc đồng ruộng, người già và
trẻ con còn phải ở lại dưới xuôi. Đồng Đăng: nhà ga và thị trấn đầu
tiên tiếp đón khách từ xa đến Việt Nam hay Việt kiều về nước bằng
xe lửa. Nhà ga tan tành, thị trấn hoàn toàn vắng người, từ đó đến biên
giới là trận địa, là no man’s land.
Vào đồn công
an vũ trang. Gọi là đồn, thực ra là nhà một đồng bào gia đình đã sơ
tán. Chúng tôi ngỏ ý muốn đến tận cửa quan Hữu Nghị quay phim. Nói đến
mấy chữ Hữu Nghị quan chúng tôi không khỏi trầm ngâm. Ngày xưa các
hoàng đế Trung Quốc ngạo mạn gọi là Trấn Nam quan (cửa đè
phương Nam), từ hai nghìn năm đã bao lần các triều
đại Trung Quốc cho quân qua đây sang xâm lấn nước ta. Rồi cách mạng hai
nước thành công, cửa ải đổi là Mục Nam quan (cửa nhìn về phương
Nam), rồi Hữu Nghị quan. Mới ngày nào đây đường ô tô xe lửa liên vận
còn qua lại như con thoi, nối liền Việt Nam và Trung Quốc, nối liền nước
ta với các nước anh em.
Thế mà
ngày nay ... anh em công an vũ trang bảo đoàn chúng tôi bỏ xe lần theo đường
sắt đã bị phá mà đi bộ tới biên giới. Một tiểu đội công an vũ
trang đi trước vừa đi vừa dò mìn, vừa dò xem bên kia có bắn sang không,
sau đó mới cho đoàn quay phim bước tới. Chính tiểu đội nầy đêm hôm
trước đã dò khúc đường nầy rồi, các đồng chí về đồn chợp ngủ
chốc lát lại được lệnh dẫn chúng tôi đi. Phải dò thật kỹ, vì luôn
luôn chúng cho bọn thám báo vượt biên đặt mìn tận đến thành phố Lạng
Sơn, hoặc bắn vào người đi qua; từ bên kia biên giới chúng cũng bắn
sang. Bọn thám báo là những người Hoa trước kia ở nước ta, quen thuộc
đường sá, nói tiếng Việt rất sỏi, chúng trà trộn vào bà con đi lại,
hay đêm đêm luồn sang đặt mìn trên đường sá, vào các cơ quan. Chỉ huy
Trung Quốc sử dụng triệt để đội quân thứ năm nầy, xem nó là một vũ
khí chiến lược trong cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam. Những người
Hoa về nước được huấn luyện thành những đội quân biệt kích, gọi
là sơn cước, luồn qua đường núi đường rừng, đánh vào phía sau các
đồn biên phòng, đánh phá kho tàng cơ quan cầu cống, tung tin làm cho nhân
dân hoang mang; hướng dẫn cho quân Trung Quốc đánh vào những nơi hiểm yếu.
Từ trước, trong các làng xã, thị trấn, thành phố một bọn mật vụ người
Hoa đã tổ chức một mạng lưới phá hoại, chuẩn bị sẵn sàng đón “đại
quân”. “Đại quân” tiến vào chúng đánh phá tiếp tay, rồi làm chỉ
điểm hướng dẫn quân xâm lược bắn giết đồng bào, đặc biệt giết
cán bộ; người Hoa nào còn ở lại chúng buộc làm chỉ điểm, không chịu
chúng bắn tại chỗ.
Cách cửa
quan vài trăm mét có thể thấy rõ lính Trung Quốc chĩa súng, và từ xa một
vành rađa quay không ngớt. Cảm giác đứng trước một bầy cú vọ trương
mắt rình mồi. Nhớ lại năm 1967, đến gần đây tôi ngỏ ý muốn qua cửa
quan, các đồng chí địa phương bảo: đến đấy phiền lắm ! Họ sẽ mời
vào, tặng anh một quyển sách đỏ, anh phải cảm ơn, chúng chụp ảnh anh
cầm quyển sách, rồi hôm sau đăng lên báo là cán bộ Việt Nam ca tụng
Mao Chủ tịch và hoan nghênh đại cách mạng văn hóa. Dĩ nhiên làkhông bao
giờ ta tán thành cách mạng văn hóa, thực chất là một cuộc tranh giành
quyền bính trong nội bộ đảng Trung Quốc, dẫn đến giết hại nhau chết
hàng mấy triệu người. Không khí ở Hữu nghị quan đã lạnh nguội từ
những năm ấy; sau đến Nixon qua Bắc Kinh, tình hình càng căng, rồi từ
1975, chúng lâu lâu lại cho người xịch các mốc biên giới, cho người cày
lấn, sang ở lấn vào đất Việt Nam. Dân ta, lực lượng vũ trang của ta
phải mời họ trở về, lúc đầu còn đấu khẩu, sau đến đấu bằng tay
chân, rồi gậy gộc, chúng cho côn đồ giết hại cán bộ ta. Đâu có phải
để thêm hai ba kilômét vào 10 triệu kilômét vuông của Trung Quốc ! Rồi
đến ngày 17-2.
Từ tặng
quyển sách đỏ đến sẵn ssàng nhả đạn vào ai đến gần biên giới, thực
chất chỉ là một đường lối. Quyển sách đỏ không thành công, không
tìm ra được một Pol Pot Việt Nam, chúng phải cho “đại quân” vượt biên
giới.
Quí mến
anh em công an vũ trang quá ! Trên một tuyến biên giới 1.500 km, giữa rừng
núi trập trùng, leo đèo lội suối, thiếu nước uống, ăn củ rừng là
chuyện thường, anh em phải ngày đêm giữ sao cho chúng không xích được một
mét biên giới, phải bảo vệ làng bản, phải đối đầu với bọn thám
báo, bọn sơn cước, và phải chịu những mũi tấn công đầu tiên của
quân xâm lược. Chúng rất căm ghét anh em, tìm hết cách tiêu diệt anh em.
Đời đời nhớ ơn các anh !
Tôi về
khách sạn nhân dân Lạng Sơn ngủ. Một nửa khách sạn bị đánh đổ,
năm nửa còn lại, có cảm tưởng không biết đổ lúc nào, trong lúc mình
đang ngủ cũng nên. Đêm đêm nghe súng anh em bảo vệ thành phố săn đuổi
bọn thám báo. Sáng hôm sau từ giã Lạng Sơn; một phút ngừng lại trước
tấm biển nhỏ cắm ngay giữa đường phố, ghi tên anh phóng viên của Đảng
Cộng sản Nhật BảnTanako, bị bọn xâm lược bắn chết ngày 7-3, hoa chung
quanh tấm biển vẫn tươi, đồng bào hàng ngày không quên người đồng chí
từ xa đến chiến đấu chung với chúng ta.
.....
- Hà Nội, 22-4-1979
- NGUYỄN KHẮC VIỆN
Ghi nhận của
Nhật Nam:
Trước
hết, xin cảm ơn Giáo sư Nguyễn Ngọc Quỳ ở Paris đã sưu tầm và gửi
cho tài liệu quý giá nầy. Bài viết trên đây của ông Nguyễn Khắc Viện
là một ký sự chiến trường viết từ 23 năm trước, ngay sau khi “đại
quân”Trung Quốc bị đánh bật về Tàu, chấm dứt cuộc chiến tranh biên
giới Hoa-Việt. Bài được đăng lại trên tuần san Đoàn Kết số 264, do Hội
Người Việt Nam Tại Pháp xuất bản ngày 24-5-1979.
Hai chi
tiết trong bài ký sự nóng hổi nầy cho thấy ít nhất từ năm 1979, và có
lẽ từ khởi đầu, địa danh gọi là “Ải Nam Quan” như chúng ta mường
tượng trong ký ức qua văn thơ và ca nhạc với rất nhiều tình cảm, chưa
bao giờ thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nhưng những người đi buôn tình
cảm và sự tối tăm của đồng bào
hải ngoại thì cứ đánh lừa dư luận, viết bài đăng ảnh, để xây dựng
một sự dối trá có lợi cho những mưu đồ chống phá Việt Nam. Sau nầy,
khi sự thật hiển lộ, ai thấy mình ngu thì ráng chịu, còn những tên lái
buôn chính trị thì cứ phởn phơ tiếp tục đạo diễn vở tuồng khác cho
những đào kép tăm tối và nhiệt
tình luôn luôn sẵn sàng thủ diễn !
Nội
dung ký sự cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa hai quốc gia láng giềng,
lồng trong lịch sử xâm lăng và chống xâm lăng của truyền thống bang
giao hai nước. Nó cũng cho thấy nỗ lực khó khăn của Việt Nam hôm nay, muốn
xây dựng một đường biên giới rạch ròi, bền vững và an toàn quốc
gia. Nhất là bây giờ, khi Quốc Hội Việt Nam đã công khai hóa việc phê
chuẩn Hiệp ước biên giới với 62 giới điểm chạy dọc giới tuyến
1500 cây số. Riêng tỉnh Cao Bằng mà thôi, chỉ với 9900 hộ dân mà phải
xây dựng 66 đồn biên phòng giữa núi rừng trùng điệp để bảo vệ và
xử lý những vi phạm biên giới của 161 cột mốc trên một chiều dài 311
cây số biên giới.
Cuối
cùng, cũng qua bài ký sự ngắn ngủi nhưng giàu tính mô tả nầy, ta thấy
rõ hơn dã tâm muôn đời của Trung Quốc. Để từ đó, và mãi mãi trong tương
lai, phân định rõ ràng ai mới thật sự là kẻ thù truyền kiếp của dân
tộc ta.
Home | Go top page | Về trang mục lục