-
Vài lời của trang nhà GĐ: Những cựu
học sinh của Trường Kỹ Thuật Nông Lâm Súc Huế, đặc biệt là ban Thuỷ
Lâm, trong các niên khóa từ 1964-1969 không ai quên được hai vị thầy ‘chuyên
môn’ khả kính giờ đã ra người thiên cổ: Trần Lâm Tô (một Bắc) và
Nguyễn Hữu Đính (một Huế). Không quên được hai cụ không những chỉ
vì lòng nhiệt tình tận tuỵ trong giảng dạy, lo lắng xây đắp cho thế hệ
hậu sinh đã đành, chúng tôi còn học được ở hai cụ tinh thần biết đào
sâu vấn đề, mở rộng tầm hiểu biết để bồi đắp thêm cho lãnh vực
chuyên môn của mình. Vì thế mà chúng tôi không lạ khi biết cụ Trần
Lâm Tô rất thông thái về Văn chương Pháp, hay cụ Nguyễn Hữu Đính còn
là một người “học thiệt’” về Sử Địa, ngoài chuyên môn của
mình là những kỹ sư Thuỷ Lâm tài giỏi.
Chúng tôi đăng lại bài khảo luận này từ
Tập San Nghiên Cứu Huế – Tập 3/2002 trong chuyên mục “Góp Nhặt
Cát Đá”, để cống hiến cho độc giả một khám phá tinh tế qua các sử
liệu xưa về một đề tài mà có vài học giả ở hải ngoại chỉ có
đưa ra giả thuyết và không làm thỏa mãn được người muốn tìm hiểu: Tên
dòng sông Hương phát xuất tự bao giờ hay Ai đã đặt tên cho dòng
sông này? Câu trả lời trong bài viết này - nó không chỉ đáp ứng sự
khát khao hiểu biết, còn có thể lay động tâm thức của mỗi người để
tìm về với nguồn cội. Thương kính dòng sông còn là biết ngoái đầu nhìn
về Thăng Long mấy trăm năm trước đó, để ý thức rành mạch với công
ơn xương máu của tổ tiên. Công ơn ấy đã trải dài bao thế kỷ, để hôm
nay : “Huế là của chung. Khái niệm này không đợi đến khi thành phố
xinh đẹp của chúng ta được Unesco thừa nhận là di sản của nhân loại,
mà nó được xác lập bởi những suy nghĩ, những việc làm cụ thể, âm
thầm, đáng kính của rất nhiều người từ mọi miền đất nước, từ
nhiều quốc gia khác trên hành tinh...” [Đoạn mở đầu trong lời giới
thiệu của chuyên mục “Góp Nhặt Cát Đá”, Nghiên Cứu Huế, Tập 3,
2002]
- Sông Hương Đã Có Tên Ấy Tự Bao Giờ
-
- Cố
giáo sư Nguyễn Hữu Đính
Một nhà văn
tên tuổi địa phương – địa phương nhưng kiêm cả Trung ương đã say sưa
mô tả con sông Hương, với một đầu đề trớ trêu và duyên dáng “Ai đã
đặt tên cho dòng sông”? Trớ trêu và duyên dáng hơn nữa là nêu lên câu
hỏi mà không chịu trả lời. Bạn đọc có người nghĩ: Chắc tác giả
không có thì giờ để lục soát. Nhưng cũng có bạn nghĩ: đó là một dụng
ý khá tài tình để người đọc một khi đã xấp tờ báo, còn bị dư
hương theo dõi. Có khác chi khéo tả một giai nhân tuyệt thế mà không nói
lai lịch, im lặng thách đố người nghe cứ đi tìm. Thì bạn đọc cùng
tôi hãy đi tìm vậy.
Lẽ tất nhiên câu chuyện không đơn giản, và
trước hết, tưởng cần đặt lại câu hỏi: sông Hương đã có tên ấy tự
bao giờ ? Đặt câu hỏi như vậy có lẽ kém phần nghệ thuật, nhưng chắc
chắn có phần thiết thực và sắc bén hơn để ta nắm được những đầu
mối sưu tầm. Thật vậy và phương pháp cần cù tìm kiếm vẫn là phương
pháp hay nhất, chắc nhất. Ta cứ “lần giở trước đèn” một số tác
phẩm xưa, để tìm lại những nhận xét tinh vi, những tình cảm sâu đậm
qua các thời đại, ít nhiều tương quan đến mảnh đất và con sông hiền
từ, im lặng của xứ Huế. Đó là một việc không khó lắm. Đầu xuân,
đó cũng là một công việc lý thú, chắc các bạn cũng nghĩ như tôi, mặc
dù cũng có khi không thoải mái lắm khi phải tiếp xúc với một tác giả
có tài mà không có hạnh, như trường hợp Lê Tắc (hay Lê Trắc), khi mở
xem quyển An Nam Chí lược. Nhưng đó vẫn là một tác phẩm có giá
trị, khá xưa, viết từ năm 1333 theo bài tựa của chính tác giả, mà
chúng ta vẫn cần tra cứu trước tiên (1). Mục
núi sông nằm ngay trong quyển nhất, nhưng tuyệt nhiên, các con sông ở
châu Ô, châu Lý, không được đề cập đến, mặc dù năm 1306, vua Chiêm,
Chế Mân, đã đem hai châu ấy làm lễ cưới công chúa Huyền Trân.
Ức Trai Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn năm
1438 với những thêm bớt về sau, trong đoạn nói về Thuận Hóa, tuy ngắn,
nhưng cho ta biết những tên và sự kiện rất bổ ích: “Biển là biển
Nam hải. Vân là núi ở cửa ải. Linh là tên sông”. (2)
Biển Nam hải ở đây tức là biển Đông. Vân là núi Hải vân. Linh là
Linh gang con sông ở phủ Triệu Phong, Thừa tuyên, Thuận Hóa, nói rõ hơn là
con sông Hương ngày nay từ ngã ba Sình, nơi có thành Hóa Châu đến cửa Eo
(Cửa Thuận) .(3) Phủ Triệu Phong có 2 châu và 6
huyện, trong đó có huyện Đan Điền và huyện Kim Trà. Những tên nói trên
sẽ giúp ta so sánh với những tên có trong hai tác phẩm quan trọng Ô
Châu Cận lục và Phủ Biên Tạp lục,
như sẽ nói sau.
Hồng Đức bản đồ (4), một tác phẩm gồm nhiều tập khá phức tạp, phần
thứ nhất do Đỗ Bá, tự Đạo Phủ soạn năm 1490, với nhiều bản đồ
trong đó có 13 bản của 13 Thừa tuyên. Thừa tuyên Thuận Hóa gồm một bản
kê tên các phủ, huyện, châu, và một bản đồ hình thể các núi sông, nhưng
không một tên núi, tên sông nào được ghi rõ. Số và tên các phủ huyện
phù hợp với Ức Trai Dư địa chí.
Lần giở đến tác phẩm Ô Châu Cận lục
của Dương Văn An (5) viết năm Ất Mão (1555) dưới
triều Mạc, ánh sáng về nguồn gốc các tên sông đã bắt đầu ló dạng.
Những địa danh chính xác trong “mục đồ bản” quyển 3, giúp ta rất
nhiều trong việc tra cứu: Huyện Kim Trà, xã Kim Ngọc, xã Hà Khê, xã Long Hồ,
Vĩ Dạ… Đó là tên những miền mà con sông, hiện mang tên sông Hương đã
và đang đủng đỉnh đi qua. Một tên sông làm ta lưu ý: sông Linh Giang (6). Tác giả Ô Châu Cận lục viết: “Sông do hai
nguồn Kim Trà, Đan Điền đổ đến, rộng sâu vô hạn, khuất khúc hữu
tình. Phía tây nam thì có đền Tứ Vị, trạm Địa Linh, phía đông bắc
thì có chùa Sùng Hóa, bia Hoằng Phúc. Còn huyện nha, phủ thự, đều đối
nhau ở hai bên tả hữu. Vốn là con sông to [sông Bồ] trong huyện Đan Điền,
ngọn nguồn rất xa, dòng sông rất dài. Ngôi đền Minh Uy, đứng vững ở
đầu nguồn, tòa thành Thuận Hóa (7) khóa chặt lấy
thuỷ khẩu. Còn như xóm hoa nội biếc, đất tốt dân đông, chợ nọ cầu
kia, vật hoa, người quý, đều la liệt ở hai bờ Nam Bắc.” (8)
Thế là sông Linh Giang là tên khúc sông Hương
ngày nay, từ ngã ba Sình đến cửa Thuận, và cách đây trên 400 năm vùng
này đã đông đúc, sầm uất, thịnh vượng đến thế, trong lúc Huế ta hiện
nay lúc bấy giờ chưa mảy may xuất hiện ! Đến “mục thành thị”, khi nói đến thành Hóa
Châu, Dương Văn An ghi rõ: “Thành ở địa phận huyện Đan Điền, (9) sông cái Đan điền chảy qua phía tây, lại có một
dòng sông con chảy vào trong thành, phía hữu con sông ấy la liệt những trường
học, nha môn Đô thừa phủ Triệu Phong. Sông cái Kim Trà rót vào phía nam,
đập lớn, chằm to ước nghìn vạn khoảnh. Các dòng nước bọc cả bốn
bề, giữa có một tòa thành trăm nhận (10) sừng sửng
như đám mây dài. Đó là nơi địa hình kết hợp, thiên tạo đặt bày vậy”.
(11)
À ! những tên “Sông cái Đan Điền”, “Sông
cái Kim Trà” làm ta thấy rõ tên sông theo tên huyện. Sông Kim Trà vì đi
qua huyện Kim Trà, sông Đan Điền, vì đi qua huyện Đan Điền, và như thế
một con sông có thể có nhiều tên, tuỳ theo địa danh của mỗi khúc, và
ta suy đoán, về sau, khi huyện Kim Trà đổi thành huyện Hương Trà thì con
sông sẽ được gọi là sông Hương Trà.
Đến lượt Phủ Biên Tạp Lục, chúng
ta thử tìm hiểu thêm ánh sáng trong tác phẩm giá trị bậc nhất này của
nhà bác học Lê Quý Đôn, viết về “Đàng Trong”, nhất là về Thuận Quảng,
từ thế kỷ XVIII trở về trước, năm Bính Thân 1776, tại các Triều Dương,
khi ông được chúa Trịnh bổ làm Hiệp trấn Tham tán quân cơ tại Phú
Xuân, và đã có dịp “nhẹ áo lỏng đai, tiêu dao ở khỏang Hà Khê,
Thiên Mụ” (12) .
Khi nói đến những con sông của đất Thuận
Hóa, những tên sông Linh Giang, sông Kim Trà, sông Đan Điền vẫn được Lê
Quý Đôn dùng đến, như trong Ô Châu cận lục. Lúc bấy giờ thủ phủ
Đàng Trong đã đóng tại thành Phú Xuân, ở góc đông nam trong kinh thành
bây giờ, vì năm Đinh Mão, 1687, Nguyễn Phúc Thái đã dời phủ đến xã
Phú Xuân, cách phủ cũ (xã Kim Long) hơn năm dặm. (13)
Tưởng cũng nên nghe Lê Quý Đôn, với ngòi bút sinh động, đã mô tả Phú
Xuân lúc bấy giờ như thế nào.
“Đất Phú Xuân, huyện Hương Trà (tôi nhấn
mạnh – NHĐ) xưa là xã Thuỵ Lôi… Đất rộng, bằng như bàn tay… ở trong là Chính dinh, đất cao,
bốn bề đều thấp… trông xuống bên sông… Từ năm Đinh Mão Chính hòa
thứ 8 đến nay chỉ 90 năm, mà ở trên thì các phủ thờ ở Kim Long, giữa
thì cung phủ hành lang (14), dưới thì nhà cửa ở
Phủ Ao. Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi tên đề biển, có hai
điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tựu Lạc, Chính Quan, Trung Hòa, Di Nhiêu,
đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triều Dương, các Quang Thiên, đình Thuỵ
Vân, hiên Đồng Lạc, am Nội Viên, đình Giáng Hương, công đường, trường
học và trường súng. Ở thượng lưu về bờ nam có phủ Dương Xuân và Phủ
Cam. Ở trên nữa có phủ Tập Tượng; lại dựng điện Trường lạc, hiên
Duyệt Võ, mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải võ, tường bao
quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều
lót nền bằng đá, trên lát ván kiền kiền, những máng xối đều làm bằng
kẽm để hứng nước; trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy
ôm. Vườn sau thì núi già đá quý, ao vuông hồ quanh, cầu vồng thuỷ tạ,
tường trong tường ngoài đều xây dày mấy thước, lấy vôi và mảnh sứ
đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa. Ở thượng lưu và hạ lưu
chính dinh đều là nhà quân bầy hàng như bàn cờ.
“Những nhà của thuỷ quân lại ở đối ngạn.
Xưởng thuyền và kho thóc thì ở các xã Hà Khê, Thọ Khang trên thượng
lưu. Còn nhà vườn của các công hầu quyền quý thì chia bày ở hai bờ
phía thượng lưu sông Phú Xuân, cùng hai bờ sông con bên hữu Phủ Cam. Ở
thượng lưu hạ lưu phía trước Chính dinh thì chợ phố liền nhau, đường
cái đi ở giữa, nhà cửa chia khoảng tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to
bóng mát, tả hữu thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang, đi lại như
mắc cửi. Bài “Sơn minh” của Chu Dũ Tín có câu rằng: “Thanh ý xuân
môn, câu cừ giao, ánh: lục hòe thu thị, chu tiếp tương thông” [Cửa
xuân như giải vóc xanh, khe ngòi ánh lộng; chợ thu dưới bóng hòe lục,
thuyền chèo lại qua], tưởng cảnh sắc cũng như thế này thôi”. (15)
Đọc đoạn trên, ta có thể tự hào về quá
khứ xa xưa của đất Phú Xuân, nhưng cũng không quên rằng những cung điện
nguy nga ấy đã mọc trên đất thấm đầy mồ hôi nước mắt của dân tộc,
để thương tiếc những gì từ xưa còn lại, và tránh những hành vi đối
xử vụ lợi, thiển cận.
Trở lại vấn đề tên các con sông, chúng ta
nhận thấy trong mục danh hiệu phủ, huyện, thay bằng hai tên mới, Quảng
Điền và Hương Trà. Thế nhưng, về tên sông, nguồn, Lê Quý Đôn đã
dùng lẫn lộn Hương Trà, Kim Trà ở nhiều nơi, thậm chí có nơi còn dùng
cả tên huyện Kim Trà. Việc thiếu chính xác ấy có thể xuất phát từ
lý do việc đổi tên còn tương đối mới, nhân dân còn quen tên cũ, và
Lê Quý Đôn cũng theo nhân dân, dùng lẫn lộn.
Đọc kỹ Phú Biên Tạp Lục ta chưa thấy xuất
hiện cái tên sông Hương, cho đến gần cuối tập, khi nói đến vấn đề
cá, mới thoải mái gặp được câu: “Xứ Thuận Hóa, sông Hương cá sông
nhiều. Có giống cá tên là cá thệ ...” (16). Nhưng
rồi, tiếp đó, người dịch đã chú thích ở cuối trang “Bản Viện sử
học chép rằng rằng: xứ Thuận Hóa sông có rất nhiều cá, xứ Quảng Nam
thường không kịp. Có giống cá tên là cá thệ ...” (17)
Tra cứu thêm bản dịch Phủ Biên Tạp lục của Lê Văn Giáo lại thấy:
“Sông Thuận Hóa có thứ cá được gọi là cá thệ ...” (18). Đâu đúng đâu sai, đâu là bản chính tay Lê Quý Đôn
soạn ? Một điều chắc, là thời chúa Nguyễn, tên sông Hương Trà đã có
rồi, chính Lê Quý Đôn, như đã nói trên, cũng có khi dùng tên ấy. Từ
“sông Hương Trà” đến “Sông Hương”, chỉ còn một bước, vì trong
ngôn ngữ, bất cứ ngôn ngữ nước nào, dân gian thường hay rút gọn. Vả
chăng, hai chữ sông Hương đẹp quá, giới văn chương, trí thức, cũng không
muốn gì hơn. Nhưng, bạn đọc cùng tôi cứ nhẫn nại, đào sâu hơn nữa.
Đến thời đại Tây Sơn, chỉ độ mươi
năm sau, và chỉ lục soát trong lĩnh vực thơ văn, chúng ta cũng lượm được
những chứng liệu hiển nhiên. Ngô Thì Nhậm, trong bài thơ “Đạo ý” (gợi
ý) có hai câu:
- Ức tích
minh lương hội nhất đường,
- Hương Giang
ngự tất hỗ tiên đường.
Ngô Linh Ngọc dịch:
- Nhớ buổi
vua hiền gặp đống lương,
- Đường tiên
hầu bước, nẻo sông Hương. (19)
Về phần thơ Phan Huy Ích, sau bài “Xuân để
lý sự” (Mùa xuân ở công quản ghi việc), tác giả đã viết ở lời
nguyên dẫn: “Nhà của quan Thái sư (Bùi Đắc Tuyên) là chùa Thiền Lâm cũ,
nằm về phía nam Sông Hương ...” (20).
Thế là, tên “Sông Hương” dưới thời đại
Tây Sơn đã có rồi, và, gần chắc, đã có từ trước. Từ ngữ “Nam Sông
Hương” cũng đã thông dụng và có ý nghĩa khá chính xác. Nhưng có thể
có bạn đọc khó tính, muốn có chứng liệu cụ thể, vì sao gọi “Sông
Hương” ?
Bộ sách địa lý chí lớn dưới triều Nguyễn,
Đại Nam Nhất Thống Chí khi mô tả Sông Hương, không nói đến nguồn
gốc cái tên này. Nhưng bộ sử biên niên Đại Nam Thực Lục chính biên
có đoạn viết: “Năm Tân Dậu (1801) mùa thu, tháng bảy, ngày Bính Thân,
vua đi Quảng Bình, lưu quốc thúc Tôn Thất Thăng ở lại giữ kinh thành.
Thuyền ngự khởi hành từ sông Hương, sông Hương tức là sông Hương Trà,
vì nước ngọt nên gọi thế ...” (21).
Chúng ta nghĩ, ngọt ở đây không có nghĩa ngọt
mặn, mà có nghĩa nước sông Hương pha trà, thơm, ngọt.
Đến đây, chúng ta trả lời được câu hỏi:
sông Hương đã có tên ấy tự bao giờ ? Riêng tôi, cảm ơn bạn Hoàng Phủ
Ngọc Tường, nhưng cũng trách đã dựng lên một đầu đề thật sự trớ
trêu.
Chú thích:
1. Lê Tắc (bản dịch của Uỷ Ban Phiên Dịch
Sử liệu Việt Nam), An Nam chí lược, Huế 1961. Vấn đề soạn niên
của An Nam chí lược vẫn còn trong vòng tranh luận. Xem bài dẫn nhập
của Trần Kính Hòa trong tác phẩm này, Tr.VII-XIII.
2. Trong Nguyễn Trãi tòan tập (Đào Duy
Anh, Văn Tân dịch, phiên âm và chú thích), Hà Nội 1976, Tr.234.
3. Ngày trước sông Gianh và sông Hương đều
có tên Linh Giang. Tuy vậy, lời chú thích (2) trang 627 trong Nguyễn Trãi
toàn tập: “Linh Giang là sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình” xét ra không
phù hợp nếu chúng ta: 1.Lưu ý rằng miền thành Hóa Châu, trên sông Hương
là nơi đã xảy ra những sự kiện lịch sử quan trọng hàng đầu, trong thời
gian trước và sau soạn niên Ức Trai Dư Địa chí (1438). (Những sự
kiện lịch sử ấy là: 1414 – Lê Phụ và Mộc Thạnh đánh chiếm thành
Hóa Châu. 1414 – Lê Phụ đặt người cai trị ở đó. 1425 – Lê Lợi sai
Trần Hãn đánh quân Minh ở Tân Bình và Hóa Châu. 1428 – quân Minh rút về.
Lê Lợi thấy Hóa Châu là trọng trấn, sai trọng thần đến trấn thủ.
1434 – Người Chiêm Thành đánh Hóa Châu, Lê Khôi và Lê Chích (Chuyết) chống
giữ mãnh liệt. 1446 – Đại phá quân Chiêm) và 2. Phối hợp tham khảo Lịch
Triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (Bản dịch của Viện Sử
học Việt Nam), Tập I, Hà Nội 1960, Tr. 132-133. (Dư địa chí, Quyển V, mục
Thuận Hóa [phủ Triệu Phong và phủ Tân Bình], Đoạn núi sông).
4. Hồng Đức bản đồ, Tủ sách Viện
khảo cổ, Tập II, Sài Gòn 1962.
5. Dương Văn An (Bùi Lương dịch), Ô Châu
cận lục, Sài Gòn 1962.
6. Không lẫn lộn với sông Gianh ở Quảng
Bình.
7. Tức Hóa thành hay thành Hóa Châu.
8. Xem: Dương Văn An (Bùi Lương dịch), Sách
đã dẫn, Tr.17.
9. Về sau là Quảng Điền.
10. Nhận: nhà Chu định 8 thước là một nhận,
chứng 6 thước, 4 tấc, 8 phân bây giờ (ghi theo Từ điển Trung Quốc Từ
nguyên và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, Sài Gòn 1966).
11. Xem: Dương Văn An (Bùi Lương dịch), sách
đã dẫn, Tr. 65.
12. Xem: Lê Quý Đôn toàn tập, Tập I, Phủ
Biên Tạp Lục. Bản dịch của Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân,
Nguyễn Tính. Đào Duy Anh hiệu đính. Hà Nội 1977, Tr.29.
13. Chừng 2,7 km.
14. Hành lang: vợ chúa thời Phúc Khoát. Vợ cả
thì gọi là tả hành lang, các vợ lẽ thì gọi hữu hành lang.
15. Lê Quý Đôn toàn tập, Sách đã dẫn,
Tr. 112.
16. Lê Quý Đôn toàn tập, sách đã dẫn,
Tr.341.
17. Như trên, Tr.341, Chú 1.
18. Xem: Phủ Biên Tạp Lục – Tủ sách
cổ văn – bản dịch của Lê Văn Giáo, Sài Gòn 1973.
19. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm,
Hà Nội 1978, quyển I, Tr. 196.
20. Thơ văn Phan Huy Ích, Hà Nội 1978, tập
II, Tr. 86.
21. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (Bản dịch của
Viện Sử Học), Đại Nam Thực Lục chính biên, Tập II, Hà Nội 1963,
Tr.428.
Home | Go top page | Về trang mục lục