| .......... |
. |
-
Đọc những "nghiên cứu" của tác giả Mai Thanh Truyết
Nguyễn Văn Tuấn
Trong
một bài viết trước đây, để trả lời những chất vấn của tôi về bằng
chứng nghiên cứu của tác giả Mai Thanh Truyết liên quan đến những phát
biểu của ông về thực phẩm Việt Nam và dioxin mà ông tuyên bố trên tờ
Orange Country Register hôm 3 Tháng Một, 2002, ông Mai Thanh Truyết nằng nặc
yêu cầu tôi (và những độc giả quan tâm) nên tham khảo những nghiên cứu
của ông trên trang nhà của Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam [1]. Nhưng khi
điểm qua những bài viết nằm trong mục "Nghiên cứu" ở trong đó,
tôi đã phải phân vân vì không biết xếp loại những bài viết như thế
vào thể loại nào. Đó cũng là lí do tại sao hai chữ "nghiên cứu"
trong tựa đề của bài viết này được để vào ngoặc kép, chứ đó
không phải biểu hiện một thái độ dèm pha hay mỉa mai.
Tại sao tôi lại không chắc đó là
những bài báo khoa học? Câu trả lời hết sức đơn giản: tại vì những
bài viết của ông Mai Thanh Truyết không tuân thủ hay cấu trúc theo một thể
loại báo cáo khoa học. Thế nào là một cấu trúc chuẩn của một bài
báo khoa học? Đó là một cấu trúc mà giới khoa học thường gọi là
"IMRAD" (Introduction, Methods, Results, and Discussion), tức là gồm có phần
giới thiệu đề tài nghiên cứu, phương pháp, kết quả, và thảo luận.
I.
Với mục đích của việc ấn hành
một bài báo khoa học là để tác giả cung cấp một tài liệu có chứa
các thông tin đầy đủ mà các nhà nghiên cứu khác có thể: (i) đánh giá
được các quan sát mà tác giả đã thực hiện; (ii) lập lại được thực
nghiệm đó nếu họ muốn; và (iii) xác định rằng liệu các kết luận
được đưa ra có ăn nhập gì với số liệu hay không. Cho nên, tất cả
các báo cáo khoa học (mà tiếng Anh thường gọi là scientific papers) đều
được trình bày theo một cấu trúc gần như bất biến. Cấu trúc này cũng
không khác một bài luận văn bao nhiêu, nó bao gồm những phần sau đây: tựa
đề, tác giả, tóm tắt, phần dẫn nhập, phần phương pháp nghiên cứu,
phần kết quả nghiên cứu, phần lí giải những kết quả (hay phần thảo
luận, phần bàn luận), thư mục (hay tài liệu tham khảo), các biểu đồ
hoặc bảng thống kê số liệu, và phần cảm tạ. Có thể tìm thấy cấu
trúc này hiện diện trong tất cả các báo cáo khoa học nào được đăng
trên các tập san khoa học có uy tín, trong lĩnh vực y khoa thí dụ như Lancet,
New England Journal of Medicine, British Medical Journal (BMJ), v.v.. Đọc qua các
bài đăng ở đây, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, tựa đề bài báo sẽ
cho biết, một cách khái quát, đề tài mà tác giả muốn bàn đến trong bài
viết, và nó giúp cho người đọc quyết định có nên đọc nội dung bài
viết hay không. Tên tác giả bài báo có thể cho người đọc một vài ý
niệm về tác giả là người có trách nhiệm hay có kinh nghiệm trong lĩnh vực
nghiên cứu hay không. Phần tóm tắt, như tên gọi ám chỉ, là một tóm lược
về mục đích, phương pháp, kết quả, và kết luận của cuộc nghiên cứu.
Ở mục này, tác giả cần phải viết một cách ngắn gọn (thường chỉ
giới hạn trong vòng 250 chữ) nhưng đủ cho người đọc tất cả các ý
chính của bài báo.
Thứ hai, trong phần dẫn nhập,
tác giả phải trả lời câu hỏi căn bản: "Tại sao có cuộc nghiên cứu
này?" Trong phần này, tác giả phải tuần tự đặt cuộc nghiên cứu
vào bối cảnh của vấn đề, trong đó, tác giả phải diễn đạt cho được
những ý chính sau đây: (i) trong quá khứ đã có nghiên cứu nào liên quan
đến vấn đề này; (ii) kết quả của những nghiên cứu đó ra sao, có
mâu thuẫn với nhau hay không; (iii) có vấn đề gì / khía cạnh nào chưa rõ
hay chưa được phát hiện; (iv) tại sao nghiên cứu này là quan trọng và
nên làm; và (v) mục đích chính và cụ thể của cuộc nghiên cứu này là
gì. Đó là những câu hỏi căn bản mà phần dẫn nhập phải trả lời cho
được; nếu không thì bài báo sẽ không có giá trị gì đáng kể.
Thứ ba, trong phần phương pháp,
tác giả phải trình bày tất cả những chi tiết chính liên quan đến cuộc
nghiên cứu, hay nói nôm na là tác giả phải trả lời câu hỏi "Đã
làm gì?". Có thể nói đây là phần quan trọng nhất nhì của một
bài báo khoa học, vì qua đó mà người đọc có thể đánh giá những kết
quả của cuộc nghiên cứu. Trong phần này, tác giả cần phải mô tả địa
điểm, thời gian, đối tượng, phương pháp đo lường, và phương pháp
phân tích số liệu một cách cụ thể. Phần đối tượng nghiên cứu, tác
giả cần phải trình bày có bao nhiêu mẫu (hay bệnh nhân); nếu là những
mẫu thì chúng được lấy hay chọn lựa như thế nào, dựa vào những
tiêu chuẩn gì; và nếu là bệnh nhân thì họ là ai (tuổi, giới tính, bệnh
lí, v.v.), được chọn qua những phương tiện nào, dựa vào những điều
kiện nào ... Về phương pháp thu thập dữ kiện, tác giả có trách nhiệm
phải công bố những yếu tố liên quan đến cuộc nghiên cứu (chẳng hạn
như trọng lượng, chiều cao, bệnh lí, máu, nước tiểu, v.v.), những yếu
tố này được đo lường bằng những phương pháp nào, và những phương
pháp này có độ chính xác, độ tin cậy ở độ nào. Nếu là máu và nước
tiểu, các mẫu này được bảo quản và xử lí như thế nào. Sau cùng,
trong phần phương pháp, nhà nghiên cứu phải trình bày rõ ràng là những dữ
kiện được thu thập đã được phân tích bằng những phương pháp thống
kê gì, phải giải thích tại sao những phương pháp này mà không là các phương
pháp khác được ứng dụng, và những giả định (assumptions) đằng sau những
phương pháp phân tích này là gì.
Vì phần lớn các dữ kiện được
thu thập thường rất phức tạp, và chúng đòi hỏi nhà nghiên cứu phải
áp dụng các phương pháp phân tích khá phức tạp, đòi hỏi một số lượng
tính toán có khi rất lớn và chỉ có những nhu liệu chuyên môn mới có thể
làm được, và trong trường hợp này, nhà nghiên cứu còn phải công bố
tên của những nhu liệu này cùng hãng sản xuất. Tựu trung lại, trong phần
phương pháp nghiên cứu phải mô tả thật đầy đủ và chi tiết để sao
cho các nhà nghiên cứu khác, nếu muốn lập lại hay muốn kiểm chứng thì
họ có thể tiến hành được nghiên cứu đó theo đúng quy trình đã nêu
mà không vướng phải một khúc mắc gì.
Thứ tư, trong phần kết quả nghiên
cứu (Results), nhà nghiên cứu phải trả lời câu hỏi "Phát hiện
gì?", bằng cách trình bày những số liệu thu thập và phân tích
trong một số bảng thống kê, hay biểu đồ, hay hình ảnh theo thứ tự; lần
lượt là các câu trả lời cho các mục đích mà nhà nghiên cứu đã nêu
ra trong phần dẫn nhập. Tất cả các bảng thống kê, biểu đồ, và hình
ảnh phải được chú thích rõ ràng; tất cả những kí hiệu phải được
đánh vần hay chú giải một cách cụ thể để người đọc có thể hiểu
được ý nghĩa của những dữ kiện này. Trong phần kết quả, tác giả chỉ
trình bày sự thật và chỉ sự thật (facts), kể cả những sự thật mà
nhà nghiên cứu không tiên đoán trước được hay những kết quả "tiêu
cực" (ngược lại với điều mình mong đợi). Trong phần kết quả, nhà
nghiên cứu không nên bình luận hay diễn dịch những kết quả này cao hay
thấp, xấu hay tốt v.v.. vì những nhận xét này sẽ được đề cập đến
trong phần thảo luận (Discussion).
Thứ năm, trong phần thảo luận, tác
giả phải trả lời câu hỏi "Những phát hiện này có nghĩa gì?".
Nhà nghiên cứu có quyền viết một cách "tự do", không theo một cấu
trúc cố định nào; tuy nhiên, một người có kinh nghiệm nghiên cứu thường
viết thảo luận theo một cấu trúc như sau: giải thích những dữ kiện
trong phần kết quả; so sánh những kết quả này với các nghiên cứu trước;
bàn về ý nghĩa của những kết quả; chỉ ra những ưu điểm và khuyết
điểm của cuộc nghiên cứu; và sau cùng là một kết luận sao cho người
đọc có thể lĩnh hội được một cách dễ dàng. Trong phần thảo luận,
tác giả phải giải thích, hay đề nghị một mô hình giải thích, tại sao
những dữ kiện thu thập được có xu hướng đã quan sát trong cuộc
nghiên cứu. Nếu không giải thích được thì nhà nghiên cứu phải thành
thật nói y như thế: không biết. Tác giả còn phải so sánh với kết quả
của những nghiên cứu trước và giải thích tại sao chúng (những kết quả)
khác nhau, hay tại sao chúng lại giống nhau, và ý nghĩa của chúng là gì.
Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn phải có trách nhiệm tự mình vạch ra những
thiếu sót, những trắc trở, khó khăn trong cuộc nghiên cứu, cùng những
ưu điểm của cuộc nghiên cứu, cũng như đưa ra các giải pháp khắc phục
hay những đề xuất ra hướng nghiên cứu, phát triển lên trong tương lai.
Thứ đến, trong phần kết luận, tác
giả chỉ dựa vào những kết quả để dẫn đến một kết luận cho mỗi
mục đích nghiên cứu, chứ không được đi ra ngoài phạm vi của dữ kiện
cho phép. Chẳng hạn như một cuộc nghiên cứu về mối liên hệ giữa thuốc
lá và ung thư phổi cho thấy tỉ lệ ung thư phổi trong những người hút
thuốc lá cao hơn tỉ lệ ung thư phổi trong những người không hút thuốc
lá 2 lần. Nhà nghiên cứu chỉ nói lên như vậy chứ không có quyền kết
luận rằng ngăn ngừa hút thuốc lá sẽ giảm ung thư phổi 50% hay X%, vì
lí do đơn giản là một kết luận như thế nằm ngoài phạm vi cho phép của
dữ kiện nghiên cứu.
Trong mỗi phần (dẫn nhập, phương
pháp, kết quả, và nhất là thảo luận), nhà nghiên cứu có trách nhiệm
phải tham khảo những phương pháp hay kết quả của những nghiên cứu đã
công bố trước, và những tham khảo này phải được ghi rõ nguồn (xuất
xứ) tài liệu (như tác giả là (những) ai, tựa đề bài báo là gì, công
bố trong tập san nào, xuất bản năm nào, (bộ) số mấy, và trang mấy). Tất
cả những nguồn này phải được trình bày một cách thứ tự theo quy ưỡc
chung của một cách trình bày một phần tài liệu tham khảo (references) hay
thư mục (bibliography) (thí dụ như cách phân loại Havard, phân loại
Vancouver v.v…). Do đó, trong một báo cáo khoa học nghiêm túc phần tài lịêu
tham khảo là một phần không thể thiểu, nếu không nói là bắt buộc. Cần
nói thêm rằng những tài liệu này phải được sử dụng một cách có ý
thức và cân nhắc, chứ không phải bừa bãi. Điều này có nghĩa là nhà
nghiên cứu phải xem một công trình có đáng được tham khảo hay không,
vì có nhiều công trình công bố trong các tạp chí không qua hệ thống
"peer review" thì không nên trích dẫn. Tài liệu được trích dẫn cần
phải là tài liệu gốc (primary source) chứ không phải đi trích lại từ một
bài báo khác đã trích dẫn.
Ngày nay, một nghiên cứu khi được
công bố là một công trình của một tập thể, vì hầu như không có một
cá nhân nào có thể hoàn thành một nghiên cứu nghiêm chỉnh mà không cần
đến sự giúp đỡ của nhiều cộng sự viên. Vì thế, trong một báo cáo
khoa học, nhà nghiên cứu phải ghi nhận sự đóng góp của tất cả các
thành viên trong công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, vì có vấn đề lạm dụng
danh nghĩa, cho nên một số tập san còn có quy định là tác giả phải được
sự đồng thuận của người mà tác giả muốn ghi công, chứ không phải
công bố tên của họ một cách tùy tiện. Cố nhiên, nếu công trình
nghiên cứu được sự tài trợ hay ủng hộ của các cơ quan chính phủ,
tác giả còn có nhiệm vụ phải công bố tên các cơ quan này. Cũng cần nói
thêm, trong thời gian gần đây, để tránh tình trạng "thương mãi
hoá" các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong Y học, để
duyệt bài các tập san Y học có uy tín yêu cầu các nhà nghiên cứu phải
ghi rõ các nguồn hỗ trợ tài chính cho việc tiến hành nghiên cứu. Thí dụ
như một nghiên cứu về giá trị của việc nuôi con bằng sữa mẹ mà được
nhận hỗ trợ tài chính từ một Công ty sản xuất sữa nhân tạo
(formula), thì kết quả của cuộc nghiên cứu đó cần phải được xét lại.
Hay tỉ như một nghiên cứu về tác dụng của một loại thuộc X nào đó,
mà được nhận tài trợ từ chính Viện bào chế ra thứ thuốc đó, thì
rõ là phải đặt vấn đề là nghiên cứu để quảng cáo. Nói chung những
nghiên cứu như vậy đều phải được thẩm định lại giá trị và ý nghĩa
khoa học.
Vì một số nghiên cứu liên quan đến
bệnh nhân tình nguyện, và để bảo vệ quyền lợi của người tình nguyện,
tất cả các nghiên cứu liên quan đến người bệnh đều phải được sự
chấp thuận và cho phép của các hội đồng y đức địa phương, cũng như
nhà nghiên cứu phải có giấy cam đoan tình nguyện tham gia nghiên cứu của
các đối tượng nghiên cứu. Do đó, một điều quan trọng hơn nữa, tác
giả phải cho người đọc biết rằng công trình nghiên cứu đã được
cơ quan nào chấp nhận cho tiến hành. Tất cả các tập san trong lĩnh vực
Y khoa không chấp nhận công bố kết quả nghiên cứu nếu những nghiên cứu
chưa được một hội đồng y đức cho phép.
II.
Dựa vào những tiêu chuẩn của một
báo cáo khoa học như đã trình bày, bây giờ chúng ta hãy đọc qua một số
bài viết mà ông Mai Thanh Truyết kêu gọi chúng ta đọc để hiểu những gì
ông đã "nghiên cứu". Đến đây thì người đọc, nếu chịu khó
đọc hết những "nghiên cứu" đó của ông, thì người ta sẽ chẳng
biết phải bắt đầu công việc phê bình hay góp ý từ đâu, vì tất cả
(xin lặp lại: "tất cả") những bài viết này đều không tuân
theo một cấu trúc căn bản trên đây. Chúng dứt khoát không phải là những
nghiên cứu khoa học rồi. Có thể xếp chúng vào thể loại tạp ghi? Nhưng
lối hành văn thì chẳng phải là tạp ghi. Hay luận văn? Cũng chẳng phải
luận văn, vì một bài luận văn ít ra cũng phải có phần nhập đề, thân
bài, và kết luận, mà trong các bài viết này hoàn toàn thiếu. Vậy tuyên
truyền? Cũng có thể lắm, vì những bài viết này mang tính cách của một
công tác quần chúng (public relations) hay cứ nói nôm na ra là tuyên truyền
– dân vận, khuyến cáo chính quyền, cảnh báo nhà nước, phê phán nhà
báo, mỉa mai chính trị, v.v..
Dẫu sao, khi đọc qua những bài
này, người ta có thể rút ra một số đặc tính chung như sau:
Thứ nhất, mục tiêu không rõ
ràng. Đọc những bài viết của tác giả trên đăng trên trang nhà của
Hội Khoa học & Kỹ thuật (mà ông Mai Thanh Truyết giữ chức chủ tịch
– president), người ta sẽ không biết mục đích cụ thể là gì, bởi vì
tác giả không cho người đọc biết vấn đề nghiên cứu là gì, và tại
sao ông lại tiến hành nghiên cứu. Tác giả cũng chẳng màng tham khảo những
nghiên cứu đã được các nhà khoa học trên thế giới đã từng làm gì
và phát hiện ra sao. Do đó, người đọc, nếu chưa quen với đề tài
nghiên cứu, không biết cái đề án nghiên cứu nó có giá trị gì, sẽ
đem lại thông tin mới, hay chỉ là một sự cóp nhặt hay lặp lại những
gì người khác đã làm.
Thứ hai, phương pháp mù mờ.
Trong hầu hết các bài viết gọi là "nghiên cứu" của ông Mai
Thanh Truyết, ông rất tiết kiệm những chi tiết liên quan đến phương pháp
thử nghiệm. Chẳng hạn như trong bài "Kết quả phân tích nước ở
Việt Nam" [6] ông Mai Thanh Truyết bắt đầu bằng phát biểu: "Bắt
đầu từ tháng 1/1999 đến 7/2000, các mẫu nước giếng, sông, hồ được
thu thập từ Việt Nam đã được phân tích tại Weck Laboratories, Industry,
California, một phòng thí nghiệm phân tích được tiểu bang chứng nhận
(accredited laboratory). Hai mươi hai (22) kim loại, hơn 70 hợp chất hữu cơ và
7 anions đã được phân tích với độ chính xác là một phần tỷ (ppb hay
ug/L) cho hai nhóm đầu và một phần triệu (ppm hay mg/L) cho nhóm sau. Dụng
cụ dùng trong việc phân tích nầy gồm có Induced Coupled Plasma/Mass
Spectrophotometer (ICP/MS), Gas Chromatography/Mass Spectrophotometer (GC/MS), và Ion
Chromatographer (IC)." Câu hỏi người ta phải đặt ra là những mẫu
này được thu thập như thế nào, ai phụ trách, có hội đồng khoa học nào
cho phép, bảo tồn ra sao, bao nhiêu lít, v.v.. Tuy tác giả cho biết những mẫu
này được thu thập ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế, và Nha Trang, nhưng
ông không cho biết tại sao những địa điểm này được lựa chọn! Độ
chính xác, theo như phát biểu trên là một phần tỉ, nhưng không cho biết
độ tin cậy là bao nhiêu. Thực ra, tôi còn ngờ rằng tác giả đã lẫn lộn
giữa độ chính xác (accuracy) và độ tin cậy (reliability)! Câu hỏi liên
quan cần được đặt ra là độ chuẩn biến thiên (standard error of
measurement) là bao nhiêu phần trăm của chỉ số trung bình, và độ biến
thiên này được tính toán ra sao, dựa vào bao nhiêu mẫu. Nếu những chỉ
số trên không rõ ràng thì kết quả phân tích cũng chỉ là những con số
nằm trong vòng nghi vấn. Ngoài ra, tác giả cũng không màng báo cáo cho người
đọc biết ông đã dùng phương pháp thống kê gì để phân tích dữ kiện?
Thứ ba, tác giả tỏ ra cực kỳ
thiếu nghiêm túc trong việc cung cấp nguồn tài liệu tham khảo. Tuy một
số phát biểu tác giả có cung cấp nguồn tài liệu, nhưng phần lớn các
phát biểu quan trọng, tác giả không hề cung cấp tài liệu một cách cụ
thể. Chẳng hạn như trong bài "nghiên cứu" mang tựa đề "Dioxin
và chất độc màu da cam" [2], tác giả viết "Cho đến hôm
nay, sau khi thử nghiệm trên hơn 200.000 cựu chiến binh Hoa kỳ đã từng chiến
đấu tại Việt Nam, các triệu chứng do dioxin ảnh hưởng lên con người
được ghi nhận như sau: 1- Da và gan bị nhiễm trước tiên; 2- Sau đó các
mô mềm như phổi và bao tử có thể có những chỉ dấu ung thư; 3- Lượng
dioxin trong của các cựu chiến binh trên vượt quá 50 phần ức/mL (10 -12
) và con cái của họ chiếm tỷ lệ cao về dị dạng ở tay và chân". Trong
đoạn văn quan trọng này, ông Mai Thanh Truyết không cho người đọc biết
là ông trích dẫn từ đâu, và nếu không cẩn thận, người đọc có thể
nhầm tưởng rằng ông là tác giả nghiên cứu!
Thực ra, mỗi một câu văn được
trích trên đây đều có thể đặt trong vòng nghi vấn. Có đúng là lượng
dioxin trong tất cả 200 ngàn quân nhân đều vượt quá 50 phần ức/mL hay
không? Có đúng là cuộc nghiên cứu đã thử nghiệm trên 200 ngàn cựu
quân nhân? Có đúng là da bị ảnh hưởng trước tiên? Tại sao? Tại sao lại
có thể phát biểu "dioxin ảnh hưởng" khi mà bằng chứng chưa được
trình bày rõ ràng? "…con cái của họ chiếm tỷ lệ cao về dị dạng
ở tay và chân", thế cao là bao nhiêu, so với cái gì? Theo người viết
bài này được biết, cuộc nghiên cứu qui mô nhất được tiến hành trong
các cựu quân nhân Mỹ tham gia vào Chiến dịch Ranch Hand (chiến dịch rải
Agent Orange xuống Việt Nam) và trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu chỉ
thu thập dữ kiện trong khoảng 2300 cựu quân nhân trong các năm 1982, 1985,
1987, 1992, 1997 và 2002 [3]. Các nhà nghiên cứu chia các đối tượng ra làm
hai nhóm: nhóm I gồm khoảng 1000 người từng trực tiếp rải AO xuống Việt
Nam; và nhóm II có khoảng 1300 người không trực tiếp rải chất AO, nhưng
có mặt trong nhà kho, và bảo quản chất AO. Một loạt báo cáo khoa học đã
được công bố trên các tập san y khoa danh tiếng, và kết quả có thể
được tóm tắt như sau: (a) không có sự khác biệt đáng kể nào về tỷ
lệ tử vong giữa hai nhóm; (tuy nhiên, nhóm rải AO (nhóm I) có tỷ lệ chết
vì bệnh tim mạch cao hơn nhóm II); (b) Tỷ lệ bị bệnh tiểu đường trong
nhóm I cao hơn trong nhóm II khoảng 5%; (c) chưa kết luận được các mối
quan hệ giữa dioxin và ung thư da, ung thư tiền liệt; (d) chưa thể kết luận
được mối liên hệ giữa dioxin và các chỉ số sinh hóa như lymphocytes (tế
bào bạch cầu dòng lym-phô), immunoglobulin (glô-bu-lin miễn dịch), tế bào
clonal B (B đơn dòng), v.v.
Thật ra, còn nhiều và nhiều phát
biểu kiểu như thế hoàn toàn không dựa vào một tham khảo khoa học nào cả.
Tuy nhiên, cũng có nơi, tác giả cung cấp tài liệu, nhưng nguồn tài liệu
lại rất mù mờ, khó mà truy tìm được. Chẳng hạn như trong bài viết
trên [2], tác giả viết "Và để kết luận, EPA cho rằng, nếu
dioxins trong máu và các mô mềm đạt
đến hàm lượng 50.10-12 g/L, thì hệ
thống miễn nhiễm của con người có thể bị giảm thiểu (Jeff Johnson,
C&EN July 17/2000)". Với cách cung cấp nguồn tài liệu như vậy thì
làm sao người đọc có thể kiểm chứng được? Trong nghiên cứu khoa học,
nhà nghiên cứu phải, như đề cập ở phần trước, cho người đọc biết
tên bài báo là gì, đăng ở tập san nào, xuất bản năm nào, tập (bộ)
nào, số tháng mấy, trang số mấy, v.v..
Ấy thế mà trong cùng bài viết,
ông Mai Thanh Truyết lên giọng "dạy đời" một nhà báo Việt Nam rằng,
"Trình bày một sự kiện nghiêm trọng mà thiếu cơ sở khoa học
như vậy chắc chắn không thuyết phục được ai mà còn gây cho những người
khách quan một ấn tượng nghi ngờ."! Chưa hết, trong một "thư
không niêm" gửi tôi, hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang viết:
"Chúng tôi đã liệt kê tất cả các nguồn tin tức (sources) mà
chúng tôi sử dụng để độc giả có thể tự mình kiểm chứng, bởi vì
đó là một việc làm hết sức sơ đẳng khi viết về khoa học." Lời
phát biểu này có đi đôi với hành động của tác giả hay không? Xin nhường
sự phán xét cho bạn đọc.
Thứ tư, tác giả tỏ ra thiếu
cẩn thận, thậm chí tính toán sai. Hãy lấy bài "Dioxin và chất
độc màu da cam" [2] ra làm ví dụ. Trong bài viết này, tác giả, với
lối hành văn chẳng đầu chẳng đuôi, viết: "Trong chiến tranh Việt
Nam, khoảng 5 kg tương đương 6,4 L (US Veteran Dispatch Staff Report, Nov. 1990)
dioxin đã được rãi xuống trên mỗi mẫu (acre) (một hecta hay mẫu tây =
2.2 acre). Căn cứ theo các nhà sản xuất, quân đội Hoa Kỳ đã xử dụng một
hàm lượng cao hơn 20 lần so với liều lượng cho phép áp dụng để diệt
cỏ dại." Có vài vấn đề với những con số này: Một, tôi không
biết ông lấy đơn vị 1 mẫu tây bằng 2.2 acre ở đâu, vì theo đơn vị
Système International d’Unités thì 1 ha (mẫu tây) bằng 2,47 acre. Hai, Trong
quãng thời gian từ 1962 đến 1971, chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã
rải xuống Việt Nam khoảng 19 triệu gallons (tức khoảng 72.010.000 lít,
tính theo 1 gallon Mỹ bằng 3,79 lít) thuốc khai hoang, trong đó có 11 triệu
gallons (41.690.000 lít) chất màu da cam [4]. Trong số Agent Orange, người ta đoán
rằng có chứa khoảng 368 pounds (tức khoảng 167 kg, tính theo 1 pound bằng
0,454 kg) dioxin [5]. Theo báo cáo của Công ty Tư vấn Hatfield Consultants Ltd
(Canada), tổng diện tích mà quân đội Mỹ đã rải là hơn 1,5 triệu
hectares, tức khoảng 3.705.000 acres (tính theo 1 ha bằng 2,47 acres). Như vậy,
tính trung bình [dù cách tính này không có ý nghĩa] trong thời gian đó có
khoảng 19,43 lít thuốc khai hoang cho mỗi acre, trong đó có khoảng 11,25 lít
chất màu da cam. Những con số trên của ông Mai Thanh Truyết, ngoài việc
không rõ nguồn gốc, chúng còn sai so với những tài liệu đã được công
bố.
Có khi tác giả phát biểu một câu
sai sự thật. Chẳng hạn như câu "Tháng 7/2000, một giáo sư người
Mỹ đã được phép mang sang Hoa Kỳ 10 mẫu máu của những người tình
nghi bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam để khám nghiệm. Tuy vậy,
chính quyền VN lại không cho phép và tịch thu các mẫu đất cũng do vị giáo
sư mang đi." [2]. Sự thật là sự kiện này xảy ra vào năm 1995 (xem
Tập san Science, số ra ngày 21 Tháng Bảy, 1995), và vị Giáo sư đó
là Arnold Schecter thuộc Trường Đại học Texas. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền
Việt Nam đã trả lại đầy đủ các mẫu máu cho Giáo sư Schecter đem sang
Mỹ để thử nghiệm.
Thứ năm, kết quả thiếu số
liệu. Không những mục tiêu không cụ thể và phương pháp không rõ
ràng, mà ngay cả cách trình bày kết quả cũng cực kỳ sơ sài. Trong báo
cáo trên [6], có khi tác giả chỉ viết chung chung, mà không đưa ra một con
số nào cụ thể. Ví dụ, có đoạn tác giả viết: "Tuy chưa hoàn tất
cuộc khảo sát, nhưng các kết quả phân tích ban đầu cho thấy vùng ĐBSCL
đã bắt đầu bị nhiễm arsenic," mà không cho người đọc biết hàm
lượng cụ thể là bao nhiêu! Có khi tác giả cố gắng đưa ra một con số,
nhưng chẳng ai biết nó là con số gì. Chẳng hạn như trong phần tường trình
kết quả cho Đồng Nai, tác giả viết: "Dù độ nhiễm mặn (Cl) và
sulfate (SO4) không đáng kể, nhưng sự hiện diện của arsenic tại nơi nầy
cần phải lưu ý. Trong một mẫu giếng tại đây có nồng độ As là 35
ug/L đồng thời có sự hiện diện của sắt, Mg và Ca nói lên tính cách
liên đới của các nguyên tố nầy." Con số 35m g/L này là gì? Trung
bình, trung tuyến, tối đa, hay tối thiểu? Nó được tính toán từ bao
nhiêu mẫu? Tại sao không có độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation, SD)?
Phân phối của nồng độ As là ra sao? Còn câu "liên đới của các
nguyên tố nầy" là liên đới gì? Thế nào là "liên đới"?
Có dữ kiện thống kê nào làm cơ sở cho phát biểu? Một báo cáo khoa học
mà không có những kết quả tối thiểu này thì làm sao được xem là
"khoa học"?
Thứ sáu, trong tất cả các bài
"nghiên cứu", tác giả không cho người đọc biết ông đã dùng phương
pháp thống kê gì để phân tích số liệu. Thực ra, qua cách mô tả, người
ta có thể nói rằng ông không phân tích hay so sánh số liệu. Ấy thế mà
ông có lần tuyên bố "Chúng tôi làm một việc mà từ trước đến
nay chưa có ai làm, đó là so sánh mức độ ô nhiễm Dioxin ở Việt Nam với
các nơi bị ô nhiễm khác trên thế giới." Nhưng người ta phải chất
vấn các so sánh của ông vì phải nói ngay rằng những so sánh như thế chẳng
có ý nghĩa khoa học gì khi mà các số liệu không được phân tích hay so
sánh bằng các phương pháp thống kê học hiện hành. Đó là chưa kể đến
việc có áp dụng một thuật toán thống kê thích hợp vào một so
sánh hay không. Không thể so sánh hai con số trung bình, hay một con số trung
bình với một con số ngẫu nhiên, để đi đến một kết luận được.
Thứ bảy, lập luận và kết luận
phi logic. Cũng trong báo cáo trên [6], tác giả không hề trình bày một bằng
chứng hay dữ kiện nào cụ thể, nhưng lại hấp tấp nhảy qua phần kết
luận: "Ngoài arsenic, sự hiện diện của Manganese (Mn) cũng là một
điều đáng lưu tâm chứng tỏ lòng đất đã bị ô nhiễm hóa chất nầy.
Về phương diện y tế công cộng đây cũng là một mầm bịnh nguy hiểm nếu
bị nhiễm độc lâu dài." Đọc xong đoạn văn này, người đọc sẽ
phải hỏi dữ kiện nào đã cho phép ông phát biểu rằng "chứng tỏ
lòng đất đã bị ô nhiễm hóa chất nầy" và ý nghĩa y tế công cộng
như thế nào? Hoàn toàn không trình bày được một số liệu, một câu văn
cho có bằng cớ, mà tác giả đã nhảy thoắt sang phần kết luận như thế
thì quả là cực kỳ khó hiểu.
Không những phi logic mà những nhận
xét của tác giả còn rất chủ quan, không dựa vào dữ kiện, hay đi ra ngoài
phạm vi của dữ kiện. Tiêu biểu cho cách làm việc này là bài viết
"Kết quả phân tích nước ở Việt Nam" [6], mà trong đó tác
giả viết về kết quả phân tích nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, như
sau "Tuy chưa hoàn tất cuộc khảo sát, nhưng các kết quả phân tích
ban đầu cho thấy vùng ĐBSCL đã bắt đầu bị nhiễm arsenic. Tuy mức độ
nhiễm vẫn còn nằm trong tiêu chuẩn chấp nhận, nhưng dù sao sự hiện diện
của nguyên tố này là một chỉ dấu báo hiệu cho một thảm nạn
(calamity) sắp xảy ra cho ĐBSCL (nồng độ trung bình của arsenic trong các
vùng nầy tương đương với nhau là 10ug/L)." Những mệnh đề bắt
đầu bằng "tuy" và "nhưng" nó còn cho thấy tác giả cực
kỳ chủ quan. Kết quả phân tích chưa xong, mức độ còn nằm trong
"tiêu chuẩn chấp nhận" và chưa biết chính xác cỡ nào mà đã
hô hoán là "thảm nạn"! Thực ra, người ta sẽ phải hỏi "mức
độ nhiễm vẫn còn nằm trong tiêu chuẩn chấp nhận" là bao nhiêu,
con số 10 m g/L được lấy từ bao nhiêu mẫu, những số liệu cho vùng Đồng
bằng sông Cửu Long ở đâu, v.v. . Nhưng rất tiếc, tác giả đã không cho
người đọc biết những thông tin này, mà thay vào đó là những nhận xét
chủ quan.
Thứ tám, có lẽ vì ít tham khảo
tài liệu y học nên tác giả đã đưa ra một số lời khuyên hết sức ngớ
ngẩn. Chẳng hạn như trong một bài viết về dioxin, ông Mai Thanh Truyết
kêu gọi: "Một đề nghị hợp lý cho VN lúc này về vấn đề dioxin
là nên dành nội lực và thành tâm khuyến khích và thực hiện một cuộc
nghiên cứu khoa học thật nghiêm chỉnh với mục đích rõ ràng là để tìm
ra những sự thật:
+ Dioxin có hiện diện
trong môi trường VN không? Và nếu có, ở nồng độ bao nhiêu và ở đâu?
Phải liên tục theo dõi những vùng có dioxin nồng độ cao để khuyến cáo
và bảo vệ dân chúng.
+ Tình trạng sinh vật, súc vật,
con người, hoa màu và môi trường trong vùng bị ảnh hưởng thế nào?"
Bài viết này, ông đề rõ là viết
xong tại "West Covina, 4/2000", nhưng dường như ông không hề biết
là trước đó 6 năm, Giáo sư Arnold Schecter và đồng nghiệp Mỹ – Việt
đã công bố kết quả nghiên cứu về lượng tích tụ dioxin trong 3243 người
dân trong các tỉnh ở Việt Nam [7]! Để làm rõ thêm vấn đề này, tôi xin
mời quí độc giả xem bảng thống kê được trích và dịch ra trong bài
báo trên của Giáo sư Schecter và đồng nghiệp [7]. Ấy thế mà ông Mai
Thanh Truyết lại đặt câu hỏi: "Dioxin có hiện diện trong môi trường
VN không?"! Còn câu hỏi thứ hai "Tình trạng sinh vật, súc vật,
…" thì gần như vô nghĩa! "Tình trạng" ở đây có nghĩa là
gì? Điều này có thể cho thấy tác giả chưa suy nghĩ đến nơi đến chốn
câu hỏi mình muốn hỏi, hay chính tác giả cũng chẳng biết mình hỏi gì.
Nếu là một bài báo trong các tạp chí mang tính giải trí thì cách viết
này còn châm chước được, nhưng trong một bài nghiên cứu khoa học (nếu
chỉ để nghiên cứu không thôi, sẽ dễ bị lập lờ với nghiên cứu
nguỵ khoa học) thì đó là cách viết không thể chấp nhận được.
Thứ chín, tất cả những
"nghiên cứu" này chưa bao giờ được công bố trong các diễn đàn
khoa học quốc tế. Theo truyền thống bất di, các nhà nghiên cứu phải
công bố nghiên cứu của mình trong các diễn đàn khoa học trước khi
công bố nó trước công chúng (là đã bao hàm giới chuyên môn và không
chuyên môn). Qui trình làm việc theo truyền thống này đảm bảo độ tin cậy
của dữ kiện, vì ít ra nó cũng đã được các đồng nghiệp cùng ngành
kiểm tra và đồng ý. Như tôi có chỉ ra trong một bài viết trước [8],
ông Mai Thanh Truyết chưa bao giờ công bố những "nghiên cứu" của
ông trong các diễn đàn khoa học chuyên môn. Kiểm tra qua những tập san
liên quan đến y học, môi trường học, và hóa học, tôi không tìm thấy bất
cứ một bài viết nào của hai ông. Ấy thế mà hai ông lại lên tiếng trước
công chúng qua các cơ sở truyền thông đại chúng của Mỹ và trong cộng
đồng người Việt hải ngoại. Đây là một việc làm đi ngược lại với
truyền thống nghiên cứu khoa học.
Thứ mười, trong tất cả các bài
"nghiên cứu", tác giả không hề ghi nhận sự đóng góp của người
khác hay cộng tác viên. Chẳng hạn như cuộc "nghiên cứu" về nước
[6] ở Việt Nam, tác giả không cám ơn những người đã trực tiếp hay
gián tiếp giúp đỡ trong việc thu thập mẫu nước, phân tích, xử lí số
liệu, v.v. Thành ra, đọc qua bài viết người ta cứ tưởng ông là người
làm từ A đến Z, mà không có ai giúp đỡ cả. Một điều quan trọng hơn
nữa là trong những nghiên cứu như thế, tác giả cũng không cho biết ai đã
cho phép ông thu thập các mẫu nước ở Việt Nam.
Ngoài ra, trong tất cả các bài viết
này đều chứa những lỗi lầm chính tả hầu như kinh niên, và nhiều
danh từ bí hiểm. Thực ra, những nhầm lẫn về chính tả là vấn đề
khá phổ biến, và ít ai (kể cả người viết bài này) tránh khỏi; nhưng
nếu những lỗi lầm đó xuất hiện ở một tần số cao thì nó có thể
thể hiện một thái độ thiếu nghiêm túc với người đọc. Tiếc thay,
trong những bài "nghiên cứu" của ông Mai Thanh Truyết thì những lỗi
lầm này hầu như có hệ thống, và có mặt hầu như trong từng trang giấy.
Những "xử dụng", "đáng kễ", "Quỷ nhi đồng",
"tranh cải", "thị xả", "tái diển", v.v. cứ xuất
hiện liên tục trong những bài viết này đến độ người ta phải hỏi
người viết học tiếng Việt như thế nào mà lại bỏ dấu sai, mà những
chữ sai chỉ là những chữ rất thông thường! Ngoài vấn đề dấu hỏi
ngã, người ta còn thấy những danh từ bí hiểm như "nan đề",
"đuoin mặn", v.v. thật là khó hiểu. Hoặc là "chỉ dấu"
[chắc là dịch nghĩa của từ "indicator"]; "nguồn tin tức"
(tác giả mở ngoặc là "source"), mà dùng nghĩa này thì không thể
gọi là "khoa học" được, vì khi nói đến nguồn tin tức là người
ta nghĩ đến chuyện đồn đại hơn là các nguồn tài liệu nghiên cứu.
Thêm vào đó là những đoạn văn khó hiểu, chẳng hạn như "việc tái
thẩm định sẽ làm sẽ làm tăng thêm cường độ xử lý và làm sạch
tuân thủ theo luật lệ về Superfund của EPA", làm cho người đọc
phải bức tóc vò trán suy nghĩ để hiểu xem tác giả muốn nói gì; hay một
câu văn lơ lửng không có đoạn kết, hay chấm dấu sai chỗ, chẳng hạn
như "Với những kết quả ghi nhận được qua một số mẫu giếng từ
Bắc chí Nam, tuy chưa đầy đủ để lượng định chắc chắn mức độ ô
nhiễm arsenic tại Việt Nam. Nhưng qua xét nghiệm các dữ kiện liên quan đến
sự nghiễm độc ở Bangladesh, thì việc nhiễm độc arsenic ở ĐBSCL là một
thực tế không thể chối bỏ được." [6].
Những nhầm lẫn được nêu trên
là không thể chấp được ở một sinh viên tập sự nghiên cứu, huống hồ
chi tác giả đã từng là một giáo sư ở một đại học thuộc miền Nam
Việt Nam trước năm 1975, và hiện đang giữ chức chủ tịch "Hội Khoa
học & Kỹ thuật Việt Nam". Nếu một người có trách nhiệm mà phạm
phải những lỗi lầm như thế thì lớp trẻ sẽ không có thiện cảm với
thế hệ đàn anh, họ sẽ đặt dấu hỏi và nghi ngờ những việc làm của
đàn anh trong quá khứ, thậm chí tương lai. Đi xa hơn nữa, vấn đề có thể
gây tác hại lớn đến thanh danh khoa học Việt Nam; vì nếu một nhà khoa học
ngoại quốc đọc được những "nghiên cứu" như thế thì họ sẽ
xem thường khoa học gia Việt Nam đến nhường nào. Tuy nhiên, điều tôi lấy
làm "an ủi" là những bài viết này chỉ mới được công bố bằng
tiếng Việt, và mức độ lưu hành cũng mới có thể chỉ trong đồng
hương hải ngoại của chúng ta hơn là trong cộng đồng người Mỹ hay Tây
phương.
Thực ra, lỗi lầm trong nghiên cứu
là một điều khó tránh khỏi, nhất là những nghiên cứu phức tạp. Tuy
nhiên, nếu những lỗi lầm cứ xuất hiện một cách liên tục và có hệ
thống thì người ta có lí do để đặt vấn đề về giá trị của những
nghiên cứu như thế, cũng như tư cách làm việc của nhà khoa học. Đọc
qua các bài viết của ông Mai Thanh Truyết trên trang nhà của "Hội Khoa
học & Kỹ thuật Việt Nam", người ta không khỏi tự hỏi tại sao
những nhầm lẫn căn bản và sơ đẳng như nêu trên đây lại xuất hiện
hết bài này sang bài khác. Không ai biết được câu trả lời chính xác hơn
là tác giả, và những suy luận như tác giả không tôn trọng hay coi thường
người đọc, hay bất cẩn, hay thiếu trình độ khoa học, hay vân vân đều
không công bằng đối với tác giả. Do đó, có lẽ điều hay nhất là tác
giả nên giải thích việc làm của chính ông cho cộng đồng hiểu thêm.
Chú thích:
[1] Thực ra, tôi cũng không chắc
tên gọi chính thức của Hội này là gì. Trong trang nhà thì đề bằng tiếng
Việt là "Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam", nhưng tên
gọi bằng tiếng Anh thì lại có nghĩa là Hội Khoa học và Công nghệ của
Người Mỹ gốc Việt ("Vietnamese American Science & Technology
Society").
[2] "Dioxin và chất độc màu
da cam," tác giả "Mai Thanh Truyết, Ph.D." Điạ chỉ www.vastvn.org/vastnc.htm, ngày truy nhập:
7 Tháng Hai, 2002.
[3] Xem các bài báo sau đây:
"Exposure to Agent Orange and occurrence of soft-tissue sarcomas or non-Hodgkin
lymphomas: an ongoing study in Vietnam," Tập san Environmental Health
Perspective 1998 Apr;106 Suppl 2:671-8; "Serum dioxin, insulin, fasting glucose,
and sex hormone-binding globulin in veterans of Operation Ranch Hand," (Tập san) Journal
of Clinical Endocrinology and Metabolism 1999 May;84(5):1540-3; "Vietnam
veterans' risks for fathering babies with birth defects," (Tập san) JAMA
1984 Aug 17;252(7):903-12.
[4] Xem bài xã luận "New IOM
Report links Agent Orange exposure to risk of birth defect in Vietnam Vets’
children," do Tiến sĩ Joan Stephenson viết trong (Tập san) Journal of the
American Medical Association (JAMA), số 275, ra ngày 10 tháng Tư 1996, trang
10667.
[5] Xem bài xã luận "Agent Orange:
exposure and policy," do Tiến sĩ Michael Gough viết trong (Tập san) American
Journal of Public Health, năm 1991; số 81: trang 289-90.
[6] "Kết quả phân tích nước
ở Việt Nam," tác giả "Mai Thanh Truyết, Ph.D.", Điạ chỉ www.vastvn.org/vastnc.htm, ngày truy nhập:
7 Tháng Hai, 2002.
[7] Bài "Agent Orange and the
Vietnamese: the persistence of elevated dioxin levels in human tissues," Giáo sư
Arnold Schecter và đồng nghiệp Mỹ – Việt, đăng trong (Tập san) American
Journal of Public Health, năm 1995, tháng Tư, bộ 85, trang 516-22. Bảng thống
kê sau đây cho thấy mức độ tích tụ của TDDC và chỉ số tương đương
(không rõ đặc tính của chỉ số này) cho từng tỉnh ở Việt Nam.
| Tỉnh / địa phương |
Thời điểm thu thập mẫu |
Số lượng mẫu |
Tuổi trung bình |
- TDDCa
|
Teqb |
| Miền Bắc Việt Nam ( n= 168) |
|
|
|
|
|
| Hà Nội, bệnh viện 103 |
3/91 |
33 |
45 |
1,2 |
12.0 |
| Tây nguyên (cựu chiến binh) |
11/91 |
35 |
48 |
6,1 |
40.3 |
| Quảng Bình, Đồng Hới |
1/91 |
50 |
47 |
2,9 |
17,2 |
| Thuận Hóa |
11/91 |
50 |
55 |
2,9 |
18,0 |
| Miền Trung Việt Nam ( n= 490) |
|
|
|
|
|
| Thừa Thiên, Huế |
1/91 |
30 |
57 |
11,0 |
57,0 |
| Quảng Trị, Quảng Trị |
1/91 |
50 |
51 |
9,5 |
34,0 |
| Đà Nẵng |
2/91 |
49 |
59 |
18,0 |
77,0 |
| Thừa Thiên, A Lưới |
1/91 |
35 |
52 |
15,0 |
23,0 |
| Khánh Hòa, Nha Trang |
1/92 |
50 |
49 |
4,1 |
29,5 |
| Phú Yên, Phú Yên |
1/92 |
43 |
51 |
6,2 |
26,4 |
| Ninh Thuận, Phan Rang |
1/92 |
33 |
56 |
2,9 |
31,7 |
| Đà Nẵng, Đà Nẵng (18-40 tuổi) |
8/92 |
100 |
30 |
14,0 |
96,3 |
| Đà Nẵng, Đà Nẵng (> 40 tuổi) |
8/92 |
100 |
56 |
19,0 |
118,2 |
| Miền Nam Việt Nam ( n= 2062) |
|
|
|
|
|
| Đồng Nai, Trị An (rừng Mã Đà) |
3/91 |
50 |
47 |
12,0 |
19,0 |
| Cửu Long, Vĩnh Long |
8/91 |
51 |
59 |
4,3 |
16,9 |
| Đồng Nai, Biên Hòa |
3/91 |
50 |
51 |
28,0 |
47,0 |
| Bến Tre, Giòng Trôm |
8/91 |
34 |
55 |
10,2 |
29,0 |
| Kiên Giang, Gò Quao |
8/91 |
37 |
58 |
10,9 |
27,5 |
| Kiên Giang, Rạch Giá |
8/91 |
48 |
58 |
4,9 |
17,3 |
| Minh Hải, Cà Mau |
8/91 |
52 |
59 |
7,2 |
19,9 |
| Sông Bé, Sông Bé |
3/91 |
47 |
47 |
9,0 |
48,0 |
| Sông Bé, Tân Uyên |
3/91 |
48 |
54 |
32,0 |
55,0 |
| Tây Ninh, Tân Biên |
2/91 |
50 |
60 |
5,3 |
25,0 |
| Tây Ninh, Tây Ninh |
3/91 |
50 |
53 |
6,8 |
16,0 |
| Cửu Long, Trà Vinh |
8.91 |
48 |
57 |
7,2 |
27,7 |
| Hậu Giang, Cần Thơ |
8/91 |
52 |
61 |
4,8 |
16,4 |
| An Giang, Long Xuyên |
8/91 |
49 |
62 |
2,2 |
10,5 |
| An Giang, Châu Đốc |
8/91 |
46 |
56 |
3,5 |
16,8 |
| HCM, Bệnh viện Chợ Rẫy |
2/91 |
48 |
54 |
10,8 |
30,0 |
| Minh Hải, Bạc Liêu |
8/91 |
50 |
60 |
10,3 |
34,8 |
| Gia Lai, Pleiku |
1/91 |
50 |
57 |
4,2 |
34,2 |
| Tây Ninh, Châu Thành |
8/92 |
100 |
54 |
4,6 |
19,4 |
| Trà Nóc, Cần Thơ |
8/92 |
102 |
51 |
33,0 |
104,6 |
| Sông Bé, Tân Uyên (18-40 tuổi) |
8/92 |
100 |
32 |
9,4 |
25,4 |
| Sông Bé, Tân Uyên (> 40 tuổi) |
8/92 |
100 |
51 |
5,7 |
18,9 |
| Sông Bé, Bến Cát |
8/92 |
100 |
53 |
12,0 |
49,8 |
| Đồng Nai (18-40 tuổi) |
8/92 |
100 |
31 |
14,0 |
61,0 |
| Đồng Nai (> 40 tuổi) |
8/92 |
100 |
53 |
19,0 |
53,7 |
| Tây Ninh, Hoà Thanh |
8/92 |
100 |
50 |
1,0 |
38,8 |
| Sông Bé, Đồng Xoài |
8/92 |
100 |
50 |
3,1 |
8,7 |
| Tây Ninh, D.M. Chan |
5/92 |
100 |
50 |
7,0 |
35,3 |
| Đồng Nai, Biên Hòa (18-40 tuổi) |
5/92 |
100 |
47 |
7,3 |
22,8 |
| Đồng Nai, Biên Hòa (> 40 tuổi) |
5/92 |
100 |
n/a |
12,0 |
49,0 |
Trích bảng thống
kê số 3 trong bài báo trên. Chi tiết tính toán và lấy mẫu có thể tham khảo
bài báo đó. a: TCDD = 2,3,7,8-TCDD; b: Teq = chỉ số độc hại
tương đương (dioxin toxic equivalents). N: số lượng mẫu
[8] Xem bài "Phản trí thức
và lạm dụng khoa học trong so sánh," Người Việt, Ngày 6 Tháng Hai,
2002.
Bài 4: Khoa học
và nguỵ khoa học
Home | Go top page
|
© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove,
CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa95121@yahoo.com |
|
|
. |
.......... |