-
Câu chuyện dioxin và bệnh tật: thực hay giả? (*)
Nguyễn Văn
Tuấn
Vài lời
thưa của Giao Điểm: Trong thời gian qua, một vài độc giả
đã Email đến chúng tôi kèm theo những lời hạch hỏi thiếu tế nhị là
tại sao chúng tôi không lên tiếng chống chính phủ VN đã "bán đất"
biên giới phía Bắc cho Trung quốc (có email còn dùng cụm từ thiếu lễ độ
như “bọn Cộng sản nằm vùng” để chụp mũ chúng tôi). Thiết nghĩ
cũng nên có vài lời để trình bày với đại đa số bạn đọc trước
sau như một đã ủng hộ GĐ hết mình. Vấn đề hiệp ước ký kết về
xác định lãnh thổ biên giới không phải là vấn đề thời sự vừa mới
xảy ra, nó đã tiến hành từ hơn hai năm qua giữa Việt và Hoa. Nội dung của
Hiệp ước đó vì không được công bố từ hai quốc gia, nên chúng tôi
quan niệm những dữ kiện đó thuộc về lãnh vực tin tức tình báo; chúng
tôi không biết lãnh vực này và không nắm vững dữ kiện nên không lên
tiếng. Thứ hai, sau khi nghiên cứu các bài báo phản ứng của các thức giả
trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, họ đã không đứng trên lập
trường quyền lợi của dân tộc. Những người mở đầu cho chiến dịch
chống chính phủ VN như ông Trần Đại Sỹ đã đưa ra nhiều tài liệu để
đề cao chính phủ Pháp (qua Hiệp ước ký kết năm 1887 giữa chính quyền
thực dân và Trung Hoa), hoặc có người lợi dụng cơ hội này chỉ để hùa
nhau chống Cộng mà thôi. Có kẻ muốn "bảo Hoàng hơn Vua" (Ngạn
ngữ Pháp : ‘Plus Royaume que le Roi’) chứng tỏ mình là người yêu nước
còn hơn là những người đã từng yêu nước vừa qua (bằng chứng qua trận
chiến chống xâm lược Trung quốc năm 1979). Nói tóm lại, tất cả những
phản ứng vừa qua về vấn đề hiệp ước biên giới đều chỉ nhắm vào
mục tiêu chính trị phe nhóm, hoặc chỉ có lợi về mặt tuyên truyền cho
các chính phủ Pháp, Trung Hoa, v.v... Chúng tôi dành quyền được im lặng vì
chúng tôi nghĩ sự im lặng trong lúc này là để bảo vệ quyền lợi tối
cao của dân tộc. Ngày nào quốc gia VN hùng cường thật sự, ngày đó vấn
đề biên giới sẽ được chính phủ VN đương thời đem ra bàn thảo trước
quốc dân.
Song song với vấn đề biên giới,
có hai biến cố đã đánh động dư luận người Việt ở nước ngoài:
Công ty sản xuất cá Mèo (Catfish) của Mỹ cạnh tranh bất bình đẳng
(unfair competition) với sự nhập cảng cá Tra của VN bằng cách tố cáo cá
Tra thiếu phẩm chất và mất vệ sinh mà không có bằng cớ xác thực. Thứ
hai là loạt bài "tố cáo" thực phẩm nhập cảng của VN có thể bị
nhiểm độc từ phân bón hóa học và từ sự nhiểm độc trong nước; sức
khỏe của người dân vùng thôn quê VN bị ảnh hưởng từ các nguồn gốc
này chứ không phải từ thuốc khai quang Agent Orange (trong đó chứa đựng
chất độc dioxin) của hai nhà khoa học Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang
đưa ra.
Trên một số diễn đàn điện tử,
một vài người đã chịu khó viết bằng Anh ngữ để tiết lộ cho người
Mỹ biết thêm cá Tra ở VN được nuôi bằng phân người (human feces). Sự
tiết lộ này cũng không khác gì nói cho người Mỹ biết thêm con chó ở
VN ăn phân người và người ta giết chó đó để ăn thịt. Chúng tôi
không phủ nhận sự thật đó, nhưng muốn đề cập ở đây là để nhấn
mạnh hành vi phỉ báng dân tộc của một số người này. Cách nay chừng
30 năm, chúng tôi được giảng dạy về phương pháp nuôi cá Tra, cá Vồ
theo phương pháp kỹ nghệ (có tài liệu in ấn và phổ biến chính thức) tại
Nha Ngư Nghiệp (thời đó do ông giám đốc Ngô Bá Thành chủ trì), cũng đã
từng quan sát một vài ao nuôi cá Tra nhà ở miền Nam, dù người ta có làm
thêm cầu xí trên ao, nhưng cũng biết phương pháp chuyển cá qua một ao sạch
để lọc ruột trước khi ăn thịt, và cách làm cá cũng rất công phu. Đối
với người nông dân miền Nam, cá Tra, cá Vồ là cả một nguồn lợi kinh
tế. Vả lại theo lý thuyết, khi nuôi cá Tra, cá Vồ theo phương pháp kỹ
nghệ sản xuất thì không có chuyện xử dụng phân người. Về phẩm chất,
không cần nói đa số đều biết cá Tra, cá Vồ là loại cá ngon thịt.
Trong lịch sử, từng có vài lý
thuyết gia chính trị đã ví von "trí thức không bằng cục phân".
Đúng hay không, chúng tôi xin miễn luận bàn. Nhưng trong trường hợp này,
đối với người nông dân Việt Nam, cục phân còn có giá trị về kinh tế,
nhưng trí thức không những chẳng có giá trị gì, mà còn mang tính độc hại
nữa. Nếu người trí thức ở nước ngoài vì lương tâm "uống nước
nhớ nguồn" mà thương người nông dân, thay vì làm những chuyện “tố
cáo” vớ vẫn, vô căn cứ như vừa xảy ra, xin hãy tranh đấu dùm cho họ
được hưởng công bằng, quyền lợi hơn khi bán những sản phẩm do sức
lao động họ tạo ra cho các công ty hợp doanh chẳng hạn ...
Vô hình trung, chúng tôi nhận thấy
giữa hai sự kiện chống nhập cảng cá Tra, và tố cáo thực phẩm Việt
Nam bị nhiểm độc có sợi dây khắn khít với nhau, dù trên thực tế hai
phía chẳng có liên hệ gì cả. Xét trên mặt quyền lợi, hành động của
hai nhà "khoa học" trên không có lợi gì cho chính phủ Mỹ cả, vì
tất cả các công trình nghiên cứu về "Chất độc Da cam” tác động
trên sức khỏe của người dân Việt và cựu chiến binh Mỹ do thuốc khai
quang rãi thảm trong chiến tranh là do các nhà khoa học Mỹ công bố, không
thể vì một vài bài báo "giật gân" mà thay đổi cả nguyên trạng.
Nhưng nếu vấn đề nhập cảng thực phẩm VN vào Mỹ vì những tác động
đến tâm lý người tiêu thụ và tạo thành dư luận rộng rãi, có thể số
lượng nhập (quota) sẽ bị Bộ Ngoại thương Mỹ cắt giảm hoặc cấm nhập
nội một số mặt hàng nào đó, và thiệt thòi trực tiếp nhất là người
nông dân nói riêng và dân Việt trong nước nói chung. Chính vì vậy, lập
trường của chúng tôi là sẽ "dứt điểm" một cách minh bạch về
các bài báo "tố cáo" của hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh
Quang. Với tinh thần này, chúng tôi đăng tiếp hai bài viết mới nhất của
anh Nguyễn Văn Tuấn, một nhà nghiên cứu về Genes hiện đang làm việc tại
Úc: 1. Câu chuyện Dioxin và bệnh tật: thật hay giả.
2. Dioxin và tỉ lệ giới tính. Xin giới thiệu với
bạn đọc Giao Điểm.

Dioxin trong
chiến tranh Việt Nam
Chất màu da cam (thường được đề
cập đến là Agent Orange, hay AO) [1] là một loại thuốc diệt cỏ, gồm có
hai thành phần chính: 2-4-dichlorophenoxyacetic và
2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (tức dioxin). Trong thập niên 1940, chất màu
da cam được phát triển để diệt cỏ dại. Tuy nhiên, hóa chất này còn tỏ
ra rất hữu hiệu trong việc tiêu diệt các loại cây có lá rộng và vụ
mùa. Khả năng diệt cỏ và cây xanh của AO đã thu hút sự chú ý của giới
quân sự Mỹ, và họ đã thử nghiệm thành công ở Fort Detrick (bang
Maryland), Căn cứu Không quân Eglin (bang Florida), và Camp Drum (bang New York), trước
khi đem sang dùng ở Thái Lan vào đầu thập niên 1960's.
Tuy nhiên, AO chỉ được dùng một
cách qui mô trong thời chiến tranh Việt Nam, với mục đích chính là khai
hoang đồng cỏ, làm cho đối phương (quân đội cộng sản) không có chỗ
lẫn tránh. Ngày 20 tháng 11 năm 1961, Tổng thống Kennedy phê chuẩn cho quân
đội Mỹ tiến hàng chiến dịch Operation Ranch Hand để khai hoang đồng cỏ
Việt Nam [2]. Quyết định này được Tổng thống Ngô Đình Diệm ủng hộ
một cách nồng nhiệt [3], vì ông ta cho rằng ông "biết cộng sản
đang ở đâu." Tuy nhiên, trong nội bộ Mỹ, có sự phản đối từ các
nhân vật cao cấp từ Bộ Ngoại giao như Roger Hilsman và W. Averell Harriman,
vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là đồng lúa của đối
phương sẽ bị tiêu hủy hay không. Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.
Kể từ năm 1962, Lực lượng Không
quân Mỹ đã bắt đầu dùng chất độc màu da cam ở các vùng đất thuộc
miền Nam và Trung Việt Nam. Năm 1969, trong một báo cáo khoa học cho Viện Y
học (Mỹ), dựa vào các thí nghiệm trên chuột, một số nhà khoa học Mỹ
đã kết luận rằng chất màu da cam có thể gây ra dị thai (birth defect). Năm
1970, chính phủ Mỹ ra lệnh ngưng dùng chất màu da cam trong chiến tranh, nhưng
trên thực tế, các thuốc khai hoang khác vẫn được tiếp tục xịt cho đến
năm 1971 mới chấm dứt. Trong thời gian mười năm (tính từ 1962 đến
1971), trong Chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã rải xuống Việt Nam
khoảng 19 triệu gallons (tức khoảng 71.9 triệu lít) thuốc khai hoang, trong
đó có 11 triệu gallons (hay 41.6 triệu lít) AO [4]. Với 11 triệu gallons AO,
người ta đoán rằng có chứa khoảng 368 pounds (tức 167 kg) dioxin [5]. Phần
lớn (90%) AO được rải xuống Việt Nam bằng máy bay loại C-123, và phần
còn lại (10%) bằng trực thăng, xe vận tải, và đi bộ. Tổng diện tích
mà quân đội Mỹ đã rải là 1.5 triệu hectares, tức gần 10% diện tích của
miền nam Việt Nam, trong đó có nhiều vùng bị rải hơn 4 lần. Theo báo
cáo chính thức của Chiến dịch Ranch Hand, kết quả là quân đội Mỹ đã
phá hủy khoảng 14% diện tích rừng nam Việt Nam, kể cả 50% các vườn xoài
[6].
Dioxin và cựu
chiến binh Mỹ
Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết
thúc, hai thành phần được công nhận là chịu ít nhiều ảnh hưởng của
dioxin: đồng bào Việt Nam sống trong các vùng bị rải AO, và quân nhân Mỹ,
những người trực tiếp rải hóa chất này. Sau năm 1975, một số cựu chiến
binh Mỹ và thân nhân của họ bắt đầu phàn nàn tình trạng suy đồi sức
khỏe, đặc biệt là ung thư, và tình trạng khuyết tật trong con cái của
họ. Những cựu chiến binh này nghi ngờ rằng dioxin là thủ phạm của những
bệnh tật như thế. Họ vận động với chính phủ, và một số thượng
nghị sĩ cũng khẳng định rằng AO, hay dioxin, là độc chất gây ra bệnh tật
cho giới cựu chiến binh, và kêu gọi chính phủ phải bồi thường cho những
thiệt hại này. Tiếp theo đó, Bộ phụ trách các dịch vụ cựu chiến
binh (Department of Veterans Affairs) bắt đầu tiến hành thủ thục bồi thường
cho những cựu chiến binh mắc bệnh "non-Hodgkins lymphoma" hay
"soft tissue sarcoma."
Nhưng ý kiến dioxin là thủ phạm của
những vấn đề sức khỏe trong giới cựu chiến binh bị một số nhà
nghiên cứu y khoa thách thức. Các nhà nghiên cứu này trình bày dữ kiện
cho thấy không có một sự liên đới nào giữa AO hay dioxin và ung thư. Nhận
xét này được phù hợp với một nghiên cứu ở Úc, mà trong đó các nhà
nghiên cứu Úc không tìm thấy mối liên hệ nào giữa dioxin và các vấn đề
sức khỏe trong cựu quân nhân Úc từng tham chiến ở Việt Nam.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn
khi một số nhà nghiên cứu khác trình bày dữ kiện cho thấy dioxin có thể
gây ra ung thư, dị thai, và một loạt tác hại khác cho sức khỏe. Một cuộc
tranh luận "nóng" giữa các nhà nghiên cứu xảy ra trên các tập
san y học. Các nhà nghiên cứu y học thường rất bình tĩnh, lạnh lùng,
và ôn hòa trong lời văn chữ viết, nhưng trong cuộc tranh luận này, đã
có lúc họ dùng đến những danh từ nặng cảm tính như "huyền thoại"
(myth), "sai lầm" (wrong, mistake) …
Để giải quyết tình trạng bất
đồng ý kiến này, chính phủ Mỹ đã chi ra một ngân khoảng rất lớn
(140 triệu đô-la) để ủy nhiệm một số chuyên viên khoa học và bác sĩ
tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin trong sức khỏe của cựu chiến
binh Mỹ. Cuộc nghiên cứu này được lấy tên chiến dịch rải AO, tức
là "The Operation Ranch Hand Study" [7]. Trong nghiên cứu này, các
nhà nghiên cứu theo dõi tình trạng sức khoẻ của hai nhóm cựu chiến binh
từng tham gia vào chiến dịch này trong thời chiến tranh: nhóm I gồm khoảng
1000 người từng trực tiếp rải AO xuống Việt Nam; và nhóm II có khoảng
1300 người không trực tiếp rải chất AO, nhưng có mặt trong nhà kho, bảo
quản chất AO trong thời chiến tranh. Trong thời gian từ 1982, 1985, 1987,
1992, 1997, và 2002 (sắp tới), mỗi cựu chiến binh (nếu còn sống) được
khám để thu thập số liệu liên quan đến độ tích tụ dioxin, và quá
trình phát triển bệnh tật. Một loạt báo cáo khoa học đã được công bố
trên các tạp san y khoa danh tiếng, và kết quả có thể được tóm tắt như
sau:
- Tử vong. Nói chung, không có sự khác biệt đáng
kể về tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm. Tuy nhiên, nhóm rải AO (nhóm I) có tỷ
lệ chết vì bệnh tim mạch cao hơn nhóm II.
- Bệnh tiểu đường. Các nhà nghiên cứu kết luận
rằng dioxin có khả năng làm tăng sự nghiêm trọng của bệnh tiểu đường,
làm giảm độ insulin và dung nạp glucose (glucose tolerance). Tỷ lệ bị bệnh
tiểu đường trong nhóm I cao hơn trong nhóm II khoảng 5%.
- Bệnh ung thư. Trong một bài báo đăng trên Tập
san American Journal of Epidemiology, các nhà khoa học kết luận rằng không có
mối quan hệ nào giữa dioxin và ung thư da, ung thư tiền liệt.
- Hệ thống miễn nhiễm. Kết quả nghiên cứu
trong hai nhóm cựu chiến binh cho thấy không có mối liên hệ nào giữa
dioxin và các chỉ số sinh hóa như lymphocytes, immunoglobulin, tế bào clonal B,
v.v. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu không tìm thấy ảnh hưởng của dioxin đến
hồng huyết cầu hay bạch huyết cầu, hay haematocrit, haemoglobin, hay ESR.
- Dùng số liệu từ năm 1982 đến 1997, các nhà
nghiên cứu ước lượng rằng tính trung bình, mức độ tồn tại trung bình
của dioxin trong cơ thể là khoảng từ 7 đến 8.2 năm.
Nhưng những kết quả nghiên cứu
trên đây bị giới cựu chiến binh chất vấn một cách mạnh mẽ. Sau khi
điều tra và thậm định lại các phương pháp nghiên cứu và cách thức
làm việc của các nhà khoa học dính dáng đến chương trình này, một số
cựu chiến binh phát hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng. Chẳng hạn như có
2 báo cáo về tình trạng dị thai trong các cựu quân nhân bị nhiễm dioxin
ở mức độ cao, nhưng không được công bố. Lại còn có một báo cáo về
mối liên hệ giữa dị thai và dioxin bị thay đổi từ ngữ làm cho kết quả
kém quan trọng. Phần lớn các nhà khoa học làm việc trong chương trình
nghiên cứu này là quân nhân, họ chịu ảnh hưởng từ các cấp chỉ huy
cao hơn trong việc phân tích số liệu, và điều này làm cho người ta có
lí do để chất vấn tính trung thực của việc làm của họ.
Dioxin và người
Việt Nam
Ở Việt Nam, sau một loạt trường
hợp dị thai được ghi nhận ở các tỉnh miền Trung mà trong thời chiến
tranh chịu ảnh hưởng chất AO, đã bắt đầu nghi ngờ tác hại của
dioxin. Nhà cầm quyền Việt Nam đã cố công thu thập và trưng bày trong
vài bệnh viện ở Sài Gòn nhiều trường hợp dị thai, và rải rát trên
báo chí người ta tường trình các trường hợp cha mẹ bị nhiễm AO thường
sinh con có tật hoặc bị bệnh. Việt Nam còn đưa ra một số số liệu thống
kê để chứng minh AO gây ra dị thai. Tuy nhiên, hầu hết số liệu và
nghiên cứu của Việt Nam đều bị giới khoa học thế giới đánh giá thấp,
nếu không muốn nói là không được công nhận. Lí do đơn giản là tất cả
các nghiên cứu của Việt Nam trong lĩnh vực này chưa đạt được tiêu chuẩn
của một "nghiên cứu" nghiêm túc, tức là thiếu khoa học tính.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, Việt Nam có cơ hội tiến hành những nghiên
cứu có chất lượng cao, và có tiềm năng cống hiến nhiều dữ kiện quan
trọng cho y học thế giới mà không nơi nào có được. Song, trong vài năm
gần đây, phía Việt Nam tỏ ra miễn cưỡng trong việc hợp tác với người
Mỹ trong việc nghiên cứu AO ở Việt Nam, vì chính phủ Việt Nam quan tâm
đến một kết quả từ những nghiên cứu như thế sẽ chẳng mang lại lợi
ích gì, nếu không muốn nói là có hại, cho nền kinh tế xuất khẩu nông
sản của Việt Nam! Nếu thế giới biết được những vùng như Ban Mê Thuột
bị nhiễm dioxin thì kỹ nghệ sản xuất và xuất cảng cà phê của Việt
Nam ắt hẳn phải gặp khó khăn.
Do đó, các tranh luận ở Mỹ và sự
miễn cưỡng của Việt Nam trong vài năm qua đã biến vấn đề mang bản chất
khoa học này trở thành vấn đề chính trị và kinh tế. Cộng thêm vào đó
là những ồn ào trong giới cựu chiến binh, và sự quan tâm của công
chúng và đặc biệt là công nhân trong các cơ xưởng kỹ nghệ về tác hại
của dioxin đến sức khỏe của họ, đã biến dạng AO thành một vấn đề
đầy cảm tính. Hậu quả của một sự tranh luận cảm tính như thế là sự
lẫn lộn. Công chúng, nhất là những người không hiểu nhiều về y học,
hay không quen thuộc với các phương pháp nghiên cứu y khoa, cảm thấy bị
động bởi các bản tin lúc thì cho rằng AO gây ra ung thư, lúc lại có tin
cho rằng AO là một chất hoàn toàn vô hại! Vậy sự thật ra sao? Trong bài
viết này, tôi sẽ cố gắng trình bày một cách ngắn gọn kết quả của
những nghiên cứu liên quan đến sự ảnh hưởng của AO trong sức khỏe
con người.
Mức độ nhiễm
dioxin
Ước định mức độ nhiễm độc
là một chìa khóa để xác định mối quan hệ giữa một căn bệnh và một
độc chất. Mức độ này được đo lường bằng thời gian, và mức độ
tích tụ (concentration levels) của dioxin trong máu của cá nhân bị nhiễm. Thời
gian mà cá nhân bị ảnh hưởng bởi dioxin chỉ được đánh giá qua lời
khai của "nạn nhân" và không có phương pháp nào để biết những
lời khai này chính xác hay không. Mức độ dioxin trong con người có thể
được xác định qua thử máu, da, hoặc sữa, bằng cách dùng quan phổ kế
(spectrometry). Quan phổ kế đo độ dioxin trên mỗi nghìn tỉ particles, hay
còn gọi là ppt (parts per trillion). Theo kinh nghiệm lâm sàng, một mức
độ tích tụ dioxin từ 10 ppt hay cao hơn được xem là bất bình thường và
có hại cho sức khỏe.
Tuy nhiên, trong cả hai chỉ số đo
đạt này đều có một số hạn chế nhất định. Do đó, các đo lường
được ứng dụng trong tất cả các nghiên cứu chỉ là tương đối, và
trong nhiều trường hợp mức độ chính xác còn rất thấp, thấp đến độ
không có ý nghĩa lâm sàng gì cả.
Dù số liệu chính xác về mức độ
nhiễm dioxin vẫn còn trong thời gian hoàn thiện, một số số liệu thống
kê rút ra từ một loạt nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ dioxin
trong các cựu chiến binh Mỹ, tính trung bình, thấp hơn các công nhân trong
các hãng xưởng kỹ nghệ. Tuy nhiên, các cựu chiến binh trong chiến dịch
Operation Ranch Hand có mức độ tích tụ dioxin cao hơn trung bình. Trong các cựu
chiến binh trực tiếp tham gia rải chất AO xuống Việt Nam, mức độ tích
tụ dioxin trung bình là 12.7 ppt (tối thiểu là 0, và tối đa là 617 ppt);
trong nhóm không rải chất AO, mức độ dioxin trung bình chỉ 4.2 ppt (min: 0,
max: 54.8).
Tuy nhiên, một nhóm nghiên cứu thuộc
Trường Đại học Yale đã chất vấn sự chính xác của các con số trên
đây. Dùng số liệu thu thập từ Việt Nam, nhóm này khẳng định rằng mức
độ dioxin trong cựu chiến binh cao hơn trung bình trong dân số đáng kể.
Ngoài ra, cũng có thể giải thích bằng một giả thiết rằng các cựu chiến
binh Mỹ có mức độ tích tụ cao và họ đã qua đời (nên đã làm cho con
số trung bình trong nhóm cựu chiến binh thấp hơn các công nhân).
Còn trong người Việt Nam thì thế
nào? Trong một nghiên cứu khoa học gần đây [8], Giáo sư Arnold Schecter thuộc
Trường Đại học Texas (một người đã bỏ ra cả đời làm khoa học của
ông để nghiên cứu tác hại của AO) đã đo lường độ tích tụ dioxin
trong 100 cư dân ở Hà Nội (nơi không bị rải AO trong thời chiến tranh)
và 100 cư dân ở Biên Hoà (từng bị rải AO nhiều nhất). Giáo sư Schecter
kết luận rằng mức độ tích tụ dioxin trong cư dân Biên Hòa cao hơn mức
độ dioxin trong người Hà Nội đến 135 lần (Nguyên văn: "A comparison,
pooled sample from 100 residents of Hanoi, where Agent Orange was not used, measured blood
TCDD levels of 2 ppt. TCDD levels of UP TO 271 ppt, a 135-fold increase, were found in
Bien Hoa residents.") Con số này được giới truyền thông quốc tế loan
tải rộng rải như là một báo động. Tuy nhiên, sau khi dọc kỹ bài báo
khoa học này, tôi có lí do để cho rằng đây là một con số cường điệu,
và giới truyền thông đã hiểu sai. Thực ra, Giáo sư Schecter đã so sánh mức
độ tích tụ tối đa ở Biên Hòa (271 ppt) với mức độ trung bình ở Hà
Nội (2 ppt), và đây là một việc làm không nghiêm túc, vì cách làm này cũng
giống như lấy chiều cao của một người Mỹ cao nhất nước Mỹ để so
với chiều cao trung bình của dân số Việt Nam!
Cách đây khoảng 6 năm, Giáo sư
Schecter [9] và đồng nghiệp ở Việt Nam từng công bố một nghiên cứu mà
trong đó họ đo độ tích tụ dioxin ở các tỉnh và thành phố như Quảng
Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng,
Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Biên Hòa, Sông Bé, Tây Ninh, Bến
Tre, Sài Gòn, Hậu Giang, An Giang, Kiêng Giang, v.v. Kết quả cho thấy mức độ
tích tụ dioxin trong cư dân (khoảng 900 người) cư ngụ trong các vùng bị rải
AO như sau:
- Trong máu: 12.6 ppt (tối thiểu: 3.4, tối
đa: 32 ppt)
- Trong sữa: 7.5 ppt (tối thiểu: 1, tối
đa: 17 ppt)
- Trong mô mỡ: 14.7 ppt (tối thiểu: 2,
tối đa: 103 ppt)
Trong nhóm cư dân không cư ngụ
trong các vùng bị rải AO (khoảng 150 người), kết quả như sau:
- Trong máu: 2.2 ppt (tối thiểu: 1, tối
đa: 2.9 ppt)
- Trong sữa: 1.9 ppt (tối thiểu: 1, tối
đa: 2.1 ppt)
- Trong mô mỡ: 0.6 ppt (tối thiểu: 1,
tối đa: 1.4 ppt)
Bài báo này còn tính chỉ số trung
bình cho mỗi tỉnh. Ở các tỉnh miền Bắc, mức độ tích tụ dioxin trung
bình chỉ khỏang 2.2 ppt, miền Trung là 13.2 ppt, và miền Nam là 12.9 ppt. Tuy
nhiên, mức độ không phải đồng đều như thế, có vài nơi cao hơn, và
có nơi thấp hơn, trung bình. Ở miền Trung, các tỉnh như Đà Nẵng có mức
độ tích tụ cao nhất (khoảng 19 ppt). Riêng ở miền Nam, các tỉnh sau đây
có mức độ dioxin khá cao: Đồng Nai-Biên Hòa (28 ppt), Sông Bé (32), và huyện
Trà Nóc (Hậu Giang) với mức độ tích tụ lên đến 33 ppt. Như vậy, dù
Biên Hòa có mức độ tích tụ dioxin cao hơn các nơi khác trong nước,
nhưng mức độ không quá báo động như 135 lần. Dựa vào số liệu của
Giáo sư Schecter và theo sự ước đoán của người viết bài này, mức độ
tích tụ dioxin ở Biên Hòa – Đồng Nai cao hơn Hà Nội khoảng 8,5 lần. Nhưng
đó vẫn là một mức độ rất đáng quan tâm.
Dioxin thường tích tụ trong sữa.
Do đó, một số nhà nghiên cứu đã căn cứ vào sữa để ước tính độ
dioxin trong dân chúng. Theo báo cáo "The American People’s Dioxin Repot",
độ dioxin trong sữa tìm thấy ở Đà Nẵng là cao nhất thế giới (34
ng/kg), kế đến là Nhật và Đức (27 ng/kg), Canada (26 ng/kg), Mỹ (20 ng/kg),
Sài Gòn (19 ng/kg). Hà Nội (9 ng/kg), Thái Lan và Cambodia có độ dioxin trong sữa
thấp nhất (3 ng/kg) [10].
Tác hại của
dioxin trong thú vật
Kết quả nghiên cứu cơ bản (trong
tế bào) trên động vật như chuột cho thấy TCDD có khả năng gây nên một
số ảnh hưởng đến giới tính, tuổi tác, và sự căng thẳng, kể cả gây
ra ung thư, tổn hại đến hệ thống miễn nhiễm, gây ra tình trạng bất
bình thường trong hệ thống tái sinh sản, tổn hại đến tế bào gan và hệ
thống thần kinh, xuống cân. Trong chuột, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng
với một liều lượng thấp, dioxin vẫn có thể làm giảm khả năng sản
xuất tinh trùng, và do đó có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản trong chuột.
Ngoài ra, khi thí nghiệm trong ống nghiệm, các nhà nghiên cứu còn cho thấy
dioxin có ảnh hưởng đến sự điều tiết của serotonin, một hormone có
nhiệm vụ truyền tín hiệu đến hệ thống thần kinh và điều khiển mức
độ ăn uống. Sự ảnh hưởng này cũng phù hợp với một số nhận xét
trước đây cho thấy khi chuột bị nhiễm dioxin, chúng cũng bị chứng biếng
ăn và mất cân.
Trong vài năm gần đây, còn có một
số nghiên cứu sự tương quan giữa dioxin và một số bệnh tật trên thú
vật, chủ yếu là chuột. Khi chuột bị nhiễm dioxin ở một mức độ cao,
gan của chúng trơ nên lớn hơn, nhưng các nhà nghiên cứu không giải thích
được hiện tượng này.
Tác hại của
dioxin trong con người
Trong nghiên cứu y khoa, người ta phân
biệt hai loại tương quan, mà tiếng Anh gọi là "association"
và "linkage." Tuy theo cách dịch thông thường, hai danh từ này
không khác nhau mấy, nhưng trong nghiên cứu y khoa, hai thuật ngữ này mang ý
nghĩa rất khác nhau: association có thể hiểu là mối "liên hệ gián
tiếp", và linkage là mối "liên hệ trực tiếp." Có
thể lấy hai ví dụ sau để làm sáng tỏ hai quan niệm này: Nếu một yếu
tố A ảnh hưởng đến yếu tố trung gian K, và K gây ra bệnh X, thì mối tương
quan giữa A và X được xem là liên hệ gián tiếp; tuy nhiên nếu yếu tố
A gây ra bệnh X mà không qua ảnh hưởng đến một yếu tố trung gian nào
thì mối tương quan này được xem là liên hệ trực tiếp. Phần lớn những
kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dioxin và bệnh tật chỉ có thể xem
là liên hệ gián tiếp, vì chưa ai có thể giải thích một cách chính xác
cơ chế ảnh hưởng của dioxin ra sao. Thực ra, cũng cần nói thêm rằng đại
đa số các vấn đề y khoa, kể cả mối liên hệ giữa ung thư và hút thuốc
lá đều có thể cho là liên hệ gián tiếp.
Dù những tác hại của dioxin đã
được chứng minh khá rõ ràng trong chuột, nhưng trong con người thì nói một
cách chung, vấn đề không đơn giản chút nào. Môi trường thử nghiệm
trong chuột được các nhà nghiên cứu kiểm soát theo những tiêu chuẩn định
sẵn trong các phòng thí nghiệm, nên kết quả thường chính xác. Nhưng sự
chính xác luôn tùy thuộc vào điều kiện của môi trường. Nhưng trong nghiên
cứu trên dân số hay một cộng đồng thì nhà nghiên cứu không có sự lựa
chọn môi trường; nhà nghiên cứu không có quyền và cũng không thể nào bắt
buộc người tham gia nghiên cứu phải sống trong một môi trường cố định.
Trong thực tế, không có một cá nhân nào giống một cá nhân nào. Do đó,
mức độ chính xác của kết quả nghiên cứu trong con người thường không
cao. Vì sự thiếu chính xác này, các nhà nghiên cứu độc lập thường lặp
lại các cuộc điều nghiên trước đây của đồng nghiệp xem có đạt
được cùng kết quả hay không. Nếu nhiều cuộc nghiên cứu độc lập cho
cùng một kết quả, các nhà nghiên cứu có đủ bằng chứng để kết luận.
Nếu kết quả của nhiều nghiên cứu không nhất quán thì mối liên hệ,
dù là gián tiếp hay trực tiếp, phải được xem là còn trong vòng nghi vấn.
Trong hai mươi năm qua, ngoài cuộc
khảo cứu trong các cựu quân nhân tham gia vào chiến dịch Operation Ranch
Hand, còn có một số nghiên cứu khác. Nhưng kết quả của các nghiên cứu
này thường không nhất quán, và gây ra hoang mang, hiểu lầm trong công
chúng. Quốc hội Mỹ đã ủy nhiệm cho Viện Y khoa (Institute of Medicine, trực
thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ) duyệt xét và tóm tắc các kết quả
nghiên cứu. Để làm việc này, Viện Y khoa thành lập một ủy ban khoa học
(gọi là "Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to
Herbicides) để xem xét, cân nhắc phương pháp và kết quả nghiên cứu và từ
đó tổng kết thành một báo cáo cho chính phủ. U빠ban này gồm có 11 nhà khoa học từ các trường đại học
và viện nghiên cứu trên toàn nước Mỹ, do Giáo sư Irva Hertz-Picciotto (thuộc
Trường đại học North Carolina), một chuyên viên về y tế công cộng, chủ
trì. Sau khi duyệt qua và cân nhắc hơn 50 nghiên cứu khác nhau có liên quan
đến hóa chất dioxin và sức khỏe của cựu chiến binh được tiến hành
trong vòng 20 năm qua, ủy ban đã soạn thảo thành một loạt sách, trong đó,
có một cuốn tóm lược tác dụng của dioxin đến sức khoẻ [11]. Một vài
nét chính của quyển sách này có thể tóm lược như sau:
- Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã có đầy
đủ bằng chứng khoa học để kết luận rằng dioxin trực tiếp gây ra
các bệnh sau đây: Soft-tissue sarcoma, Non-Hodgkin's lymphoma, bệnh Hodgkin [12],
và bệnh ban clor (chloracne) [13]. Tháng 4 năm 2001, Viện Y khoa công bố một
thông cáo báo chí mà trong đó các nhà nghiên cứu cảm thấy có đủ dữ
kiện để có thể kết luận rằng con của các cựu quân nhân Mỹ bị
nhiễm dioxin có tỷ lệ bị bệnh ung thư máu cao hơn trung bình.
- Tuy nhiên, mối liên hệ giữa AO và một số bệnh
vẫn còn nằm trong vòng nghi vấn, vì kết quả của các nghiên cứu vẫn
chưa nhất quán. Những bệnh này là: ung thư hệ thống hô hấp (phổi,
thanh quản, khí quản), ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer), myeloma, một
số bệnh thần kinh cấp tính, và bệnh nứt đốt sống (spina bifida).
- Ngoài ra, Viện Y khoa cảm thấy chưa có đầy
đủ bằng chứng khoa học để kết luận về mối liên hệ giữa
dioxin và các bệnh sau đây: ung thư gan, ung thư mũi, ung thư xương, ung thư
vú, ung thư hệ thống tái sản sinh trong phụ nữ (tử cung, noãn xào), ung
thư bọng, ung thư thận, ung thư bộ tinh hoàn, dị thai, sanh thai chết
(Neonatal/infant death and stillbirths), trọng lượng hài nhi thấp (Low
birthweight), bất bình thường chỉ số tinh trùng và hiếm muộn, rối loạn
hệ thống phối hợp (coordination dysfunction), các triệu chứng thần kinh ngoại
vi kinh niên, các bệnh thuộc hệ thống nội tiết và tiêu hóa (như tiểu
đường, loét, thay đổi enzyme của gan, bất bình thường lipid), các chứng
miễn nhiễm, bệnh tim, bệnh đường hô hấp, và ung thư da.
- Ngược lại, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Y
khoa cũng thêm rằng họ chưa có đủ bằng chứng để loại bỏ mối liên
hệ giữa dioxin và các bệnh sau đây: ung thư dạ dày, ung thư tuyến tụy,
ung thư ruột, ung thư trực tràng, và ung thư não (brain tumors).
Trong một cuộc khảo cứu công phu
ở Ý, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Milano-Bicocca (Ý) và
Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Y tế (Mỹ) đã theo dõi tỷ lệ sinh sản
suốt 25 năm liền trong vùng Seveso (Ý), nơi có một hãng sản xuất thuốc
diệt cỏ bị cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí
lô dioxin vào năm 1977. Họ khám phá rằng những đàn ông bị nhiễm dioxin
có xác suất sinh con trai thấp hơn những đàn ông không bị nhiễm dioxin
(hay bị nhiễm nhưng ở mức độ thấp). Trong các người cha không sống
trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm nhưng có mức tích tụ
dioxin trong máu dưới 16 ppt, tỷ lệ sinh con trai là khoảng 56%; và trong các
người cha sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ
16 ppt hay cao hơn, tỷ lệ sinh con trai chỉ 44% [14].
Vài nhận
xét cá nhân
Trong y học, một khi một công thức
thuốc được phát triển, người ta phải làm thử nghiệm về sự an toàn
của thuốc trên thú vật như chuột cực kỳ kỹ càng trước khi đem ra dùng
cho bệnh nhân. Ngay cả thử nghiệm trên chuột, các nhà khoa học phải được
phép của hội đồng y đức trước khi để tiến hành nghiên cứu. Trong
khi đó, quyết định dùng chất màu da cam chứa dioxin trong chiến tranh Việt
Nam chỉ do một người quyết định (Tổng thống Kennedy) và nhận được sự
ủng hộ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Người dân Việt Nam hoàn toàn
không biết gì đến quyết định này. Vì thế, có thể nói rằng quyết định
dùng AO ở Việt Nam là một việc làm tàn nhẫn và vô nhân đạo. Nó thể
hiện một thái độ ngạo mạn của người Mỹ coi thường mạng sống con
người Việt Nam và môi trường Việt Nam. Nó còn cho chúng ta thấy sự thiển
cận (hay bất lực) của chính quyền miền nam Việt Nam lúc đó. Năm 1964,
Liên đoàn Khoa học gia Mỹ (Federation of American Scientists) yêu cần chính phủ
Mỹ ngưng dùng AO ở Việt Nam, vì những tác hại của nó đến đồng lúa
và con người [15]. Tháng 1 năm 1966, Giáo sư John Edsall thuộc Trường Đại
học Harvard cũng công kích quyết định của Mỹ và cho đó là một hành động
dã man, chỉ có hại cho người lính và thường dân [16].
Đến nay, chiến tranh đã chấm dứt
hơn một phần tư thế kỷ, nhưng ảnh hưởng của AO và dioxin vẫn còn
kéo dài. Trong vòng hai thập niên qua, đã có nhiều nghiên cứu về tác hại
của dioxin trong sức khỏe, nhưng đại đa số các nghiên cứu này nhắm
vào đối tượng cựu quân nhân Mỹ và các công nhân trong hãng xưởng Mỹ;
chỉ có một số ít dữ kiện được thu thập từ đồng bào Việt Nam. Dù
kết quả nghiên cứu có khi không nhất quán, nhưng chúng ta đã có đủ bằng
chứng khoa học để kết luận rằng trong các cựu quân nhân Mỹ, dioxin là
một độc chất nguy hiểm, có khả năng gây ra ung thư tế bào và ung thư máu.
Nhưng chúng ta chưa đủ bằng chứng để kết luận rằng dioxin gây ra dị
thai, một quan tâm lớn của công chúng. Thực vậy, trong một báo cáo khoa học
mật được đệ trình lên Quốc hội Mỹ (nhưng đã bị tiết lộ ra ngoài
báo chí gần đây), các nhà khoa học Mỹ đã khẳng định rằng
dioxin là một độc chất nguy hiểm vào hàng số một do con người tạo ra
và biết đến. (Tưởng cần nhắc lại là trước đây, EPA chỉ phân loại
dioxin như là một chất "có thể gây ra ung thư".)
Với gần 72 triệu lít chất khai
hoang rải xuống Việt Nam, chúng ta ắt phải nghĩ rằng Việt Nam là môi trường
lý tưởng để nghiên cứu về tác hại của AO và dioxin. Song, thực tế
trái ngược: các dữ kiện từ Việt Nam về AO và dioxin chỉ bằng một phần
nhỏ so với phía Mỹ. Điều này có thể hiểu được một phần nào vì,
sau 1975, Việt Nam có hàng trăm vấn đề y tế cấp bách phải đối phó,
thiếu ngân sách, và phương tiện nghiên cứu, nên đã bỏ qua một cơ hội
quan trọng để thu thập dữ kiện. Số liệu về AO và dioxin từ Việt Nam
chỉ được phân tích gần đây, kể từ ngày Mỹ bỏ lệnh cấm vận Việt
Nam. Qua các báo cáo khoa học được công bố trên các tạp san y học quốc
tế gần đây, chúng ta có thể kết luận rằng dioxin vẫn còn tồn tại
trong môi trường Việt Nam ở một mức độ có hại cho sức khỏe. Một
nghiên cứu sơ bộ gần đây do Công ty Hatfield (Canada) thực hiện cho thấy
mức độ tích tụ dioxin trong hải sản và mô động vật (gà, heo, bò) ở
miền trung và nam Việt Nam vẫn còn cao. Điều này có thể (chỉ "có thể"
thôi) cho thấy dioxin ở Việt Nam đã xâm nhập vào nguồn thực phẩm. Theo
tiêu chuẩn ở các nước Tây phương, một tình trạng như thế có thể
được xem là khủng hoảng y tế công cộng. Tuy nhiên, giới y tế Việt Nam
vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể để giải quyết vấn đề.
Đã từ lâu, giới y học Tây phương
và Việt Nam đã ghi nhận tỷ lệ dị thai ở miền trung Việt Nam cao hơn
trung bình, nhưng ý kiến về nguyên nhân thì khác nhau. Phía Việt Nam tin rằng
AO và dioxin là nguyên nhân, nhưng phương pháp nghiên cứu và cách xử lý số
liệu của họ không được chấp nhận là nghiêm túc và khoa học. Do đó,
mối liên hệ giữa dị thai và dioxin ở Việt Nam vẫn còn nằm trong vòng
nghi vấn, vì bằng chứng chưa đầy đủ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là dioxin không phải là nguyên nhân gây ra dị thai. Tất nhiên, bằng chứng
chưa đầy đủ không có nghĩa rằng không có bằng chứng ("the absence
of evidence does not mean that the evidence is absent.") Thực vậy, một nhóm
nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas vừa được chính phủ Mỹ cấp
một ngân sách $874,000 để nghiên cứu về mối liên hệ quan trọng này.
Mới đây, một nhà khoa học Việt
Nam và một nhà khoa học Thụy Điển vừa công bố một nghiên cứu sơ bộ
về mối quan hệ giữa Agent Orange và sinh đẻ (Impact of chemical warfare
with agent orange on women's reproductive lives in Vietnam: a pilot study, đăng
trong Tập san Reprod Health Matters năm 2001; số 9(18), trang 156-64) trong đó
trong 30 gia đình. Hai nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, trong số 30 gia đình
này, tỉ lệ trẻ em bị dị tật, tỉ lệ sẩy thai, sinh sớm (premature
births) trong những người cha hay mẹ bị ảnh hưởng Agent Orange cao hơn bình
thường (nguyên văn: "The women had had a high number of miscarriages and
premature births. About two-thirds of their children had congenital malformations or
developed disabilities within the first years of life.") Tuy nhiên, vì đây là
nghiên cứu sơ bộ, nên kết quả này cần phải được cân nhắc cẩn thận,
và một nghiên cứu qui mô hơn và có hệ thống hơn đang được tiến hành.
Trái lại với nhiều dư luận báo
chí, chính phủ Việt Nam chưa bao giờ chính thức đòi chính phủ Mỹ bồi
thường những thiệt hại mà chiến dịch Operation Ranch Hand gây ra. Nhưng chính
phủ Mỹ đã và đang bồi thường một số cựu chiến binh Mỹ từng tham
gia vào chiến dịch này. Chính phủ Mỹ cũng chưa có viện trợ hay kế hoạch
nào để làm sạch, tẩy xóa dioxin trong môi trường Việt Nam. Thái độ này
đã được giới khoa bảng Mỹ chất vấn, và chính phủ Mỹ giải thích rằng
họ cần phải có bằng chứng khoa học trước khi thảo luận vấn đề bồi
thường. Suy cho cùng, đây cũng không hẳn là một thoái thác của Mỹ, mà
họ hành động một cách duy lí. (Chỉ đáng trách là phía Việt Nam ta đã
không thừa cơ hội để thu thập dữ kiện một cách khoa học làm bằng chứng.)
Để tỏ thiện chí của mình, gần đây, chính phủ Mỹ đã thỏa thuận
và cung cấp một ngân sách cho các nhà khoa học Mỹ cùng hợp tác với các
nhà khoa học Việt Nam để nghiên cứu tác hại của AO và dioxin ở Việt
Nam. Hi vọng trong tương lai, kết quả của nghiên cứu này sẽ làm cho vấn
đề sáng tỏ hơn và tránh mọi suy luận theo cảm tính.
Chú thích:
(*) Mối
liên hệ giữa chuyện dioxin và bệnh tật rất phức tạp. Bài viết này
không có tham vọng trình bày mọi khía cạnh của mối liên hệ này, nhưng
chỉ đưa ra những thông tin liên quan đến Việt Nam mà thôi. Trong một dịp
khác, người viết bài này sẽ quay lại vấn đề này một cách chi tiết hơn
về kinh nghiệm dioxin ở các nơi khác trên thế giới.
- Tên gọi "Agent Orange" xuất phát từ những
thùng phuy có khoanh màu cam. Do đó, người ta quen gọi là "Agent
Orange." Thực ra, trong thời chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã dùng đến 15
hóa chất khác nhau để khai hoang. Các hóa chất khác cũng từng được nhận
diện bằng màu như thế, chẳng hạn như "Agent White," "Agent
Blue," "Agent Purple," "Agent Pink," và "Agent Green."
Trong thời gian 1962-1964, Agent Purple (2,4,-D and 2,4,5,-T), Agent Green (2,4,5-T),
và Agent Pink (2,4,5-T) được dùng; trong thời gian 1965-1970, Agent Orange (2,4,-D
và 2,4,5-T) là chất được dùng chính.
- Theo tài liệu NSAM 115, subject: Defoliant Operations in
Vietnam, Nov. 30, 1961. Trích từ "Operation Ranch Hand: Herbicides in Southeast
Asia 1961-1971" của Tiến sĩ William A. Buckingham, Jnr.
- Theo tài liệu Record, 4th SECDEF Conference, HQ CINCPAC,
March 21, 1962. Trích từ "Operation Ranch Hand: Herbicides in Southeast Asia
1961-1971" của Tiến sĩ William A. Buckingham, Jnr.
- Xem bài xã luận "New IOM Report links Agent Orange
exposure to risk of birth defect in Vietnam Vets’ children," do Tiến sĩ Joan
Stephenson viết trong [Tập san] Journal of the American Medical Association
(JAMA), số 275, ra ngày 10 tháng Tư 1996, trang 1066-1067.
- Xem bài xã luận "Agent Orange: exposure and
policy," do Tiến sĩ Michael Gough viết trong [Tập san] American Journal of
Public Health, năm 1991; số 81: trang 289-290.
- Theo báo cáo của Công ty Tư vấn Hatfield (Canada),
#201-1571 Bellevue Avenue, West Vancouver, BC V7V 1A6, Canada.
- Xem các bài báo sau đây: "Exposure to Agent
Orange and occurrence of soft-tissue sarcomas or non-Hodgkin lymphomas: an ongoing study
in Vietnam," [Tập san] Environmental Health Perspective 1998 Apr;106 Suppl
2:671-8; "Serum dioxin, insulin, fasting glucose, and sex hormone-binding globulin in
veterans of Operation Ranch Hand," [Tập san] Journal of Clinical Endocrinology
and Metabolism 1999 May;84(5):1540-3; "Vietnam veterans' risks for fathering
babies with birth defects," [Tập san] JAMA 1984 Aug 17;252(7):903-12.
- "Recent dioxin contamination from Agent Orange in
residents of a southern Vietnam city," [Tập san] Journal of Occupational
Environmental Medicine 2001; May; 43(5):435-43.
- "Agent Orange and the Vietnamese: the persistence of
elevated dioxin levels in human tissues," [Tập san] American Journal of Public
Health 1995 Apr;85(4):516-522.
- Trích trong bài báo "Exposure assessment:
Measurement of dioxins and related compounds in human tissues," của A. Schecter, in
trong sách "Dioxins and Health," Arnold Schecter, editor, pp. 449-486.
New York: Plenum Press, năm 1994.
- Xin xem "Veterans and Agent Orange: Update 2000"
do Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to Herbicides
(Third Biennial Update) soạn thảo, và Institute of Medicine xuất bản năm 2001.
- Bệnh non-Hodgkin's lymphoma là một bệnh mà các tế
bào ung thư được tìm trong hệ thống bạch huyết.
- Ban clor là một bệnh ngoài da giống như trứng cá
(viêm nang lông). Bệnh Hodgkin là một bệnh ác tính của các mô máu trắng,
thường có đặc điểm là một hay nhiều nhóm hạch máu trắng lớn thấy
ở cổ, nách, háng và ngực hay bụng, có thể gồm cả lá lách, và tủy xương.
- Bài báo nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli và
đồng nghiệp có tên là "Paternal concentration of dixin and sex ratio of
offspring", công bố trên Tập san y khoa Lancet, số 355, ra ngày 27
tháng 5, 2000, trang 1858-1863.
- "FAS Statement on Biological and Chemical
Warfare," Bulletin of the Atomic Scientists (Oct. 1964), pp. 46-47.
- Có thể xem "Scientists Protest Viet Crop
Destruction," Tập san Science, Jan. 21, 1966, p. 309; và bài báo
"5000 Scientists Ask Ban on Gas in Vietnam," Washington Post, Feb. 15,
1967, p. A-1.
Bài hai:
Dioxin và tỉ lệ giới tính
Home | Go top page