-
Dioxin và tỷ lệ giới tính
Nguyễn
Văn Tuấn

Trong
một bài báo khoa học trên Tập san y khoa danh tiếng, Lancet, mới đây,
Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp của ông thuộc Trường Đại học
Milano-Bicocca (Ý) và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Y tế (Mỹ) đã
trình bày một nghiên cứu về ảnh hưởng của chất hóa học
2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD, hay còn được gọi ngắn gọn là
dioxin) đến tỷ lệ giới tính của thai nhi [1]. Theo kết quả của cuộc
nghiên cứu này, những đàn ông bị nhiễm dioxin có xác suất sinh con trai
thấp hơn những đàn ông không bị nhiễm dioxin (hay bị nhiễm nhưng ở mức
độ thấp). Đây là một khám phá tương đối mới và có tính khêu gợi sự
tò mò của nhiều người quan tâm đến mối liên hệ giữa môi trường và
sức khỏe của dân chúng. Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập vài chi tiết
chính cần biết về dioxin và kết quả cuộc nghiên cứu trên, với hy vọng
sẽ đem lại một ít thông tin cập nhật hóa để hầu khai thác cho việc
tiến hành một cuộc nghiên cứu tương tự ở trong nước.
Vài hàng về
dioxin
Nói đến dioxin là người ta nghĩ
ngay đến chất độc màu da cam (tiếng Anh là Agent Orange, hay AO). Chất độc
này có hai thành phần hóa học (nói chính xác hơn là hai loại acid) chính:
2-4-dichlorophenoxyacetic và 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (tức dioxin). Trong thời
gian chiến tranh Việt Nam, kể từ năm 1962, Lực lượng Không quân Mỹ đã
bắt đầu dùng chất độc màu da cam để tiêu diệt cỏ ở các vùng đất
thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Năm 1969, trong một báo cáo khoa học cho
Viện Y học, dựa vào các thí nghiệm trên chuột các nhà khoa học Mỹ đã
kết luận rằng một chất độc màu da cam có thể gây ra dị thai (birth
defect). Năm 1970, chính phủ Mỹ ra lệnh ngưng dùng chất độc màu da cam
trong chiến tranh, nhưng trên thực tế, các thuốc khai hoang khác vẫn được
tiếp tục xịt cho đến năm 1971 mới cha᭠dứt. Trong thời gian 1962-1971, Không
quân Mỹ đã xịt xuống Việt Nam khoảng 19 triệu gallons (tức khoảng 71.9
triệu lít) thuốc khai hoang, trong đó có 11 triệu gallons (hay 41.6 triệu
lít) AO [2].
Thực ra, dioxin còn được thấy từ
các nguồn kỹ nghệ và thậm chí trong thiên nhiên. Trong những lò đốt rác
địa phương, lò đốt các chất thải và dụng cụ y khoa dùng trong nhà thương,
và các hãng sản xuất giấy cũng là những nơi được ghi nhận có mức độ
tích tụ (concentration) dioxin. Ngoài ra, các thức ăn thông thường như thịt,
rau cải, và nhất là các thức ăn đồ biển (cá, tôm, mực), v.v. cũng chứa
một ít dioxin. Vì thế, dân cư sống gần các vùng kỹ nghệ trên, hay những
người hay dùng thức ăn đồ biển, thường có mức tích tụ dioxin cao hơn
dân cư ở các vùng không khác. Mức độ dioxin trong con người có thể được
xác định qua thử máu, da, và sữa, bằng cách dùng quan phổ kế
(spectrometry). Quan phổ kế đo độ dioxin trên mỗi nghìn tỉ particles, hay
còn gọi là ppt (parts per trillion).
Tai nạn và
ảnh hưởng của dixon ở Seveso (Ý)
Vào tháng Bảy, năm 1976, một hãng
sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4,5-trichlorophenol (TCP) tại vùng Seveso (Ý) bị
cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin.
Chính quyền địa phương và các nhà chức trách y tế Ý nghi ngờ là dân cư
sống trong vùng có thể bị nhiễm độc chất dioxin. Do đó, kể từ năm
1977, Chính phủ Ý đã thành lập một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học
và bác sĩ chuyên nghiên cứu về tác hại của dioxin trong sức khỏe của
dân cư trong vùng Seveso và phụ cận.
Cho tới năm 1996, các nhà nghiên cứu
này đã thu thập đầy đủ các số liệu lâm sàng và mẩu máu (dùng để
xác định độ tích tựu chất dioxin) của nhiều cư dân; trong đó có 296
bà mẹ và 239 người cha. Trong vòng 20 năm, có 328 em trai và 346 em gái sinh
ra từ 535 cha mẹ này. Tính trung bình, độ tích tụ dioxin trong máu được
ghi nhận là 96,5 ppt trong các người cha và 62.5 ppt trong các bà mẹ. Để tiện
việc so sánh, nhóm nghiên cứu chia các cha mẹ thành hai nhóm: nhóm A gồm
các cha mẹ không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm
nhưng có mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt; và nhóm B gồm các cha mẹ
sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ 16 ppt hay
cao hơn.
Trong các người cha thuộc nhóm A, tỷ
lệ sinh con trai là khoảng 56%; và nhóm B, chỉ 44%. Trong các bà mẹ thuộc
nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và nhóm B, 49%. Tuy nhiên, nếu cả cha và
mẹ bị nhiễm (tức thuộc nhóm B), tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%. Như vậy,
ảnh hưởng của dioxin trong các người cha nghiêm trọng hơn trong các bà mẹ.
Phân tích trong nhóm các người cha
bị nhiễm dioxin cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong máu càng cao càng
có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sinh con trai. Chẳng hạn như trong các ngừơi
cha có mức độ dioxin từ 61 tới 117 ppt, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và
dioxin từ 118 trở lên, tỷ lệ nam giới giảm xuống còn chỉ 40%! Quan trọng
hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng những người cha bị nhiễm
dioxin trong độ tuổi dậy thì có tỷ lệ sinh con trai chỉ khoảng 40%. Điều
này cho thấy ảnh hưởng của dioxin bắt đầu rất sớm và thể kéo dài một
cách vĩnh viễn.
Ngoài khám phá trên đây của các
nhà nghiên cứu Ý, vài cuộc điều tra khoa học trong khoảng mười năm qua
ở Mỹ và Tô Cách Lan (Scotland) cũng đi đến một kết luận tương tự.
Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một khu kỹ nghệ thuộc nước
Scotland [3] được xem là bị ô nhiễm môi trường nhất nhì Aⵠchâu năm
1992, các nhà khoa học cũng ghi nhận tỷ lệ sinh con trai ở vùng này thấp
hơn trung bình. Bốn năm sau đó, một nghiên cứu khác ở tiểu bang Minnesota
(Mỹ), các nhà khoa học Mỹ cũng nhận xét là những người cha hay gần
gũi với các hóa chất diệt cỏ (như công nhân trong hãng thuốc diệt cỏ,
công nhân dùng thuốc diệt cỏ, v.v.) có tỷ lệ sinh con trai thấp hơn trung
bình (4). Có thể nói tất cả những nghiên cứu này cộng với các dữ kiện
của Giáo sư Paolo Mocarelli là những bằng chứng đáng tin cậy cho sự tác
hại của dioxin trong vấn đề làm mất cân bằng tỷ lệ giới tính, nhất
là trong đàn ông.
Cũng cần nói thêm là trên thế giới,
tỷ lệ giới tính tương đối ổn định: cứ 100 trẻ em nữ thì có 106 trẻ
em nam được sinh ra, hay nói theo ngôn ngữ thống kê, tỷ lệ nam giới là
51.4%. Tuy nhiên, ở các nước có nền kỹ nghệ tiên tiến như Mỹ, Gia Nã
Đại, Đan Mạch, Thụy Điển, và Hoà Lan, tỷ lệ sinh con trai đã giảm từ
51.6% trong thập niên 70 còn 51.3% trong thập niên 90. Giới nghiên cứu môi trường
cho rằng vấn đề ô nhiễm ở các nước này là một trong những yếu tố
gây ra sự mất cân bằng trong giới tính. Vì thế, một số nhà nghiên cứu
y học đề nghị lấy tỷ lệ giới tính làm một chỉ tiêu về mức độ
nhiễm độc tử cung, hay một chỉ tiêu về sự bất bình thường trong quá
trình sinh sản.
Nguyên nhân?
Nhưng câu hỏi được đặt ra là tại
sao? Khoa học nghiên cứu về giới tính vẫn còn đang trong giai đoạn phôi
thai, và vì thế nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng
giới tính chỉ là những suy luận, chứ ít khi nào dựa vào các số liệu
cụ thể. Cho đến nay, chưa ai hiểu rõ tại sao dioxin lại có ảnh hưởng
đến sự thay đổi tỷ lệ giới tính như thế. Ngay cả nhóm nghiên cứu của
Giáo sư Paolo Mocarelli cũng không giải thích được hiện tượng này, và cũng
không đưa ra một giả thuyết nào đáng tin cậy. Tuy nhiên, một "hiện
tượng" sinh học mà các nhà nghiên cứu y khoa đã ghi nhận từ lâu là
trong mỗi giai đoạn sống, ngay cả từ lúc thụ tinh, phái nam có tuổi
thọ trung bình ngắn hơn phái nữ. Và nếu dioxin có khả năng ảnh hưởng
từ giai đoạn thụ thai, thì hiện tượng thất thoát nam giới là một điều
có thể hiểu được.
Nhưng bất kể vì lý do sinh học
gì, một thực tế khó phủ nhận được là dioxin có nhiều tác hại đến
sức khỏe con người, không những chỉ giới hạn trong việc làm thay đổi
tỷ lệ giới tính, mà còn gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm khác, nhất là
ung thư. Trong một báo cáo khoa học mật sắp được đệ trình lên Quốc hội
Mỹ (nhưng đã bị tiết lộ ra ngoài báo chí gần đây), các nhà nghiên cứu
Mỹ đã khẳng định rằng dioxin gây ra nhiều ung thư trong con người,
kể cả ung thư máu và ung thư phổi. Họ cũng đề nghị Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Mỹ (Environmental Protection Agency, EPA) phân loại lại dioxin là độc
chất số một, tức độc hại nhất trong các hóa chất. Tưởng cần nhắc
lại là trước đây, EPA chỉ phân loại dioxin như là một chất "có thể
gây ra ung thư". Như vậy, qua bản tường trình này và các nghiên cứu
trong vài thập niên qua, dioxin đã từ từ lộ nguyên hình là một độc chất
nguy hiểm nhất do con người tạo ra và biết đến.
Cơ hội trong
nước
Nếu so sánh mức độ ô nhiễm ở
vùng Seveso gây ra bởi 30 kg dioxin và hơn 42 triệu lít chất màu da cam được
rải xuống Việt Nam, thì ai cũng thấy sự nghiêm trọng của vấn đề ở
nước ta. Trong hầu như tất cả các báo cáo khoa học có liên quan tới
dioxin mà tôi đã từng theo dõi, các nhà khoa học đều đề cập và trong
đợi các số liệu đến từ phía Việt Nam. Điều này cũng dễ hiểu, vì
đại đa số các nghiên cứu trong thời gian qua về chất độc màu da cam
và dioxin đều tập trung vào đối tượng là những người dùng nó trong
chiến tranh (tức là quân nhân Mỹ), nhưng một đối tượng đáng lẽ cần
và đáng nhận được sự ưu tiên và quan tâm nhiều hơn là những nạn
nhân của nó: đồng bào Việt Nam sống ở các vùng bị ảnh hưởng độc
chất này. Thực vậy, nếu sự tác hại của độc chất dioxin cần được
chứng minh cụ thể và thuyết phục, những nạn nhân trực tiếp của nó
(chứ không phải những đối tượng gián tiếp) mới là những bằng chứng
lý tưởng cho nghiên cứu khoa học.
Tất cả các dữ kiện về ảnh hưởng
của chất độc màu da cam đến sức khỏe của dân chúng ở Việt Nam cần
và nên được công bố trên các diễn đàn khoa học có uy tín trên
thế giới. Nhưng trên thực tế, số liệu về chất độc màu da cam trong
dân số Việt Nam rất hiếm, do thiếu nghiên cứu. Theo tôi biết, chưa có một
nghiên cứu nào ở Việt Nam liên quan đến tác hại của chất độc màu da
cam trong dân cư người Việt được công bố trên các tờ tạp chí y học
hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, Annals of Internal Medicine,
Journal of the American Medical Association, v.v.. Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu
ở Việt Nam được tiến hành một cách có hệ thống và phương pháp thì
cơ hội được công bố trên các diễn đàn quan trọng này không phải là
một điều khó khăn. Tôi tin rằng các tạp chí này sẵn sàng công bố các
dữ kiện từ Việt Nam.
Ở Việt Nam, các nhà khoa học trong
nước có cơ hội và điều kiện để tiến hành các cuộc nghiên cứu qui
mô như các nhóm nghiên cứu Ý đã làm. Nhưng có dấu hiệu cho thấy phía
Việt Nam chưa có quyết tâm tiến hành nghiên cứu vì nhiều lý do liên quan
đến ngoại giao và kinh tế. Nhưng nếu không nghiên cứu thì vấn đề này
sẽ còn mù mờ, và phán đoán theo cảm tính vẫn còn kéo dài.
Ghi chú
- Bài báo nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli và
đồng nghiệp có tên là "Paternal concentration of dixin and sex ratio of
offspring", công bố trên Tập san y khoa Lancet, số 355, ra ngày 27
tháng 5, 2000, trang 1858-1863.
- Xem bài xã luận "New IOM Report links Agent Orange
exposure to risk of birth defect in Vietnam Vets’ children," do Tiến sĩ Joan
Stephenson viết trong [Tập san] Journal of the American Medical Association
(JAMA), số 275, ra ngày 10 tháng Tư 1996, trang 1066-1067.
- Xem báo cáo khoa học "Pesticide appliers,
biocides, and birth defects in rural Minnesota", của nhóm nghiên cứu Garry VF,
Schreinemachers D, Harkins ME, Griffith J, đăng trên Tập san Environmental Health
Perspective, số 104, tháng Tư , năm 1996, trang 394-9.
- Xem báo cáo khoa học "Low sex ratios of births in
areas at risk from air pollution from incinerators, as shown by geographical analysis and
3-dimensional mapping", của nhóm nghiên cứu Williams FL, Lawson AB, Lloyd OL,
đăng trên [Tập san] International Journal of Epidemiology, số tháng Tư,
năm 1992, trang 311-9.
Bài 3: Đọc những
‘nghiên cứu’ của tác giả Mai Thanh Truyết
Home | Go top page