>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Dioxin và tỷ lệ giới tính

Nguyễn Văn Tuấn

sunflowers_wave_mw.gif (13479 bytes)

Trong một bài báo khoa học trên Tập san y khoa danh tiếng, Lancet, mới đây, Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp của ông thuộc Trường Đại học Milano-Bicocca (Ý) và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Y tế (Mỹ) đã trình bày một nghiên cứu về ảnh hưởng của chất hóa học 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD, hay còn được gọi ngắn gọn là dioxin) đến tỷ lệ giới tính của thai nhi [1]. Theo kết quả của cuộc nghiên cứu này, những đàn ông bị nhiễm dioxin có xác suất sinh con trai thấp hơn những đàn ông không bị nhiễm dioxin (hay bị nhiễm nhưng ở mức độ thấp). Đây là một khám phá tương đối mới và có tính khêu gợi sự tò mò của nhiều người quan tâm đến mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe của dân chúng. Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập vài chi tiết chính cần biết về dioxin và kết quả cuộc nghiên cứu trên, với hy vọng sẽ đem lại một ít thông tin cập nhật hóa để hầu khai thác cho việc tiến hành một cuộc nghiên cứu tương tự ở trong nước.

Vài hàng về dioxin

Nói đến dioxin là người ta nghĩ ngay đến chất độc màu da cam (tiếng Anh là Agent Orange, hay AO). Chất độc này có hai thành phần hóa học (nói chính xác hơn là hai loại acid) chính: 2-4-dichlorophenoxyacetic và 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (tức dioxin). Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, kể từ năm 1962, Lực lượng Không quân Mỹ đã bắt đầu dùng chất độc màu da cam để tiêu diệt cỏ ở các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Năm 1969, trong một báo cáo khoa học cho Viện Y học, dựa vào các thí nghiệm trên chuột các nhà khoa học Mỹ đã kết luận rằng một chất độc màu da cam có thể gây ra dị thai (birth defect). Năm 1970, chính phủ Mỹ ra lệnh ngưng dùng chất độc màu da cam trong chiến tranh, nhưng trên thực tế, các thuốc khai hoang khác vẫn được tiếp tục xịt cho đến năm 1971 mới cha᭠dứt. Trong thời gian 1962-1971, Không quân Mỹ đã xịt xuống Việt Nam khoảng 19 triệu gallons (tức khoảng 71.9 triệu lít) thuốc khai hoang, trong đó có 11 triệu gallons (hay 41.6 triệu lít) AO [2].

Thực ra, dioxin còn được thấy từ các nguồn kỹ nghệ và thậm chí trong thiên nhiên. Trong những lò đốt rác địa phương, lò đốt các chất thải và dụng cụ y khoa dùng trong nhà thương, và các hãng sản xuất giấy cũng là những nơi được ghi nhận có mức độ tích tụ (concentration) dioxin. Ngoài ra, các thức ăn thông thường như thịt, rau cải, và nhất là các thức ăn đồ biển (cá, tôm, mực), v.v. cũng chứa một ít dioxin. Vì thế, dân cư sống gần các vùng kỹ nghệ trên, hay những người hay dùng thức ăn đồ biển, thường có mức tích tụ dioxin cao hơn dân cư ở các vùng không khác. Mức độ dioxin trong con người có thể được xác định qua thử máu, da, và sữa, bằng cách dùng quan phổ kế (spectrometry). Quan phổ kế đo độ dioxin trên mỗi nghìn tỉ particles, hay còn gọi là ppt (parts per trillion).

Tai nạn và ảnh hưởng của dixon ở Seveso (Ý)

Vào tháng Bảy, năm 1976, một hãng sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4,5-trichlorophenol (TCP) tại vùng Seveso (Ý) bị cháy, nổ tung, và thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kí lô dioxin. Chính quyền địa phương và các nhà chức trách y tế Ý nghi ngờ là dân cư sống trong vùng có thể bị nhiễm độc chất dioxin. Do đó, kể từ năm 1977, Chính phủ Ý đã thành lập một nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học và bác sĩ chuyên nghiên cứu về tác hại của dioxin trong sức khỏe của dân cư trong vùng Seveso và phụ cận.

Cho tới năm 1996, các nhà nghiên cứu này đã thu thập đầy đủ các số liệu lâm sàng và mẩu máu (dùng để xác định độ tích tựu chất dioxin) của nhiều cư dân; trong đó có 296 bà mẹ và 239 người cha. Trong vòng 20 năm, có 328 em trai và 346 em gái sinh ra từ 535 cha mẹ này. Tính trung bình, độ tích tụ dioxin trong máu được ghi nhận là 96,5 ppt trong các người cha và 62.5 ppt trong các bà mẹ. Để tiện việc so sánh, nhóm nghiên cứu chia các cha mẹ thành hai nhóm: nhóm A gồm các cha mẹ không sống trong vùng bị nhiễm hay sống trong vùng bị nhiễm nhưng có mức tích tụ dioxin trong máu dưới 16 ppt; và nhóm B gồm các cha mẹ sống trong vùng bị nhiễm với mức tích tụ dioxin trong máu từ 16 ppt hay cao hơn.

Trong các người cha thuộc nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là khoảng 56%; và nhóm B, chỉ 44%. Trong các bà mẹ thuộc nhóm A, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và nhóm B, 49%. Tuy nhiên, nếu cả cha và mẹ bị nhiễm (tức thuộc nhóm B), tỷ lệ sinh con trai chỉ 44%. Như vậy, ảnh hưởng của dioxin trong các người cha nghiêm trọng hơn trong các bà mẹ.

Phân tích trong nhóm các người cha bị nhiễm dioxin cho thấy mức độ tích tụ dioxin trong máu càng cao càng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sinh con trai. Chẳng hạn như trong các ngừơi cha có mức độ dioxin từ 61 tới 117 ppt, tỷ lệ sinh con trai là 47%; và dioxin từ 118 trở lên, tỷ lệ nam giới giảm xuống còn chỉ 40%! Quan trọng hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng những người cha bị nhiễm dioxin trong độ tuổi dậy thì có tỷ lệ sinh con trai chỉ khoảng 40%. Điều này cho thấy ảnh hưởng của dioxin bắt đầu rất sớm và thể kéo dài một cách vĩnh viễn.

Ngoài khám phá trên đây của các nhà nghiên cứu Ý, vài cuộc điều tra khoa học trong khoảng mười năm qua ở Mỹ và Tô Cách Lan (Scotland) cũng đi đến một kết luận tương tự. Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một khu kỹ nghệ thuộc nước Scotland [3] được xem là bị ô nhiễm môi trường nhất nhì Aⵠchâu năm 1992, các nhà khoa học cũng ghi nhận tỷ lệ sinh con trai ở vùng này thấp hơn trung bình. Bốn năm sau đó, một nghiên cứu khác ở tiểu bang Minnesota (Mỹ), các nhà khoa học Mỹ cũng nhận xét là những người cha hay gần gũi với các hóa chất diệt cỏ (như công nhân trong hãng thuốc diệt cỏ, công nhân dùng thuốc diệt cỏ, v.v.) có tỷ lệ sinh con trai thấp hơn trung bình (4). Có thể nói tất cả những nghiên cứu này cộng với các dữ kiện của Giáo sư Paolo Mocarelli là những bằng chứng đáng tin cậy cho sự tác hại của dioxin trong vấn đề làm mất cân bằng tỷ lệ giới tính, nhất là trong đàn ông.

Cũng cần nói thêm là trên thế giới, tỷ lệ giới tính tương đối ổn định: cứ 100 trẻ em nữ thì có 106 trẻ em nam được sinh ra, hay nói theo ngôn ngữ thống kê, tỷ lệ nam giới là 51.4%. Tuy nhiên, ở các nước có nền kỹ nghệ tiên tiến như Mỹ, Gia Nã Đại, Đan Mạch, Thụy Điển, và Hoà Lan, tỷ lệ sinh con trai đã giảm từ 51.6% trong thập niên 70 còn 51.3% trong thập niên 90. Giới nghiên cứu môi trường cho rằng vấn đề ô nhiễm ở các nước này là một trong những yếu tố gây ra sự mất cân bằng trong giới tính. Vì thế, một số nhà nghiên cứu y học đề nghị lấy tỷ lệ giới tính làm một chỉ tiêu về mức độ nhiễm độc tử cung, hay một chỉ tiêu về sự bất bình thường trong quá trình sinh sản.

Nguyên nhân?

Nhưng câu hỏi được đặt ra là tại sao? Khoa học nghiên cứu về giới tính vẫn còn đang trong giai đoạn phôi thai, và vì thế nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng giới tính chỉ là những suy luận, chứ ít khi nào dựa vào các số liệu cụ thể. Cho đến nay, chưa ai hiểu rõ tại sao dioxin lại có ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ lệ giới tính như thế. Ngay cả nhóm nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli cũng không giải thích được hiện tượng này, và cũng không đưa ra một giả thuyết nào đáng tin cậy. Tuy nhiên, một "hiện tượng" sinh học mà các nhà nghiên cứu y khoa đã ghi nhận từ lâu là trong mỗi giai đoạn sống, ngay cả từ lúc thụ tinh, phái nam có tuổi thọ trung bình ngắn hơn phái nữ. Và nếu dioxin có khả năng ảnh hưởng từ giai đoạn thụ thai, thì hiện tượng thất thoát nam giới là một điều có thể hiểu được.

Nhưng bất kể vì lý do sinh học gì, một thực tế khó phủ nhận được là dioxin có nhiều tác hại đến sức khỏe con người, không những chỉ giới hạn trong việc làm thay đổi tỷ lệ giới tính, mà còn gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm khác, nhất là ung thư. Trong một báo cáo khoa học mật sắp được đệ trình lên Quốc hội Mỹ (nhưng đã bị tiết lộ ra ngoài báo chí gần đây), các nhà nghiên cứu Mỹ đã khẳng định rằng dioxin gây ra nhiều ung thư trong con người, kể cả ung thư máu và ung thư phổi. Họ cũng đề nghị Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency, EPA) phân loại lại dioxin là độc chất số một, tức độc hại nhất trong các hóa chất. Tưởng cần nhắc lại là trước đây, EPA chỉ phân loại dioxin như là một chất "có thể gây ra ung thư". Như vậy, qua bản tường trình này và các nghiên cứu trong vài thập niên qua, dioxin đã từ từ lộ nguyên hình là một độc chất nguy hiểm nhất do con người tạo ra và biết đến.

Cơ hội trong nước

Nếu so sánh mức độ ô nhiễm ở vùng Seveso gây ra bởi 30 kg dioxin và hơn 42 triệu lít chất màu da cam được rải xuống Việt Nam, thì ai cũng thấy sự nghiêm trọng của vấn đề ở nước ta. Trong hầu như tất cả các báo cáo khoa học có liên quan tới dioxin mà tôi đã từng theo dõi, các nhà khoa học đều đề cập và trong đợi các số liệu đến từ phía Việt Nam. Điều này cũng dễ hiểu, vì đại đa số các nghiên cứu trong thời gian qua về chất độc màu da cam và dioxin đều tập trung vào đối tượng là những người dùng nó trong chiến tranh (tức là quân nhân Mỹ), nhưng một đối tượng đáng lẽ cần và đáng nhận được sự ưu tiên và quan tâm nhiều hơn là những nạn nhân của nó: đồng bào Việt Nam sống ở các vùng bị ảnh hưởng độc chất này. Thực vậy, nếu sự tác hại của độc chất dioxin cần được chứng minh cụ thể và thuyết phục, những nạn nhân trực tiếp của nó (chứ không phải những đối tượng gián tiếp) mới là những bằng chứng lý tưởng cho nghiên cứu khoa học.

Tất cả các dữ kiện về ảnh hưởng của chất độc màu da cam đến sức khỏe của dân chúng ở Việt Nam cần và nên được công bố trên các diễn đàn khoa học có uy tín trên thế giới. Nhưng trên thực tế, số liệu về chất độc màu da cam trong dân số Việt Nam rất hiếm, do thiếu nghiên cứu. Theo tôi biết, chưa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam liên quan đến tác hại của chất độc màu da cam trong dân cư người Việt được công bố trên các tờ tạp chí y học hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, Annals of Internal Medicine, Journal of the American Medical Association, v.v.. Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu ở Việt Nam được tiến hành một cách có hệ thống và phương pháp thì cơ hội được công bố trên các diễn đàn quan trọng này không phải là một điều khó khăn. Tôi tin rằng các tạp chí này sẵn sàng công bố các dữ kiện từ Việt Nam.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học trong nước có cơ hội và điều kiện để tiến hành các cuộc nghiên cứu qui mô như các nhóm nghiên cứu Ý đã làm. Nhưng có dấu hiệu cho thấy phía Việt Nam chưa có quyết tâm tiến hành nghiên cứu vì nhiều lý do liên quan đến ngoại giao và kinh tế. Nhưng nếu không nghiên cứu thì vấn đề này sẽ còn mù mờ, và phán đoán theo cảm tính vẫn còn kéo dài.

Ghi chú

  1. Bài báo nghiên cứu của Giáo sư Paolo Mocarelli và đồng nghiệp có tên là "Paternal concentration of dixin and sex ratio of offspring", công bố trên Tập san y khoa Lancet, số 355, ra ngày 27 tháng 5, 2000, trang 1858-1863.
  2. Xem bài xã luận "New IOM Report links Agent Orange exposure to risk of birth defect in Vietnam Vets’ children," do Tiến sĩ Joan Stephenson viết trong [Tập san] Journal of the American Medical Association (JAMA), số 275, ra ngày 10 tháng Tư 1996, trang 1066-1067.
  3. Xem báo cáo khoa học "Pesticide appliers, biocides, and birth defects in rural Minnesota", của nhóm nghiên cứu Garry VF, Schreinemachers D, Harkins ME, Griffith J, đăng trên Tập san Environmental Health Perspective, số 104, tháng Tư , năm 1996, trang 394-9.
  4. Xem báo cáo khoa học "Low sex ratios of births in areas at risk from air pollution from incinerators, as shown by geographical analysis and 3-dimensional mapping", của nhóm nghiên cứu Williams FL, Lawson AB, Lloyd OL, đăng trên [Tập san] International Journal of Epidemiology, số tháng Tư, năm 1992, trang 311-9.

arrow.gif (848 bytes)   Bài 3: Đọc những ‘nghiên cứu’ của tác giả Mai Thanh Truyết

Home   |  Go top page

  © Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa95121@yahoo.com

. ..........